VIỆT NAM

Việt Tân| James Pearson HÀ NỘI (Reuters) - Một viên chức cao cấp của Facebook cho Reuters biết là Việt Nam dọa đóng cửa Facebook tại Việt Nam nếu không chịu gia tăng kiểm duyệt những bài vở với nội dung chính trị theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam. “Facebook đã đáp ứng yêu cầu của chính phủ VN vào Tháng Tư vừa qua khi gia tăng đáng kể việc kiểm duyệt những nội dung “chống chính phủ”, tuy nhiên vào Tháng Tám Việt Nam lại yêu cầu Facebook nâng cấp việc kiểm duyệt những bài chỉ trích chính phủ”, viên chức này cho biết thêm. “Chúng tôi đã đi tới một thoả thuận hồi Tháng Tư. Facebook đã làm như thoả thuận, và chúng tôi chờ đợi chính phủ Việt Nam cũng làm làm như vậy”, nhân viên này, giấu tên vì sự tế nhị của vấn đề, cho biết. “Họ đã quay lại và yêu cầu gia tăng lượng những bài kiểm duyệt. Chúng tôi không đồng ý. Yêu cầu của họ đi kèm với đe dọa cho biết là chuyện gì có thể xảy ra nếu chúng tôi không tuân thủ.” Nhân viên này cho biết đe dọa bao gồm việc đóng cửa toàn bộ Facebook tại Việt Nam, một thị trường chính yếu của công ty truyền thông xã hội này, nơi mang lại thu nhập gần $1 tỷ Mỹ kim, theo 2 nguồn tin quen thuộc với số lượng này. Facebook đã phải đối đầu với áp lực ngày một gia tăng từ một số quốc gia liên quan đến chính sách của FB về nội dung đăng tải, bao gồm cả những quy định mới và phạt vạ. Tuy nhiên FB đã né tránh được hầu hết trừ một số nơi mà FB chưa từng đươc phép hoạt động như Trung Quốc. Tại Việt Nam, bất chấp cải cách kinh tế rộng lớn và gia tăng mở cửa thay đổi xã hội, Đảng Cộng Sản cầm quyền vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ truyền thông, và ít chấp nhận đối kháng. Theo Phóng Viên Không Biên Giới thì về tự do báo chí Việt Nam xếp hạng năm trên thế giới từ cuối bảng tính lên. Trả lời câu hỏi của Reuters Bộ Ngoại Giao Việt Nam nói rằng Facebook nên tuân thủ luật pháp sở tại và ngưng “loan tải tin tức vi phạm tập tục truyền thống Việt Nam và quyền lợi quốc gia”. Một nữ phát ngôn nhân của Facebook cho biết là trong mấy tháng qua họ đã phải đối đầu với áp lực mới từ Việt Nam đòi hỏi họ gia tăng việc kiểm duyệt. Trong báo cáo mỗi nửa năm vừa qua được công bố vào Thứ Sáu, Facebook cho biết họ đã kiểm duyệt 834 bài tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay, theo yêu cầu của chính phủ Việt Nam, đòi loại bỏ những nội dung chống nhà nước. TRÁCH NHIỆM RÕ RÀNG Facebook, diễn đàn chính của 60 triệu người sử dụng để kinh doanh trên mạng cũng như phát biểu chống đối chính trị, bị chính phủ thường trực theo dõi. Vào Tháng Tư vừa qua Reuters đã đặc biệt tường trình là vào đầu năm nay những máy chủ của FB tại Việt Nam đã bị ngưng phát sóng cho tới khi họ làm theo những yêu cầu của chính phủ VN. Từ lâu Facebook đã phải chịu những chỉ trích từ những tổ chức bẳo vệ nhân quyền về việc thuận theo quá nhiều những đòi hỏi kiểm duyệt của nhà nước. “Tuy nhiên, chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể được để bảo đảm là dịch vụ được duy trì để người dân có thể tếp tục phát biểu quan điểm”, người phát ngôn cho biết. Việt Nam đã cố tung ra những mạng lưới truyền thông xã hội để cạnh tranh với FB nhưng không có cái nào đạt tới mức phổ thông đáng kể. Người phát ngôn của FB nói rằng họ đã không thấy có sự di cư nào của người Việt sử dụng FB để đi sang các diễn đàn địa phương. Người phát ngôn nói là FB đã là đối tượng của một “chiến dịch đả kích kéo dài 14 tháng” trên báo chí quốc doanh trước khi đi đến bế tắc hiện nay. Được hỏi về việc Việt Nam dọa đóng cửa FB, tổ chức bảo vệ nhân quyền Ân Xá Quốc Tế nói rằng việc FB vẫn chưa bị đóng cửa sau khi tiếp tục thách thức các đe dọa của chính phủ Việt Nam cho thấy là công ty này có thể làm nhiều hơn nữa để đối đầu với những yêu sách của Hà Nội. “Facebook có một trách nhiệm rõ ràng trong việc tôn trọng nhân quyền ở bất cứ nơi nào họ hoạt động trên thế giới, và Việt Nam không là một ngoại lệ,” ông Ming Yu Hah, Phó Giám Đốc Vùng đặc trách Vận Động của Ân Xá Quốc Tế cho biết: "Facebook đặt ưu tiên là lợi nhuận và thiếu tôn trọng nhân quyền”. (Tường trình của James Pearson; Tường trình bổ túc của Fanny Potkin tại Singapore; Nhuận bởi David Clarke và Christopher Cushing) (Việt Tân lược dịch)
---
(Nguyên bản tiếng Anh) - Nguồn: https://finance.yahoo.com/…/exclusive-vietnam-threatens-shu… Exclusive: Vietnam threatens to shut down Facebook over censorship requests - source
By James Pearson
HANOI (Reuters) - Vietnam has threatened to shut down Facebook in the country if it does not bow to government pressure to censor more local political content on its platform, a senior official at the U.S. social media giant told Reuters.
Facebook complied with a government request in April to significantly increase its censorship of "anti-state" posts for local users, but Vietnam asked the company again in August to step up its restrictions of critical posts, the official said.
"We made an agreement in April. Facebook has upheld our end of the agreement, and we expected the government of Vietnam to do the same," said the official, who spoke on condition of anonymity citing the sensitivity of the subject.
"They have come back to us and sought to get us to increase the volume of content that we're restricting in Vietnam. We've told them no. That request came with some threats about what might happen if we didn't."
The official said the threats included shutting down Facebook altogether in Vietnam, a major market for the social media company where it earns revenue of nearly $1 billion, according to two sources familiar with the numbers.
Facebook has faced mounting pressure from governments over its content policies, including threats of new regulations and fines. But it has avoided a ban in all but the few places where it has never been allowed to operate, such as China.
In Vietnam, despite sweeping economic reform and increasing openness to social change, the ruling Communist Party retains tight control of media and tolerates little opposition. The country ranks fifth from bottom in a global ranking of press freedom compiled by Reporters Without Borders.
Vietnam's foreign ministry said in response to questions from Reuters that Facebook should abide by local laws and cease "spreading information that violates traditional Vietnamese customs and infringes upon state interests".
A spokeswoman for Facebook said it had faced additional pressure from Vietnam to censor more content in recent months.
In its biannual transparency report released on Friday, Facebook said it had restricted access to 834 items in Vietnam in the first six months of this year, following requests from the government of Vietnam to remove anti-state content.
'CLEAR RESPONSIBILITY'
Facebook, which serves about 60 million users in Vietnam as the main platform for both e-commerce and expressions of political dissent, is under constant government scrutiny.
Reuters exclusively reported in April that Facebook's local servers in Vietnam were taken offline early this year until it complied with the government's demands.
Facebook has long faced criticism from rights group for being too compliant with government censorship requests.
"However, we will do everything we can to ensure that our services remain available so people can continue to express themselves," the spokeswoman said.
Vietnam has tried to launch home-grown social media networks to compete with Facebook, but none has reached any meaningful level of popularity. The Facebook official said the company had not seen an exodus of Vietnamese users to the local platforms.
The official said Facebook had been subject to a "14-month-long negative media campaign" in state-controlled Vietnamese press before arriving at the current impasse.
Asked about Vietnam's threat to shut down Facebook, rights group Amnesty International said the fact it had not yet been banned after defying the Vietnamese government's threats showed that the company could do more to resist Hanoi's demands.
"Facebook has a clear responsibility to respect human rights wherever they operate in the world and Vietnam is no exception," Ming Yu Hah, Amnesty's deputy regional director for campaigns, said. "Facebook are prioritising profits in Vietnam, and failing to respect human rights".
(Reporting by James Pearson; Additional reporting by Fanny Potkin in Singapore; Editing by David Clarke and Christopher Cushing)  
20.11.2020
RFA| Việt Nam đe dọa sẽ đóng cửa Facebook trong nước nếu dịch vụ này không tuân thủ những áp lực của chính phủ trong việc kiểm duyệt nhiều nội dung liên quan chính trị. Reuters ngày 19 tháng 11 dẫn lời một viên chức cao cấp giấu tên của Facebook tại Mỹ cho biết như vậy. Hồi tháng 4, Facebook đã tuân thủ yêu cầu của chính phủ Việt Nam, tăng cường kiểm duyệt đáng kể các bài đăng mà chính phủ Việt Nam cho là "chống nhà nước". Đến tháng 8, một lần nữa Facebook lại bị yêu cầu có những kiểm duyệt như vậy. Reuters trích lời viên chức cao cấp giấu tên rằng: “Hồi tháng 4 Facebook và Chính phủ Việt Nam có một thỏa thuận. Phía Facebook về phía mình tuân thủ những cam kết và mong muốn chính phủ Việt Nam cũng làm như vậy. Phía Việt Nam sau đó lại yêu cầu chúng tôi tăng số lượng bài đăng mà Facebook phải kiểm duyệt, kèm theo đó là những đe dọa về những gì có thể xảy ra nếu chúng tôi không làm theo lời họ. Chúng tôi không đồng ý như vậy.” Vị viên chức cao cấp của Facebook cho biết một trong những đe dọa từ phía Hà Nội là đóng hoàn toàn Facebook tại Việt Nam. Đây là thị trường trị giá mang lại doanh thu gần 1 tỷ đô la Mỹ cho Facebook theo đánh giá của hai nguồn thân cận với doanh số của Facebook. Facebook đang phải đối mặt với áp lực ngày càng lớn từ các chính phủ về các chính sách kiểm duyệt nội dung, bao gồm cả những lời đe dọa về các quy định mới và tiền phạt. Facebook đã vượt qua tất cả những đe dọa này, trừ một số nơi họ chưa được phép hoạt động, chẳng hạn như Trung Quốc. Tại Việt Nam, mặc dù có những cải cách kinh tế sâu rộng và những thay đổi xã hội ngày càng cởi mở hơn, đảng cầm quyền vẫn kiểm soát chặt các phương tiện truyền thông và ít chấp nhận sự phản biện. Việt Nam đứng thứ 5 từ dưới lên trong bảng xếp hạng toàn cầu về tự do báo chí do Tổ chức Phóng viên Không Biên giới thực hiện. Hồi tháng 4, Reuters đưa tin rằng các công ty viễn thông trong nước đã để các máy chủ của Facebook hoạt động ở dạng offline khiến việc truy cập Facebook của người dùng bị gián đoạn, cho đến khi họ tuân thủ theo yêu cầu của chính phủ. Bên cạnh đó, Facebook phải đối mặt với những lời chỉ trích từ các nhóm nhân quyền vì đã quá tuân thủ các yêu cầu kiểm duyệt của chính phủ. Reuters dẫn lời nữ phát  ngôn viên của Facebook cho hay, Facebook sẽ làm mọi thứ có thể để đảm bảo rằng mọi dịch vụ vẫn hoạt động để mọi người có thể tiếp tục bày tỏ chính kiến của mình. Hiện có khoảng 60 triệu người Việt Nam dùng Facebook. Đây là nền tảng chính cho cả kinh doanh trên mạng lẫn những phản biện về chính trị đang bị chính phủ giám sát liên tục. Việt Nam đã cố gắng tung ra các mạng xã hội trong nước để cạnh tranh với Facebook, nhưng chưa có mạng nào đạt được mức độ phổ biến cần thiết. Khi được hỏi về lời đe dọa đóng cửa Facebook của Việt Nam, tổ chức nhân quyền Amnesty International cho biết thực tế nó vẫn chưa bị cấm. Bất chấp những lời đe dọa của chính phủ Việt Nam, Facebook vẫn đang làm mọi cách để chống lại yêu cầu của Hà Nội. Phó giám đốc khu vực phụ trách các chiến dịch của Tổ chức Ân xá cho biết, Facebook có trách nhiệm rõ ràng là tôn trọng nhân quyền ở bất cứ nơi nào họ hoạt động trên thế giới và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Còn theo một bài viết của James Pearson, trưởng đại diện hãng Reuters ở Việt Nam thì “Facebook đang ưu tiên lợi nhuận ở Việt Nam, và không tôn trọng nhân quyền”.  
20.11.2020
RFA
Tân Phong – Việt Tân (Xin gửi đến Đại Biểu Quốc Hội Ksor H’Bơ Khắp với lời cảm ơn trân trọng!) Suốt dải đất miền Trung từ Hà Tĩnh, Nghệ An cho đến Quảng Nam, Phú Yên, Bình Thuận… oằn mình hứng chịu liên tiếp “lũ chồng lũ, bão chồng bão.” Chưa có một con số thống kê đầy đủ đã có bao nhiêu người chết và mất tích vì mưa lũ, sạt lở đất ở miền Trung cho đến thời điểm hiện nay. Bản tin cuối cùng cập nhật con số bi thảm này trên báo chí “lề đảng” vào ngày 19 tháng Mười, 2020, ghi nhận 102 người chết và 26 người mất tích. Đã gần 1 tháng trôi qua, liên tiếp vẫn xảy ra sạt đất ở nhiều nơi khu vực Tây Nguyên, Trung và Nam Trung Bộ gây thêm nhiều thương vong về người, hủy hoại hạ tầng, tài sản xã hội. Hình ảnh những quả đồi trơ trụi đã sạt lở chôn vùi nhiều làng mạc, doanh trại quân đội, đường xá, cướp đi hàng trăm sinh mạng khiến cho nhân tâm đau đớn. Nhưng khi những cảm xúc qua đi thì người ta không thể không hỏi rằng “Rừng đâu hết cả rồi? Sao toàn đồi trọc thế kia, làm sao không sạt lở, không lũ lụt?” Rồi người ta được biết trên thượng nguồn những dòng sông nhỏ ở Tây Nguyên, những cánh rừng đại ngàn đã bị chặt phá để làm hàng trăm thủy điện nhỏ. Thủy điện làm thì ít, mà thực ra phá rừng bán gỗ là chính! Bức xúc xã hội được các đại biểu quốc hội đưa vào nội dung chất vấn những bộ trưởng và các cơ quan ban ngành có trách nhiệm liên quan tới việc bảo vệ rừng, qui hoạch và vận hành thủy điện, điện mặt trời trong những ngày qua đang tạo những đợt sóng mạnh trong dư luận. Câu hỏi rành mạch, dứt khoát, trực diện của Đại Biểu Ksor H’Bơ Khắp khiến cho những bộ trưởng “bò một nắng” như Trần Hồng Hà, Nguyễn Xuân Cường, Trần Tuấn Anh càng thể hiện sự dốt nát về chuyên môn, tư duy thấp kém, cũng như thói quen lưu manh cố hữu khi cố gắng đánh tráo khái niệm, đổ trách nhiệm cho “con người” mà không phải là trách nhiệm cụ thể của cơ quan quản lý và thực thi luật pháp. Chúng trơ trẽn khi hứa rằng sẽ loại bỏ những công trình thủy điện dù chỉ phá một mét vuông rừng, rằng sẽ nhanh chóng rà soát và trồng lại rừng nguyên sinh bla bla… Thế rồi, ông Thủ Tướng Phúc ngay lập tức đã ra chỉ đạo trồng 1 tỷ cây xanh. Quả thực, những quyết định, hứa hẹn của giới chức CS ngoài tác dụng lừa mị, có Trời mới biết được tính khả thi của nó ra sao? Những ngụy biện trắng trợn của đám bộ trưởng “bò một nắng” khi nói rằng thủy điện nhỏ không là nguyên nhân gây lũ lụt, không phá rừng và rừng Việt Nam vẫn phát triển tốt quả thực là một luận điệu không thể khốn nạn và phi nhân hơn.
Nó cũng giống như những lời biện hộ của đám viên chức EVN khi nói “dân chết không phải vì thủy điện xả lũ, mà vì dân không …biết bơi” khi thủy điện sông Đà và hơn 30 thủy điện lớn nhỏ đột ngột “xả lũ đúng qui trình” vào ban đêm mà không hề báo trước khiến hơn 100 người chết vào tháng Mười năm 2017. Giờ đây, những luận điệu này lại được lặp lại bởi những kẻ mặt trơ trán bóng, lương tâm đã bị chó ăn mất từ lâu, như một sự thách thức, chà đạp lương tri Con Người. Để nói cho rõ rằng không chỉ hàng triệu hecta rừng Tây Nguyên đại ngàn nguyên sinh đã bị chặt phá tàn bạo trong suốt 4 thập kỷ sau 1975, mà phải nói cho đúng là Tây Nguyên với tất cả những giá trị bản sắc của nó, bao gồm văn hóa gắn liền các chủng tộc bản địa, tài nguyên, môi trường, con người… đều đang bị bức tử, phá hủy với mức độ hủy diệt bằng nhiều cách khác nhau. Trong đó, gồm cả những chính sách phát triển kinh tế một cách thiển cận, tham lam, cũng như sự yếu kém trong công tác quản lý xã hội, tài nguyên và công khai ủng hộ việc phá hoại một cách hệ thống. Tây Nguyên trước 1975 Trước 1975, Tây Nguyên là một vùng đất còn hoang sơ, rừng nguyên sinh bạt ngàn. Cho đến tận 1946 vùng đất mênh mông trên những cao nguyên bao gồm 5 tỉnh hiện nay theo hệ thống phân định địa giới hành chính của nhà cầm quyền CSVN là Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng vẫn còn là một vùng tự trị được biết tới với tên gọi chung là Hoàng Triều Cương Thổ, theo cách gọi của triều Nguyễn. Xưa kia là vương quốc Thủy Xá, Hỏa Xá của những tộc người Jrai, Ede, Ba Na, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông… Hệ thống quyền lực hành chính và những hạ tầng xã hội văn minh được người Pháp bắt đầu đặt nền móng cơ bản từ những năm 1891, với việc phát hiện ra cao nguyên Lang Biang bởi nhà khoa học lừng danh Yersin. Theo đề nghị của Yersin, Toàn Quyền Đông Dương Paul Doumer đã cho xây dựng thành phố Đà Lạt và trực tiếp can thiệp vào vùng đất Tây Nguyên kể từ 1900. Trong suốt quá trình người Pháp can thiệp vào Tây Nguyên, việc nhập cư được kiểm soát khá chặt chẽ. Người Pháp duy trì chế độ tự trị của vùng đất này và hạn chế người Kinh nhập cư, ngoại trừ những công ty trồng café, cao su được quyền tuyển người và đưa người Kinh vào làm việc tại các đồn điền. Người Pháp cũng tránh can thiệp và tôn trọng các văn hóa tập tục bản địa. Nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, chủng tộc, tài nguyên của người Pháp trên vùng đất hoang sơ Tây Nguyên cách đây hơn 100 năm phải khiến cho giới trí thức Việt sau hơn một thế kỷ mới được tiếp cận phải sửng sốt, thán phục. Một ví dụ tiêu biểu là bản trường ca Đam Săn của dân tộc Ede đã được chuyển ngữ từ tiếng Rhade sang tiếng Pháp bởi Léopold Sabatier từ 1929. Rất lâu sau đó, những nhà “văn hóa Việt Nam” mới được biết tới kiệt tác này qua bản dịch của ông ta. Người Pháp nghiên cứu cặn kẽ thổ nhưỡng, tài nguyên khoáng sản, khí hậu Tây Nguyên và đã di thực những cây công nghiệp thích hợp nhất mang tính đột phá về kinh tế là cây cao su và café về trồng. Việc xây dựng các đồn điền, phố thị, hạ tầng xã hội đảm bảo các lợi ích chung cho cộng đồng bản địa và không gây ra những xung đột. Những công trình mà người Pháp để lại đều trở thành di sản vô giá về kiến trúc, khoa học, qui hoạch và có tác động tích cực to lớn tới phát triển kinh tế vùng. Mối quan hệ giữa người Kinh nhập cư, cũng như người Pháp với các sắc tộc Tây Nguyên có thể nói là hữu hảo. Công bằng mà nói, người Việt hãy nên biết ơn với những gì mà đám “thực dân, đế quốc” đã làm cho vùng đất này. Cuộc di cư lớn đầu tiên của người Kinh vào cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên) dưới thời VNCH được ghi nhận vào giai đoạn 1954 khi gần 1 triệu người Bắc di cư vào Nam. Trong số đó, 54.551 người đã được sắp xếp định cư ở Đà Lạt và Lâm Đồng. Với chính sách điền địa mới của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, các di dân được được phân đất ở, canh tác lâu dài, được hướng dẫn đào tạo về kiến thức lâm nông nghiệp và hỗ trợ bởi các cán bộ xây dựng nông thôn đã sớm có được cuộc sống ấm no. Cho đến 1975, toàn bộ dân số khu vực Tây Nguyên ước chừng khoảng 1,2 triệu dân với đa phần là dân bản địa chiếm khoảng 70%. Chính sách của VNCH sau khi sát nhập Hoàng Triều Cương Thổ vào Trung phần, gọi là Cao nguyên trung phần (Tây Nguyên) chú trọng xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội, gia tăng quyền lực hành chính. Song đối với các dân tộc bản địa, chính quyền VNCH hết sức tôn trọng văn hóa, tập tục, hỗ trợ kinh tế, hướng dẫn nghề nghiệp, kỹ thuật lâm nghiệp để họ có đời sống tốt hơn. Tây Nguyên sau 1975  Nhập cư ồ ạt Sau 1975, nhà cầm quyền cộng sản thực hiện chính sách di dân cưỡng bức một lượng lớn dân cư thành phố là những gia đình sỹ quan, viên chức làm việc trong chính quyền cũ tập trung vào các “vùng kinh tế mới” mà thực chất là những nơi rừng thiêng nước độc, không có hạ tầng để khai hoang và dọn dẹp bom mìn sau chiến tranh. Một lượng lớn dân nghèo nông thôn từ miền Bắc cũng được khuyến khích vào làm việc trong các lâm trường quốc doanh theo chương trình phát triển kinh tế mới, nhằm giảm sức ép dân số ở miền Bắc và tăng nguồn lao động cho Tây Nguyên. Theo thống kê, Tây Nguyên là vùng có tốc độ tăng dân số cao nhất cả nước. Việc tăng dân số chủ yếu là tăng dân số cơ học bởi nhập cư trong đó có hai nguồn là nhập cư theo kế hoạch và nhập cư tự do. Chỉ riêng tỉnh Đắk  Lắk, từ 1976 đến 2005, đã có 56.490 hộ nhập cư theo diện tự do với 289.688 nhân khẩu. Trong ba năm đầu tiên sau 1975, dân số Tây Nguyên tăng trung bình 7,22%. Giữa các kỳ tổng điều tra dân số 1979 -1989, dân số Tây Nguyên tăng trung bình 5,7% – cao gấp ba lần so với toàn quốc, giai đoạn 1989 -1999 tăng trung bình 4,97% và giai đoạn 1999 -2009 tăng 2,36%. Dân số Tây Nguyên tính đến 2012 đã đạt khoảng 5,379 triệu dân, gấp 4,5 lần so với 1976. Tỷ lệ nhập cư tự do của toàn vùng trong 4 thập kỷ sau chiến tranh giao động 54% – 60% mức tăng dân số và xu hướng này ngày một cao hơn.
Việc nhập cư ồ ạt và không kiểm soát, thiếu chính sách phát triển kinh tế xã hội một cách khoa học, căn cơ đã gây ra vô vàn các hệ lụy trong đó sự xói mòn văn hóa bản địa, hủy hoại môi trường bởi khai thác rừng tự nhiên tràn lan, cũng như các hạ tầng kinh tế xây dựng thiếu qui hoạch và chắp vá. Những phồn hoa bề ngoài của thành phố Đà Lạt chỉ cần một trận mưa to cũng lột hết lớp phấn son khi tất cả ngập chìm trong biển nước lũ mênh mông. Đó có thể coi là một minh chứng rõ nét cho những “thành tựu phát triển” XHCN! Năm 2004, một khảo sát về dân số và xã hội cho thấy tỷ lệ người dân tộc bản địa chỉ còn khoảng 25% dân số Tây Nguyên (so với tỷ lệ 70% trước 1975) và là những đối tượng rất dễ bị tổn thương bởi chính sách đất đai của nhà cầm quyền CSVN. Từ vị trí là chủ nhân của Tây Nguyên, những dân tộc bản địa này bị tước đoạt quyền sở hữu đối với những cánh rừng đại ngàn, nương rẫy mà ông cha họ để lại, bị gạt ra lề xã hội và đàn áp không thương tiếc. Vấn nạn kém phát triển, đói nghèo và hủy diệt môi trường sống đang là vấn nạn nhức nhối và thường xuyên dẫn đến xung đột xã hội mà những vụ án như Đặng Văn Hiến chỉ là một trong hàng trăm ngàn những bi kịch đang diễn ra ở vùng đất từng tràn đầy tài nguyên này. Phá rừng nguyên sinh làm kinh tế Sau 1975, do nhu cầu thiếu lương thực trầm trọng và nhu cầu khôi phục kinh tế sau chiến tranh, Tây Nguyên trở thành vùng diễn ra tình trạng khai thác gỗ với qui mô lớn và khai phá đất rừng để canh tác nông nghiệp. Giai đoạn 1990 – 2000, diện tích café đã tăng gấp 5 lần (từ 85.600 ha lên tới 427.200 ha) và gấp 2,8 lần so với qui hoạch năm 2000. Tổng diện tích cây công nghiệp lâu năm năm 2011 đạt 1.130.500 ha tăng gấp 1,33 lần so với năm 2005 và tăng gấp 1,73 lần so với năm 2000. Tới năm 2010, diện tích riêng cây café đã tăng gấp 1,15 lần so với năm 2000, và gấp 2,73 lần so với qui hoạch theo quyết định 184/QĐ—TTg (chỉ có 180.000 ha). Diện tích các cây trồng khác như sắn phát triển ồ ạt theo phong trào cũng góp phần tàn phá các cánh rừng tự nhiên và làm bạc màu đất nhanh chóng. Diện tích trồng sắn từ 38.000 ha năm 2000 đã tăng thêm tới 158.700 ha (gấp 4,17 lần). Diện tích trồng cây cao su vốn trước kia người Pháp trồng với diện tích nhỏ (cây cao su chủ yếu được trồng ở vùng Đông Nam Bộ, còn ở Tây Nguyên bị hạn chế hơn cây café) đã tăng nhanh chóng vì đem lại lợi nhuận lớn cho các nông trường quốc doanh của giới chức cộng sản. Trong vòng 12 năm, từ 2000 – 2012 diện tích cao su đã tăng gấp 2,5 lần từ 96.460 ha lên tới 243.000 ha… Hãy cộng tất cả những con số tăng trưởng về diện tích đất nông, lâm nghiệp này lại để biết được đã có bao nhiêu ha rừng nguyên sinh phải ngã xuống. Việc gia tăng diện tích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp chủ yếu là từ việc chuyển đổi đất rừng tự nhiên. Từ 1979 – 2000, có khoảng 136.000 ha đất rừng tự nhiên chuyển thành đất nông nghiệp. Theo như con số thống kê chính thức của nhà cầm quyền, từ 2005 – 2010, tổng diện tích rừng bị mất là 366.731 ha, trong đó chuyển sang đất nông nghiệp gần 217.000 ha, trở thành đất trống đồi trọc và mục đích khác gần 127.000 ha… Sự gia tăng nhanh diện tích cây công nghiệp vượt mức qui hoạch như cây café, cao su, sắn…và chuyển đổi đất rừng không kiểm soát được đã xâm hại nghiêm trọng đến tài nguyên và môi trường sinh thái, gây hậu quả lâu dài trong việc duy trì nguồn nước ở Tây Nguyên.  Điều này có thể thấy rõ trong những năm gần đây, Tây Nguyên ngày càng khô hạn. Với đặc điểm là cao nguyên, là thượng nguồn của những con sông của vùng Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, Tây Nguyên không tiếp nhận bất cứ nguồn nước nào từ bên ngoài mà hoàn toàn phụ thuộc vào vũ lượng hàng năm và khả năng hấp thụ nước mưa của thảm thực vật ở đây. Khi thảm thực vật mất đi, Tây Nguyên sẽ nhanh chóng trở thành hoang mạc. Tính đến ngày 31 tháng Mười Hai, 2012, theo công bố hiện trạng rừng của Bộ Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn tại quyết định 1739/QĐBNN-TCLN, tổng diện tích có rừng ở Tây Nguyên (bao gồm cả tự nhiên vào rừng trồng) khoảng 2.594.000 ha với độ che phủ khoảng 50,7%. Tuy vậy, theo báo cáo tại Hội nghị Bảo vệ và phát triển rừng Tây Nguyên ngày 14 tháng Ba, 2012 ở Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk, kết quả giải đoán ảnh viễn thám của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường năm 2012 cho biết, diện tích rừng có trữ lượng ở Tây Nguyên chỉ còn 1,8 triệu ha, với độ che phủ thấp chỉ khoảng 32,4%. Chỉ cần so sánh hai kết quả báo cáo và khảo sát giữa hai bộ ngành của nhà cầm quyền cũng cho ta thấy sự sai lệch giữa thực tế và các báo cáo thành tích là cả một vực thẳm – 36% (1,8 triệu ha/2,847 triệu ha). Nếu như lấy con số giải đoán viễn thám làm chuẩn, diện tích rừng đã mất so với năm 1976 là 62% (1,8 triệu ha/ 3,7 triệu ha năm 1976). Và không chỉ giảm tới 62% diện tích rừng mà là mức độ che phủ từ 87% năm 1976 đã chỉ còn 32,4% vào năm 2012. Những con số thống kê trên đây được trích dẫn từ các báo cáo kiểm kê đất đai Tây Nguyên năm 2005 – 2010 và báo cáo môi trường quốc gia 2010. Từ thời điểm đó cho tới năm 2020, mỗi năm có thêm ít nhất khoảng 27.000 ha rừng tự nhiên tiếp tục bị đốn hạ dưới nhiều lý do khác nhau. Vậy mà, ông bộ trưởng “một nắng” Nguyễn Xuân Cường có thể trắng trợn nói rằng rừng tự nhiên ở Việt Nam phát triển tốt và phải ghi công cho Bộ Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn của ông ta. Thật là một kẻ đốn mạt, láo toét. Phát triển thủy điện điên cuồng, chặt phá rừng bằng mọi cách Thảm họa sạt lở đất ở thủy điện Rào Trăng 3, xã Phong Điền, Huế khiến 16 công nhân thiệt mạng và 13 người trong đoàn cứu hộ cũng bị vùi lấp tử thương khi trên đường tiếp cận hiện trường trong ngày 12 tháng Mười, 2020 đã gióng lên hồi chuông báo động hiểm họa to lớn mà việc phát triển thủy điện nhỏ kéo theo hệ lụy tàn phá rừng tự nhiên trên thượng nguồn các con sông. Đây chỉ là một dự án thủy điện nhỏ trong số 13 dự án thủy điện được cấp phép của tỉnh Thừa Thiên – Huế. Trên một đoạn sông Rào Trăng dài chỉ 26 km có tới 4 dự án thủy điện bậc thang là Alin B1, Alin B2, Rào Trăng 3, Rào Trăng 4 và những dự án thủy điện này đều nằm trong vùng lõi khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền. Khó có thể biết có bao nhiêu thủy điện lớn nhỏ hiện nay đã và đang được xây dựng ở Tây Nguyên. Trong vòng 30 năm qua, Tây Nguyên là đại công trường xây dựng thủy điện, đặc biệt là thủy điện nhỏ. Tính đến năm 2012, trên các hệ thống sông chính của Tây Nguyên như sông Ba, Sê San, Serepok, Đồng Nai có đến 287 dự án thủy điện đã và đang xây dựng với tổng công suất 6.991,8 MW. Trong đó có 43 dự án thuộc qui hoạch bậc thang thủy điện lớn trên dòng chính và 244 dự án thuộc qui hoạch thủy điện nhỏ trên sông, suối, phụ lưu… Chưa kể đến 153 dự án thủy điện nhỏ khác đang “chờ nghiên cứu” và làm thủ tục xin giấy phép đầu tư. Theo các đánh giá khoa học thì cứ 1 MW thủy điện người ta phải hy sinh từ 10 – 30 ha rừng trên vùng thượng nguồn để làm hồ chứa. Chỉ cần làm một phép tính nhân đơn giản cũng có thể cho ta thấy một diện tích rừng khổng lồ sẽ bị đốn hạ dưới danh nghĩa “tận thu lâm sản vùng lòng hồ thủy điện.” Chưa kể vấn nạn làm đường vào các dự án thủy điện kéo theo tình trạng lâm tặc với qui mô nhà nước, được bảo kê bởi giới chức cộng sản. Cách đây không lâu, trên mạng xã hội không khỏi kinh ngạc trước dinh thự mênh mông toàn bằng gỗ quí đáng giá hàng trăm tỷ đồng của cô con gái tướng Trần Kỳ Rơi ở Đắk Lắk. Đó chỉ là một ví dụ nho nhỏ của nguyên nhân gây ra thảm trạng tàn phá môi trường và rừng ở Tây Nguyên. Có thể điểm mặt một số các dự án thủy điện đã được xây dựng trên các dòng chính như sau: Trên dòng Sê San đã xây dựng 6 bậc thang thủy điện: Yaly, Sê San 3, Sê San 3A, Pleikroong, Sê San 4, Thượng Kon Tum; Trên dòng Serepok đã xây dựng 6 nhà máy thủy điện với tổng công suất 621 MW là Dray Hlinh, Buôn Kuop, Buôn Tua, Srah, Serepok 3, Serepok 4, Đak Xuyên…; Trên sông Ba, các công trình thủy điện lớn như An Kê – Ka nak, Krong Hnang, sông Hinh, và Ba Hạ, Ba Thượng, Ayun Thượng, Hchan, Hmun… và khoảng 329 công trình thủy lợi. Không phủ nhận một thực tế rằng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế ở Việt Nam là cấp bách và thiết yếu.  Song vấn đề ở đây là tình trạng lạm dụng các chính sách phát triển thủy điện để chặt phá rừng, chiếm dụng diện tích rừng của giới chức cộng sản Việt Nam ở mọi cấp từ địa phương tới trung ương. Theo một nghiên cứu của Viện Tư Vấn và Phát Triển CODE đã dẫn ra những số liệu diện tích chiếm dụng đất rừng và nạn chặt phá rừng tàn bạo của các công ty thuộc EVN do Bộ Công Thương quản lý trực tiếp. Tên công trình Công suất lắp máy(MW) Đất chiếm dụng (ha) Số dân bị ảnh hưởng (người) 1.    Yaly 720 6.450 24.610 2.    Sê San 4 360 6.403   3.    Pleikrong 110 5.328 6.000 4.    Thượng Kon tum 220 725 382 5.    Đồng Nai 2 80 1.920   6.    Đồng Nai 3 180 5.600   7.    Đồng Nai 4 340 850   8.    Đak Ring 98 1.099 2.665 Báo cáo của viện CODE cũng cho biết kết quả khảo sát 163 trong số 287 công trình thủy điện vừa và lớn ở Tây Nguyên đến năm 2012 đã chiếm dụng 65.239 ha đất các loại, trong đó có 16.600 ha rừng tự nhiên. Rừng ở tất cả các lưu vực bậc thang thủy điện như Sê San, Yaly, Pleikrong …đều đã bị lâm tặc và giới chức địa phương cùng doanh nghiệp thủy điện cạo trọc, xâm hại nghiêm trọng. Với thống kê và chứng cứ như trên, vậy mà Bộ Trưởng Trần Tuấn Anh có thể trắng trợn tuyên bố sẽ loại bỏ bất kể dự án thủy điện nào dù chỉ chặt phá một m² rừng tự nhiên? Thực sự là kẻ vô sỉ, lưu manh. Khai thác khoáng sản Bauxite Do những lo ngại về môi trường và địa bàn đặc biệt nhạy cảm về chính trị và quân sự ở Tây Nguyên, nên trước năm 2000, các dự án khai thác khoáng sản vẫn bị giới chức CSVN cân nhắc thận trọng. Đặc biệt là đối với bauxite, dù được đánh giá có trữ lượng và tiềm năng kinh tế lớn. Các lãnh đạo CSVN ở các thời kỳ trước như Lê Duẫn, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Khải đều thống nhất đánh giá rằng tài nguyên Bauxite ở Tây Nguyên mới ở điều kiện cần mà chưa đủ để phát triển ngành công nghiệp luyện nhôm ở Việt Nam khi hạ tầng kỹ thuật, trình độ điện khí hóa, hóa chất, luyện kim chưa đạt. Ngoài ra, đặc thù các mỏ Bauxite ở Tây Nguyên dàn trải trên diện tích lớn đất lâm nghiệp, vỉa quặng không dày và nằm trên đầu nguồn các dòng sông. Việc khai thác sẽ ảnh hưởng và gây ra rủi ro môi trường… Ở một chừng mực nào đó, những đánh giá khoa học, khách quan của giới trí thức đã được những lãnh đạo CS ở thời kỳ trước lắng nghe. Tuy vậy, điều này đã bị thay đổi khi Nông Đức Mạnh làm tổng bí thư và Nguyễn Tấn Dũng phụ trách kinh tế. Dù gặp phải sự phản biện gay gắt của giới khoa học trong nước cũng như công luận, khi nguồn tiền vay dồi dào của người bạn vàng 4 Tốt Trung Quốc đã bơm đầy vào tài khoản cá nhân của các chóp bu cộng sản, dự án khai thác bauxite-alumin Tân Rai – Nhân Cơ với công suất 600.000 tấn/năm do TKV làm chủ đầu tư và nhà thầu là công ty Chalieco, Trung Quốc thực hiện tất cả các công đoạn từ thiết kế – mua thiết bị – xây dựng – đào tạo (EPC) đã được chính phủ CSVN cho phép triển khai vào năm 2007. Sau 10 năm, đánh giá hiệu quả kinh tế dự án này, Bộ Tài Chính Việt Nam đã công bố con số lỗ 3.696 tỷ đồng, đồng thời qua 4 lần điều chỉnh, tổng mức vốn đầu tư cho dự án đã tăng từ 7.800 tỷ lên 15.400 tỷ. Dù hiện nay chưa có những đánh giá tác động về môi trường đầy đủ và khách quan đối với dự án bauxite – alumin Tân Rai – Nhân Cơ, song với qui mô và rủi ro tiềm ẩn quá lớn, những hiểm họa từ các hồ chứa bùn đỏ đang sắp đầy ứ và chất lượng vận hành phập phù của nhà máy này thực sự là một quả bom chết chóc treo trên đầu 12 triệu dân dưới hạ lưu lưu vực sông Đồng Nai. Chỉ cần bất cứ sự cố nào ngoài tầm kiểm soát, sẽ có một thảm họa môi trường vô phương cứu chữa. Đó sẽ là dấu chấm hết bi thảm cho Tây Nguyên và cả vùng Đông Nam Bộ. Trong khuôn khổ một bài viết, tác giả không thể phân tích đánh giá đầy đủ các tác động môi trường, kinh tế, xã hội mà các chính sách thiển cận cũng như tệ nạn trong quản lý nhà nước của giới chức CSVN đã gây ra với Tây Nguyên. Song trên những số liệu của chính các cơ quan thống kê nhà nước CSVN, các nghiên cứu của những viện nghiên cứu, bộ ngành chức năng liên quan trong lĩnh vực, người viết xin đưa ra những luận cứ phản biện các phát biểu ngụy biện, dối trá của các bộ trưởng CSVN khi trả lời câu hỏi của đại biểu Ksor H’Bơ Khắp trong thời gian qua. Tân Phong
 
16.11.2020
Amy Truc Tran| Đúng một tháng sau ngày bắt giữ nhà báo tự do Phạm Đoan Trang, vào ngày 06 tháng 11 vừa qua, côn an Nghệ An đã bắt giữ ông Nguyễn Văn Lâm (facebooker Lâm Thời), 50 tuổi, ở thành phố Vinh. Ông Nguyễn Văn Lâm bị bắt với cáo buộc “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước.” Được biết, ông Nguyễn Văn Lâm là nhân viên bảo vệ của một công ty đóng tại Vinh. Ông là chủ tài khoản facebook Lâm Thời, thường xuyên lên tiếng về những bất cập trong xã hội và những việc làm sai trái của quan chức nhà nước. Tang chứng mà nhà cầm quyền CSVN dùng để cáo buộc tội đối với ông Lâm chỉ là những bài viết trên facebook phản ánh thực trạng xã hội. Rõ ràng đó chỉ là những cáo buộc mơ hồ, hòng dập đắt tiếng nói của người dân và để củng cố quyền lực của chế độ độc tài. Một đảng tà quyền hèn với giặc, ác với dân.  
12.11.2020
Fb Amy Truc Tran
3 thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam bị truy tố theo khoản 2 Điều 117 Bộ Luật Hình Sự Quang Nguyên -  Việt Nam Thời Báo| Tin từ Luật sư  Nguyễn Văn Miếng: “Hôm nay ngày 10/11/2020, VKSND Tp. HCM đã ra Cáo trạng số 543/CT-VKS-P1 dài 12 trang truy tố 3 thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập VN theo khoản 2 Điều 117 BLHS: Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Ký nhận Cáo trạng, có sự chứng kiến của luật sư, tiến sỹ Phạm Chí Dũng ghi: “Tôi không vi phạm pháp luật Việt Nam.” Trên thế giới, ngoài Việt Nam không biết còn xứ sở nào khác có một thứ luật vi phạm nhân quyền, quyền tự do ngôn luận trắng trợn như vậy. Hành động bắt giữ các thành viên của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam chỉ vì lên tiếng phản biện một cách đứng đắn, chừng mực, văn minh và hợp với hiến pháp  Việt Nam của chính quyền  Việt Nam là một hành vi vi phạm hiến pháp. Nguyễn Xuân Phúc, Thủ Tướng Việt Nam có lần rêu rao cần lắm những tiếng nói phản biện, chỉ là những lời dối trá! Trong chế độ độc tài, mỗi hành vi của người dân đều bị theo dõi sát sao. Gương những người bị buộc tội phản đảng, phản tổ quốc trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm còn đó. Người bình thường, không có cái dũng của trí thức, sĩ phu  trước vận mệnh của đất nước dám lên tiếng không? Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam không nhằm lật đổ chính quyền như cáo trạng vu khống, họ chỉ muốn có một xã hội tốt hơn, ở đó, nhà nước biết tôn trọng nhân quyền, trong đó đảng cộng sản phải tôn trọng quyền làm chủ đất nước của họ, biết đặt quyền lợi của đảng dưới quyền lợi của dân tộc. Đó có phải là tội? Cộng sản VN đã nhiều lần bị quốc tế liên tục lên án vi phạm nghiêm trong nhân quyền, quyền tự do ngôn luận. Trong những phiên điều trần của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, bị cáo buộc bởi nhiều nước thành viên LHQ, họ nhiều lần cúi đầu nhận thiếu sót và xin sửa sai. Nhưng chứng nào, tật nấy. Việt Nam nhận lỗi trước công luận thế giới, nhưng không hề thay đổi. Bắt Phạm Đoan Trang mới đây và đưa ra các bản án dự trù lên đến 20 năm tù đối với các thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, chính quyền cộng sản VN lại một lần nữa tự lột mặt nạ cho nhân dân Việt Nam và toàn thế giới thấy rõ bộ mặt thật của họ. Chính quyền Việt Nam đã nhầm khi muốn bẻ gẫy ý chí của những nhà lãnh đạo Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam. Trong suốt một năm bị tra cung, thẩm cung, không ngoại trừ khả năng bị dụ dỗ, mớm cung, ép cung, làm áp lực tinh thần trên gia đình và cá nhân các ông, cuối cùng cả hệ thống chính quyền nhận được lời tuyên bố đanh thép của Chủ Tịch Phạm Chí Dũng: “Tôi không vi phạm pháp luật Việt Nam.” Tôi tin Phó Chủ Tịch Hội Nguyễn Tường Thụy, và người vô tội Lê Tuấn cũng đường hoàng, chững chạc trả lời như vậy: “Tôi không vi phạm pháp luật Việt Nam.” Ông Lê Hữu Minh Tuấn được luật sư Đặng Đình Mạnh thuộc đoàn luật sư TPHCM tham gia bào chữa. Các thành viên còn lại và các cộng tác viên của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam, các chính phủ trên khắp thế giới và người Việt Nam trong, ngoài nước đều cùng lên tiếng: “Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Tuấn, không vi phạm pháp luật Việt Nam. Họ vô tội.” Chính quyền  Việt Nam cũng đã nhầm khi họ có ý định dùng những bản án nặng nề để ‘răn đe’ người trong nước. Người Việt không hèn như đảng cộng sản nghĩ. Sẽ ngày càng có nhiều người đi lên lãnh trách nhiệm tiếp tục phản biện với đảng CSVN, bước theo con đường của Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Tuấn. Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam vẫn trân trọng địa vị của chủ tịch, phó chủ tịch hội khi họ vắng mặt, và Hội vẫn không ngừng lớn mạnh. Hành động đè nén nhân quyền, quyền tự do ngôn luận của bằng cách đưa ra các bản án cao cho những người bênh vực các quyền này bao nhiêu lại càng hạ thấp uy tín và phẩm chất của cộng sản bấy nhiêu.    
11.11.2020
Quang Nguyên - Việt Nam Thời Báo
Trung Điền - Việt Tân Trong lúc dư luận đang hướng về nước Mỹ để chờ kết quả cuộc bầu cử xem ông Trump hay ông Biden sẽ trở thành tổng thống Hoa Kỳ cho 4 năm tới (2021-2025), thì Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương đảng CSVN đã thông báo một bản tin thuộc loại bom tấn, khiến cho dư luận khá bất ngờ. Đó là đề nghị xem xét kỷ luật đối với ủy viên Bộ Chính Trị Nguyễn Văn Bình, trong phiên họp lần thứ 49 của Ủy Ban vào ngày 3 tháng Mười Một vừa qua. Gọi là “bom tấn” vì sự kiện ông Nguyễn Văn Bình bị xem xét kỷ luật ngay khi chỉ còn vài tháng nữa đại hội đảng CSVN lần thứ 13 khai mạc, đồng nghĩa với nhiều xác suất là cuộc đời thăng tiến chính trị của ông Bình sẽ chấm dứt ở đại hội này. Nói cách khác, với đề nghị xem xét biện pháp kỷ luật của Ủy Ban Kiểm Tra, dù ở mức thấp nhất là cảnh cáo, thì ông Nguyễn Văn Bình không còn có cơ hội để được tiến cử vào trung ương nhiệm kỳ 13 và ước mơ trở thành một trong tứ trụ (ghế thủ tướng hay chủ tịch nước) hoàn toàn sụp đổ. Ông Nguyễn Văn Bình đã dính vào những sai phạm gì để bị phe nhóm ông Trọng “trảm” vào giờ phút chót? Theo công bố khá mù mờ của Ủy Ban Kiểm Tra thì ông Nguyễn Văn Bình bị sai phạm khi còn làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước từ năm 2011, dưới thời ông Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng. Tội của ông Bình được công bố như sau: “đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc… gây hậu quả rất nghiêm trọng, khó khắc phục; nhiều cán bộ, đảng viên của Ngân Hàng Nhà Nước và lãnh đạo chủ chốt một số tổ chức tín dụng vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự”. Những dòng chữ này hoàn toàn không nói rõ tội của ông Bình, nhưng sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng yêu cầu Bộ Chính Trị xem xét về việc Ngân Hàng Nhà Nước đã mua lại ba ngân hàng với giá 0 đồng gồm Ngân Hàng Xây Dựng (VNCB – nay đổi thành CB Bank), Ngân Hàng Dầu Khí Toàn Cầu (GP Bank), Ngân Hàng Đại Dương (Ocean BanK) khi những ngân hàng này bị phát hiện là “sân sau” của một số cán bộ trong ngành xây dựng và dầu khí để tham ô và bị phá sản. Một số những lãnh đạo của các ngân hàng này như Phạm Công Danh, Hà Văn Thắm, Tạ Bá Long đang ngồi tù. Ông Nguyễn Phú Trọng đề nghị xem xét vì Ngân Hàng Nhà Nước tuy mua lại 3 ngân hàng nói trên với giá 0 đồng, nhưng nhà nước đã phải gánh những khoản nợ xấu do các ngân hàng này gây ra, lên đến chục ngàn tỷ đồng, trong thời gian ông Nguyễn Văn Bình làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước từ 2015-2016. Nói cách khác, ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng ông Nguyễn Văn Bình là người có trách nhiệm khi mua lại những ngân hàng đã phá sản và làm thiệt hại tài sản nhà nước. Câu hỏi đặt ra là tại sao ông Nguyễn Phú Trọng và Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương lại khui hồ sơ sai phạm của ông Nguyễn Văn Bình vào lúc này mà không là trước đó, khi các vụ xử những sai phạm của các ngân hàng nói trên diễn ra trong các năm 2017 và 2018? Ông Nguyễn Văn Bình sinh năm 1961 tại Phú Thọ. Tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Liên Xô. Từ năm 1986, ông Bình đã bắt đầu làm việc tại Ngân Hàng Nhà Nước với nhiều chức vụ khác nhau, cho đến năm 2016 thì chuyển qua làm Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương đảng như hiện nay. Có thể nói, ông Nguyễn Văn Bình là nhân vật chính trị có kỹ năng trong lãnh vực tài chánh, ngân hàng. Khi ông Nguyễn Văn Bình được bổ nhiệm làm thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước từ tháng Tám 2011, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang đứng trước nhiều rủi ro. Nợ xấu tăng cao sau giai đoạn khủng hoảng, sở hữu chéo của hệ thống ngân hàng đã tạo ta tình trạng bất ổn chưa từng thấy, nhưng ông Bình đã giải quyết ổn thỏa và đưa thị trường tài chánh và kinh tế Việt Nam trở lại bình thường từ năm 2015. Với những thành tựu này, ông Bình được tín nhiệm cao trong đại hội 12 và đã được bầu vào Bộ Chính Trị đứng ở vị trí 13 trên 16 người (cao hơn các ủy viên Bộ Chính Trị khác như Hoàng Trung Hải, Phạm Bình Minh, Đinh La Thăng, Tô Lâm, Võ Văn Thưởng, Trương Thị Mai). Với những khả năng kinh tế – tài chánh, ông Bình trong vai trò trưởng ban kinh tế trung ương đã giúp cho ông Trọng hai nỗ lực đáng kể. Thứ nhất là duy trì sự tăng trưởng kinh tế khá ổn định và lần đầu tiên tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam vượt hơn 500 tỷ Mỹ Kim (2019). Thứ hai là phụ trách việc biên soạn các văn kiện đánh giá kết quả phát triển kinh tế – xã hội (2016-2020) và phương hướng phát triển kinh tế – xã hội trong 5 năm (2021-2025), mà đích nhắm là vào năm 2035, Việt Nam sẽ là nước đang phát triển có nền công nghiệp theo hướng hiện đại, thuộc nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Trong hội nghị trung ương đảng vào tháng Năm, 2020, khi ông Nguyễn Phú Trọng yêu cầu các ủy viên trung ương bầu chọn thử những nhân sự nào nên chọn ở lại cho nhiệm kỳ 13 (2021-2025) thì ông Nguyễn Văn Bình đạt số phiếu khá cao, đề cử vào trong danh sách tân bộ chính trị và có nhiều triển vọng sẽ là chủ tịch nước hoặc thủ tướng. Cả hai vị trí này chắc chắn đụng phải người của ông Trọng. Nếu ở  vị trí thủ tướng thì sẽ đụng với ông Vương Đình Huệ, hiện là bí thư thành ủy Hà Nội có nhiều triển vọng được nhóm ông Trọng – ông Vượng đưa vào hàng tứ trụ với ghế thủ tướng thay ông Nguyễn Xuân Phúc. Nếu ông Nguyễn Văn Bình được đề cử ghế chủ tịch nước thì sẽ đụng chính ông Nguyễn Phú Trọng, vì phe nhóm ông Trọng đang vận động để ông Trọng tiếp tục ở lại giữ chức chủ tịch nước. Nói cách khác, nếu ông Nguyễn Văn Bình tiếp tục ở lại cho nhiệm kỳ 13 (2021-2025) sẽ phá hỏng kế hoạch sắp xếp dàn tứ trụ mà phe ông Trọng muốn củng cố và trung ương đảng sẽ chọn trong hội nghị 14 vào tháng Mười Hai tới đây sẽ là: Trần Quốc Vượng (tổng bí Thư), Nguyễn Phú Trọng (chủ tịch nước), Vương Đình Huệ (thủ tướng), Trương Thị Mai (chủ tịch quốc hội). Tóm lại, ông Nguyễn Văn Bình bị đề nghị “xem xét kỷ luật” một cách đột xuất của Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương là vì ông Bình vốn là đàn em cật ruột của Nguyễn Tấn Dũng, trở thành một đối thủ nặng ký làm trở ngại cho việc sắp xếp nhân sự của ông Trọng cho đại hội 13 dự trù sẽ khai mạc vào tháng Giêng, 2021. Trung Điền #nguyenvanbinh  #daudanoibo  #daihoi13
05.11.2020
Viet-Studies| KIẾN NGHỊ Kính gửi :Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng  và toàn thể Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam Thưa các Đồng chí,            Với trách nhiệm công dân, hưởng ứng kêu gọi lần này của Đảng về góp ý cho Đại hội XIII, tôi trân trọng đề nghị Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và toàn thể Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa Đại hội XII quan tâm 5 vấn đề dưới đây. 1.     Tổng bí thư – Chủ tịch nước nên quyết định tiến hành xử lại vụ án Đồng Tâm đúng với luật pháp hiện hành và mọi quy định đã ghi thành Luật về các thủ tục điều tra và xét xử, nhằm làm rõ sự việc, xử đúng việc đúng người, tránh oan sai. Qua việc xử lại vụ án này với nhận thức đúng đắn như vậy, thúc đẩy ý thức thượng tôn pháp luật trong toàn Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị – nhà nước của quốc gia. Vụ Đồng Tâm là một vết thương nghiêm trọng đối với dân tộc, đánh dấu một bước phát triển nguy hiểm cho đất nước. Dư luận chân chính trong nước và bè bạn quốc tế không tán thành cuộc trấn áp, cách xét xử vụ án, và bản án sơ thẩm đã công bố ngày 14-09-2020. Nhân đây xin nhắc lại kinh nghiệm cũ: Khi nhận thức được sai lầm nghiêm trọng trong cải cách ruộng đất (CCRĐ), Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng bí thư Trường Chinh hồi ấy đã tự nhận hết trách nhiệm về riêng mình, và quyết định sửa sai triệt để, nhờ vậy cả miền Bắc một bề yên lòng, cùng nhau khắc phục được mọi thương đau và tổn thất đã xảy ra. Sau đó tất cả mới có thể cùng nhau dốc lòng chuẩn bị cho kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhờ đó có được hôm nay. Chủ lực trực tiếp đảm nhận gánh nặng lớn nhất của toàn bộ sự nghiệp này là tầng lớp nông dân của chúng ta.     Mong rằng việc xử lại theo tinh thần như vậy vụ Đồng tâm sẽ nói lên ý chí của lãnh đạo ĐCSVN quyết đổi mới nền tư pháp hiện nay – một trong những đòi hỏi rất cấp bách của đất nước trước tình hình và nhiệm vụ mới. Hợp lý nhất là Tổng bí thư – Chủ tịch nước nên ban bố quyết định này trước khi họp Đại hội XIII, tạo ra trong Đảng một tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật và củng cố đoàn kết dân tộc, quyết vượt qua mọi sai lầm, khó khăn, thách thức, cùng nhau nắm bắt thời cơ mới, đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới. Kính thưa Tổng bí thư – Chủ tịch nước và toàn thể Bộ Chính trị, Tại đây, tôi xin trình bầy thêm một phương án khác nữa, rất mong được cân nhắc: Trong thâm tâm, suy nghĩ kỹ, tôi mong muốn: Đúng đắn nhất có lẽ là nên quyết định hủy vụ xử án này, để xử lý vụ Đồng Tâm bằng con đường dân sự theo tinh thần sửa sai (gọi là phương án sửa sai) như đã làm trong cải cách ruộng đất. Kinh nghiệm một năm trời (1956-1957) tôi trực tiếp đi sửa sai CCRĐ[1] ở Trực Ninh – Nam Định, khiến tôi vô cùng nhức nhối về vụ Đồng Tâm, thôi thúc tôi đưa ra phương án này. Vụ Đồng Tâm xảy ra vì bất kỳ nguyên do gì – rồi sẽ phải làm rõ, nhưng đã làm cho đất nước lâm vào những khó khăn nội tại mới, rất nhạy cảm, đẩy đất nước lún sâu hơn nữa vào xu thế mang tính quy luật của chế độ toàn trị: nội trị xuống cấp, trấn áp gia tăng – ngày càng đi vào chiều hướng tới một điểm nào đó sẽ không thể đảo ngược được nữa, với triển vọng đen tối cho cả nước. Giữa lúc này những thách thức đối với nước ta và mọi nguy cơ uy hiếp mới nhiều bề từ bên ngoài ngày càng lớn. Toàn bộ thực tế quyết liệt này đòi hỏi nước ta sống hay là chết phải chuyển đoạn đi vào một thời kỳ phát triển mới, và sống hay là chết nước ta phải giành bằng được một vị thế quốc tế mới để thoát khỏi thế bị giằng xé và lệ thuộc hiện nay, để tự quyết định lấy vận mệnh của nước mình! Hòa bình và tương lai của đất nước đang quyết liệt đòi hỏi như vậy –        Tiếp tục đi sâu nữa vào con đường đang đi với triển vọng đen tối của chế độ toàn trị hiện nay đối với Đảng và đối với quốc gia, đành chịu để cho nội tình phân tán, chia rẽ, tiềm năng phát triển của đất nước tiếp tục bị kìm hãm, uy hiếp, nguy cơ đổ vỡ và bạo loạn bên trong gia tăng, ý chí chiến đấu của quốc gia có lúc mang những biểu hiện phân tán, tê liệt trước sự can thiệp từ bên ngoài và nguy cơ xâm lược?     –        Hay là Đảng quyết rũ bỏ chế độ toàn trị này để mở đường sống cho bản thân mình và cho đất nước, đem tất cả nghị lực giành lấy một tương lai mới, nước mình tự làm chủ vận mệnh của mình trong một thế giới đầy bất định và giành giật nhau quyết liệt, để đất nước có hòa bình, phát triển và hạnh phúc? Thực ra, ngay từ khi bước sang thế kỷ 21 đất nước ta đã đứng trước hai câu hỏi định mệnh nói trên, và từ hồi ấy cho đến hôm nay trong nước liên tục có nhiều tiếng nói cảnh báo rất sớm, nhưng vô ích. Cục diện quốc tế mới hôm nay quyết liệt và căng thẳng hơn rất nhiều, thôi thúc ráo riết ĐCSVN và đội ngũ lãnh đạo của Đảng phải hành động trước khi quá muộn. Xin hãy nhìn ra toàn thế giới và nhìn kỹ những gì hiện đang xẩy ra ở Đông Nam Á, trên Biển Đông, những diễn biến khác ở nhiều quốc gia – nhất là ngay trong khu vực mình.., để hiểu được hai câu hỏi định mệnh nêu trên đang ngày càng nóng bỏng đối với quốc gia! Người đời nói và nói đúng: Ngoại trừ bị đập tan hay sụp đổ – chưa thấy một đảng cộng sản nào nắm quyền ở bất kỳ đâu trên thế giới này có thể tự thay đổi được chính nó. Nhưng 4 cuộc trường kỳ kháng chiến cứu nước đã đòi hỏi dân tộc ta phải chịu đựng những hy sinh tổn thất không lời nào nói hết mới có được hôm nay. Vì thế tôi thấy dứt khoát phải làm mọi việc chặn đứng cho đất nước ta nguy cơ một cuộc bể dâu mới sẽ lại cướp đi tất cả, để quyết khai phá con đường sống cho đất nước và cũng là con đường tối ưu cho sự nghiệp của Đảng. Phải nói với nhau hết lời: Tình hình đã tới mức ĐCSVN cách mạng đã từng dẫn dắt nhân dân hoàn thành sự nghiệp độc lập thống nhất, nhưng hôm nay chỉ còn cách một cái xảy chân để có thể ngã xuống biến thành trở lực đối kháng của dân tộc, nhất là giữa lúc Việt Nam hôm nay đang có trong tay cơ hội vượt qua mọi thách thức hiểm nghèo để giành lấy một tương lai xán lạn! Chưa bao giờ như hôm nay Việt Nam đang được hầu hết mọi đối tác coi là điểm đến giầu tiềm năng và rất hứa hẹn trong thế giới đầy xáo động này! Bè bạn thế giới đều muốn có một Việt Nam là một nhân tố không thể thiếu cho hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực! Vì thế, hơn bao giờ hết, lãnh đạo Đảng phải chắt chiu từng cơ may nhỏ nhất, hội tụ mọi khát vọng cháy bỏng của nhân dân cả nước thành sức mạnh đổi đời đất nước. Nắm vận mệnh đất nước trong tay, nếu Đảng không thực hiện được sứ mệnh này sẽ là mắc trọng tội đối với đất nước và tổ tiên! Đấy là những lý do tôi quyết định nói với các Đồng chí:  Dựa vào trí tuệ và ý chí cả nước, với tất cả bản lĩnh lãnh đạo của mình, các Đồng chí phải có gan lựa chọn cho đất nước phương án sửa sai vụ Đồng Tâm, chặn đứng xu thế diễn biến cực kỳ nguy hiểm của độc tài toàn trị, để từ điểm nhấn dám sửa sai này, Đảng thực hiện bước đột phá: Phát huy dân chủ giải phóng sức mạnh cả nước mở ra một bước ngoặt chiến lược cứu nước cứu Đảng trong tình hình nguy hiểm mọi bề hôm nay, đưa đất nước đi vào một thời kỳ phát triển mới! Đảng chủ động làm như thế mới đúng là lãnh đạo, sẽ được lòng dân, cổ vũ được cái tốt trong toàn Đảng và cả nước, và chắc thắng; bạn bè thế giới sẽ hoan nhênh, hậu thuẫn! Đất nước sẽ chỉ mất đi sự lệ thuộc, cái yếu kém và tiêu cực! Có bản lĩnh thì phải quyết biến nguy cơ thành thời cơ như vậy! Chứ không phải là ngoan cố đối phó bằng cách tăng cường bắt bớ và độc đoán hơn nữa như đang diễn ra! Xin nhấn mạnh: Bối cảnh trong ngoài khiến cho tình hình nước ta đã chín muồi để thực hiện quyết định lịch sử này! Nước ta hiện nay đã hội được mọi điều kiện đủ cho thực hiện quyết định lịch sử này, chỉ còn thiếu duy nhất điều kiện cần là ý chí của Đảng Cộng Sản Việt Nam!] 2.     Nhằm đổi mới nhiệm vụ xây dựng Đảng trước những đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới trong thế giới quyết liệt thời đại dịch covid-19, đề nghị Đại hội XIII quyết định trong khóa Đại hội này sẽ tiến hành xây dựng một bộ Luật về Đảng Cộng Sản Việt Nam[2], để cụ thể hóa Điều 4 của Hiến pháp. Mục đích của Luật này nhằm (i) làm rõ nội dung vai trò lãnh đạo của ĐCSVN đối với quốc gia, gắn việc thực hiện nhiệm vụ này với trách nhiệm ràng buộc của Đảng đối với quốc gia trong tình hình mới, (ii) ngăn ngừa tình trạng mất dân chủ, hoặc sự lạm dụng quyền lực và những tha hóa khác biến tướng vai trò lãnh đạo của Đảng thành vai trò thống trị / cai trị, (iii) tạo ra sự phân công rành rẽ để không gây ra chồng lấn, không có vùng trống, nghiêm cấm những hiện tượng lộng quyền, tiếm quyền.., không để xảy ra Đảng làm thay vai trò của những thành phần khác trong hệ hống chính trị của quốc gia – bao gồm Quốc Hội, Chính phủ và hệ thống chính quyền, hệ thống Mặt trận, (iv) góp phần nâng cao vai trò và năng lực của hệ thống Nhà nước là Quốc hội, vai trò Chính phủ và hệ thống chính quyền, xây dựng và phát huy vai trò xã hội dân sự, (v) góp phần vào những công việc của quốc gia nhằm nâng cao tính nhà nước dân chủ pháp quyền của quốc gia và tinh thần thượng tôn pháp luật trong cả nước, xây dựng những chuẩn mực đạo lý và pháp lý quốc gia phải  có, vận dụng phổ cập nguyên tắc công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình như một đòi hỏi ràng buộc trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của toàn bộ đời sống đất nước – qua đó Đảng gương mẫu thực hiện tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, tất cả đều phải sống và làm việc theo pháp luật, không có ngoại lệ. Tóm lại, đây là một bộ Luật nhằm phục vụ nhiệm vụ xây dựng về mặt pháp lý một ĐCSVN giầu trí tuệ và có phẩm chất, bản lĩnh vững vàng, hoạt động trong một quốc gia có hệ thống chính trị dân chủ pháp quyền ngày càng mạnh với một xã hội dân sự ngày càng phát triển. Nghĩa là: Bộ Luật này góp phần tạo ra tình hình Đảng và đối tượng Đảng phục vụ đều cùng mạnh lên và tiếp tục phát triển lành mạnh; khắc phục hiện trạng Đảng ngày càng tập quyền, trong khi đó đối tượng Đảng phục vụ ngày càng tha hóa do nhiều quyền tự do dân chủ bị tước đoạt và bị bưng bít trong chính sách ngu dân. Bộ Luật này sẽ là bước đi đầu tiên trong quá trình đổi mới, cải cách, để tiến tới xây dựng nên một thể chế chính trị của một nước phát triển. Luật này chủ yếu nên nhằm: –        Xác định về mặt pháp lý nội dung cần thực hiện vai trò lãnh đạo của ĐCSVN là những gì, gắn việc thực thi nhiệm vụ của vai trò này với trách nhiệm ràng buộc của Đảng đối với quốc gia, tất cả với tinh thần: Đảng tuyệt đối trung thành với tổ quốc và Hiến pháp, tôn trọng quyền của nhân dân làm chủ đất nước, cam kết chăm lo những quyền tự do – dân chủ và nghị lực sáng tạo của nhân dân vì đây là nguồn lực quyết định nhất của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, chịu sự phê phán – rèn luyện của nhân dân như một yếu tố tất yếu bảo vệ và phát huy phẩm chất và tính chiến đấu của Đảng. –        Luật này phải góp phần: không để xảy ra nhầm lẫn nhân dân với kẻ thù, không quy kết bừa bãi coi những ý kiến phản biện và những người bất đồng chính kiến là thế lực thù địch, nghiêm cấm mọi hiện tượng nhà nước công an trị, tăng cường kỷ cương của quốc gia và sự nghiêm minh của luật pháp. [Ngay trước mắt, nên sớm trả lại tự do cho những người bị bắt giam, bị án tù, chỉ vì họ bất đồng chính kiến. Phải lấy đối thoại tìm ra lẽ phải, chỉ trị nước bằng lẽ phải. Từng việc làm của Đảng phải lấy thu phục lòng người bằng lẽ phải và chính nghĩa, nhất nhất chỉ vì dân vì nước – chứ không phải bằng trấn áp của bạo lực và dối trá. Phải như thế, để xây dựng nên trong lòng mỗi người dân thành lũy tinh thần không gì lay chuyển nổi bảo vệ đất nước và chế độ! Có dân sẽ có tất cả, mất dân sẽ dẫn đến mất nước và tự sát! Không có thế lực thù địch nào ở trong nước có thể lật đổ chế độ này, nhưng  ách toàn trị là nguyên nhân ngày đêm tạo ra nguy cơ này. Vì vậy phải lấy thực hiện công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình để chủ động phòng ngừa mọi yếu kém, và giải quyết những yếu kém khi xảy ra.] –        Cần phải trung thực với lịch sử, tôn trọng lịch sử là thầy dạy của hiện tại và tương lai, nhất là phải rút ra từ lịch sử những bài học không được quên. Nhất thiết không được vẽ lịch sử, không được lạm dụng cứ mài lịch sử ra mà sống, để tự tôn vinh, ru ngủ, để ăn bám và khỏa lấp những yếu kém. Tệ hơn nữa, làm như thế còn là tiếp tục tự giam mình và mặc nhiên giam cả đất nước trong quá khứ – như đã và đang xảy ra. Làm như thế là Đảng tự đánh lừa mình, khuyến khích nói dối, tiếp tục làm tha hóa chính mình và đất nước một cách nguy hiểm. Thành lập viện này viện nọ mà không có học, không có tự do tư duy trong học tập, sẽ chỉ có thêm bằng rởm! Nhân đây phải nói những yếu kém của hệ thống tuyên giáo và báo chí của Đảng (thường được gọi là báo chí lề phải) góp phần làm trầm trọng thêm thực trạng này. Truyền thông và báo chí của hệ thống chính trị nặng về làm vai trò bảo vệ quyền lực toàn trị và trấn áp tinh thần, tư tưởng, che giấu / cắt xén sự thật, thiếu hay không có thông tin trung thực… Trong khi đó chưa làm được gì đáng kể cho nhiệm vụ nâng cao dân trí và phát triển tư duy cho sự tiến bộ của Đảng và của đất nước. Nhất thiết Đảng cần sớm khắc phục những sai lầm trầm trọng này, giao cho Tuyên giáo và hệ thống truyền thông báo chí nhiệm vụ xây dựng hòa hợp đoàn kết dân tộc, phát huy trí tuệ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, khuyến khích văn hóa và những giá trị cao đẹp, bảo vệ những tiếng nói chân chính và chân lý, tuyên chiến với dối trá, cái ác, tham nhũng tiêu cực, sự đồi trụy, hủ tục và lạc hậu. –        Đặc biệt quan trọng là yêu cầu phát triển của đất nước ta và những thách thức quyết liệt của thế giới hôm nay đòi hỏi Đảng trên mặt trận truyền thông báo chí phải dành nỗ lực cao nhất cho sự nghiệp xây dựng con người Việt Nam tự do của một Việt Nam độc lập tự do, vị thế mới của đất nước đòi hỏi như vậy. Nhận về mình vai trò lãnh đạo đất nước, Đảng có trách nhiệm khuyến khích tự do trong tư duy để luôn luôn tìm đường đưa đất nước đi lên phía trước – không được coi đấy là diễn biến. Mặt khác phải xem nô dịch tư tưởng là một trọng tội đối với dân tộc không được phép phạm phải – vì nó làm thui chột sức sống và khả năng đề kháng của dân tộc. Sự trung thành đạo lý cao cả nhất đòi hỏi chỉ dành cho Tổ Quốc và Sự Thật![3] Ngay trước mắt, tuyên giáo và truyền thông báo chí phải được học lại, trang bị lại trí tuệ và bản lĩnh, để phục vụ đắc lực những nhiệm vụ cả nước phải làm mở ra bước ngoặt chiến lược cho phát triển đất nước. –        Cuộc sống có vận tốc ngày càng cao và đã vượt quá xa, nhưng Đảng đang tụt hậu rất nghiêm trọng về nhiều phương diện. Trong khi đó khoảng cách giữa năng lực và phẩm chất của Đảng so với nhiệm vụ hôm nay Đảng phải thực hiện rất lớn. Do đó với tính cách là lực lượng chính trị lớn nhất nước, Đảng hôm nay phải học lại, học cái mới, trau giồi phẩm chất và bản lĩnh mới, tri thức mới, phải làm tất cả mọi việc có thực chất thường xuyên tu dưỡng và đổi mới chính mình để bắt kịp, phải bổ khuyết sớm những thiếu hụt lớn về trí tuệ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hôm nay đòi hỏi.  Nhất là phải làm cho Đảng trở thành nhân tố phát huy dân chủ và gìn giữ đoàn kết dân tộc trong đời sống đất nước – bắt đầu từ xây dựng dân chủ và đoàn kết hướng về phía trước trong Đảng, lời nói đi đôi với việc làm. –        Đảng cần phải tổ chức học lại và học mới như nói trên, để xây dựng mới cho toàn bộ đội cán bộ ngũ đảng viên của mình phẩm chất, trí tuệ, sự giác ngộ lợi ích của quốc gia và dân tộc, những kiến thức mới của phát triển, ý chí phấn đấu cho hạnh phúc của nhân dân và sự cường thịnh của Tổ quốc. Đảng cần rèn luyện nên mỗi đảng viên của mình là một chiến sỹ tiên phong của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, chứ không phải là một robot của Đảng! Vì những lẽ trọng đại đã trình bầy, trong khóa Đại hội XIII sớm muộn cần xây dựng lại Cương lĩnh và Điều lệ Đảng. –        Luật này còn đòi hỏi Đảng phải nghiêm khắc chống mọi hiện tượng giáo điều, bảo thủ, nạn bè phái, nhóm lợi ích, tệ sùng bái cá nhân, tham nhũng / tiêu cực, tệ nạn quan liêu ăn bám, thói xu nịnh, lừa dối… đang đẻ ra nhiều tội ác. Đấy là những kẻ thù nguy hiểm nhất của Đảng và thường trực tạo ra nguy cơ lớn cho quốc gia còn hơn giặc ngoại xâm. –        Đổi mới xây dựng Đảng về mặt tổ chức, để Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, và đồng thời qua đó nâng cao được phẩm chất và năng lực của những thành phần khác trong toàn bộ hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước (bao gồm Đảng, Hệ thống Nhà nước, Mặt trận…), phân nhiệm chặt chẽ giữa từng thành phần trong hệ thống, từng người phải làm đúng việc của mình trong biên chế – không thừa, không thiếu. Sự đổi mới như vậy toàn bộ hệ thống sẽ làm rõ trách nhiệm và nâng cao năng lực của từng thành phần trong hệ thống, tạo ra sự phân công mới rành rọt giữa các thành phần này, qua đó tránh được hiện tượng chồng chéo “3 trong 1” (bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận) rất quan liêu như hiện nay.   –        Xin nhấn mạnh: Phát huy dân chủ trong Đảng, đồng thời tạo mọi điều kiện cho phát huy dân chủ trong mọi lĩnh vực của toàn bộ đời sống đất nước, đây chính là con đường thực hiện đoàn kết toàn dân tộc, giải phóng sức mạnh cả nước, nâng cao chất lượng toàn bộ hệ thống chính trị – nhà nước của quốc gia, mở ra và thúc đẩy cải cách chính trị do Đảng chủ xướng và tổ chức thực hiện, đưa đất nước vào một thời kỳ phát triển mới. Dân chủ của yêu nước là cái gốc của tự do, là nền tảng cho những giá trị của dân tộc và quốc gia, là yếu tố gắn bó keo sơn giữa nhân dân, tổ quốc và Đảng, và là chìa khóa của phát triển! 3.     Đổi mới xây dựng Quốc hội theo tinh thần: (i) Hiến pháp là bộ luật tối cao của quốc gia, (ii) Quốc hội là cơ quan quyển lực cao nhất của cả nước, (iii) nâng cao năng lực kỹ trị trong việc xây dựng luật pháp và những chủ trương chính sách quan trọng của quốc gia, tăng cường khả năng chế tài việc thực thi pháp luật của cả nước. Quốc hội đại diện cho quyền lực và tiếng nói của nhân dân, không phải là cơ quan (thực thể) chấp hành (executive body) của quyền lực, do đó cần loại bỏ mọi hoạt động hình thức phô trương và hữu danh vô thực. Dưới đây là một số vấn đề nên đặc biệt quan tâm. –        Quốc hội Việt Nam từ khóa XV nên gọn nhẹ, ưu tiên hàng đầu là chất lượng đại biểu Quốc hội về trình độ chính trị và năng lực kỹ trị, rồi nếu tình hình cho phép mới tính đến cơ cấu các thành phần xã hội, nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, tuổi tác, nghề nghiệp… Dứt khoát không cơ cấu ĐBQH cho đủ mâm bát giống như quy chế của Mặt trận. Theo tinh thần này, người ứng cử hay được đề cử phải chứng minh trước cử tri của mình lý lịch rõ ràng, là công dân không phạm pháp, có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh, trình độ học vấn và năng lực chuyên môn của mình. Vì không xây dựng quyền lập pháp theo chế độ lưỡng viện, do đó ngoại trừ một số ít trường hợp đặc biệt, người ứng cử hay được đề cử trước hết nên là người làm ăn sinh sống tại địa phương (tỉnh / thành phố…), phải hiểu rõ tình hình và những vấn đề, những đòi hỏi của địa phương, phải trình bầy được trước cử tri của địa phương mình những mục tiêu sẽ theo đuổi, và cam kết có sự ràng buộc pháp lý việc thực hiện nếu được bầu. Vì những lý do như vậy, nên bãi bỏ việc người từ tỉnh này được ứng cử hay được đề cử tại tỉnh khác. –        Nên xây dựng mới những quy chế, quy định, và cách hiệp thương – thảo luận – tranh luận công khai và dân chủ ở địa phương cho việc phát hiện / giới thiệu hiền tài (dù là đảng viên hay không phải đảng  viên ĐCSVN), lựa chọn được đúng người đề cử hoặc khuyến khích ứng cử, sao cho có nhiều hiền tài tham gia việc nước, cử tri lựa chọn và bầu trực tiếp hiền tài, loại bỏ cách “đảng cử – dân bầu” như lâu nay. –        Số đại biểu QH quy định cho mỗi tỉnh nên là 3, mỗi thành phố trực thuộc TƯ là 5, riêng Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh mỗi nơi sẽ là 6. Nhìn chung nên có khoảng ≤ 1/3 tổng số đại biểu QH là ĐBQH chuyên trách. Mỗi ĐBQH đều có 2 chức năng chính là (i) đại diện trực tiếp của tỉnh (địa phương) mình tại QH, và (ii) đồng thời là thành viên của QH gánh vác công việc quốc gia. –        Đại biểu Quốc hội không chuyên trách được giữ nguyên lương của  cơ quan chủ quản và phải tiếp tục thực hiện công việc mình được trả lương, nhưng được dành một khoảng thời gian thích đáng để thực thi nhiệm vụ ĐBQH, đồng thời được hưởng thêm một khoản phụ cấp theo quy định chung của QH trong thời gian là ĐBQH. Nếu là ĐBQH chuyên trách, sẽ được hưởng lương quy định chung cho ĐBQH chuyên trách và các chế độ khác trong thời gian làm nhiệm vụ ở QH, và dừng việc nhận lương trong biên chế cũ trước khi trở thành ĐBQH chuyên trách. Mọi chế độ đãi ngộ dành cho ĐBQH không chuyên trách và chuyên trách sẽ kết thúc khi hết nhiệm kỳ hoặc nếu bị bãi miễn. –        Tiến hành mọi cải tiến, cải cách cần thiết để QH thực hiện được đầy đủ chức năng với hiệu quả cao nhất là cơ quan quyền lực cao nhất của quốc gia và đồng thời là cơ quan lập pháp của quốc gia như ghi trong Hiến pháp 2013, thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thay mặt nhân dân kiểm xoát toàn bộ sự vận động của quốc gia, thể hiện và thực thi được với ý thức trách nhiệm thiêng liêng và cao cả nhất quyền của nhân dân làm chủ đất nước. Thực tế này đòi hỏi phải nâng cao nền tư pháp quốc gia, sớm hình thành trong hệ thống Nhà nước hiện tại một thực thể pháp lý (a quasi-judicial body) làm chức năng của Tòa án Hiến pháp; khi tình hình cho phép sẽ tiến hành xây dựng Hiến pháp mới. [Chấm dứt hẳn tình trạng Đảng coi QH là công cụ của mình và ngồi trên tất cả – thể hiện rõ nhất qua việc nhiều ĐBQH công khai thừa nhận Bộ Chính trị là cấp trên của QH.] 4.     Trong thời gian vừa qua một số người Việt Nam là học giả, các nhà kinh tế và các nhà kinh doanh, sống ở trong nước hoặc nước ngoài, có nhiều ý kiến, kiến nghị rất xác đáng về con đường phát triển của Việt Nam, về đổi mới cơ cấu kinh tế và thể chế vận hành quốc gia thời cách mạng công nghiệp 4.0, những cải cách kinh tế và chính trị phải làm để thực hiện những mục tiêu này… Xin trân trọng đề nghị Đảng, Quốc hội và Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt cho những ý kiến, kiến nghị này, huy động trí tuệ cả nước và hiền tài lập ra một loại hình think tank thường trực cho nhiệm vụ nghiên cứu / xây dựng chiến lược chung và những chiến lược từng lĩnh vực, những nhiệm vụ phải thực hiện cho việc mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức của tình hình và nhiệm vụ mới. Xin đặc biệt quan tâm đến một số vấn đề trọng yếu sau đây. –        Cải cách thể chế chính trị để mở rộng dân chủ hóa, xây dựng nền giáo dục tiên tiến là nền tảng văn hóa và tinh thần của quốc gia, phát huy sức mạnh quan trọng nhất của đất nước là con người Việt Nam và nguồn nhân lực Việt Nam – đấy là 3 tiền đề nhất thiết phải tạo ra cho việc phát triển đất nước trong tình hình và nhiệm vụ mới.  3 yếu tố này mang tính chất dĩ bất biến ứng vạn biến, giúp cho quốc gia giành được cơ hội đang đến, đối phó được mọi thách thức dưới bất kỳ hình thức nào – kể cả chiến tranh xâm lược nếu xảy ra. Nên dành mọi nỗ lực có thể cho việc hình thành tầng lớp doanh nhân Việt Nam mạnh với thương hiệu Việt Nam cho đất nước! Xin lưu ý, vì thiếu 3 tiền đề “dĩ bất biến” kể trên nên đã không hoàn thành được chiến lược công nghiệp hóa đất nước vào năm 2020. Như vậy triển vọng thực hiện chiến lược phát triển đất nước đến năm 2030 và 2045 đã đề ra sẽ như thế nào? –        Cần nắm bắt được nội dung và xu thế vận động đang diễn ra của cách mạng công nghiệp 4.0 để tái cơ cấu kinh tế đất nước, phát triển các ngành khoa học / kỹ thuật và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn và lực lượng lao động có tay nghề cao để đáp ứng, đổi mới thể chế vận hành quốc gia, và giải phóng mọi nguồn lực – bao gồm cả xây dựng và phát huy vai trò nền kinh tế số, để làm ra những sản phẩm mới Việt Nam đang có những lợi thế lớn nhất… –        Không thu hút mọi FDI và bằng bất cứ giá nào, không để cho FDI trở thành yếu tố lôi kéo và khuynh đảo sự vận động và xu hướng phát triển kinh tế đã lựa chọn của đất nước như đã và đang xảy ra – nổi lên hiện nay là tình trạng: Càng thu hút được nhiều FDI, kinh tế quốc dân càng ngả lệch sang phát triển theo chiều rộng với nhiều hệ quả nặng nề. Phải chuyển hẳn sang thời kỳ chủ động chọn lọc và thu hút FDI nhằm phục vụ tối ưu chiến lược phát triển của đất nước – với phương châm: FDI phải thúc đẩy sự phát triển mới đất nước muốn lựa chọn, dứt khoát loại bỏ FDI tạo ra sự lệ thuộc và những tiêu cực mới. Lấy nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế nước nhà và trình độ của Nhà nước trong quản lý và vận hành nền kinh tế để thực hiện phương châm này. –        Cần đặc biệt quan tâm và coi phát triển bền vững là ưu tiên số 1 trong khi tận dụng mọi cơ hội cho tăng trưởng kinh tế, dành mọi nỗ lực có thể cho việc phát triển kết cấu hạ tầng của quốc gia, cải thiện – bảo vệ môi trường tự nhiên, nhất quyết xây dựng tiết kiệm là quốc sách hàng đầu, giữ chữ tín trong làm ăn kinh tế trong nước cũng như trong kinh tế đối ngoại. 5.     Về đối ngoại nên quán triệt phương châm: Cần xây dựng một nền nội trị vững mạnh và kiên cường làm nền tảng cho một nền ngoại giao dấn thân vì lợi ích quốc gia và vì trách nhiệm phải có của một nước thành viên có bản lĩnh và được tôn trọng trong cộng đồng các quốc gia trên thế giới. Đấy phải là một nền ngoại giao phát huy được truyền thống lịch sử của đất nước lấy đại nghĩa thắng hung tàn, kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại, tạo ra được cho quốc gia sự tập hợp lực lượng phải có trên thế giới, chủ động vận dụng sáng tạo mọi thể chế và luật pháp quốc tế hiện hành, tất cả để phục vục triệt để nhất sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Ở vị trí địa đầu tại khu vực ĐNÁ, sống hay là chết, không muốn làm đe thì phải làm búa (J. W. Goethe), Việt Nam nhất thiết phải xây dựng cho mình một nền ngoại giao của một nhân dân trưởng thành, được trang bị mọi thông tin, hiểu biết và nhận thức phải có, được trau giồi lòng yêu nước, ý chí và khả năng chiến đấu của người chiến sỹ trên mặt trận đối ngoại – không khác gì những đòi hỏi về lòng yêu nước, phẩm chất và khả năng chiến đấu phải có của toàn dân là chiến sỹ trên chiến trường khi đất nước có ngoại xâm. Bởi vì, để sống và vươn lên được trong thế giới quyết liệt hôm nay, Việt Nam – là một quốc gia có gần 100 triệu dân và một cộng đồng gần 10 triệu người Việt sống ở nước ngoài – cả nước ta, trước hết là ĐCSVN – cần vượt lên quá khứ, chiến thắng mọi hận thù, vượt qua mọi giả dối, sớm xây dựng cho quốc gia mình những giá trị, bản lĩnh và khả năng thực hiện, để quyết lấy mở rộng dân chủ xây dựng thành công một nền ngoại giao của đại đoàn kết và hòa hợp dân tộc “người Việt Nam vì tổ quốc Việt Nam!” – một thế mạnh bất khả chiến bại của nước ta! Nhưng nếu không làm được như vậy, thế mạnh quyết định này sẽ trở thành thách thức thường trực rất nguy hiểm đối với đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói nhiều lần: Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết! Làm mọi việc để người dân thực sự là chủ của đất nước, chắc chắn sẽ thực hiện được. Gần một nửa thế kỷ đất nước độc lập thống nhất là thời gian quá chín muồi để cả nước và toàn Đảng nhận thức được tầm vóc nhiệm vụ chiến lược sống còn nêu trên và cần quyết tâm thực hiện. ĐCSVN dẫn dắt đất nước thực hiện thành công nhiệm vụ chiến lược sống còn này, sẽ minh chứng và khẳng định thuyết phục vai trò lãnh đạo của mình đối với quốc gia, và chỉ có làm được như thế mới đích thực là thực hiện vai trò lãnh đạo! Hơn thế nữa xin  lưu ý, bối cảnh lịch sử và những thách thức mới đất nước hôm nay phải đối mặt đặt lên vai ĐCSVN – người đã đưa đất nước đi con đường Cách Mạng Tháng Tám – trọng trách: Tiếp tục con đường đã dẫn dắt đất nước trong những thập kỷ vừa qua, hôm nay Đảng có trách nhiệm ràng buộc phải thực hiện thành công nhiệm vụ trọng đại này, để hoàn thành thắng lợi cuối cùng này[4] của Cách mạng Tháng Tám cho Tổ Quốc. Thưa Tổng bí thư – Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và toàn thể Bộ Chính trị, Đòi hỏi sống còn của đất nước và tiền đồ của Đảng chỉ dành cho lãnh đạo Đảng hôm nay con đường duy nhất dẫn dắt đất nước đi đến thành công, đó là: Đảng phải nhìn thẳng vào sự thật, giác ngộ nhiệm vụ phải thực hiện trong tình hình và nhiệm vụ mới hôm nay, học hỏi để đổi đời chính mình với ý chí Tổ quốc trên hết. Đồng thời qua mở rộng dân chủ phát huy trí tuệ cả nước quyết mở ra bước ngoặt chiến lược về phát triển để cứu nước cứu Đảng như đã trình bầy sơ bộ trong kiến nghị này, lấy thực hiện dân chủ giải phóng sức mạnh của nhân dân, tổ chức toàn Đảng và toàn dân đoàn kết quyết tâm thực hiện! Vì mọi quyền lực vẫn đang nguyên vẹn trong tay, do đó Đảng đang có cơ hội tốt nhất và hoàn toàn có thể chủ động bắt đầu sự nghiệp đổi đời đất nước từ việc Đảng tự xây dựng lại chính mình trước thành đảng của dân tộc và dân chủ, có trí tuệ và bản lĩnh. Đấy là con đường giúp Đảng gắn bó với nhân dân, chứ không phải là ngồi trên nhân dân, thực hiện đúng cam kết Đảng không có mục đích nào cao cả hơn và cũng không có lợi ích nào khác là phục vụ nhân dân và phụng sự tổ quốc. Được như vậy, rồi Đảng sẽ biết phải làm gì trong những bước tiếp theo mà kiến nghị này đã sơ bộ gợi ý những việc cần làm ngay trước mắt, và nhất định sẽ làm được. Chậm trễ sẽ không còn gì để làm ngoài gánh chịu hậu quả và kéo đất nước vào tai ương khôn lường. Song trong trường hợp này, nhân dân nhất định sẽ đứng lên tự quyết định lấy vận mệnh của mình, đất nước này và dân tộc này không bao giờ khoanh tay chịu chết! Điều này đã được chứng minh suốt từ thời kỳ nghìn năm Bắc thuộc cho đến hôm nay. Còn nhiều vấn đề khác, xin được bàn vào dịp khác. Cái khó nhất trước sau vẫn là Đảng phải chiến thắng chính mình trước tiên! Những căng thẳng mới đang diễn ra trong khu vực ĐNÁ, Biển Đông đang trên miệng hố chiến tranh, và những thay đổi tại một số quốc gia ở đây đang nhắc nhở nghiêm khắc đất nước ta về những bài học xương máu trong quá khứ của cuộc chiến tranh Trung Quốc xâm lược biên giới nước ta 17-02-1979 và mối liên kết của nó với cuộc chiến tranh của Khmer đỏ chống nước ta ở phía Tây Nam. Cuộc sống trong thế giới khắc nghiệt hôm nay chỉ giành cho một Việt Nam có phẩm chất và bản lĩnh, để có thể chủ động với hiệu quả cao nhất vận dụng chiến lược và sách lược phải có, tự quyết định lấy vận mệnh của chính mình. Chỉ như vậy mới có thể gìn giữ được hòa bình, phấn đấu thành công cho hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển trong khu vực và trên thế giới, cho phép sẵn sàng chiến đấu và quyết chiến thắng bất kỳ cuộc chiến tranh xâm lược mới nào chống nước ta nếu xảy ra. Núi xương sông máu ba thế hệ liên tiếp dân tộc ta đã phải đổ ra để có độc lập thống nhất hôm nay. Một giọt máu nào của dân rơi xuống dù ở đâu hay bên nào cho cõi đất này đều là máu người Việt ta! Nhưng chưa bao giờ cơ đồ và con đường sống của nước ta đang bị bạo quyền bên ngoài lăm le chặn đứng như hôm nay! Không loại trừ một cuộc xâm lược mới! Chưa bao giờ như hôm nay những sai lầm, yếu kém, tham nhũng, sự ngu dốt và bao nhiêu cái ác khác của chính chúng ta nếu không được chặn đứng sẽ có ngày xô đẩy đất nước ta một lần nữa vào cảnh nồi da xáo thịt, cho bên ngoài đục nước béo cò! Bao chùm lên tất cả là đại dịch covid-19 đang hoành hành và đảo lộn cả thế giới, không phân biệt giầu nghèo, ý thức hệ, tôn giáo, châu lục, quốc gia. Những tác nhân gây ra đại dịch và những hệ quả của nó đang thách thức quyết liệt và ghê tởm sự sống còn của từng quốc gia! Sống chỉ dành cho trí tuệ và bản lĩnh chiến thắng được tội ác và cái chết! Vì vậy, từng đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam – từ Tổng bí thư cho đến đảng viên thường – xin hãy nén lại cái tôi trong chính con người mình, để có đủ lương tri và lòng yêu nước biết đau nỗi đau của dân tộc, biết nhục nỗi nhục của dân tộc, biết lo những mối nan nguy nhiều bề chưa từng có phía trước đang đe dọa đất nước! Bốn cuộc kháng chiến cứu nước đằng đẵng và đẫm máu không phải là để tạo ra cho nhân dân ta những bất công và sự kìm kẹp như đang xảy ra, sự phát triển đất nước đạt được phải trả cái giá quá đắt và đang bị ụy hiếp, đất nước bị làm hỏng nhiều mặt, hiện nay đang bị lệ thuộc và thách thức nguy hiểm. Từng đảng viên của Đảng quyết không được phản bội một hy sinh nào của dân tộc và của những bậc tiền bối, quyết không được bỏ qua bất kỳ mất mát nào của đất nước![5] Không có gì quý hơn độc lập tự do của Tổ Quốc! (Hồ Chí Minh). Hơn bao giờ hết toàn Đảng phải trung thành với lời thề cứu nước đã viết trên lá cờ Đảng kể từ ngày thành lập, bảo vệ mọi thành quả dân tộc đã giành được, hôm nay phải lột xác phấn đấu làm đội quân tiên phong của dân tộc vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình và nhiệm vụ mới! Hơn bao giờ hết toàn Đảng phải đoàn kết hy sinh phấn đấu cho quyền sống và hạnh phúc của nhân dân! Chịu ơn sâu nghĩa nặng của nhân dân, mỗi đảng viên hãy giữ trong tim mình Tổ Quốc và Sự thật! Phải dám sống vì Tổ Quốc và Sự Thật, để mỗi đảng viên sẽ tìm ra con đường sống cho mình và cho đất nước!  ĐCSVN hôm nay chỉ có thể thực hiện được nghĩa vụ cam kết của mình đối với dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước bằng cách Đảng phải xây dựng cho mình đội ngũ cán bộ đảng viên có trái tim, ý chí và trí tuệ dám sống vì Tổ quốc và Sự thật.   Thưa Tổng bí thư – Chủ tịch nước và toàn thể Bộ Chính trị, Trên đây tôi đã trình bầy những kiến nghị và suy nghĩ của mình về 5 vấn đề lớn của đất nước, mong các Đồng chí cân nhắc thấu đáo, đề đạt với Đại hội XIII những việc nên làm trong khóa Đại hội này. Nếu bỏ ngoài tai, kiến nghị này sẽ là lời cảnh tỉnh! Xin gửi các Đồng chí lời chào trân trọng. Hết Nguyễn Trung, nguyên trợ lý cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt Hà Nội, Võng Thị, ngày 12-10-2020 (Đã gửi cùng ngày, được xem lại và bổ khuyết ngày 18-10-2020) [1] Tham khảo thêm thư của cố lão thành cách mạng Chu Đình Xương 03-1982 về cải cách ruộng đất –   http://vanviet.info/tu-lieu/thu-cua-ng-chu-dnh-xuong-gui-cho-ban-chap-hnh-trung-uong-dang-cong-san-viet-nam/ [2] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Lũ”, NXB Tre Xanh, USA, 2015, tập hai, chương 26, tr. 362… http://nguyentrung-vt.blogspot.com/search/label/A1%20%22L%C5%A9%22%20-%20Final%20Draft%20April%202015 [3] Sự thật có ý nghĩa quan trọng tới mức có thể nói ĐCS Liên Xô đã ra đời với tờ báo chiến đấu của mình là SỰ THẬT (PRAVDA). Tiếc rằng sư tha hóa của Liên Xô cuối cùng đã chôn vùi tờ báo này về cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Những người cộng sản Nga hôm nay đang tìm cách cứu lại tính chiến đấu cho PRAVDA. ĐCSVN có nhà xuất bản SỰ THẬT, nhưng thành quả thật nghèo nàn! [4] Khẩu hiệu có ý nghĩa quyết định của Việt Minh đưa ra làm nên thành công cho Cách mạng Tháng Tám là “Nước Việt Nam của người Việt Nam!”. [5] Tham khảo thêm: Nguyễn Trung, “Dòng đời”, NXB Văn Nghệ, TPHCM – 2006, quyển hai, tập IV, chương 30, tr. 857 – http://www.viet-studies.net/NguyenTrung/index.htm  
03.11.2020
Nguyễn Trung
Amy Truc Tran| Chị Trần Thị Diệu ở thôn 1, xã Trà Leng đứt từng khúc ruột khi cùng lúc mất 3 đứa con thơ. Sau tiếng nổ lớn, cả ngọn núi đổ ập xuống ngôi làng, 3 đứa trẻ đang chơi đùa trong nhà đã bị vùi lấp, chị Diệu chỉ kịp ôm đứa con gái 4 tuổi trên tay vừa chạy vừa khóc. Vụ sạt lở đã cướp đi 3 đứa con của vợ chồng chị, trong đó bé đầu 11 tuổi, một bé 7 tuổi và đứa con út mới sinh được 10 tháng tuổi. Thật là tận cùng nỗi đau. Hoạ này do ai? Do chính những kẻ phá rừng, xẻo núi, những tên quan tặc tham lam thi nhau mang cả khu rừng về nhà để rồi người dân phải gánh chịu những thảm hoạ khôn cùng. Sẽ còn, còn nữa...những câu chuyện thương tâm sẽ cứ mãi xảy ra nếu độc tài đảng trị vẫn hiện diện trên dãi đất hình chữ S này. Năm nay, năm sau, rồi năm sau nữa, ngày nào còn CS thì ngày đó còn những giọt nước mắt đau thương. Dân tôi ơi, xin hãy đừng cam chịu nữa!  
01.11.2020
Fb Amy Truc Tran
Hố chôn tập thể giữa thời bình: Sau khi tìm thấy 8 thi thể trong vụ sạt lở tại thôn 1, xã Trà Vân, Nam Trà My. Các thi thể được chính quyền địa phương hỗ trợ an táng tại những hố chôn tập thể của cả 3 gia đình. - Danh tính 8 nạn nhân tử vong:
1. Đinh Văn Thiều, SN 1993.
2. Vũ Thị Kim Hồng, SN 1990.
3. Đinh Thị Thiên Ân, SN 2020.
4. Đinh Thị Mai Hương, SN 2016.
5. Vũ Văn Nam, SN 1983.
6. Vũ Thị Nhung, SN 2008.
7. Vũ Thị Thảo, SN 2010.
8. Vũ Ngọc Trãi, SN 2013. Trong đó: hộ anh Thiều có 4 người mất (có 1 trẻ mới sinh); hộ anh Nam có 3 người mất (có 1 học sinh lớp 5, 1 học sinh lớp 7); hộ anh Trường có 1 người mất là học sinh lớp 2…
Hiện vẫn còn 16 người nữa đang nằm đâu đó trong đống bùn đất chưa được tìm thấy, hy vọng họ vẫn an toàn, hy vọng chúng ta không phải chứng kiến thêm hố chôn tập thể nào như thế này nữa.
Quá thương tâm ! (Tin bài Phát Tỷ.)
01.11.2020