VIỆT NAM

Tô Văn Trường - Boxit.vn| Việt Nam chúng ta tuy có đông dân, nhưng kinh tế, và nhiều mặt còn chưa phù hợp với vai trò mà chúng ta nên có trong một thế giới sôi động ngày nay. Người làm chính trị có thể coi như lái thuyền giữa biển khơi, sự tỉnh táo, linh hoạt, là không thể thiếu. Sự kiện giàn khoan khổng lồ Haiyang Shiyou (HS) 981 của Trung Quốc ngang nhiên đặt vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam hơn tháng này kèm theo các hành động ngang ngược tấn công bằng vòi rồng phun nước, đâm thủng các thuyền chấp pháp và ngư dân của ta gây nên làn sóng phẫn nộ phản đối của nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Có nhiều ý kiến khác nhau về kiện hay không kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế và thời điểm kiện cần chờ ý kiến của Bộ Chính trị? Kiện Trung Quốc, được là ai cũng biết Việt Nam dám phản đối. Mất là mất cơ hội xác định rõ hướng đi với dân Việt và nước ngoài Việt Nam sẽ làm gì nếu Trung Quốc đưa tiếp giàn khoan vào những nơi khác. Người ta chỉ thấy Việt Nam không biết mình sẽ làm gì, thậm chí người ta còn thấy sự mất đoàn kết trong lãnh đạo. Là con dân nước Việt, ai cũng đau đáu mối họa cho đất nước. Vấn đề kiện hay không kiện là sự quan tâm lớn của cả trong và ngoài nước. Phát biểu về những cái này, nếu không hợp với xu thế chung, sẽ dễ bị “ném đá” vì lòng yêu nước là sức mạnh vô địch, nhưng nếu không hướng đúng, không sử dụng đúng thì chủ nghĩa dân tộc sẽ thành con dao hai lưỡi giống như vụ Bình Dương – Hà Tĩnh vừa qua. Không có một Nhà nước nào lại từ bỏ chủ quyền của mình một cách dễ dàng, chịu lệ thuộc vào nước khác cả. Nhà nước Việt Nam cũng đã chuẩn bị cho các giải pháp từ nhiều năm nay cho dù còn có nhiều lúc chúng ta chủ quan, “nước chưa đến chân chưa nhảy” hay làm chưa đạt được chất lượng mong muốn. Điều này xảy ra trong cả quân đội khi không tận dụng được thời gian để trở thành chính quy hiện đại, xảy ra trong cả nền kinh tế của chúng ta, khi không đa dạng hóa bạn hàng, không cổ phần mạnh các doanh nghiệp chuyển sang cơ chế thị trường. Sử dụng giải pháp pháp lý Sử dụng giải pháp pháp lý là một ứng xử văn minh mà các quốc gia phương Tây nơi có nền luật pháp vững chắc lâu đời thường cậy đến. Với châu Á, từ chỗ coi các Tòa án quốc tế là sản phẩm của phương Tây, sau nhiều cải tổ của chính Tòa, bổ sung thêm các thẩm phán từ các quốc gia nhỏ khác, nên các nước châu Á cũng có xu hướng sử dụng Tòa trong một số trường hợp như Thái Lan và Campuchia qua vụ kiện đền Preah Vihear. Mailaysia và Indonesia vụ đảo Sipadan, Lipadan. Malaysia và Singapore vụ đảo đá trắng, v.v. Các nước đưa nhau ra Tòa với điều kiện là Tòa phải có thẩm quyền trên cơ sở các quốc gia cùng chấp nhận. Tòa án Luật biển có tiến bộ trong Phụ lục VII đưa thêm một cơ chế Quốc gia có thể đơn phương đưa vụ việc ra Tòa trong những vấn đề liên quan đến giải thích và áp dụng UNCLOS. Các vụ việc trên thế giới khá đa dạng, liên quan đến chủ quyền lãnh thổ lại càng phức tạp. Hầu hết những vụ như vậy lại đòi hỏi thiện chí thực hiện các phán quyết của Tòa. Thông thường phán quyết của Tòa chỉ tạo cơ sở để giải quyết vấn đề chứ không thể giải quyết hết được mà cần đến giải pháp tổng hợp chính trị, ngoại giao, pháp lý, quân sự. Điều bất thường là các cường quốc đều có lịch sử bất hợp tác, không tôn trọng phán quyết của Tòa như Mỹ trong Mỹ/Nicaragua, Pháp trong các cuộc thử vũ khí hạt nhân... và đều rút khỏi tuyên bố chấp nhận thẩm quyền của tòa. Điều đó, giải thích Trung Quốc, nước vẫn coi mình bị các cường quốc phương tây bắt nạt, bị đối xử bất bình đẳng, sẽ khó chấp nhận thẩm quyền của Tòa. Thủ tục và nội dung Các vụ kiện ra Tòa sẽ phải giải quyết vấn đề thủ tục và nội dung. Thường Tòa sẽ tổ chức hai phiên riêng biệt. Phiên thứ nhất về thủ tục, các bên sẽ phải đưa ra lý lẽ chứng minh, Tòa có thẩm quyền còn việc quyết định có hay không là do Tòa. Phiên thứ hai về nội dung. Toà sẽ chỉ có thẩm quyền xem xét đúng câu hỏi mà các bên yêu cầu với điều kiện phải rõ ràng, không ảnh hưởng đến quyền lợi bên thứ ba và phán quyết của Tòa chỉ có hiệu lực với các bên chấp nhận thẩm quyền, không có đối với bên thứ ba. Tuy nhiên, phán quyết của Tòa cũng có thể tạo ra một “opinio juris” tạo xu thế trong các phán xử các vụ tương tự sau này và dễ định hướng cho công luận. Trong một số trường hợp, Tòa không thể quyết định có thẩm quyền hay không, nếu không xem xét nội dung. Tòa sẽ phải kết hợp cả hai phiên để xem xét. Đây có thể là trường hợp của Biển Đông. Điều kiện Rất tiếc là nhiều người không hiểu để kiện thì Việt Nam phải chứng tỏ rằng mình đã làm hết cách trong việc giải quyết song phương. Đấy là yêu cầu của Luật Biển. Khi xem xét vấn đề thủ tục tức xác định thẩm quyền. Điều kiện đầu tiên để sử dụng công cụ pháp lý là phải sử dụng hết các hình thức hoà bình khác như đàm phán, trung gian hoà giải, uỷ ban điều tra... nếu các biện pháp này bế tắc thì mới dùng đến Tòa. Vì vậy, có những vụ Tòa đã trả lại hồ sơ hoặc khuyến nghị các bên áp dụng biện pháp trung gian hòa giải. Điều kiện thứ hai là các bên phải đồng ý đưa ra Tòa thì Tòa mới có thẩm quyền và chỉ xét đúng trong phạm vi câu hỏi các bên thống nhất đưa ra. Một khi ra Tòa là nhằm mục đích giải quyết tranh chấp nhưng đằng sau của các bên đều muốn Tòa chứng minh mình thắng. Rất ít nước nghĩ đến mình thua. Nhưng điều kiện của Tòa thì rất khắc nghiệt, dù được hay không các bên đều phải chấp nhận không bác bỏ. Đây là điều cả Trung Quốc và Việt Nam đều phải cân nhắc vì lòng tự hào dân tộc cao và chưa có truyền thống văn hóa pháp lý như phương Tây. Vì vậy, việc cân nhắc thời điểm kiện, câu hỏi kiện, chọn tòa kiện, hệ quả kiện, so sánh tương quan, thực thi phán quyết... là gánh nặng đối với những người chịu trọng trách với đất nước. Trong thời gian vừa qua, hình như dư luận chỉ muốn nói đến kiện và tin tưởng đương nhiên ta thắng, địch thua mà chưa đề cập đến tất cả các khía cạnh của các câu hỏi trên, tạo một áp lực lớn cho lãnh đạo. Phải kiện và 5 khả năng lựa chọn pháp lý Rõ ràng đến nay, các các biện pháp khác không mang lại kết quả, chúng ta phải dùng biện pháp pháp lý tức là kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế. Việc chuẩn bị ra đòn, phải thực sự bài bản, kín kẽ, thuyết phục. Đi vào cụ thể, chúng ta có 5 khả năng lựa chọn pháp lý: Kiện để Trung Quốc rút giàn khoan HS 981 Kiện Trường Sa tham gia với Philippines Kiện chủ quyền Hoàng Sa Kiện chủ quyền Trường Sa    5. Kiện chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa Để chọn tòa ta có Tòa án CLQT La Hay, Tòa án trọng tài thường trực quốc tế, Tòa án luật biển, Tòa trọng tài, Một số luật sư còn nói đến Tòa trọng tài thương mại trong nước đòi bồi thường thiệt hại. Nhưng Tòa này chỉ có thẩm quyền với các vụ việc xảy ra trên lãnh thổ quốc gia. Vùng đặc quyền kinh tế không phải là lãnh thổ quốc gia, đó là một vùng biển có quy chế đặc thù (lưỡng tính) trong đó quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về tài nguyên thiên nhiên, các quyền tài phán về thiết lập các đảo nhân tạo, công trình trên biển, về bảo vệ môi trường biển, về nghiên cứu khoa học biển, trong khi các quốc gia khác có các quyền tự do biển cả về đi lại, hàng không, đặt dây cáp và ống dẫn ngầm. Vì vậy, một số báo chí nói đó là vùng biển của Việt Nam hay Trung Quốc hàm ý “ownship” chưa thật chính xác. Cột nước không thuộc chúng ta mà là phần biển cả trước kia thuộc toàn bộ cộng đồng quốc tế. Ta chỉ có một số quyền, quan trọng nhất là quyền chủ quyền trong đó để đổi lại ta cũng phải tôn trọng các quyền tự do khác của các nước. Để đơn giản ta chỉ còn có Tòa La Hay và Tòa án luật biển mà thẩm quyền đã được trình bày ở trên. Kiện riêng vụ HS 981 do Trung Quốc đơn phương triển khai giàn khoan trong vùng tranh chấp, làm thay đổi hiện trạng pháp lý, đe dọa hoà bình và an ninh, đề nghị trong lúc toà xem xét toà có thể yêu cầu áp dụng các biện pháp phòng ngừa yêu cầu rút giàn khoan. Không tính đến Hoàng Sa thuộc ai và có quy chế đảo như thế nào (có 12 hải lý hay 200 hải lý) thì địa điểm đặt giàn khoan đều nằm trong vùng overlapping giữa bờ biển Việt Nam (130 hải lý) và đảo Hải Nam (180 hải lý). Cả Trung Quốc và Việt Nam vì những lý do riêng đều tuyên bố đây không phải là vùng tranh chấp. Nếu thực hiện một đường trung tuyến giữa bờ biển Việt Nam và Hải Nam thì điểm giàn khoan nằm bên này trung tuyến phía Việt Nam. Hành động đơn phương mang giàn khoan sang quá đường trung tuyến vì vậy được coi là khiêu khích. Các ủng hộ của thế giới cũng vì cái lớn là hòa bình ổn định, ủng hộ sự kiềm chế của Việt Nam nhưng không có ủng hộ nào về chủ quyền thuộc ai cả. Đó là điều các báo chí khai thác một phía, còn lãnh đạo phải hiểu rõ mới ra quyết sách đúng được. Kiện HS 981 ít nhất Việt Nam phải hội tụ 3 điều kiện Thứ nhất chứng minh Việt nam đã bị tổn hại những gì? Giàn khoan di động, tàu thuyền kể cả quân sự đều được hưởng quyền tự do hàng hải. Chỉ khi bắt đầu khai thác thực sự hay tàu cá bị đâm như hôm 4/6 mới có đủ bằng chứng tổn hại vật chất. Khác với Philippines, họ bị mất Scarborough thực sự nên là cớ để kiện Trung Quốc. Có ý kiến cho rằng đưa ra Tòa yêu cầu Tòa tuyên bố biện pháp ngăn ngừa trước khi xét đơn nghĩa là rút giàn khoan giữ nguyên trạng. Điều kiện là bên yêu cầu phải chứng minh được tính cấp thiết của biện pháp phòng ngừa. Trung Quốc rất giảo hoạt chỉ giới hạn ở đâm va chưa có đổ máu chiến sự. Cuộc đấu tranh của Việt Nam ở đây là nhằm mục đích bẻ gãy ý chí của Trung Quốc không cho kéo giàn khoan vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Tư Chính hay 9 lô miền Trung. Nhưng ra Tòa, không thể nói ý định chính trị vì đây là vụ kiện pháp lý mà phải chứng minh có tổn hại vật chất. Thứ hai là thời gian xem xét của Toà nhanh cũng một vài tháng. Vụ Philippines kiện Trung Quốc, tháng 2 năm 2013 đưa đơn ra Tòa đến 30/3/2014 nộp bản memoire, Tòa yêu cầu Trung Quốc nộp bản phản bị vong lục trình bày quan điểm của mình trước ngày 15/12 nghĩa là mở cho Trung Quốc tham gia nhưng Trung Quốc không tham gia. Có nghĩa là thủ tục một vụ kiện từ 18-22 tháng, Tòa mới bắt đầu xét phiên có thẩm quyền hay không. Giàn khoan có thời hạn hoạt động theo công bố 15/8/2014 lúc đó tàu và giàn khoan đã rút, Toà có thể nói đối tượng kiện không còn nên hủy vụ kiện (giống như trong vụ thử vũ khí hạt nhân 1974 giữa Pháp, Newzeland, Úc). Khi ta làm xong hồ sơ thì cũng là thời điểm họ rút. Khi đó Trung Quốc đương nhiên cho rằng không còn đối tượng xem xét nên bác đơn. Nếu kiện Việt Nam phải kiện ngay từ những ngày đầu, song lúc đó lại vướng phải điều kiện thứ 3 chưa hoàn thành. Thứ ba là ta phải chứng minh đã sử dụng hết các biện pháp đàm phán hoà bình. Hiện Trung Quốc rất xảo trá, họ không dồn đến cùng vẫn nói là sẵn sàng đàm phán nhưng lại không chịu nhận đàm phán với ta. Mức giao thiệp hai bên mới ở mức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, còn chưa đến mức Thủ tướng hay Tổng bí thư. Việt Nam và Trung Quốc lại còn Thỏa thuận nguyên tắc về các vấn đề trên biển mới ký 2012 trong đó thỏa thuận sẽ đàm phán song phương để giải quyết các bất đồng đối với các vấn đề song phương, đàm phán đa phương đối với các vấn đề đa phương. Ngoài ra, cũng phải tính đến khả năng Trung Quốc đưa lý luận vu cáo ta sử dụng lực lượng quân sự vì cảnh sát biển hiện thuộc Bộ Quốc phòng, nếu nó được tách ra là một lực lượng dân sự như những nhà phác thảo Pháp lệnh Cảnh sát biển 1998 ban đầu dự tính thì tốt hơn.  Toà cũng có thể khuyến cáo quay về thủ tục hoà giải bắt buộc nghĩa là hai bên đàm phán quay lại từ đầu.  Đòn tấn công của Trung Quốc Điều cần lưu ý  là tại sao phải sửa soạn cẩn thận, tức là phải chấp nhận những gì đã thật sự xảy ra và có phương pháp đối phó. Về kiện chủ quyền, Việt Nam có nhiều điều phải lo, bởi vì Trung Quốc có nhiều nguồn tài liệu chứng tỏ Việt Nam dân chủ cộng hòa đã nhường Hoàng Sa cho Trung Quốc. Những gì Trung Quốc nói hôm nay, họ đã đăng trong tài liệu của họ năm 1980, trên Beijing Review (lúc đó là tờ báo chính thức duy nhất của Trung Quốc bằng tiếng nước ngoài) và được lặp lại ở nhiều nơi khác, có thể coi ở đây: http://www.marxists.org/subject/china/peking-review/1980/PR1980-07.pdf Tiếng Tàu gọi Hoàng Sa là Xisha (Tây Sa) và Trường Sa là Nansha (Nam Sa). Những điểm chính trong tài liệu trên: - Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng in cả trên báo Nhân Dân (Bản đăng này đã có trên internet). - Báo Nhân dân VN đăng luật về hải phận của Trung Quốc. - Các phát biểu của ông Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Ngoại giao VN  và một cán bộ khác về Hoàng Sa/Trường Sa là của Trung Quốc trong cuộc họp ở Hà Nội. - Bản đồ World Map của Việt Nam (1960) do cục Bản đồ (thuộc Bộ Quốc phòng VN) xuất bản ghi Hoàng Sa/Trường Sa bằng tiếng Tàu và đóng ngoặc là của Trung Quốc. - Bản đồ World Atlas năm 1972 của Văn phòng Thủ tướng ghi Hoàng Sa/Trường Sa bằng tiếng Trung (Có in lại trong tạp chí này). - Sách giáo khoa Địa lý lớp 9 năm 1974 do Bộ Giáo dục xuất bản, ghi Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Quốc (đã được Trung Quốc mới đây chụp và đưa lên internet). Và họ lý luận là cho đến 1974, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chấp nhận Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Quốc. Với những tài liệu như thế thì khó lòng bác bỏ được họ về lập trường của VNDCCH.  Ngoài ra có thể có những tài liệu quan trọng khác mà Trung Quốc chưa đưa ra. Để phản bác thì phải chấp nhận: - Nước có hai quốc gia trước năm 1975: VNDCCH và VNCH. - VNCHXHCNVN là nước kế thừa, không cần phải thừa kế hiệp định/lời hứa nhường lãnh thổ. Bài viết của TS Tạ Văn Tài và TS Vũ Quang Việt “Công ước Kế tục quốc gia đối với Hiệp ước 1978”  là theo hướng này. Nhưng họ chỉ là chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra vấn đề chứ còn lập luận đứng vững hay không phải cần chuyên gia thật sự về luật này và các luật quốc tế khác. Kiện HS 981 chỉ là tình huống - lâu dài phải kiện đường lưỡi bò Kiện HS 981, Việt Nam có thể đạt được thắng lợi để tuyên truyền mục đích chính nghĩa về Việt Nam nên Trung Quốc sợ không dám ra toà, động viên được nhân dân chung sức một lòng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Nhưng kiện chỉ để Trung Quốc rút giàn khoan HS 981 thì là mục tiêu quá hẹp. Việt Nam cũng phải có biện pháp phương án lường trước các đòn thù xấu chơi của họ nhất là trong lĩnh vực kinh tế . Việt Nam cũng phải chuẩn bị cả những tình huống nảy sinh tiếp theo, những cái ta không mong muốn như Toà sẽ phê phán cả Việt Nam và Trung Quốc, xét không chỉ công thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà cả các ứng xử tiếp theo như báo Nhân Dân, Bản đồ của Cục bản đồ, sách giáo khoa trong quá khứ, v.v. mà ta đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc. Đó là một suy nghĩ văn minh nhưng với công chúng thì chưa hẳn đã thông. Bây giờ Liên Hiệp Quốc đứng ra giúp đàm phán thì Việt Nam phải nhanh chóng hoan nghênh. Nhưng Liên Hiệp Quốc không có trách nhiệm giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ mà chỉ khuyến cáo hai bên đàm phán. Điều đó có nghĩa là còn có những biện pháp hòa bình khác mà các bên chưa tận dụng hết. Và ngay từ giai đoạn thủ tục, nếu ta không hội đủ ba điều kiện thì việc kiện HS 981 chưa chắc đã là một điều hay khi Tòa tuyên không có thẩm quyền. HS 981 là một hiện tượng, còn đường lưỡi bò 9 đoạn mới là lâu dài. Chẳng lẽ hôm nay họ kéo đến đây ta kiện, ngày mai họ kéo đến kia ta lại kiện, sẽ dễ bị nhàm. Kiện là một giải pháp pháp lý cần thiết và đối tượng kiện phải là đường lưỡi bò. Chúng tôi cho rằng phải kiện, còn khi nào nộp đơn thì phải sửa soạn kỹ lưỡng. Nếu không tham gia sẽ bị cho là bỏ lỡ cơ hội. Không tham gia sẽ đánh mất lòng dân và khó giải thích với cộng đồng quốc tế. Có ý kiến cho rằng không tham gia thì nếu sau này sử dụng biện pháp pháp lý thì Tòa sẽ cho rằng anh không có quan tâm nên coi như đã từ bỏ. Tuy nhiên, khi xem xét dù các bên vắng mặt Tòa cũng phải chú trọng đến quan điểm của họ. Chỗ này sẽ phải chờ đến bản lĩnh của lãnh đạo và các tính toán về chính trị, kinh tế chứ không đơn thuần là pháp lý nữa. Mặt thuận: VN có cơ sở pháp lý lâu đời, kêu gọi được sự ủng hộ quốc tế, đáp ứng được tình cảm nhân dân trong ngoài nước và quốc tế, tài liệu chuẩn bị những năm qua có thể tương đối. Tuy nhiên cũng cần điểm qua khả năng và các hạn chế để có phương án đối phó. Điều khó nhất là Trung Quốc không chấp nhận ra Toà. Sẽ có hai nội dung kiện a) Về chủ quyền b) Về các quyền sử dụng biển theo UNCLOS. Nếu Trung Quốc chấp thuận ra Tòa Trung Quốc có hạn chế chiếm nhóm phía Đông Hoàng Sa bằng vũ lực. Việt Nam có lịch sử quản lý Hoàng Sa mạnh từ thế kỷ XVII đến 1858. Từ 1858 đến 1925 khi Pháp quay lại công nhận chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa là một khoảng lặng. 1946 sau chiến tranh Pháp quay lại chiếm nhóm phía đông còn Tưởng Giới Thạch trước đó ở nhóm Tây. 1956 Trung Quốc đuổi Tưởng Giới Thạch chiếm phía Tây cả VNCH và VNDCCH không có ý kiến!? Từ 1956 đến 1974 mới có sự lên tiếng từ VNCH và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong thời gian 1956 đến 1975 VNDCCH cũng có một số động thái không có lợi như đã nói ở trên. Nếu Tòa có thẩm quyền, không phụ thuộc mong muốn các bên, theo các nhà nghiên cứu nước ngoài cho rằng sẽ có những khả năng sau: 1. Toà tuyên có lợi cho cả hai bên. Trung Quốc trả lại nhóm phía Đông đánh chiếm bằng vũ lực cho Việt Nam. 2. Chủ quyền thuộc Trung Quốc nhưng vùng biển xung quanh sử dụng chung như trường hợp của Na uy và Island sau Thế chiến II. 3. Chủ quyền thuộc Trung Quốc nhưng quần đảo chỉ có vùng biển hạn chế. 4. Quần đảo thuộc Trung Quốc có đủ đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. 5. Quần đảo hoàn toàn thuộc Việt Nam. Trong trường hợp TQ từ chối thẩm quyền về xét xử chủ quyền lãnh thổ VN buộc phải lựa chọn Tòa nào có thể thụ lý vụ kiện khi chỉ có một bên đơn phương đưa ra và chỉ về sử dụng vùng biển. Trung Quốc cũng không có trách được vì họ gây hấn HS 981 trước. Không thể nói VN theo Mỹ vì VN đã cố gắng chứng minh mong muốn đàm phán, thậm chí còn nhờ đến cả Liên Hiệp Quốc, điều mà Philippines chưa làm hết. Chỉ có toà trọng tài luật biển ITLOS với Phụ lục VII cho phép một bên đưa ra và câu hỏi chỉ là giải thích và áp dụng công ước luật biển. Đây là cách Philippines áp dụng. Trung Quốc đã bảo lưu các vụ kiện liên quan đến chủ quyền, phân định theo Điều 298. VN có thể áp dụng Điều 279 về hòa giải bắt buộc nhưng cũng sẽ khó khăn. Vụ HS 981 nếu đơn phương đưa giàn khoan vào vùng biển tranh chấp là hành động đáng bị lên án. Muốn xác định vùng tranh chấp lại phải giải quyết vấn đề chủ quyền. VN không từ bỏ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa còn Trung Quốc cho rằng Hoàng Sa thuộc họ không có tranh chấp. Vị trí giàn khoan cách Lý Sơn 120 hải lý, cách Hải Nam 180 hải lý tạo thành vùng chồng lấn. Còn nếu Phú Lâm có đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thì khoảng cách 80 lý. Vì vậy Trung Quốc cho rằng nếu Hoàng Sa thuộc họ vùng biển giàn khoan thuộc họ. Tuy nhiên, Trung Quốc có điểm yếu sử dụng vũ lực chiếm Hoàng Sa phi pháp nên Việt Nam không chấp nhận. Ngoài ra, còn vấn đề quy chế đảo đá. Triton chắc Toà sẽ cho chỉ có 12 hải lý. Nhưng Phú Lâm từ thời Pháp đã có người sinh sống nên dễ có đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Nếu giả thiết đảo không thuộc VN (đây là điều không muốn nhưng chỉ nêu ra để tính), đảo sẽ có một phần hiệu lực 1/4, 1/3, 1/2... đường phân định thì vị trí giàn khoan có thể rơi vào phần đường trung tuyến phía Việt Nam (Cái này phải có sự kết hợp giữa chuyên gia Luật biển và chuyên gia bản đồ để tính toán. Đây là điều công chúng cũng ít phát biểu đến). Các vấn đề này cuối cùng vẫn quay lại chủ quyền và Tòa không có thẩm quyền. Toà chỉ sử dụng Điều 279 khi có khác biệt về giải thích và áp dụng các bên sẽ quay về áp dụng Phụ lục II hoà giải bắt buộc, tức các bên lại ngồi đàm phán. Theo quan điểm luật quốc tế và định nghĩa quốc gia phải hội đủ 4 yếu tố: lãnh thổ, dân cư, chính quyền và khả năng chủ thể thì dù về mặt chính trị các bên có tranh cãi Nam Bắc là một mối, sự tồn tại de facto VNDCCH và VNCH trong một hoàn ảnh đặc biệt là điều khó có thể phủ nhận. Công ước này bàn về các trách nhiệm và nghĩa vụ kế thừa giữa hai quốc gia trong các mặt hiệp định, vay nợ, lưu trữ... nhưng vấn đề biên giới lãnh thổ không thuộc diện điều chỉnh của Công ước. Năm 1976 Quốc hội đã thông qua bầu cử thành lập CHXHCNVN trên cơ sở VNDCCH và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam là bên thừa kế các vấn đề lãnh thổ của cả hai thực thể trước. Vấn đề ở đây lại là “bên thắng cuộc” như mọi người ngầm hiểu là VNDCCH trước kia lại có lập trường “thụ động” trong các tuyên bố chủ quyền. Tòa sẽ cho phép CHXHCNVN chọn lấy những gì tốt nhất cho mình hay phải kế thừa cả mặt tích cực và tiêu cực của những hành động trong quá khứ. Đâu là thời điểm kết tinh tranh chấp… Đó là những vấn đề rất khó tiên lượng Tòa sẽ phán quyết thế nào. Trường hợp kiện Trường Sa thì Tòa có thể gộp vụ kiện của Philippines với vụ kiện của Việt Nam do có cùng đối tượng kiện là đường lưỡi bò. Kiện cả Hoàng Sa - Trường Sa cũng có những vấn đề tương tự Tuy nhiên, cũng không loại trừ khả năng Trung Quốc có thể tính đến việc rút khỏi UNCLOS. Làm vậy họ cũng mất uy tín nhưng họ sẽ bất chấp. Lãnh đạo phải sáng suốt lựa chọn Chuẩn bị tốt cho các vụ kiện Việt Nam cũng phải thống nhất nội bộ về quy chế pháp lý của đảo và đường cơ sở phù hợp với Công ước luật biển. Ngoài ra, khi quyết định, không chỉ đơn thuần pháp lý mà phải hiểu pháp lý là một vũ khí, một biện pháp nhằm tác động tới cái đích cuối cùng là chính trị. Bàn cờ chính trị thế giới đang thay đổi với sự đi lên của Trung Quốc, sự đi xuống hay ngang của Mỹ, sự trở lại của Nga. Biển Đông đang dần trở thành vũ đài giữa hai siêu cường Mỹ và Trung Quốc. Ai cũng muốn độc tôn và lôi kéo liên minh. Hiện Việt Nam đang vất vả chống Tàu. Sắp tới nếu Mỹ, Nhật, Philippines đồng ý thành lập một liên minh chống Trung Quốc thì Việt Nam có tham gia không? Nếu xảy ra chiến sự thì họ sẽ làm gì, sẽ giúp vũ khí để Việt Nam chiến đấu? Lịch sử cho thấy mỗi khi Việt Nam nghiêng về một cường quốc nào thì chính Việt Nam phải chịu biết bao đau thương, mất mát. 1954-1975 chúng ta tự hào trên tuyến đầu của CNXH chống Mỹ, 1979 Việt Nam ký Hiệp định liên minh với Nga và chịu trận trên biên giới Việt-Trung. VN đồng thời phải giải quyết hai yêu cầu bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để tăng cường tiềm lực bảo vệ và xây dựng tổ quốc. Làm thế nào để thoát thế kẹt giữa hai siêu cường?. Một quyết định dựa trên cân nhắc đầy đủ các thông tin, tình thế, vận mệnh dân tộc buộc những người lãnh đạo phải sáng suốt lựa chọn. Nhìn ra bên ngoài, dù không ở trong tình trạng cấp thiết như VN nhưng Mailaysia đã xử lý rất tốt trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Malaysia vừa kiên quyết với Trung Quốc vừa công nhận vai trò đi lên của Trung Quốc nhưng đó phải là sự đi lên với trách nhiệm của một cường quốc, chứ không phải là kẻ lớn bắt nạt nước bé. Trong khi chờ quyết định kiện, cũng nên thấy VN đã hành động đúng khi chỉ cho cảnh sát biển và kiểm ngư ra đấu tranh tuyên truyền buộc Trung Quốc rút khỏi giàn khoan. Trong những ngày đầu tiên tàu Kiểm ngư VN còn dùng súng nước bắn trả nhưng những ngày sau VN đã xác định chỉ dùng biện pháp hòa bình. Ngoại giao VN đã có những hoạt động đáng kể, dù hai bên đã cáo buộc nhau lên Liên Hiệp Quốc, đều đã tung ra các lập luận, bằng chứng của mình. Có thể coi gần như một cuộc tập dượt kiện nhau ra Tòa. Sự kết hợp chính trị, ngoại giao, pháp lý và thực địa là một giải pháp tốt. VN đã lựa chọn chiến thuật, cách đối phó phù hợp với lực của mình, lấy yếu chọi mạnh, lấy nhàn hạ chọi kẻ nôn nóng. Vụ HS 981 này, VN cần kiên trì quấy đảo. Trung Quốc sẽ không rút ngay vì sợ mất thể diện, trừ khi có điều kiện bất khả kháng như bão hoặc họ tuyên bố hoàn thành mục tiêu trước thời hạn. Đẻ lâu họ cũng mệt mỏi vì chi phí giàn khoan và hơn 130 tàu là rất lớn dù họ giàu. Họ sẽ thay đổi chiến thuật, sử dụng tàu cá vỏ sắt nhiều hơn để thay thế. Việt Nam kiên trì thực địa kết hợp đấu tranh và tuyên bố kiên quyết đưa ra tòa án quốc tế là hay nhất. VN có thể yêu cầu Liên Hiệp Quốc cử Ủy Ban điều tra hoà giải. Uỷ ban chỉ có tính khuyến nghị nhưng là biện pháp hai bên có thể chấp nhận trong tình hình hiện nay. Hy vọng trong những lúc nguy nan, trí tuệ Việt Nam bao giờ cũng tìm được đường ra. Một giải pháp chiến tranh không ai muốn nhưng nếu cần thì Việt Nam chắc cũng sẵn sàng. Việt Nam sẽ là bên chịu tổn hại kinh tế nhiều nhất nhưng lâu dài Trung Quốc sẽ mất thế chính trị và sa lầy trong cuộc chiến, hủy hại giấc mơ Trung Hoa của họ. Một cuộc chiến tranh du kích trên biển là tốt nhất với Việt Nam. Một nhóm cướp biển Xomali với tàu nhỏ cao tốc và AK mà bao năm nay thế giới có khống chế được đâu. Với chiều dài bờ biển của mình, Việt Nam có thể bố trí tên lửa và thủy lôi, mìn dày đặc, đánh mạnh vào các đoàn tàu vận tải dầu. Một chiến thuật như Trần Khánh Dư diệt đoàn thuyền lương Trương Hổ vậy. Lịch sử cho thấy chưa bao giờ Trung Quốc bước qua được Việt Nam để xuống phía Nam bằng vũ lực. Nếu Trung Quốc nghĩ lại thì hai bên bắt tay nhau chung sống hòa bình. Việt Nam công nhận vai trò cường quốc châu Á của Trung Quốc trên cơ sở họ tôn trọng độc lập của Việt Nam. Sẽ rất cần tìm cách để chúng ta “thoát lú” và hữu nghị viển vông, an toàn bằng tất cả các biện pháp cần thiết bao gồm cả ngoại giao và pháp lý. Tin rằng, chúng ta sẽ thắng và giải pháp pháp lý cần phải xúc tiến ngay trên cơ sở chuẩn bị kỹ lưỡng. Thay cho lời kết Đọc Kim Dung "Thiên long bát bộ" nhớ lại ván cờ vây trên đỉnh Thiên sơn của Tô Tinh Hà. Bao nhiêu cao nhân anh hùng trong thiên hạ được mời đến đều phải bó tay trước nước cờ bí hiểm và đầy huyền thoại này. Người giải được nước cờ này cuối cùng lại là một nhân vật rất bình thường, một tiểu tăng không tên tuổi của phái thiếu lâm Hư Trúc. Nhân vật này không phải là cao thủ chơi  cờ và vô tình đã gạt bỏ được những nguyên lý tri thức cao siêu “viển vông mơ hồ” của cờ vây để đi một nước cờ rất sơ đẳng và hết sức bình thường mà chẳng cao nhân nào nghĩ tới. Chính lối chơi này đã phá được  nước cờ vây bí hiểm một cách thần kỳ và ngoạn mục. Phải chăng trong chuyện này, Kim Dung muốn nhắc tới một nguyên lý cơ bản, trí tuệ nhân dân và cơ hội lịch sử sẽ tạo nên sự thần kỳ. T.V.T.
Tô Văn Trường - Boxit.vn
   
21.07.2019
Tô Văn Trường - Boxit.vn
Sau hơn hai tuần lễ im lặng, cuối cùng phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN Lê Thị Thu Hằng đã phải lên tiếng hôm 19 tháng Bảy về những xung đột đang xảy ra ở Bãi Tư Chính. Thứ nhất, có xung đột giữa 4 tàu Cảnh sát biển CSVN và 2 tàu Cảnh sát biển Trung Cộng (trong đó có một tàu khổng lồ 10.000 tấn) và một nhóm tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía nam Biển Đông, từ ngày mồng 3 tháng Bảy, nhưng hai phía đã giữ im lặng. Thứ hai, CSVN đã tiếp xúc nhiều lần với phía Trung Cộng ở các kênh khác nhau, trao công hàm phản đối, và yêu cầu rút toàn bộ tàu ra khỏi vùng biển Việt Nam. Nhưng bà Thu Hằng cho biết là cho đến nay Bắc Kinh vẫn không đáp ứng các yêu cầu của Hà Nội, các tàu của Trung Cộng tiếp tục thăm dò trong khu vực gần Bãi Tư Chính. Trước đó hai hôm, ngày 17 tháng Bảy, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói rằng Bắc Kinh muốn Hà Nội phải: “thực sự tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc tại các vùng biển có liên quan, và không có những hành động làm phức tạp tình hình.” Trong cùng ngày, khi Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng trả lời với báo chí lề phải về tình hình Biển Đông, đã hoàn toàn không nhắc gì đến vụ xung đột ở Bãi Tư Chính mà chỉ nói chung chung rằng: “Chúng ta một mặt đấu tranh bảo vệ chủ quyền, mặt khác phải đấu tranh để bảo vệ môi trường hòa bình và lợi ích chung của Biển Đông với cộng đồng quốc tế.” Sự đụng độ giữa tàu cảnh sát biển CSVN và Trung Quốc hiện nay đã làm cho dư luận nhớ đến một biến cố khác xảy ra cách đây hai năm, đúng vào thời điểm tháng Bảy. Đó là vào đầu tháng Bảy năm 2017, công ty Talisman – Việt Nam, một công ty con của Repsol (Tây Ban Nha) đã tuyên bố tìm được một mỏ khí đốt lớn trong khu vực Bãi Tư Chính, thuộc lô 136-03 có trị giá 1 tỷ Mỹ Kim. Tin này đã được CSVN xác nhận. Tuy nhiên ngay sau đó, Bộ Chính Trị CSVN đã phải cho ngưng khai thác khí đốt tại khu vực này vì bị Trung Cộng đe dọa sẽ tấn công vào các căn cứ của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Repsol được lệnh phải rời khỏi khu vực, mặc dù đã chi khoảng 300 triệu USD cho việc thăm dò này. Vì thế khi xung đột Bãi Tư Chính xảy ra, lãnh đạo CSVN đã cố tình giấu kín sự việc do vừa lo sợ làn sóng chống Trung Quốc sẽ bùng nổ trở lại, và có thể sẽ lớn hơn cuộc biểu tình chống Dự Luật Đặc Khu xảy ra vào ngày 10 tháng Sáu, 2018, vừa lo ngại những động thái uy hiếp bằng vũ lực từ phía Trung Quốc. Một cuộc biểu tình vô cùng đông đảo, qui tụ mọi thành phần dân chúng nhằm chống Dự Luật Đặc Khu và An Ninh Mạng tại Sài Gòn hôm 10 tháng Sáu, 2018. Thứ nhất, lãnh đạo CSVN đang hưởng rất nhiều lợi ích kinh tế do cuộc xung đột mậu dịch giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Để hưởng những lợi ích này từ cả hai phía Hoa Kỳ (xuất khẩu) và Trung Quốc (đầu tư), CSVN buộc phải giữ thế đu dây và quan trọng hơn nữa là kiểm soát được tình hình, để không cho xảy ra bất cứ những biến động nào dù lớn hay nhỏ. Tâm lý lo sợ biến động đã ăn sâu trong đầu óc các lãnh đạo Hà Nội, biểu hiện rõ rệt trong phát biểu mới đây của Thượng Tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Biển Đông là lợi ích chung của cả thế giới, và các vấn đề phải được giải quyết bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế để đi đến sự ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.” Phát biểu của Tướng Vịnh và cả tứ trụ trong hàng ngũ lãnh đạo CSVN từ trước tới nay liên quan tới Trung Cộng, đều cho thấy họ không hề “có xương sống”. Do vòng kim cô “Đại Cục”, họ không những phát biểu chung chung để làm hài lòng cả hai phía mà còn biểu hiện một sự nhu nhược trước hành động xâm phạm một cách trắng trợn của Bắc Kinh đối với chủ quyền của Việt Nam trong khu vực Bãi Tư Chính. Thứ hai, Bắc Kinh đang có nhu cầu tạo một “sự cố” tại Biển Đông nhằm giải quyết nhu cầu sinh tử hiện nay, dùng nó trấn áp nội bộ đảng, ngăn chặn những rối loạn có thể xảy ra vì những suy thoái kinh tế từ hậu quả của các chính sách áp thuế của Hoa Kỳ. Với thái độ nhu nhược cố hữu của Hà Nội, Việt Nam đã trở thành đích nhắm tốt nhất của Bắc Kinh để tạo ra “sự cố” trên Biển Đông, thay vì là Hoa Kỳ hay Phi Luật Tân, để vừa đánh lạc hướng người dân Trung Quốc từ những khó khăn kinh tế, vừa triệt hạ những thế lực đang muốn chống lại họ Tập cũng như trấn áp các cuộc vận động của phe dân chủ Trung Quốc hiện nay. Nếu xung đột bùng nổ, Bộ Chính Trị CSVN nhìn thấy rõ là họ rơi vào thế kẹt giữa hai lằn đạn: sức ép chống Tàu của người Việt Nam và sức ép kinh tế đến từ các doanh nhân dưới sự chỉ đạo của Bắc Kinh. Hơn thế nữa, sức ép này lại xảy ra trong bối cảnh sức khỏe của ông Nguyễn Phú Trọng chưa phục hồi sau cơn đột quỵ hôm đến thăm Kiên Giang vào ngày 14 tháng Tư, khiến sự chia rẽ nội bộ giữa các khuynh hướng “thoát Trung”, “bám Trung”, “thân Mỹ” càng thêm trầm trọng. Tóm lại, qua phản ứng của Hà Nội về vụ xung đột ở Bãi Tư Chính trong hai tuần lễ vừa qua, người ta càng thấy rõ thế chênh vênh của lãnh đạo CSVN trong cuộc chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc hiện nay. Chính thế chênh vênh này sẽ làm cho nội bộ đảng trở nên phức tạp, và những xung đột ngầm trong việc chuẩn bị nhân sự của đại hội 13 sẽ diễn ra không khác gì những rối rắm ở đại hội 12. Hai thế lực Trần Quốc Vượng (cánh miền Bắc) và Nguyễn Xuân Phúc (cánh Đà Nẵng) sẽ là những nối dài của cuộc tranh chấp Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Tấn Dũng của 5 năm về trước. Lý Thái Hùng
https://viettan.org/vu-bai-tu-chinh-va-the-ket-cua-ha-noi/  
21.07.2019
Lý Thái Hùng – Web Việt Tân
Phạm Chí Dũng – VOA| Sau nhiều năm tác oai tác quái và xả lũ giết sống dân nghèo mà không bị bất cứ một chế tài hành chính hay hình sự nào, lần đầu tiên có một nhà máy thủy điện bị khởi tố. Lần đầu tiên bị khởi tố Đó là Nhà Máy Thủy Điện Nậm Nơn ở Nghệ An bị khởi tố bởi công an Nghệ An về hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp vào tháng Bảy năm 2019. Nhà máy thủy điện này đã xả lũ mà không thông báo khiến anh Vi Văn May (bản Xiêng Hương, xã Xá Lượng, Tương Dương), thiệt mạng vào tháng Sáu, 2019 mà báo chí đã phản ánh. Song song khởi tố vụ việc trên, công an Nghệ An đang tập trung điều tra quy trình xây dựng nhà máy thủy điện, trong đó có liên quan các hạng mục công trình và thẩm định dự án để xác định “trách nhiệm thuộc về ai”. Đáng chú ý hơn, công an Nghệ An cũng hứa hẹn tổng hợp, điều tra lại toàn bộ thiệt hại trong đợt xả lũ cuối tháng Tám, 2018 gây thiệt hại nặng nề cho 171 hộ dân, trong đó nhiều hộ đến nay vẫn chưa nhận được đền bù. Ngoài ra, can Nghệ An cũng sẽ điều tra các hành vi vi phạm của các nhà máy thủy điện theo quy định tại Nghị Định 134 của Chính phủ về vấn đề vận hành nhà máy thủy điện và hồ chứa. Nếu phát hiện vi phạm sẽ kiến nghị và trực tiếp xử lý. Dù chưa biết rõ động cơ thực sự nào đã dẫn đến tinh thần trách nhiệm của công an vọt cao đột biến như thế, nhưng khách quan mà xét, vụ khởi tố trên là một trong số hiếm hoi lần mà ngành công an Việt Nam đã làm được một việc có ý nghĩa với dân, thay cho cơ chế quan liêu, cửa quyền hoặc đàn áp dân vẫn xảy ra như cơm bữa. Đối với việc vận hành nhà máy thủy điện và hồ chứa, cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm cao nhất, hoặc phải chịu trách nhiệm không thể chối bỏ, là Bộ Công Thương. Vậy Bộ Công Thương và nhiều nhà máy thủy điện do bộ này cùng Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam (EVN) quản lý đã ‘lập thành tích’ giết sống dân nghèo trong suốt nhiều năm trời đến mức nào? Hãy nhìn lại và phán xét một trong những tội ác điển hình của EVN: Vụ xả lũ thảm sát người dân miền Trung vào năm 2013. Vụ thảm sát năm tối trời Được cơ quan chủ quản là Bộ Công Thương “bảo kê” hồ sơ tội ác của EVN đã dày quá khổ, không chỉ vì quá nhiều lần tăng giá điện vô lối đánh úp túi tiền cùng kiệt của dân nghèo, mà hành vi cực kỳ nhẫn tâm còn xảy đến vào mùa mưa bão cuối năm 2013: Tháng Mười Một năm đó, tập đoàn này hoàn toàn vô trách nhiệm khi để 15 nhà máy thủy điện đồng loạt xả lũ lên đầu người dân vùng rốn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Đắc Lắc… khiến gây ra cái chết tang thương của hơn 50 mạng người. Cái năm trời tối như mực ấy, cả rẻo đất hình chữ S đã quằn quại trong một thảm cảnh vô cảm đồng loại chưa từng có! Không thể gọi khác hơn, người dân vùng rốn lũ đã bị ép chặt vào một cái đáy không lối thoát. “Dưới đáy” ở Việt Nam cũng là đêm không ngủ. Những nạn nhân chỉ trong phút chốc đã bị mất toàn bộ tài sản nhỏ nhoi và miếng ăn còn sót lại. Nhưng đã không có một hành động nào được các “đày tớ” làm sáng tỏ cho những cái chết trong quá khứ để tránh thoát những cái chết vừa mới xảy ra. Đầu giờ chiều 13/12/2016, hai nhà máy thủy điện trên lưu vực sông Ba thuộc địa phận tỉnh Phú Yên là Thủy Điện Sông Ba Hạ và Thủy Điện Sông Hinh đồng loạt xả lũ xuống hạ du với tổng lưu lượng lên 6.000 m3/giây. Trong đó, Nhà Máy Thủy Điện Sông Ba Hạ xả 4.500 m3/giây, Nhà Máy Thủy Điện Sông Hinh xả 1.500m3/giây. Ảnh: báo Giao Thông Phú Yên với liên tiếp những cú xả lũ của Thủy Điện Sông Hinh và Thủy Điện Sông Ba Hạ những năm trước là một điển hình về sự vô lương tâm chưa hề có đáy. “Vô cảm” xem ra vẫn là từ ngữ nhẹ nhàng và lịch sự mà báo giới và dư luận dành để mô tả về quan chức thời nay. Tất cả đều biết cấp trên trực tiếp của các nhà máy thủy điện là EVN, còn thủ trưởng trực tiếp của EVN là Bộ Công Thương. Tuy nhiên, sau vụ “giết sống” trên, nhiều phóng viên báo chí quốc doanh đành nuốt nhục vì bị cơ quan tuyên giáo “chặn họng.” Tội ác đã được che chắn đến mức tối đa sau khi xuất hiện thông tin EVN và cơ quan chủ quản quá nhiều lần “bảo kê” cho tập đoàn này là Bộ Công Thương đã có “quan hệ” đủ dày và đủ sâu để Ban Tuyên Giáo Trung Ương, theo thói quen “nắm đầu” báo chí và công khai cấm cản tất cả những tin tức không có lợi cho “đảng ta” và cả bất lợi cho “chúng ta”, đã chặn đứng kế hoạch đưa vụ EVN ra công luận của những tờ báo ít sợ nhất. Nhân quả là đã không có bất kỳ một quan chức vô cảm và vô trách nhiệm nào phải đối mặt với vành móng ngựa, mặc dù chính vào lúc người dân chết chìm trong nước lũ xả trắng mênh mông, Bộ Trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng còn bận “công du “ ở nước ngoài. Thậm chí sau đó EVN còn được Bộ Công Thương đề nghị nhà nước phong tặng các loại huân chương cao quý! Ở trên cao và trùm lên tất cả, trách nhiệm thuộc về Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng – người đứng đầu một bộ có tiếng nói quan trọng nhất trong vấn đề quy hoạch thủy điện, phê duyệt các dự án thủy điện. Bất chấp những lời dẫn dụ đầy ngụy biện của giới quan chức chính phủ và bộ ngành, tất cả đều đã quá chậm. Bất chấp vài trăm dự án thủy điện cuối cùng cũng buộc phải gạt ra khỏi quy hoạch, hàng trăm dự án thủy điện còn lại đã quét đi hơn 50.000 hecta rừng, hàng ngàn hecta đất ở, đất trồng trọt của người dân… khiến dân chúng phải chuyển nhà, mất nghề và khốn đốn trong sinh hoạt. Nhiều người dân trắng tay và mất hết lòng tin vào chế độ. Nhưng cho tới nay, từ Bộ Trưởng Vũ Huy Hoàng đã ‘hạ cánh an toàn’ trở xuống, đã không một kẻ nào phải ra trước vành móng ngựa để trả lời cho những cái chết trên. Mọi việc vẫn treo nguyên vẹn ở đó, hệt như dòng lũ trắng luôn treo lơ lửng trên đầu người dân vùng rốn lũ, từ năm 2013 đến tận giờ này. Hố Hô: những oan hồn không thể nhắm mắt Ba năm sau vụ 15 nhà máy thủy điện của EVN đồng loạt xả lũ giết chết hơn năm chục mạng dân nghèo ở rốn lũ miền Trung, lịch sử lại tái diễn trên mảnh đất xơ xác này vào mùa bão lũ cuối năm 2016. Những tờ báo nhà nước phẫn nộ nhất cũng chỉ dám úp mở đánh tiếng vụ Thủy Điện Hố Hô ở Hà Tĩnh là “xả lũ sai quy trình”, nhưng không dám nói gì về hơn 20 người Hương Khê bị những kẻ vận hành xả lũ làm thiệt mạng. Sau đó, như một hiệu lệnh bất thành văn đầy dấu hiệu tuyên giáo, giới truyền thông quốc doanh im bặt. Sau những báo cáo trơn tuột và những cuộc họp cũng bôi trơn như thế, rốt cuộc vụ Thủy Điện Hố Hô xả lũ giết chết dân Hương Khê ở tỉnh Hà Tĩnh đã có thể bị xem như chìm xuồng. Một bản báo cáo trong cuộc họp báo của Thứ Trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng đã chỉ thừa nhận: “Công ty Thủy Điện Hố Hô đã có những sai sót nhất định trong việc chấp hành về Luật Tài Nguyên Nước cũng như quy trình vận hành hồ chứa”. Nhưng trong toàn bộ bản báo cáo cực kỳ vô cảm trên, điều khiến những nạn nhân không thể nhắm mắt là đã không có một dòng nào đề cập đến hơn 20 mạng người Hương Khê bị lũ Hố Hô cuốn trôi và dìm chết. Đoàn kiểm tra của Bộ Công thương do Thứ Trưởng Hoàng Quốc Vượng làm đầu đã “làm việc” với đơn vị Thủy Điện Hố Hô hiệu quả đến mức sau đó đã kết luận “đáng lẽ Thủy Điện Hố Hô có thể làm tốt hơn” – (tức giết sống dân nhiều hơn?) Không nhắc gì đến chuyện dân chết do xả lũ, phải chăng Hoàng Quốc Vượng và giới quan chức Bộ Công Thương đã rơi vào tư thế “há miệng mắc quai” để cho “có đi có lại” với Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Hố Hô? Thói bao che từ trên xuống dưới trong thể chế chính trị ở Việt Nam đã trút mọi tang thương lên đầu dân nghèo. Hẳn Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Hố Hô đã quá đủ thời gian để rút ra bài học là cả EVN lẫn Vũ Huy Hoàng đều được những bàn tay bí mật nào đó từ cấp cao che chắn đến mức tối đa để không phải chịu bất cứ hình thức xử lý nào, tạo thành một tiền lệ đắt giá để những kẻ đi sau vẫn ung dung xả lũ lên đầu nhân dân. Miền Trung tang thương sau nhiều cơn lũ thiên tai và nhân tai, sau trận tàn phá dữ dội của cơn lũ quét mang tên Formosa, và cho tới giờ là những kẻ xả lũ giết người không một chút nương tay. Còn trách nhiệm của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc? Phải truy tố! Không một dòng tin tức nào trên báo chí cho thấy ông Phúc ngó ngàng đến những nạn nhân ở miền Trung. Thậm chí ngược lại, ngay sau cuộc họp với Thủ Tướng Phúc về vụ Hố Hô, giới lãnh đạo Bộ Công Thương còn đầy tự tin trưng ra công luận bản báo cáo về “vài sai sót” của Thủy Điện Hố Hô mà không có một từ nào về bất kỳ trách nhiệm nào trước vụ “thảm sát Hương Khê”. Người dân vùng rốn lũ cũng bởi thế đang bị dồn vào bước đường cùng. Mưa lũ vẫn đang và vẫn sẽ tiếp diễn, ập xuống từ trên trời nhưng cũng sẽ dội lên từ lòng đất. Sẽ còn những cái chết, nhiều sinh mạng bị đánh cắp và đánh cướp. Xã hội Việt Nam sẽ còn vô cảm đến bao giờ? Người dân Việt Nam sẽ còn cam chịu đến khi nào? Oan hồn các nạn nhân sẽ còn phải mở mắt để chứng kiến bao nhiêu cái chết nữa trên mảnh đất của “trại súc vật” này? Muộn còn hơn không, vụ xả lũ thủy điện mang tính thảm sát của EVN ở các tỉnh miền Trung vào năm 2013 và năm 2016 phải bị truy tố ra tòa, với trách nhiệm đầu tiên thuộc về những doanh nghiệp thủy điện, EVN và trách nhiệm điều hành của giới cựu lãnh đạo Bộ Công Thương như Vũ Huy Hoàng và trách nhiệm liên đới đối với bộ trưởng công thương đương nhiệm là Trần Tuấn Anh. Phạm Chí Dũng - VOA Cần thêm bao nhiêu người phải chết cho thủy điện?  
21.07.2019
Phạm Chí Dũng – VOA|
Luân Lê Mấy kẻ được gọi là nhà báo, nhà văn mấy hôm trước còn khẳng định không có xung đột hay bất cứ xâm phạm nào ở vùng biển của Việt Nam (vì chúng cho rằng chúng có nguồn tin và là những tin không phải ai cũng biết) có hiểu rằng những tuyên bố và phủ nhận của chúng trong sự cố ý như thế là hành vi phản bội lại sự thật và nhân dân hay không, khi đã coi một sự xâm phạm chủ quyền của kẻ khác là không có (khong tồn tại) và những người đưa tin mà bịa đặt?
  Bồi bút  Hoàng Hải Vân Khi chúng phủ nhận sự thật trong khi chúng khẳng định chỉ chúng có nguồn tin và có cơ sở để thông tin và sự kiện, chúng tuyên bố ngược lại sự thật về hành vi xâm phạm chủ quyền của kẻ khác, rõ ràng chúng là những kẻ đang quay lưng về phía tổ quốc và nhân dân, nơi chúng sinh tồn và chúng vẫn quyết liệt nhân danh và tỏ ra dày công bảo vệ không ngơi nghỉ? Fb  Lê Luân        
20.07.2019
Luân Lê Fb
Phạm Trần Đảng và Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã nhận ra nhóm chữ “diễn biến hòa bình” do họ chế ra không chỉ giới hạn trong “các thế lực thù địch từ bên ngoài” mà còn nằm ngay trong lòng chế độ với số không nhỏ cán bộ, đảng viên muốn tử bỏ Chủ nghĩa Cộng sản và đòi chấm dứt quyền lãnh đạo độc tôn của đảng. Việc PSG. TS Chu Hảo (trái) bị đề nghị kỷ luật đã khiến nhiều giới trí thức, văn sĩ đồng loạt tuyên bố rời khỏi Đảng Cộng sản, với sự khởi xướng là nhà văn Nguyên Ngọc (phải).
Ngày càng có nhiều đảng viên muốn tử bỏ chủ nghĩa cộng sản và đòi chấm dứt quyền lãnh đạo độc tôn của đảng Tình trạng này được 4 cơ quan bảo vệ tư tưởng Đảng gồm Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận và Cục Chính trị Bộ Quốc phòng, gọi chung là “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong hàng ngũ đảng và quân đội. Một số bài viết xuất hiện trên các Tạp chí Cộng sản, Tuyên giáo, Xây dựng Đảng và Quốc phòng Toàn dân, trong thời gian gần đây, mang tính khẩn trương đã cảnh giác đảng viên phòng, chống và ngăn chặn không để cho làn sóng suy thoái tư tưởng đe dọa sự sống còn của đảng. Đáng chú ý là nhiều đảng viên đương chức hay nghỉ hưu cũng đã “nhạt đảng, xa đoàn” như nhiều đoàn viên của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, thành phần nam, nữ trẻ được coi là “hạt giống đỏ kế thừa” của đảng. Do đó, điều lo lớn nhất của đảng cầm quyền Cộng sản, trước thềm Đại hội đảng XIII dự trù vào tháng 1/2021, là không ít cấp lãnh đạo chủ chốt đã công khai bài bác chủ trương xây dựng đất nước của đảng tiếp tục dựa trên nền tảng Chủ nghĩa phá sản Mác-Lenin và Tư tưởng Cộng sản ngoại lai của Hồ Chí Minh. Vì vậy Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần buộc cán bộ lãnh đạo, nhất là thành phần được gọi là “chủ chốt” hay “cấp chiến lược” phải tuyệt đối trung thành với Đảng và kiên trì bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh như đã quy định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). BẰNG CHỨNG Sự lúng túng, giao động của đảng CSVN đã phản ảnh rõ nét trên Tạp chí Quốc phòng Toàn dân ngày 17/07/2019. Bài viết có tựa đề “Góp phần đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội”, đã hù họa rằng: “Mục tiêu xuyên suốt không thay đổi của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với Việt Nam là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt là khi chúng ta đang chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chúng càng đẩy mạnh thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách toàn diện, trong đó tập trung vào các lĩnh vực tư tưởng chính trị, kinh tế, pháp luật, quốc phòng, an ninh, nguyên tắc tổ chức, cán bộ, công tác nhân sự đại hội Đảng các cấp, v.v. Để thực hiện mục đích, chúng triệt để lợi dụng môi trường internet và mạng xã hội để làm nhiễu loạn thông tin, đưa tin thật giả lẫn lộn hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là lớp trẻ vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, điều hành của Chính phủ trong dẫn dắt đất nước ta phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Như thế thì lực lượng 10,000 lính của Lực lượng 47 (hay còn được gọi là Trung đoàn 47) của Tổng cục Chính trị Quân đội, có nhiệm vụ “đấu tranh trên không gian mạng”, đã phất cờ trắng đầu hàng rồi sao? Đội ngũ này, theo lệnh Đảng và Chỉ thị 47 của Tổng cục Chính trị ngày 01/01/2016, có bổn phận: “Đấu tranh, chống các luận điệu xuyên tạc của các đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và luật pháp Nhà nước Việt Nam”.   Theo Bách khoa Toàn thư mở thì Lực lượng 47 còn: “Chuyên trách nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục trên không gian mạng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch với Đảng Cộng sản Việt Nam, hay những đối tượng cơ hội chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. “Tính đến tháng 12 năm 2017, lực lượng này có hơn 10, 000 người. Lực lượng này đang có mặt ở tất cả các đơn vị cơ sở, mọi miền, mọi lĩnh vực của quân đội. Đây là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; phản bác các quan điểm sai trái trên mạng Internet”. Hoạt động của đội quân 47 được thi hành song song với một lực lượng “Công an mạng” của Bộ Công an nhằm kiểm soát các hoạt động trên mạng lưới Internet, theo quy định của Luật an ninh mạng. Luật này được ban hành năm 2018 nhằm kiểm soát tư tưởng người dân và kiểm soát thông tin ở Việt Nam.   Để chống lại “các thế lực thù địch”, bài viết của Đại tá, TS. Đỗ Duy Ánh, Văn phòng Tổng cục Chính trị đề ra một số nhiệm vụ như: – Cần quan tâm lãnh đạo kiện toàn, xây dựng phát triển lực lượng đấu tranh theo hướng tạo thế liên hoàn, vững chắc, có bộ phận chủ lực, nòng cốt, chuyên sâu, tập hợp lực lượng rộng rãi; quản lý chặt chẽ tình hình chính trị nội bộ, nắm, dự báo, xử lý kịp thời những vấn đề tư tưởng nảy sinh. – Trong tổ chức thực hiện, cần duy trì tốt các chuyên trang, chuyên mục chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở các cơ quan, đơn vị. Các cơ quan báo chí cần phát huy vai trò nòng cốt đấu tranh công khai, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Ngoài ra, bài báo cũng yêu cầu: “Lực lượng đấu tranh nòng cốt chuyên sâu phải thường xuyên được trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ; được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các thông tin đấu tranh phải trung thực, khách quan, vì lợi ích lâu dài của dân tộc, của đất nước, mang tính đảng, tính khoa học cao”.   TRONG LÒNG CHẾ ĐỘ Nhưng “thế lực thù địch” không chỉ từ bên ngoài mà đã sống nhởn nhơ trong lòng chế độ từ lâu rồi. Một bài trên Tạp chí Tuyên giáo ngày 17/07/2019 tiết lộ: “Cùng với sự chống phá của các thế lực thù địch, trong xã hội đã xuất hiện thêm những luận điệu nhằm hạ thấp, phủ nhận thành quả cách mạng và sự nghiệp đổi mới đất nước của nhân dân ta; “nắn dòng” dư luận để thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta của những kẻ suy thoái, biến chất. Dùng chiêu “mớm lời”, “rắc thính”, kích động để không chỉ gây tâm lý hoang mang, hồ nghi trong một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, dàn “đồng ca” của các thế lực thù địch đã và đang làm cho những biểu hiện đó được “khuyếch trương” mạnh mẽ hơn bằng các thủ đoạn đặt câu hỏi như: nếu không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, thì nước ta sẽ đi theo con đường nào? Và rồi, họ tự trả lời bằng cách “khuyên nhủ” chúng ta phải đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản để được tự do, v.v…” (Theo Thiếu tướng. PGS. TS. Nguyễn Văn Thế, Phó Giám đốc Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng). Ông tướng Thế còn vạch áo đảng cho mọi người thấy: “Một bộ phận phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đã “phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”; “nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Chúng bôi nhọ, hạ thấp và phủ nhận thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của công cuộc đổi mới. Chúng rêu rao và đổ lỗi cho sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đòi thay đổi con đường mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, từ đó, đòi thay đổi thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; tìm mọi cách cản trở công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước…” Trước sức công phá của lực lượng chống đảng ngay trong lòng chế độ, Thiếu tướng Thế đã rát mặt phản công: “Ra sức xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước ta là một trong những âm mưu thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang tiến hành. Phòng, chống, ngăn ngừa những biểu hiện đó là hết sức cần thiết và cấp bách, nếu không sẽ ảnh hưởng tới uy tín và vai trò lãnh đạo của Đảng”.   Tác giả bài viết thừa nhận cuộc tấn công đã đánh trúng mục tiêu khi ông lên giọng hằn học: “Chúng còn “tìm kiếm” và cố tình đưa ra những thông tin hằn học, nhai lại những luận điệu cũ rích nhằm hạ bệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phủ nhận công lao của Người; vu cáo, bôi nhọ một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hạ uy tín nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao, gây mất niềm tin trong nhân dân, làm cho dân xa Đảng, mất đoàn kết nội bộ, kích động tâm lý xã hội”.   Nhưng làn sóng chống đảng không chỉ có bấy nhiêu đòn phép mà còn biết: “Lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta trong thực hiện chủ trương, chính sách và thực thi pháp luật, nhất là lợi dụng việc Đảng đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham ô, tham nhũng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; công kích Đảng, xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, chúng cho “ra lò” những cuốn sách, tờ báo, tờ rơi, những “tâm thư”, “giác thư”, “thư ngỏ”, “tuyên cáo”, công khai nói rõ điều đó, công khai đòi đánh đổ, kêu gọi giải tán Đảng, xóa Điều 4 của Hiến pháp..”. VẪN NHƯ CŨ Với 2 bài viết tiêu biểu nêu trên, tưởng đâu tình hình cán bộ, đảng viên mới có những chứng hư tật xấu thời gian gần đây. Nào ngờ cũng chỉ là chuyện xưa như trái đất, từng được đảng vạch ra từ Đại hội Đảng XII năm 2016. Tạp chí Xây Dựng Đảng đã nói ra trong bài viết ngày 05/05/2019: “Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng nhận định: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương… Hậu quả, hệ lụy của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) của Đảng chỉ rõ: Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, “sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.  Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân”. (Theo PGS, TS. Nguyễn Minh Tuấn, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh). Như vậy là những khuyết tật kinh niên của đảng CSVN vẫn còn và tình trạng suy thoái tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã hết thuốc chữa. Trước tình hình nhiễu nhương như thế, nhất là khi tình trạng “kẻ ăn không hết, người lần không ra” vẫn lan tràn trong Đảng và xã hội thì làm sao mà những đảng viên thấp cổ bé miệng và dân nghèo không quay lưng bỏ đảng. Họ ở lại để làm gì, cho ai và vì ai?  
20.07.2019
Phạm Trần - baotiengdan.com
Thường Sơn -  Việt Nam Thời Báo Ngày 18 tháng Bảy, 2019, dư luận xã hội và đặc biệt là giới doanh gia ngân hàng một lần nữa dậy sóng bởi cái chết thình lình của Trần Bắc Hà – cựu chủ tịch Ngân hàng BIDV. Vào tháng Mười Một, 2018, Trần Bắc Hà được cho là đã bị mật vụ Việt Nam bắt tại Campuchia và sau đó đưa về Việt Nam. Vụ bắt này xảy ra chỉ hai tháng sau cái chết thình lình và đầy nghi vấn của Trần Đại Quang – quan chức chủ tịch nước. Cũng trong vụ bắt Trần Bắc Hà ở Campuchia, không có thông tin công khai nào về việc cơ quan điều tra quân đội đã tham gia, mà chỉ có Bộ Công An. Tuy nhiên một bản tin của báo Tuổi Trẻ về cái chết của Trần Bắc Hà đã lần đầu tiên cho biết Hà chết trong khi đang ở trong trại giam quân đội tại Sóc Sơn. Theo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự, vụ án Trần Bắc Hà là ngành công an thụ lý điều tra và theo đó Trần Bắc Hà phải bị giam tại trại tạm giam của Bộ Công An. Vậy cánh quân đội có mối quan hệ ‘đặc biệt’ nào đối với vụ Trần Bắc Hà mà Hà phải bị tạm giam tại trại giam quân đội chứ không phải trại giam công an? Phải chăng vụ án Trần Bắc Hà không chỉ thuần túy từ những sai phạm kinh tế mà còn liên quan, hoặc liên đới rất sâu đến cả nội bộ đảng và nội bộ cao cấp bên quân đội? Hoặc thuộc loại án ‘an ninh quốc gia’ nhưng nằm trong tuyến phụ trách của Tổng Cục 2 (Tổng Cục Tình Báo Quân Đội) chứ không phải thuộc trách nhiệm của Bộ Công An? Cái chết của Trần Bắc Hà cũng có vẻ đáng nghi vấn. Trong khi có báo nhà nước cho biết ông ta chết do cao huyết áp, thì có báo khác lược sử về căn bệnh gan của Trần Bắc Hà. Trong khi đó, đã dậy lên dư luận về khả năng Trần Bắc Hà bị đầu độc nhằm mục đích ‘giết người diệt khẩu’… Trước khi và vào lúc bị bắt, Trần Bắc Hà được cho là nhân vật đầu mối của nhiều phi vụ mafia tài chính, là một trong những ‘tay hòm chìa khóa’ của ‘gia tộc Nguyễn Tấn Dũng’, và còn là một tay trùm về ‘tổ chức nhân sự cấp trung ương’. Những vết mờ xung quanh cái chết của Trần Bắc Hà lại khiến người ta nhớ lại cái chết đột ngột của cựu quan chức Vinalines là Dương Chí Dũng trong trại giam, vào năm 2016. Mặc dù sau nhiều tin đồn đoán về cái chết này, đã có một vài thanh minh ‘Dương Chí Dũng còn sống’ được đưa lên mạng xã hội, nhưng điều rất rõ ràng là cho tới nay chẳng có thông tin chính thức nào về việc Dương Chí Dũng còn hiện trên cõi đời. Cũng giống như Trần Bắc Hà, Dương Chí Dũng đã bị bắt tại Campuchia – nhiều dư luận cho biết bởi cơ quan tình báo quân đội Việt Nam – vào năm 2012, sau đó đưa về nước quy án rồi sinh ra ‘tự chết’. Nếu trước đây chỉ rất phổ biến rất nhiều vụ người dân thình lình ‘tự chết’ hoặc ‘tự treo cổ’ trong đồn công an – mà nguồn cơn thực chất rất bị nghi ngờ là do chính các công an viên tra tấn tàn bạo gây ra, thì nay dường như bóng dáng tử thần đã vươn lưỡi hái đến tận giới doanh nghiệp trong trại giam. Vào những ngày này, khi giới doanh nghệp và ngân hàng còn đang rúng động bởi những vụ bắt bớ quan chức doanh nghiệp, thì nay cái chết của Trần Bắc Hà càng khiến cho những kẻ chưa bị bắt không thể không ‘băn khoăn’ khi hình dung ra một ngày đẹp trời nào đó họ bị còng tay và bị đưa thẳng vào xà lim ẩm thấp mốc meo, nơi mà rủi ro luôn rình rập vào mọi giờ khắc, và cũng là nơi mà một sợi dây thừng đủ dài để tự chết theo đúng nghĩa đen là đáng giá ngàn vàng. Thường Sơn -  Việt Nam Thời Báo  
19.07.2019
Thường Sơn - VNTB
Trung Điền - Web Việt Tân |   Nếu Đinh La Thăng được ví như một cận thần của ông Nguyễn Tấn Dũng trong việc thu phục “quần hùng” để tranh giành ghế Tổng Bí Thư với phe ông Nguyễn Phú Trọng trong đại hội 12, thì Trần Bắc Hà được coi là cận thần nắm “tài chánh” để nuôi các quần hùng đã thu phục được, kể cả việc xây dựng đế chế của gia đình Nguyễn Tấn Dũng.   Vì thế mà sau khi xong phiên tòa kết án Đinh La Thăng 30 năm tù giam và phạt nộp hơn 800 tỷ đồng vào tháng Sáu, 2018, ông Nguyễn Phú Trọng đã hạ lệnh khởi tố và bắt tạm giam Trần Bắc Hà vào cuối tháng Mười Một, 2018 cùng với 2 người khác là Trần Lục Lang, cựu Phó Tổng Giám Đốc Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam (BIDV), và Kiều Đình Hòa, cựu Giám Đốc BIDV Hà Tĩnh, về tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, và hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”.   Trần Bắc Hà sinh năm 1956 tại Bình Định. Năm 1981, ông Hà được nhận vào làm việc trong BIDV là một trong 3 ngân hàng thương mại cổ phần lớn có vốn nhà nước trên 50%. Năm 1991, ông Hà được thăng chức giám đốc chi nhánh Bình Định. Năm 1999 được thăng chức Phó Tổng Giám Đốc BIDV. Tháng Năm, 2003 được thăng chức Tổng Giám Đốc và đến tháng Gi6ng, 2008 thì làm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Ngày 1 tháng Chín, 2016 thì về hưu. Ông Trần Bắc Hà lả một người “lăn lộn” trong ngành Ngân hàng hơn 3 thập niên, thuộc loại “bố già” trong hệ thống ngân hàng – tài chánh của chế độ từ thời bao cấp đến thời mở cửa.   Trần Bắc Hà đã trở thành thân thiết với ông Nguyễn Tấn Dũng từ sau khi chuyển từ giám đốc chi nhánh Bình Định lên làm phó giám đốc Ngân Hàng BIDV vào tháng Mười, 1999, lúc đó ông Dũng đang làm phó cho Thủ Tướng Phan Văn Khải, kiêm nhiệm chức Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam (5/1997-12/1999) sau khi Cao Sĩ Kiếm về hưu.   Sau khi ông Nguyễn Tấn Dũng rời chức Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước vào tháng Mười Hai, 1999, ông Lê Đức Thủy được ông Dũng đề cử lên thay thế, bộ ba Nguyễn Tấn Dũng – Lê Đức Thủy – Trần Bắc Hà đã có những quan hệ rất đặc biệt kể từ đó.   Năm 2011, ông Lê Đức Thủy đã bị tờ báo The Age của Úc tố cáo trong một loạt điều tra là đã nhận hối lộ từ công ty Securency của Úc in tiền polymer của Việt Nam, một cách tham nhũng và khuất tất là công ty này trả tiền học phí và ăn ở cho con trai ông Thủy tên Lê Đức Minh lúc đó đang học tại Anh vào năm 2007.   Còn đối với ông Trần Bắc Hà, qua chỗ thân cận với ông Nguyễn Tấn Dũng, ông Hà phụ trách việc cung cấp mọi nhu cầu tài chánh khi cần cho phe nhóm Nguyễn Tấn Dũng từ khi Dũng được chọn lên làm thủ tướng thay ông Phan Văn Khải từ năm 2006. Chính mối quan hệ này, ông Hà trở thành một ông trùm ngân hàng kéo dài trong hai thập niên cho đến lúc về hưu.   Ông Trần Bắc Hà thường xuất hiện bên cạnh ông Nguyễn Tấn Dũng trong các dịp tham quan chùa chiền, đền thờ… như là một đại gia đứng sau lưng thủ tướng, đưa tiền cúng dường cho chùa hay nhà thờ. Trần Bắc Hà còn giúp kín đáo cho dịch vụ vay tiền của con gái ông Dũng. Vì thế mà trong cáo trạng truy tố, ông Trần Bắc Hà bị kết án sai phạm trong việc cho vay 4.700 tỷ đồng cho 12 công ty của Phạm Công Danh, nguyên Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị Ngân Hàng Xây Dựng Việt Nam cũng như một số ngân hàng khác.   Thông thường sau khi truy tố và bắt giữ, công an điều tra sẽ giam giữ phạm nhân ở nhà tù do Bộ Công An quản lý như T16 hay B14; nhưng theo báo Tuổi Trẻ loan tải thì ông Trần Bắc Hà được đưa đi cấp cứu ở Bệnh Viện 105 từ trại giam quân đội ở Sóc Sơn. Việc đưa ông Trần Bắc Hà giam giữ và điều tra ở trại giam quân đội là dấu hỏi lớn. Phải chăng ông Trọng không tin vào sự điều tra của công an dù bộ máy công an đã bị ông Trọng phá sập 6 tổng cục và sắp xếp lại hoàn toàn mới.   Ngoài ra, báo Tuổi Trẻ loan tải rằng ông Trần Bắc Hà chết trước khi đến bệnh viện vì bị ung thư gan ở vào thời kỳ nguy kịch. Trước khi bị bắt, ông Hà bị ung thư gan và từng sang Singapore chữa trị. Đáng lẽ chính sách giam giữ và chăm sóc sức khỏe ông Hà phải có sự đặc biệt vì đây là một “tù nhân” quan trọng, phục vụ cho mục tiêu đánh sập đế chế của Nguyễn Tấn Dũng. Dư luận nói chung không tin vào nguyên nhân tử vong của ông Hà như báo chí nhà nước loan tải là chết vì bệnh gan.   Phải chăng sau hơn 6 tháng giam giữ và từ chối cung khai những điều liên quan đến Nguyễn Tấn Dũng, ông Trần Bắc Hà đã chọn cái chết để bảo vệ ông Dũng và phe nhóm ông Dũng, sau khi nghe tin ông Nguyễn Phú Trọng đột quỵ.   Nói cách khác, sự kiện ông Nguyễn Phú Trọng bị đột quỵ đã hé mở một viễn cảnh là phe nhóm ông Dũng có thể quậy trở lại trong đại hội 13, nên Trần Bắc Hà chấp nhận cái chết không cung khai để “hy vọng” phe ông Dũng phục hoạt và cứu người con trai ông Hà là Trần Duy Tùng cũng đang bị truy tố và bắt giam vì liên quan đến vụ mua bán Tổng Công Ty Cổ Phần Cảng Quy Nhơn vào cuối tháng Ba, 2019.   Rõ ràng là cuộc chiến đốt lò của ông Nguyễn Phú Trọng đã có những diễn biến bất ngờ khó hiểu, kể từ ngày ông Trọng bị đột quỵ khi đến thăm Kiên Giang đột ngột vào ngày 14 tháng Tư, 2019. Trọng tính không bằng Trời tính là vậy!   Trung Điền https://viettan.org/nguyen-tan-dung-lai-thoat-nua/  
19.07.2019
Trung Điền - Web Việt Tân
 Đỗ Ngà - Fb DO Van Nga Để có những con người ngồi trong Quốc hội và Hội Đồng Nhân Dân gồm những đảng viên đảng cộng sản, thì nhân dân phải mất 3600 tỷ để đảng diễn vở kịch “Bầu Cử”- một vở kịch mà Đảng lên kịch bản trước đó với tên gọi là “cơ cấu” hoặc “Quy hoạch nhân sự”.  Kết quả của vở kịch  96% đảng viên ĐCS trong Quốc hội, hầu hết trong họ là quan chức các lớn trong chính quyền, và 4% là người không phải đảng viên ĐCS. Nói là không phải đảng viên, nhưng không có nghĩa họ là người của dân thật sự mà vẫn là người của đảng, nói lời ủng hộ cho Đảng. Trong Quốc hội, thật sự không biết chỗ nào giành cho tiếng nói nhân dân lọt vào nữa.   Mỗi một địa phương có một trưởng đoàn đại biểu quốc hội, người làm trưởng đoàn là người quyền lực nhất địa phương đó – tức bí thư tỉnh hoặc thành phố. Từ trong tổ chức, mọi người có thể thấy, trưởng đoàn đại biểu quốc hội là người nhận chỉ thị của Trung Ương Đảng về họp phổ biến cho thành viên đoàn, và những người này lên Quốc hội dựa theo những thứ đã triển khai trước đó mà giả vờ bàn rồi gật thôi. Để thêm mắm thêm muối cho Quốc hội này, họ cũng tạo ra những người nói lên ý kiến trái chiều. Bằng cách nào? Bằng cách, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội chỉ thị cho một vài khuôn mặt quen thuộc đứng lên nói lời phản biện. Mục đích chỉ thị những kẻ phản diện trong Quốc hội này rất quan trọng: thứ nhất, nó tạo ra một vở kịch màu dân chủ để qua mặt nhân dân; thứ nhì nó xoa dịu lòng dân. Và vì thế, tuy vẫn lác đác có ý kiến trái chiều trong Quốc hội nhưng chắc chắn không bao giờ có chuyện những phản biện đó được  Quốc hội thông qua.   Để chuẩn bị vở diễn, trước khi Quốc hội nhóm họp, thì ĐCS cho tổ chức Hội Nghị Trung Ương để triển khai ý đồ của Bộ Chính Trị. Sau đó những ông trưởng đoàn đại biểu về địa phương chỉ huy đoàn đại biểu Quốc hội của địa phương mình nói gì, và gật gì. Thế là các thành viên của đoàn đại biểu Quốc hội địa phương mang những thứ đã được quán triệt ấy đến Quốc hội diễn cho nhân dân xem.    Có một chuyện hết sức buồn cười ở chỗ, Hội Nghị Trung Ương là ngày họp lên kịch bản chỉ mất nhiều nhất là 6 ngày, thế nhưng kỳ họp Quốc hội thì thời gian diễn mất từ 20 ngày đến 30 ngày. Vì thế những chủ trương lên kịch bản ở Hội Nghị Trung Ương khi mang ra Quốc hội, những diễn viên này diễn chỉ chừng 6 ngày là xong, còn lại một thời gian rất dài họ không có kịch bản để diễn. Chính vì thế nên những diễn viên này mịa phịa ra chuyện tào lao để diễn hết sức hài hước. Mỗi ngày cái Quốc hội như sân khấu kịch này tốn 1 tỷ đồng để bàn chuyện ruồi bu. Ở kỳ họp Quốc hội vừa qua, khi hết kịch bản đám diễn viên ấy đã đem mông háng Ngọc Trinh ra bàn. Bàn hết chuyện mông háng Ngọc Trinh mà quỹ thời gian còn quá nhiều, thế là họ lại phịa ra cái “ngày của đàn ông” để mà bàn. Hết chuyện “ngày của đàn ông” thì cũng còn thời gian quá nhiều, thế là có anh diễn viên nào đấy lại phịa ra “phí chia tay” vv.. Nói chung, khi hết việc Đảng giao họ cố tình nói xàm cho hết thời gian dự trù, mà cứ mỗi ngày trôi qua như vậy họ đốt hết 1 tỷ đồng tiền thuế của dân. Nếu là người có lòng tự trọng, khi nhìn vào những trò hề vô bổ mà đốt tiền dân như thế này, ắt hẳn sẽ thấy phẫn nộ vì  thì nó quá khốn nạn. Mới đây Bà Nguyễn Thị Kim Ngân có thú nhận “Kỳ vừa rồi có phiên họp Quốc hội vắng tới 100 đại biểu” cho thấy, trong 465 đại biểu thì có người cũng thấy họ đã làm chuyện vô ích nên họ đã nghỉ không đi. Tôi cho rằng, những con người này có nhận thức khá hơn những con người đều đều vác mặc đến chỗ gọi là “Quốc hội” đó để diễn. Diễn những vỡ kịch vô bổ nhưng đốt hàng tỷ đồng tiền tiền tươi thóc thật của nhân dân, thì người có lương tri nào cũng thấy xấu hổ.    Thật ra, để đi họp Quốc hội rất sướng, mỗi đại biểu được cấp kinh phí, được lo chỗ ở vv.. nói chung được lo đến tận răng từ tiền thuế của dân. Vả lại ra Hà Nội họp Quốc hội, thì đó cũng là cơ hội để những diễn viên ấy được đi chơi, được tham quan đây đó ở Hà Nội. Thế nhưng kỳ họp vừa rồi lại có đến 100 người vắng mặt? Chính cái vắng mặt này đã cho thấy, đâu đó từ trong suy nghĩ, những con người này đang tránh né sự khốn nạn mà đảng đã dựng lê để lừa đảo nhân dân. Vắng họp, nhưng đó một tín hiệu cho tháy họ họ đang tự diễn biến chăng? Rất có thể họ tự diễn biến, không phải họ diễn biến bởi “thế lực thì địch” nào tác động, mà là họ tự diễn biến bởi trong họ còn sót lại chút lương tri của của con người đích thực.        Thực sự, chỉ cần có chút lương tri, con người CS sẽ tự diễn biến chứ chẳng phải cần đến thế lực nào tác động. Bởi vì, sống với CS là sống chung với giả dối và gain ác. Cho nên không cần chửi Cộng Sản, chỉ cần nói sự thật có cơ sở thì sẽ thúc đẩy tự diễn biến xảy ra trong ĐCS mà thôi. Khi tự diễn biến xảy ra, nòng súng và thanh gươm của ĐCS sẽ bị hoen rỉ và mục nát. Đó là một con đường đấu tranh lợi hại. Hãy kiên trì, đừng nóng vội.    Đỗ Ngà - Fb DO Van Nga
    Tham khảo:   https://thanhnien.vn/thoi-su/de-xuat-chi-3600-ti-dong-cho-bau-cu-691522....   https://tuoitre.vn/ky-vua-roi-co-phien-hop-quoc-hoi-vang-toi-100-dai-bie...
19.07.2019
Đỗ Ngà - Fb DO Van Nga
Thach Vu Với quá khứ là cận thần chuyên lo khâu tài chính của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, với ghế bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch ngân hàng BIDV, khó ai có thể tin chế độ ở tù, dù là tù tạm giam, của ông Trần Bắc Hà thấp hơn chế độ dành cho các tướng công an. Nghĩa là, ở tù theo kiểu phòng lạnh với cơm bưng nước rót. Các tù nhân khác xếp hàng xin chân phục dịch. ông Trần Bắc Hà - TT Nguyễn Tấn Dũng Kể ra như thế để thấy xác suất ông Hà chết vì tai nạn lao động, vì thiếu thuốc men, vì bị đánh bởi bạn tù hay quản giáo là cực thấp. Chỉ có 2 lý do hợp lý về cái chết nhanh chóng sau 7 tháng tạm giam của ông là:
- Chết vì biết quá nhiều và đang khai ra quá nhiều người.
- Chết vì tài sản còn quá nhiều và đã lỡ lộ ra chìa khóa nơi cất giữ. Trong tình trạng "khi quá đói, thịt nào cũng thơm ngon, đặc biệt thịt các đồng đội béo tốt" hiện nay, hiệu ứng Trần Bắc Hà sẽ tăng rất nhanh trong những ngày tháng tới. Đó là: Những kẻ "biết quá nhiều" sẽ:
- Chạy bằng mọi giá ra nước ngoài như Trịnh Xuân Thanh. Và khi ra được rồi sẽ không lê la ngoài ánh sáng như Trịnh Xuân Thanh.
- Chuyển tài sản và gia đình ra nước ngoài gấp rút hơn nữa theo tinh thần "nhà hàng xóm đang cháy rồi". Những kẻ "sợ bị biết quá nhiều" sẽ:
- Bằng mọi giá không để các bí mật ra tới khâu tòa án. Như thế đã là quá trễ.
- Tranh nhau nắm công an bằng mọi giá. Trong không khí chiến tranh tương tàn hiện nay, KHÂU ĐIỀU TRA LÀ TẤT CẢ! Vũ Thạch - Fb Thach Vu ***** Chết đúng quy trình Dương Quốc Chính Ông Bắc Hà đã đi gặp bác Hồ đúng quy trình, trong thời gian tạm giam. Ông đã nhiều lần được đề nghị ra tòa, trong vai trò liên đới, trước khi bị bắt, nhưng ông không có duyên với tòa! Ông đã chết, hoàn toàn chưa có án, sạch sẽ, chưa có tì vết. Vì thế mà tài sản cũng như uy tín của ông chả hề suy suyển. Vì dưới pháp luật, người ta chỉ có tội khi đã có phán quyết của tòa và pháp luật không thể xử 1 hồn ma. Ông chỉ mới bị kỷ luật đảng mà thôi, trước nhân dân ông hoàn toàn trong sạch! Dự là mấy hôm nữa sẽ có KOLs lên tiếng kể công cho ông. Cái chết của ông Bắc Hà, cũng như ông Quý Ngọ, thậm chí cả ông Đại Quang, hoàn toàn đúng quy trình, một cái chết đẹp và hợp lý cho gia đình ông, cho các đồng chí anh em, cho đảng và chú phỉnh, chỉ hơi rắc rối 1 chút cho các anh em canh tù. Nghe nói, ông Bắc Hà bị nhiều bệnh hiểm nghèo, trong đó có bệnh ung thư gan. Nói gì nói, tù quan lại nói chung vẫn sướng, khó mà đột tử trong tù như bọn khố rách áo ôm. Vì thế, cái chết của ông chỉ có thể rơi vào 3 khả năng. Một là, ông được các đồng chí thuyết phục để quyên sinh, cảm tử cho đồng đảng quyết sinh. Đại khái là: "Chú đã từng dưới 1-2 người, trên cả vạn người, sung sướng cỡ nào cũng trải qua rồi, tiền nhiều ức vạn rồi, không còn phải nuối tiếc gì ở chốn xã nghĩa này nữa. Chú cứ thanh thản mà ra đi, các anh sẽ lo hậu sự cho chú, cho vợ con chú. Đằng nào chú cũng bệnh tật rồi, không thọ được bao lâu nữa. Chi bằng chú chịu khó đi trước các anh 1 vài năm, sẽ vẹn cả mấy đường. Mấy năm nữa anh em ta lại đoàn tụ vui vầy, xoăn phải sáo". Thế là: "Em xin vâng, xin phép đi trước, anh và các cháu ở lại bảo trọng". Thế là 1 cơn bạo bệnh nổi lên, tập thể y bác sỹ trong trại đã hết lòng cứu chữa, nhưng tuổi cao sức yếu, đồng chí, à quên, nguyên đồng chí, đã ra đi gặp bác Hồ. Kịch bản thứ 2 là, ông BH đã khai tuốt tuột, chả nể anh em gì cả sất và chỉ chờ dịp ra tòa để khai bằng sạch, hòng cố tránh cái án tham nhũng (tử hình), cố cho bằng đồng chí #, để được toàn mạng. Thế là, "ông anh" phải tìm cách hạ thủ ông trong trại, đằng nào chả có bệnh rồi. Tuy nhiên, giả thiết này khó có thể xảy ra hơn trường hợp 1, nhưng không phải là không thể. Kịch bản thứ 3 là ông cố tình tự vẫn, 1 cách cá nhân, không qua thương thảo, để bảo toàn khí tiết của 1 doanh nhân cách mạng. Trường hợp này thường xảy ra khi ông được ai đó tiết lộ là chắc chắn sẽ bị đưa vào án tham nhũng, để tử hình. Chuyện này rất bình thường ở chế độ xã nghĩa, vì án của ông là do BCT, là do bác cả quyết, tòa chỉ diễn cho vui thôi. Chả nhẽ đốt cả đống củi mà chả hi sinh thanh nào, dân nó lại chửi là đảng diễn trò. Nhất quyết là ông không thể đột tử 1 cách tự nhiên, bình thường được. Thành kính phân ưu với gia quyến của ông. Mong ông sớm gặp các đồng chí của mình, chết trẻ khỏe ma ông ạ. Mấy đồng chí già xuống sau rồi sẽ bị ông xử lại hết. Để ngăn ngừa anh em củi chết đúng quy trình, đề nghị BCT ra nghị quyết là sẽ xử cả vong củi. Mình đã cách được cả chức trong quá khứ thì mình xử cả vong thì có sao đâu? Thời phong kiến, người ta còn quật cả mồ kẻ thù, nghiền nát xương cốt rồi thả trôi sông, nhốt cả sọ vào tù. Vua Minh Mạng còn cho xích cả mộ Lê Văn Duyệt, vì tội của thằng con nuôi. Vậy nên đảng cho cô Yến gọi vong anh em củi lên đấu tố, tịch thu tài sản, rồi cho nhốt vong vào chùa Hàm Long (chuyên nhốt vong) là chuẩn, thể hiện sự nghiêm minh và công bằng của pháp luật. Đừng tưởng chết mà thoát đâu. Chứ còn để thế này thì anh em sẵn sàng hi sinh đời bố củng cố 5 đời sau.  FB Dương Quốc Chính  
18.07.2019