Diễn văn của Tổng Thống Đức Frank-Walter Steinmeier

Diễn văn của Tổng Thống Đức Frank-Walter Steinmeier nơi Đài Tưởng Niệm của Cộng Hòa Liên Bang Đức dành cho những nạn nhân của chiến tranh và bạo quyền (tên là Neue Wache) ngày 08. 5.2020, Berlin,nhân dịp tưởng niệm 75 năm được giải thoát khỏi chế độ Đức Quốc Xã và kết thúc Đệ Nhị Thế Chiến tại Âu Châu, Cách đây 75 năm Đệ Nhị Thế Chiến đã kết thúc tại Âu Châu. Ngày 08 tháng 5 năm 1945 là ngày chấm dứt bạo quyền Đức Quốc Xã, kết thúc những đêm bị bom đạn và những cuộc dùng vũ lực ép tù nhân di tản, kết thúc những tội ác vô song của người Đức và kết thúc sự tàn phá văn minh nhân loại bởi sự kiện tiêu diệt người Do Thái Âu Châu. Nơi đây tại Berlin, nơi chiến thuật chiến-tranh hủy-diệt được nghĩ ra và bung ra, thì nó đã quay trở lại với mức độ tàn phá tối đa. Nơi đây tại Berlin chúng ta dự định hôm nay cùng nhau tưởng nhớ. Chúng ta dự định cùng nhau tưởng nhớ chung với những đại diện của lực lượng Liên Minh Tây và Đông, những lực lượng đã giải cứu lục địa này bằng sự hy sinh vô cùng lớn; cùng chung với những đối tác từ khắp Âu Châu, những thành phần đau khổ dưới sự chiếm đóng của Đức Quốc Xã, nhưng vẫn sẵn sàng giải hòa; cùng chung với những người sống sót sau tội phạm của nước Đức và những hậu duệ của nạn nhân. Nhiều người trong họ vẫn đưa tay ra cho chúng tôi; cùng chung với tất cả mọi người trên thế giới, những người đã cho đất nước này một cơ hội mới để bắt đầu lại. Chúng ta dự định cùng nhau tưởng nhớ chung với những vị cao niên trong đất nước chúng ta, những người đã trải qua đói khát, loạn ly, bạo lực và xua đuổi khi họ còn là trẻ em. Sau chiến tranh họ đã xây dựng lại đất nước, bên Đông cũng như bên Tây. Và chúng ta đã dự định cùng tưởng nhớ với những người trẻ thuộc thế hệ thứ ba, đang đặt câu hỏi, quá khứ còn có ý nghĩa gì với chúng tôi? Với những thành phần trẻ này tôi xin gửi gắm rằng: “Các bạn là những người đóng vai chính. Các bạn là những người phải mang những bài học từ chiến tranh kinh khủng này vào tương lai!“ Chính vì thế mà chúng tôi đã mời hàng ngàn thanh thiếu niên từ khắp thế giới về Berlin. Tiền nhân của họ còn là thù địch và bây giờ họ đã trở thành bằng hữu. Chúng ta đã dự định cùng nhau tưởng nhớ như thế vào ngày 08 tháng 5 này. Nhưng đại dịch Corona đã bắt chúng ta phải tưởng nhớ một mình, bị cách ly với những người mà chúng ta trân quý và mang ơn. Có lẽ tình huống này mang chúng ta trở lại ngày 08.5.1945 một lần nữa. Vì vào thời điểm đó người Đức thật sự đứng một mình. Nước Đức bị đánh bại về quân sự. Chính trị và kinh tế bị phá sản, tan vỡ về mặt đạo đức. Chúng ta đã biến cả thế giới thành thù địch. Hôm nay, 75 năm sau, chúng ta phải tưởng nhớ một mình – nhưng chúng ta không đứng một mình! Đây là thông điệp hạnh phúc của ngày hôm nay! Chúng ta đang sống trong một nền dân chủ mạnh mẽ và vững chắc trong năm thứ 30 của một nước Đức tái thống nhất, ngay giữa một Châu Âu hòa bình và thống nhất. Chúng ta được tận hưởng sự tin tưởng và chúng ta đang gặt hái kết quả của cộng tác và quan hệ đối tác trên toàn thế giới. Vâng, người Đức chúng ta hôm nay được phép nói rằng:”Ngày của Giải Thoát là một ngày của Ghi Ơn!“ Chúng ta đã cần ba thế hệ để mới có thể tuyên xưng được điều này từ cả trái tim. Vâng. Ngày 08 tháng 5 năm 1945 là Ngày của Giải Thoát. Nhưng vào thời điểm đó nó không hẳn đã đi vào đầu và trái tim của đa số người Đức. Sự giải thoát năm 1945 đã đến từ bên ngoài. Nó đã phải đến từ bên ngoài vì đất nước này đã bị lún sâu vào thảm họa và tội lỗi của nó. Việc tái thiết nền kinh tế và khởi đầu mới nền dân chủ cũng đã chỉ diễn ra được nhờ lòng rộng lượng, tầm nhìn xa và lòng sẵn sàng giải hòa của những cựu đối thủ chiến tranh. Nhưng chính chúng ta cũng có phần trong tiến trình giải thoát. Đó là sự giải thoát từ bên trong. Sự giải thoát này không diễn ra trong ngày 08.5.1945, và không chỉ trong một ngày, song là một con đường dài và đau đớn: Tìm hiểu và hành xử về vai trò của những ai đã biết gì và những ai đã đồng lõa, những câu hỏi nhức nhối trong gia đình và giữa những thế hệ, những nỗ lực chống lại sự ém nhẹm và chối bỏ. Nhiều người Đức thuộc thế hệ tôi đã cần hàng thập niên mới từ từ kiếm lại được hòa bình với đất nước của mình. Và cũng cần cả hàng thập niên trôi qua sự tin tưởng của các nước láng giềng mới phát triển và đưa đến sự xích lại gần nhau trong cẩn trọng, từ tiến trình hiệp nhất Âu Châu 1950 đến những Hiệp Ước Đông Âu 1972. Đó là những thập niên mà sự dũng cảm và lòng yêu tự do tại Đông Âu không chấp nhận tiếp tục bị nhốt sau những bức tường, và đã đưa đến giây phút hạnh phúc nhất của tiến trình giải thoát: Cuộc Cách Mạng Phi Vũ Lực và Tái Thống Nhất Quốc Gia. Những thập niên của vật lộn với chính lịch sử của đất nước mình đã là thời gian để nền dân chủ ở Đức được trưởng thành. Và cuộc vật lộn này vẫn tiếp diễn cho tới ngày hôm nay. Không thể nào chấm dứt tưởng nhớ. Và không có sự giải thoát ra khỏi quá khứ lịch sử của chúng ta. Vì không có tưởng nhớ thì chúng ta sẽ mất tương lai. Chỉ vì người Đức chúng ta đã nhìn vào lịch sử của mình, và vì chúng ta nhìn nhận trách nhiệm lịch sử của mình, và chỉ vì thế mà các dân tộc trên thế giới mới tặng cho chúng ta sự tin tưởng mới. Và chính vì thế chúng ta cũng được phép tin tưởng và trao mình cho nước Đức này. Đó mới là tình yêu nước sáng suốt trong tinh thần dân chủ. Không có tình yêu đất nước Đức nào mà lại không đi đôi với sự đổ gẫy, mà không có nhìn nhận thấy ánh sáng và bóng tối, niềm vui và đau buồn, lòng biết ơn và sự xấu hổ. Giáo sĩ Do Thái Giáo Nachman có nói: „Không có trái tim nào trọn vẹn bằng trái tim bị tan vỡ.“ Lịch sử của nước Đức là một lịch sử bị tan vỡ – đi cùng với trách nhiệm đối với hàng triệu người bị thủ tiêu và hàng triệu sinh linh bị khổ đau. Sự kiện này đã làm tan nát trái tim chúng ta tới ngày hôm nay.Vì thế: Người ta chỉ có thể yêu đất nước này với một trái tim nát tan. Người nào không chấp nhận điều này, người nào đòi hỏi kết thúc trang sử trên, thì người đó không chỉ chối bỏ thảm họa chiến tranh và thể chế độc tài Đức Quốc Xã, mà người đó cũng gạt bỏ giá trị của tất cả những gì tốt đẹp mà chúng ta đã đạt được từ thời điểm trên - và người đó còn phủ nhận cả bản chất chính yếu của nền dân chủ của chúng ta. „Nhân phẩm là bất khả xâm phạm“. Câu đầu tiên này trong hiến pháp của chúng ta ghi lại và để lại cho mọi người thấy, điều gì đã xảy ra tại Ausschwitz, trong chiến tranh và trong chế độ độc tài. Không! Tưởng nhớ không phải là gánh nặng. Không tưởng nhớ mới sẽ trở thành gánh nặng. Không phải tuyên xưng nhận lãnh trách nhiệm là nhục nhã – phủ nhận trách nhiệm mới là nhục nhã! Nhưng thế nào là trách nhiệm lịch sử của chúng ta ngày hôm nay, sau ba phần tư thế kỷ? Lòng biết ơn chúng ta cảm nhận được ngày hôm nay không được biến chúng ta thành tự mãn. Ngược lại: Tưởng nhớ là thách đố và là trách nhiệm của chúng ta! „Không bao giờ được tái diễn!“ - Điều này chúng ta đã tự thề hứa với nhau sau chiến tranh. Nhưng khẩu hiệu „Không bao giờ được tái diễn!“ này đối với người Đức chúng ta trước nhất có nghĩa là: “Không bao giờ đơn phương nữa!“ Và không nơi nào câu này có giá trị bằng tại Âu Châu. Chúng ta phải đoàn kết với nhau trong Âu Châu. Chúng ta phải suy nghĩ, cảm nhận và hành động trong cương vị người Âu Châu. Nếu chúng ta không giữ Âu Châu trong tình đoàn kết ngay giữa và sau đại dịch vi khuẩn này, thì chúng ta tự minh chứng mình không xứng đáng ngày tưởng niệm 08 tháng 5 này. Nếu Âu Châu thất bại thì khẩu hiệu „Không bao giờ được tái diễn!“ cũng sẽ thất bại! Cộng đồng thế giới đã học được từ khẩu hiệu „Không bao giờ được tái diễn!“ và đã biến những bài học rút tỉa được sau năm 1945 từ thảm họa thành một nền tảng chung, thành nhân quyền và luật quốc tế, thành quy tắc cho hòa bình và hợp tác. Đất nước của chúng ta, với quá khứ là thành phần gieo rắc bao tai ương, làm nguy hại cho trật tự thế giới đã trở thành đối tác cho hòa bình, chúng ta không thể nào để cho trật tự hòa bình này tan biến trước mắt mình. Chúng ta không thể chấp nhận sự ngày càng xa lạ với những người đã đắp xây nền hòa bình thế giới. Chúng ta muốn cộng tác nhiều hơn với thế giới chứ không ít đi – ngay cả trong nỗ lực chống lại đại dịch hiện nay. „Ngày 08 tháng 5 là ngày của giải thoát.“ Tôi tin rằng: Chúng ta phải đọc lại câu nói nổi tiếng này của vị cựu tổng thống của chúng ta, ông Richard von Weizsäcker, và phải đọc khác đi. Vào thời điểm đó (40 năm sau chiến tranh *) câu này nói lên một cột mốc quan trọng của dân tộc chúng ta trong nỗ lực vật lộn với lịch sử của mình. Hôm nay câu này phải hướng đến tương lai của chúng ta. „Giải Thoát“ là một tiến trình không bao giờ chấm dứt, và „Giải Thoát“ không phải là sự kiện mà chúng ta trải nghiệm qua một cách thụ động, nhưng nó thách đố chúng ta phải tích cực, mỗi ngày mỗi nỗ lực mới. Thời đó chúng ta được giải thoát. Hôm nay chúng ta phải tự giải thoát mình! Giải thoát khỏi sự cám dỗ của một chủ nghĩa quốc gia mới; khỏi sự thu hút của thể chế độc đoán; khỏi sự nghi kỵ, sự tự cách ly và sự thù địch giữa các quốc gia; khỏi sự hận thù và xách động; khỏi sự bài ngoại và khinh bỉ nền dân chủ – là vì tất cả những điều này đều là những tà thần cũ trong áo choàng mới. Trong ngày 08 tháng 5 này chúng ta cũng nhớ đến những nạn nhân tại Hanau, tại Halle và Kassel. Không vì đại dịch Corona mà họ bị lãng quên! „Nếu nó có thể xảy ra ở đây thì nó có thể xảy ra khắp mọi nơi.“ Điều này vị tổng thống Do Thái ông Reuven Rivlin đã gửi gắm chúng ta nhân ngày tưởng niệm những nạn nhân của Holocaust khi ông nói chuyện tại Quốc Hội Đức. Nếu nó có thể xảy ra ở đây thì nó có thể xảy ra ở khắp mọi nơi, nhưng ngày hôm nay không có ai giải thoát chúng ta khỏi những hiểm nguy này. Chúng ta phải tự giải quyết. Chúng ta đã được giải thoát để đi tới tự lãnh trách nhiệm! Tôi biết rõ: Ngày 08 tháng 5 này rơi vào thời điểm những biến chuyển lớn và những bất ổn. Không phải mới bắt đầu từ khi có đại dịch Corona nhưng càng khó khăn hơn từ khi có đại dịch. Ngày hôm nay chúng ta chưa biết, khi nào chúng ta sẽ vượt qua khủng hoảng này và sẽ vượt qua như thế nào, nhưng chúng ta biết thái độ đương đầu của chúng ta với vấn đề là: với sự tin tưởng lớn vào đất nước này, vào nền dân chủ của quốc gia và vào những gì mà chúng ta có thể cùng nhau gánh vác. Điều này cho thấy trong 75 năm qua chúng ta đã đi được một đoạn đường rất xa. Và qua đó cho tôi niềm hy vọng đối với tất cả những gì còn đến với chúng ta. Quý đồng hương thân mến, vì đại dịch chúng ta không thể cùng nhau tưởng nhớ và cử hành chung những buổi tưởng niệm. Chúng ta hãy cùng thinh lặng. Cùng suy niệm. Tôi xin tất cả những người Đức tưởng nhớ trong thinh lặng những nạn nhân của chiến tranh và chủ nghĩa Đức Quốc Xã! Xin ông bà tự hỏi ký ức của mình, những kỷ niệm của gia đình, lịch sử của đất nước chung này! Xin suy ngẫm ý nghĩa của sự giải thoát và ngày 08 tháng 5 có ý nghĩa như thế nào cho cuộc sống và sự hành động của ông bà! 75 năm sau khi chiến tranh kết thúc, người Đức chúng ta được phép biết ơn cho nhiều điều, nhưng tất cả những gì tốt đẹp triển nở từ đó không phải được bảo đảm mãi mãi. Vì thế, cũng trong ý nghĩa này: Ngày 08 tháng 5 không phải là ngày kết thúc của giải thoát - nhưng là bổn phận miên viễn đấu tranh cho tự do và dân chủ, bổn phận của chúng ta! * lời diễn giải của người dịch Hòa Vinh chuyển ngữ *** Bundespräsident Frank-Walter Steinmeier zum 75. Jahrestag der Befreiung vom Nationalsozialismus und des Endes des Zweiten Weltkrieges in Europa an der Zentralen Gedenkstätte der Bundesrepublik Deutschland für die Opfer von Krieg und Gewaltherrschaft (Neue Wache) am 8. Mai 2020 in Berlin 08.05.2020 - Artikel - Änderungen vorbehalten. Es gilt das gesprochene Wort. - Heute vor 75 Jahren ging in Europa der Zweite Weltkrieg zu Ende. Der 8. Mai 1945 war das Ende der nationalsozialistischen Gewaltherrschaft, das Ende von Bombennächten und Todesmärschen, das Ende beispielloser deutscher Verbrechen und des Zivilisationsbruchs der Shoah. Hier in Berlin, wo der Vernichtungskrieg erdacht und entfesselt worden war und wohin er mit aller Wucht der Zerstörung zurückkehrte – hier in Berlin wollten wir heute gemeinsam erinnern. Wir wollten erinnern – gemeinsam mit Vertretern der Alliierten aus dem Westen und aus dem Osten, die diesen Kontinent – unter größten Opfern – befreit haben. Gemeinsam mit unseren Partnern aus allen Teilen Europas, die unter deutscher Besatzung gelitten haben, und dennoch zur Versöhnung bereit waren. Gemeinsam mit den Überlebenden deutscher Verbrechen und den Nachfahren der Opfer, von denen so viele uns die Hand ausgestreckt haben. Gemeinsam mit all denen auf der Welt, die diesem Land die Chance gaben, neu anzufangen. Wir wollten erinnern – auch mit den Älteren in unserem Land, die jene Zeit selbst erlebt haben. Hunger, Flucht, Gewalt, Vertreibung haben sie als Kinder durchlitten. Nach dem Krieg haben sie dieses Land aufgebaut, im Osten wie im Westen. Und wir wollten mit den Jüngeren gedenken, die heute, drei Generationen später, fragen, was die Vergangenheit ihnen eigentlich noch zu sagen hat – und denen ich zurufe: „Auf euch kommt es an! Ihr seid es, die die Lehren aus diesem furchtbaren Krieg in die Zukunft tragen müsst!“ Genau deshalb hatten wir heute tausende Jugendliche aus aller Welt nach Berlin eingeladen, junge Menschen, deren Vorfahren Feinde waren und die heute Freunde geworden sind. So wollten wir an diesem 8. Mai gemeinsam erinnern. Doch nun zwingt uns die Corona-Pandemie, allein zu gedenken – getrennt von denen, die uns wichtig und denen wir dankbar sind. Vielleicht versetzt uns dieses Alleinsein noch einmal zurück an jenen 8. Mai 1945. Denn damals waren die Deutschen tatsächlich allein. Deutschland war militärisch besiegt, politisch und wirtschaftlich am Boden, moralisch zerrüttet. Wir hatten uns die ganze Welt zum Feind gemacht. Heute, 75 Jahre später, müssen wir allein gedenken – aber: Wir sind nicht allein! Das ist die glückliche Botschaft des heutigen Tages! Wir leben in einer starken, gefestigten Demokratie, im dreißigsten Jahr des wiedervereinten Deutschlands, im Herzen eines friedlichen und vereinten Europa. Wir genießen Vertrauen und ernten die Früchte von Zusammenarbeit und Partnerschaft rund um die Welt. Ja, wir Deutsche dürfen heute sagen: Der Tag der Befreiung ist ein Tag der Dankbarkeit! Drei Generationen hat es gedauert, bis wir uns dazu aus vollem Herzen bekennen können. Ja, der 8. Mai 1945 war ein Tag der Befreiung. Aber er war es noch lange nicht in den Köpfen und Herzen der allermeisten Deutschen. Die Befreiung war 1945 von außen gekommen. Sie musste von außen kommen – so tief war dieses Land verstrickt in sein eigenes Unheil, in seine Schuld. Und auch wirtschaftlicher Wiederaufbau und demokratischer Neubeginn im Westteil Deutschlands wurden nur möglich durch die Großzügigkeit, Weitsicht und Versöhnungsbereitschaft der ehemaligen Kriegsgegner. Doch auch wir selbst haben Anteil an der Befreiung. Es war die innere Befreiung. Sie geschah nicht am 8. Mai 1945, nicht an einem einzigen Tag. Sondern sie war ein langer, ein schmerzhafter Weg. Aufarbeitung und Aufklärung über Mitwisserschaft und Mittäterschaft, quälende Fragen in den Familien und zwischen den Generationen, der Kampf gegen das Verschweigen und Verdrängen. Es waren Jahrzehnte, in denen viele Deutsche meiner Generation erst nach und nach ihren Frieden mit diesem Land machen konnten. Es waren Jahrzehnte, die bei unseren Nachbarn neues Vertrauen wachsen ließen, die vorsichtige Annäherung ermöglichten, vom europäischen Einigungsprozess bis hin zu den Ostverträgen. Und es waren Jahrzehnte, in denen Mut und Freiheitsliebe im Osten unseres Kontinents sich nicht mehr einmauern ließen – bis hin zu jenem glücklichsten Moment der Befreiung: der Friedlichen Revolution und der Wiedervereinigung. Diese Jahrzehnte des Ringens mit unserer Geschichte waren Jahrzehnte, in denen die Demokratie in Deutschland erst reifen konnte. Und dieses Ringen, es bleibt bis heute. Es gibt kein Ende des Erinnerns. Es gibt keine Erlösung von unserer Geschichte. Denn ohne Erinnerung verlieren wir unsere Zukunft. Nur weil wir Deutsche unserer Geschichte ins Auge sehen, weil wir die historische Verantwortung annehmen, haben die Völker der Welt unserem Land neues Vertrauen geschenkt. Und deshalb dürfen auch wir selbst uns diesem Deutschland anvertrauen. Darin liegt ein aufgeklärter, demokratischer Patriotismus. Es gibt keinen deutschen Patriotismus ohne Brüche. Ohne den Blick auf Licht und auf Schatten, ohne Freude und Trauer, ohne Dankbarkeit und Scham. Rabbi Nachman hat gesagt: „Kein Herz ist so ganz wie ein gebrochenes Herz.“ Die deutsche Geschichte ist eine gebrochene Geschichte – mit der Verantwortung für millionenfachen Mord und millionenfaches Leid. Das bricht uns das Herz. Deshalb: Man kann dieses Land nur mit gebrochenem Herzen lieben. Wer das nicht erträgt, wer einen Schlussstrich fordert, der verdrängt nicht nur die Katastrophe von Krieg und NS-Diktatur. Der entwertet auch all das Gute, das wir seither errungen haben – der verleugnet den Wesenskern unserer Demokratie. „Die Würde des Menschen ist unantastbar.“ In diesen ersten Satz unserer Verfassung ist und bleibt für alle sichtbar eingeschrieben, was in Auschwitz, was in Krieg und Diktatur geschehen ist. Nein, nicht das Erinnern ist eine Last – das Nichterinnern wird zur Last. Nicht das Bekenntnis zur Verantwortung ist eine Schande – das Leugnen ist eine Schande! Doch was bedeutet unsere historische Verantwortung heute, ein Dreivierteljahrhundert später? Die Dankbarkeit, die wir heute spüren, die darf uns nicht bequem machen. Im Gegenteil: Die Erinnerung fordert und verpflichtet uns! „Nie wieder!“ – das haben wir uns nach dem Krieg geschworen. Doch dieses „Nie wieder!“, es bedeutet für uns Deutsche vor allem: „Nie wieder allein!“ Dieser Satz gilt nirgendwo so sehr wie in Europa. Wir müssen Europa zusammenhalten. Wir müssen als Europäer denken, fühlen und handeln. Wenn wir Europa, auch in und nach dieser Pandemie, nicht zusammenhalten, dann erweisen wir uns des 8. Mai nicht als würdig. Wenn Europa scheitert, scheitert auch das „Nie wieder!“! Die Weltgemeinschaft hat aus dem „Nie wieder!“ gelernt. Sie hat nach 1945 die Lehren aus der Katastrophe in ein gemeinsames Fundament gegossen, in Menschenrechte und Völkerrecht, in Regeln für Frieden und Zusammenarbeit. Unser Land, von dem das Unheil ausgegangen war, ist über die Jahre vom Gefährder der internationalen Ordnung zu ihrem Förderer geworden. Also dürfen wir nicht zulassen, dass diese Friedensordnung heute vor unseren Augen zerrinnt. Wir dürfen uns nicht abfinden mit der Entfremdung von denen, die sie errichtet haben. Wir wollen mehr und nicht weniger Zusammenarbeit auf der Welt – auch im Kampf gegen die Pandemie. „Der 8. Mai war ein Tag der Befreiung.“ Ich glaube: Wir müssen Richard von Weizsäckers berühmten Satz heute neu und anders lesen. Damals war dieser Satz ein Meilenstein im Ringen mit unserer Vergangenheit. Heute aber muss er sich an unsere Zukunft richten. „Befreiung“ ist nämlich niemals abgeschlossen, und sie ist nichts, was wir nur passiv erfahren, sondern sie fordert uns aktiv, jeden Tag aufs Neue. Damals wurden wir befreit. Heute müssen wir uns selbst befreien! Von der Versuchung eines neuen Nationalismus. Von der Faszination des Autoritären. Von Misstrauen, Abschottung und Feindseligkeit zwischen den Nationen. Von Hass und Hetze, von Fremdenfeindlichkeit und Demokratieverachtung – denn sie sind doch nichts anderes als die alten bösen Geister in neuem Gewand. Wir denken an diesem 8. Mai auch an die Opfer von Hanau, von Halle und Kassel. Sie sind durch Corona nicht vergessen! „Wenn es hier geschehen kann, kann es überall geschehen.“ Das hat uns der israelische Präsident Reuven Rivlin dieses Jahr am Holocaust-Gedenktag im Deutschen Bundestag zugerufen. Wenn es hier geschehen kann, kann es überall geschehen. Doch heute gibt es niemanden, der uns von diesen Gefahren befreit. Wir müssen es selbst tun. Wir wurden befreit – befreit zu eigener Verantwortung! Ich weiß wohl: Dieser 8. Mai fällt in Zeiten großer Umbrüche und großer Ungewissheit. Nicht erst, aber erst recht durch die Corona-Pandemie. Wir wissen heute noch nicht, wie und wann wir aus dieser Krise herauskommen. Aber wir wissen, wie wir in sie hineingegangen sind: mit großem Vertrauen in dieses Land, in unsere Demokratie, in das, was wir gemeinsam schultern können. Das zeigt doch, wie unendlich weit wir in 75 Jahren gekommen sind. Und das gibt mir Hoffnung für alles, was vor uns liegt. Wir können wegen Corona nicht gemeinsam erinnern, und keine Gedenkveranstaltungen abhalten. Aber nutzen wir doch die Stille. Halten wir inne. Ich bitte alle Deutschen: Gedenken Sie heute in Stille der Opfer des Krieges und des Nationalsozialismus! Befragen Sie – ganz gleich, wo Ihre Wurzeln liegen – Ihre Erinnerungen, die Erinnerungen Ihrer Familien, die Geschichte unseres gemeinsamen Landes! Bedenken Sie, was der 8. Mai, was die Befreiung für Ihr Leben und Ihr Handeln bedeutet! 75 Jahre nach Kriegsende dürfen wir Deutsche für vieles dankbar sein. Aber nichts von all dem Guten, das seither gewachsen ist, ist auf ewig gesichert. Der 8. Mai war nicht das Ende der Befreiung – Freiheit und Demokratie sind sein bleibender Auftrag, unser Auftrag! Bundespräsident Frank-Walter Steinmeier  
......

Lời ngỏ của Tiến Sĩ Wolfgang Schäuble, Chủ Tịch Quốc Hội Đức Quốc nhân ngày Tưởng Niệm 45 năm chấm dứt chiến tranh Việt Nam

Tiến Sĩ Wolfgang Schäuble Chủ Tịch Quốc Hội Liên Bang Đức Lời ngỏ nhân ngày Tưởng Niệm 45 năm chấm dứt chiến tranh Việt Nam “Ai nhắm mắt chối bỏ quá khứ, người đó sẽ mù quáng trước hiện tại.“ (Richard von Weizäcker) Trong sự hỗn loạn của chiến tranh kéo dài nhiều năm, hầu như không có một gia đình người Việt nào trong thế kỷ 20 mà không bị bức hại và phải đào thoát. Chiến tranh Việt Nam đã tạo ra hàng triệu nạn nhân, với bao người tàn phế, cô nhi, chấn thương tâm lý và để lại một đất nước hoang tàn. Mặc dù trận chiến đã kết thúc cách nay 45 năm nhưng hòa bình thực sự vẫn chưa trở lại. Đối với nhiều người thì đó lại là sự khởi đầu của một nỗi thống khổ mới: Trước những khủng bố của chế độ Cộng Sản khoảng một triệu rưỡi người Việt vượt biển trốn chạy. Trên 200.000 thuyền nhân bị chết đuối, chết khát hay bị rơi vào bàn tay của hải tặc tân thời. Người nào vượt qua thành công chuyến chạy trốn hãi hùng này thì phải đối diện với nhiệm vụ xây dựng một cuộc sống mới cho bản thân và gia đình tại nơi lưu vong, xa quê hương. Ngay tại Cộng Hòa Liên Bang Đức cũng có nhiều người tỵ nạn như thế đến cư trú. Phần lớn họ được cứu vớt bởi con tàu Cap Anamur, xuất phát từ hành động quyết đoán của nhân vật không thể nào quên được là ông Rupert Neudeck. Ông và nhiều người ủng hộ đã không chỉ xúc động và ngồi yên trước những cảnh tượng trên biển Đông, mà họ đã hành động - và đã đạt được sự thu nhận nhiều thuyền nhân vào Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù thời đó vấn đề này đã gây nhiều tranh cãi trong chính trị. Từ đó một cộng đồng người Việt qua những thập niên đã lớn lên trong Xã Hội chúng tôi; Cộng Đồng này vào lúc nước Đức thống nhất có thêm cả những người hợp tác lao động thời Cộng Hòa Dân Chủ Đông Đức đến từ nước Việt Nam Cộng Sản. Nhiều người được nhập tịch từ lâu, có nguồn gốc Việt Nam đã cho thấy di dân đem lại sự trù phú cho toàn xã hội. Họ đóng góp vào sự thịnh vượng của đất nước chúng ta và giúp đỡ gia đình họ tại quê hương cũ. Họ đã trở thành một phần của nước Đức, một tấm gương cho sự hội nhập thành công. Hôm nay chúng tôi chia sẻ với quý vị sự đau buồn cho nhiều nạn nhân. Qua kinh nghiệm đau thương của mình, chúng tôi hiểu nỗi đắng cay khi đất nước bị  phân chia, khi gia đình bị ly tán, khi Nhân Quyền và Dân Chủ, Tự Do Báo Chí và Tư Tưởng bị cắt xén. Nhưng trường hợp nước Đức cũng cho thấy rằng: Cuối cùng Tự Do vẫn thắng thế. Sự tưởng niệm về những sự kiện đã diễn ra luôn mang tính cách quan trọng – trong tinh thần của Richard von Weizäcker: Điều đó giúp chúng ta nhìn thấy hiện tại với tất cả thách thức của nó. Tiến Sĩ Wolfgang Schäuble là chủ tịch Quốc Hội Liên Bang Đức từ năm 2017 và đã từng là chủ tịch đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo (Christian Democratic Union party), trưởng khối liên đảng CDU-CSU tại Quốc Hội Liên Bang. Ông rất mến mộ Tiến Sĩ Rupert Neudeck, sáng lập viên Ủy Ban Cap Anamur vì lòng thương người và đã dũng cảm cứu vớt thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam. TS Schäuble khâm phục những nỗ lực hội nhập thành công của người Việt Nam tại Đức và vì thế đích thân ông đã đến chủ trì lễ khánh thành tượng đài ghi ơn TS Neudeck năm 2018 (http://www.viettin.de/node/35) do người Việt tại Đức quyên góp để thực hiện. **** Dr wolfgang schäuble Präsidenten des Deutschen Bundestages Grußwort zum 45. Jahrestag des Vietnamkriegsendes   „Wer vor der Vergangenheit die Augen verschließt, wird blind für die Gegenwart.“ Richard von Weizsäcker   Kaum eine vietnamesische Familie blieb von den jahrelangen Kriegswirren, von Verfolgung und Flucht im 20. Jahrhundert verschont. Der Krieg in Vietnam forderte Millionen Opfer, hinterließ Invaliden, Waisen, Traumatisierte und ein zerstörtes Land. Die Kampfhandlungen endeten zwar vor 45 Jahren, doch ein echter Friede kehrte nicht ein. Für viele Menschen begann neues Leid: Vor dem Terror des kommunistischen Regimes flohen rund anderthalb Millionen Vietnamesen übers offene Meer. Mehr als 200.000 „Boatpeople“ ertranken, verdursteten oder gerieten in die Fänge moderner Piraterie. Wem die dramatische Flucht gelang, stand vor der Aufgabe, sich und seiner Familie ein neues Leben aufzubauen – oft im Exil fern der Heimat. Auch in der Bundesrepublik fanden viele Flüchtlinge Zuflucht. Ihre Rettung bleibt vor allem mit dem Einsatz der „Cap Anamur“ verbunden, mit der rebellischen Tatkraft des unvergessenen Rupert Neudeck. Er und seine zahlreichen Unterstützer verharrten nicht in Betroffenheit angesichts der Bilder aus dem südchinesischen Meer, sondern sie handelten – und erreichten die damals politisch durchaus umstrittene Aufnahme vieler der ‚Boatpeople‘ in der Bundesrepublik. Im Laufe der Jahrzehnte ist so in unserer Gesellschaft eine große vietnamesische Community gewachsen, zu der im wiedervereinigten Deutschland auch die DDR-Vertragsarbeiter aus dem einst kommunistisch regierten Vietnam gehören. Viele der längst eingebürgerten Deutschen mit vietnamesischen Wurzeln zeigen, wie Zuwanderung zu einer gesamtgesellschaftlichen Bereicherung wird. Sie tragen zum Wohlstand unseres Landes bei und unterstützen ihre Familien in der alten Heimat. Sie sind ein Teil Deutschlands geworden, beispielgebend für eine gelungene Integration.   Heute teilen wir mit Ihnen die Trauer um die vielen Opfer. Wir wissen aus leidvoller eigener Erfahrung, wie bitter es ist, wenn eine Nation geteilt wird, wenn Familien auseinandergerissen gerissen sind, wenn Menschenrechte und Demokratie, Presse- und Meinungsfreiheit beschnitten sind. Aber das deutsche Beispiel zeigt auch: Die Freiheit setzt sich am Ende durch. Das Gedenken an das, was war, bleibt dabei wichtig – im Sinne Richard von Weizsäckers: Es macht sehend für die Gegenwart mit all ihren Heraus­forderungen.
......

Bài phát biểu lịch sử của Tổng Thống Đức về tương lai nước Đức sau đại dịch

Bài phát biểu của  Tổng thống Đức Frank – Walter Steinmeier| Nguyễn Thế Tuyền dịch - Tuyen Nguyen Hôm nay 11.04.2020, Tổng thống Đức Frank – Walter Steinmeier, người giữ chức vụ cao nhất CHLB Đức, phát biểu trước toàn quốc về sự phát triển của xã hội Đức sau cuộc khủng hoảng Corona. Báo Bild ghi lại toàn văn bài diễn thuyết lịch sử này lúc 19 giờ 30 phút tại Dinh tổng thống, lâu đài Bellevue Berlin. Tôi xin dịch toàn văn tài liệu quan trọng này để người Việt có thể hiểu tình hình những năm tháng tới. Nguyễn Thế Tuyền (Berlin) THƯA TOÀN THỂ CÔNG DÂN Chỉ còn vài tiếng nữa là đến lễ Phục sinh. Ngoài kia các loài hoa đua nở tô điểm cho thiên nhiên. Chúng ta phóng tầm mắt ra ngoài rồi lại nhìn nhau, hướng tới những người thân, hướng tới gia đình và bạn bè. Chúng ta đã quen điều đó, một phần của tập tục. Thế nhưng năm nay hoàn toàn khác. Thật buồn khi chúng ta không được đến thăm bố mẹ. Trái tim của ông bà cũng bị giằng xé vì không được ôm các cháu thân yêu của mình trong dịp lễ Phục sinh. Và còn nhiều điều khác lạ nữa trong năm nay: không còn sự nhộn nhịp trong công viên hay các quán cà phê. Nhiều người phải từ bỏ đi du lịch mà họ đã lên kế hoạch và khao khát từ lâu. Chủ các quán ăn và khách sạn không có điểm xuất phát hoàn thiện cho một mùa làm ăn. Các tín đồ không được đến với lễ thánh. Đối với tất cả chúng ta, một câu hỏi rất xoáy và mờ mịt về tương lai: Thời gian tới tình hình sẽ ra sao? Cuộc khủng hoảng rơi đúng vào dịp lễ Phục sinh, khi những người theo đạo Thiên chúa mừng sự sống đã chiến thắng cái chêt. Thế mà chúng ta phải hạn chế tiếp xúc để ngăn ngừa dịch bệnh và cái chết chiến thắng lại sự sống. Nhiều nghìn người đã chết ở đất nước chúng ta. Ngoài ra cái chết còn hiện diện ở Bergamo, Elass, Madrid, New York và nhiều nơi khác trên thế giới. Những hình ảnh ấy đến rất gần chúng ta. Chúng ta thương tiếc những người phải chết trong tình trạng cô đơn. Chúng ta nghĩ đến những người thân thích không thể cùng nhau tiễn đưa người quá cố về nơi an nghỉ cuối cùng. Chúng ta cám ơn những chiến binh trong ngành y tế đã cứu mạng sống con người không biết mệt mỏi. Và như vậy đối với tất cả chúng ta, cuộc sống đều bị đảo lộn. Chúng ta hãy nghĩ đến những người gặp hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng khi họ bị bệnh hay cô đơn trong nhà, lo cho công ăn việc làm, lo sự tồn tại của hãng xưởng, lo cho những người làm nghề tự do, các nghệ sĩ khi thu nhập của họ tự nhiên bị thâm thụt. Chúng ta nghĩ tới những gia đình, những người một mình nuôi con trong những căn hộ chật chội không ban công, không vườn cây. Đại dịch cho chúng ta thấy: Chúng ta vẫn có thể bị tổn thương. Có thể từ lâu rồi chúng ta ngộ nhận, tưởng mình không thể bị sát thương, tưởng chỉ có thể bay nhanh hơn, cao hơn, xa hơn. Đó là một sai lầm. Cuộc khủng hoảng không chỉ cho chúng ta thấy điều đó, mà nó còn cho chúng ta thấy cả sức mạnh của chúng ta! Thấy nền tảng nào để sức mạnh của chúng ta phát triển! Tôi vô cùng ấn tượng về những cố gắng to lớn mà đất nước chúng ta đã thể hiện trong những tuần qua. Cho đến bây giờ nguy cơ vẫn chưa bị đẩy lùi. Nhưng chúng ta có thể nói rằng: Mỗi một cá nhân quý vị đã làm thay đổi đất nước chúng ta, và thông qua việc làm cụ thể đã cứu bao nhiêu nhân mạng và hàng ngày vẫn đang tiếp tục cứu người. Nhà nước đang hành động quyết liệt là điều rất tốt trong một cuộc khủng hoảng từ trước đến giờ chưa có kịch bản tiền lệ. Tôi xin tất cả quý vị tiếp tục tin tưởng, vì chính quyền liên bang và tiểu bang đã hiểu rất rõ trách nhiệm to lớn của mình. Rồi tình hình sẽ thế nào, khi nào những giới hạn kia có thể được nới lỏng – không chỉ những nhà chính trị và các chuyên gia có câu trả lời quyết định. Tất cả nằm trong tay chúng ta, thông qua sự kiên nhẫn và kỷ cương trong hiện tại, lúc chúng ta gặp khó khăn nhất. Những cố gắng khủng khiếp mà chúng ta đã thực hiện trong những ngày qua không phải chúng ta thực hiện vì một bàn tay sắt bắt chúng ta làm. Xã hội chúng ta là một nền dân chủ sống động, công dân luôn mang trên mình ý thức trách nhiệm. Đó là một nền dân chủ trong đó chúng ta tin tưởng lắng nghe những số liệu và biện luận, thể hiện lý trí để làm cái đúng. Đó là một nền dân chủ biết tôn trọng từng mạng sống. Một nền dân chủ mà mỗi người đều chung tay đóng góp: Từ người y tá đến thủ tướng, từ hội đồng chuyên gia khoa học đến những trụ cột của xã hội hữu hình và vô hình – Những người thu ngân trong siêu thị, nhưng người bên vô lăng xe buýt và xe tải, những người bên lò bánh mì, những người ở nông trại hay làm dịch vụ đổ rác. Rất nhiều người đã tự trưởng thành. Tôi cám ơn các quý vị. Tất nhiên tôi biết: Tất cả chúng ta đều khao khát trở lại cuộc sống bình thường. Nhưng điều đó nghĩa là thế nào? Có phải chỉ làm sao nhanh chóng trở lại nhịp sống với những thói quen xưa? Không, thế giới sau sự kiện này sẽ khác đi nhiều. Nó sẽ như thế nào, điều đó do chúng ta quyết định! Chúng ta hãy rút được bài học từ kinh nghiệm, kể cả tốt lẫn xấu, những điều chúng ta đã làm hàng ngày trong thời kỳ khủng hoảng này. Tôi nghĩ rằng: Chúng ta đang đứng trước ngã ba đường. Ngay trong lúc khủng hoảng đã cho thấy có hai hướng chúng ta có thể lựa chọn. Hoặc là mỗi người chỉ nghĩ đến mình, không cần biết đến ai, mua vơ tích trữ chỉ biết lợi cho mình? Hoặc là hành động vì người khác và vì xã hội? Sự sáng tạo và sẵn sàng giúp đỡ người khác mới bùng nổ có giữ được tiếp tục hay không? Chúng ta còn tiếp tục liên hệ với những người hàng xóm lớn tuổi mà ta đã giúp họ mua hàng hay không? Ta còn nể trọng những người thu ngân, những người mang bưu phẩm đến cho ta nữa không, những người thật xứng đáng được hưởng sự tôn trọng ấy? Và còn nữa: Liệu sau khủng hoảng chúng ta còn nhớ những công việc không thể từ bỏ được trong lĩnh vực chăm sóc, cung ứng, những nghề phục vụ xã hội, công việc trong nhà trẻ và trường học và có cho đó thực sự cần thiết đối với chúng ta không? Những người trụ được về mặt kinh tế trong cơn khủng hoảng có còn giúp đỡ những người bị thiệt hại nặng để họ tiếp tục đứng vững không? Và: Chúng ta tìm lối thoát chung cùng thế giới hay là co cụm lại tìm lối thoát cho riêng mình? Chúng ta chia sẻ kiến thức, kết quả nghiên cứu để có thể nhanh chóng tìm ra thuốc ngừa và điều trị bệnh, và chúng ta tạo ra một liên minh trên toàn thế giới để những nước nghèo nhất cũng được hưởng khi họ bị tổn thương? Không, đại dịch này không phải là một cuộc chiến tranh. Không phải nước này chống nước kia, lính giết lính, mà nó là một thử thách cho toàn bộ loài người. Nó làm rõ hơn cái xấu nhất cũng như cái tốt nhất trong con người. Chúng ta hãy thể hiện cái tốt nhất của chúng ta! Và chúng ta hãy thể hiện trên lục địa châu Âu này trước! Nước Đức không thể ra khỏi khủng hoảng một cách khỏe mạnh và cường tráng, nếu những nước láng giềng của chúng ta không lành mạnh và cường tráng. Lá cờ màu xanh đứng ở đây không phải là không có lý do (cờ Liên minh châu Âu – ND). Ba mươi năm sau khi thống nhất nước Đức, 75 năm sau khi kết thúc chiến tranh, người Đức chúng ta không chỉ kêu gọi sự đoàn kết tương trợ ở châu Âu mà đó là nghĩa vụ! Sự đoàn kết tương trợ - tôi biết đó là một khái niệm to tát. Nhưng liệu mỗi người có hiểu thật cụ thể khái niệm đoàn kết tương trợ này trong thời điểm hiện tại hay không? Mọi hành động của mình đối với người khác là hành động mang tính sống còn. Chúng ta hãy giữ gìn kinh nghiệm quý báu này. Sự tương trợ mà quý vị đã thể hiện hàng ngày như vừa rồi chúng ta rất cần cho tương lai và còn cần nhiều hơn thế nữa! Sau khủng hoảng, xã hội chúng ta sẽ hoàn toàn khác. Chúng ta không muốn một xã hội sợ hãi, một xã hội không có niềm tin. Chúng ta muốn một xã hội có niềm tin, tế nhị và tin cậy lẫn nhau. Ngay trong những ngày lễ Phục sinh, những hy vọng tốt lành này có nhiều quá không? Con virus không phải là quyết định, mà chúng ta hãy tự quyết định lấy. Thời gian tới chắc chắn sẽ có nhiều điều không hề đơn giản. Nhưng người Đức chúng ta có phải chỉ chọn những điều đơn giản để làm đâu. Chúng ta đòi hỏi ở mình nhiều hơn nữa, tin tưởng lẫn nhau nhiều hơn nữa. Chúng ta sẽ lớn lên, sẽ trưởng thành hơn trong hoàn cảnh như hiện nay. Chúc các quý vị một lễ Phục sinh vui vẻ, mọi điều tốt lành – chúng ta hãy luôn chú ý và để tâm đến người khác! PHẦN BỔ SUNG: Thưa độc giả trên toàn cầu, Sau khi nghe bài phát biểu của Tổng Thống Đức Frank Steinmeier trước công dân toàn quốc trong tình hình nước sôi lửa bỏng của nước Đức và châu Âu, tôi thực sự xúc động vì một chính khách có nhân cách lớn. Dịch bài này ra tiếng Việt là tôi muốn chia sẻ niềm xúc động ấy cho những người tôn thờ chân thiện mỹ, tôn thờ lòng nhân đạo và bao dung. Ngoài ra tôi còn muốn giúp một số đồng bào Việt Nam ở Đức ngồi trước TV biết là hay nhưng không hiểu cặn kẽ vì rào cản ngôn ngữ. Tôi không ngờ độc giả ở Việt Nam cũng chia sẻ nhiều đến thế. Họ đều có những dẫn dắt thiện cảm trước khi đăng lại bài. Đó là những bông hoa trang điểm thêm cho ngày hội toàn cầu, nhân một bài phát biểu nhân văn và trách nhiệm của tổng thống nước CHLB Đức và tôi cũng coi đó là phần thưởng cho mình để làm tiếp việc chuyển tải những thông điệp tương tự trong tương lai. Đó cũng là một đóng góp nhỏ cho sự quyện tụ của trí tuệ Việt. Cho phép tôi giải thích thêm vai trò và nhiệm vụ của Tổng Thống Đức do Hiến pháp quy định để độc giả hiểu rõ hơn: Tổng Thống là chức vụ cao nhất ở CHLB Đức, làm việc trung lập không được thiên vị đảng nào, đóng góp để cân bằng và dung hòa các trường phái chính trị trong xã hội. Tổng thống được Hội nghị liên bang bầu ra, cứ năm năm một lần, có thể tái ứng cử nhiệm kỳ sau. So với người đồng chức ở một số nước, Tổng Thống Đức ít quyền lực hơn (so với Mỹ, Pháp, Nga…) Nhiệm vụ của TT là thay mặt quốc gia ký những hiệp ước với quốc tế, duyệt lại các luật lần cuối cùng xem có vi hiến không trước khi nó có hiệu lực, phát biểu chính thức để nâng cao hình ảnh CHLB Đức ở trong và ngoài nước. Thủ Tướng Đức chức vụ nhỏ hơn nhưng có quyền chính quyết định đường hướng phát triển của đất nước. Xin chúc độc giả mạnh khỏe, cùng nhau chia sẻ những điều thiện, không những ở Việt Nam mà trên toàn thế giới! Nguyễn Thế Tuyền dịch NGUYÊN BẢN TIẾNG ĐỨC ★★★ Guten Abend, liebe Mitbürgerinnen und Mitbürger! In wenigen Stunden beginnt das Osterfest. Draußen erblüht die Natur und wir sehnen uns hinaus ins Freie – und zueinander: zu lieben Menschen, Familie, Freunden. So waren wir es gewohnt. So gehörte es dazu. Doch dieses Jahr ist alles anders. Es tut weh, auf den Besuch bei den Eltern zu verzichten. Großeltern zerreißt es das Herz, nicht wenigstens an Ostern die Enkel umarmen zu können. Und viel mehr noch ist anders in diesem Jahr. Kein buntes Gewimmel in Parks und Straßencafés. Für viele von Ihnen nicht die lang ersehnte Urlaubsreise. Für Gastwirte und Hoteliers kein sonniger Start in die Saison. Für die Gläubigen kein gemeinsames Gebet. Und für uns alle die bohrende Ungewissheit: Wie wird es weitergehen? Ausgerechnet an Ostern, dem Fest der Auferstehung, wenn Christen weltweit den Sieg des Lebens über den Tod feiern, müssen wir uns einschränken, damit Krankheit und Tod nicht über das Leben siegen. Viele Tausend sind gestorben. Bei uns im eigenen Land. Und in Bergamo, im Elsass, in Madrid, New York und vielen anderen Orten auf der Welt. Die Bilder gehen uns nah. Wir trauern um die, die einsam sterben. Wir denken an ihre Angehörigen, die nicht einmal gemeinsam Abschied nehmen können. Wir danken den unermüdlichen Lebensrettern im Gesundheitswesen. Und: So sehr unser aller Leben auf dem Kopf steht, so denken wir an die, die die Krise besonders hart trifft – die krank oder einsam sind; die Sorgen haben um den Job, um die Firma; die Freiberufler, die Künstler, denen Einnahmen wegbrechen; die Familien, die Alleinerziehenden in der engen Wohnung ohne Balkon und Garten. Die Pandemie zeigt uns: Ja, wir sind verwundbar. Vielleicht haben wir zu lange geglaubt, dass wir unverwundbar sind, dass es immer nur schneller, höher, weiter geht. Das war ein Irrtum. Aber die Krise zeigt uns nicht nur das, sie zeigt uns auch, wie stark wir sind! Worauf wir bauen können! Ich bin tief beeindruckt von dem Kraftakt, den unser Land in den vergangenen Wochen vollbracht hat. Noch ist die Gefahr nicht gebannt. Aber schon heute können wir sagen: Jeder von Ihnen hat sein Leben radikal geändert, jeder von Ihnen hat dadurch Menschenleben gerettet und rettet täglich mehr. Es ist gut, dass der Staat jetzt kraftvoll handelt – in einer Krise, für die es kein Drehbuch gab. Ich bitte Sie alle auch weiterhin um Vertrauen, denn die Regierenden in Bund und Ländern wissen um ihre riesige Verantwortung. Doch wie es jetzt weitergeht, wann und wie die Einschränkungen gelockert werden können, darüber entscheiden nicht allein Politiker und Experten. Sondern wir alle haben das in der Hand, durch unsere Geduld und unsere Disziplin – gerade jetzt, wenn es uns am schwersten fällt. Den Kraftakt, den wir in diesen Tagen leisten, den leisten wir doch nicht, weil eine eiserne Hand uns dazu zwingt. Sondern weil wir eine lebendige Demokratie mit verantwortungsbewussten Bürgern sind! Eine Demokratie, in der wir einander zutrauen, auf Fakten und Argumente zu hören, Vernunft zu zeigen, das Richtige zu tun. Eine Demokratie, in der jedes Leben zählt und in der es auf jede und jeden ankommt: vom Krankenpfleger bis zur Bundeskanzlerin, vom Expertenrat der Wissenschaft bis zu den sichtbaren und den unsichtbaren Stützen der Gesellschaft – an den Supermarktkassen, am Lenkrad von Bus und Lkw, in der Backstube, auf dem Bauernhof oder bei der Müllabfuhr. So viele von Ihnen wachsen jetzt über sich selbst hinaus. Ich danke Ihnen dafür. Und natürlich weiß ich: Wir alle sehnen uns nach Normalität. Aber was heißt das eigentlich? Nur möglichst schnell zurück in den alten Trott, zu alten Gewohnheiten? Nein, die Welt danach wird eine andere sein. Wie sie wird? Das liegt an uns! Lernen wir doch aus den Erfahrungen, den guten wie den schlechten, die wir alle, jeden Tag, in dieser Krise machen. Ich glaube: Wir stehen jetzt an einer Wegscheide. Schon in der Krise zeigen sich die beiden Richtungen, die wir nehmen können. Entweder jeder für sich, Ellbogen raus, hamstern und die eigenen Schäfchen ins Trockene bringen? Oder bleibt das neu erwachte Engagement für den anderen und für die Gesellschaft? Bleibt die geradezu explodierende Kreativität und Hilfsbereitschaft? Bleiben wir mit dem älteren Nachbarn, dem wir beim Einkauf geholfen haben, in Kontakt? Schenken wir der Kassiererin, dem Paketboten auch weiterhin die Wertschätzung, die sie verdienen? Mehr noch: Erinnern wir uns auch nach der Krise noch, was unverzichtbare Arbeit – in der Pflege, in der Versorgung, in sozialen Berufen, in Kitas und Schulen – uns wirklich wert sein muss? Helfen die, die es wirtschaftlich gut durch die Krise schaffen, denen wieder auf die Beine, die besonders hart gefallen sind? Und: Suchen wir auf der Welt gemeinsam nach dem Ausweg oder fallen wir zurück in Abschottung und Alleingänge? Teilen wir doch alles Wissen, alle Forschung, damit wir schneller zu Impfstoff und Therapien gelangen, und sorgen wir in einer globalen Allianz dafür, dass auch die ärmsten Länder Zugang haben, die am verwundbarsten sind. Nein, diese Pandemie ist kein Krieg. Nationen stehen nicht gegen Nationen, Soldaten gegen Soldaten. Sondern sie ist eine Prüfung unserer Menschlichkeit. Sie ruft das Schlechteste und das Beste in den Menschen hervor. Zeigen wir einander doch das Beste in uns! Und zeigen wir es bitte auch in Europa! Deutschland kann nicht stark und gesund aus der Krise kommen, wenn unsere Nachbarn nicht auch stark und gesund werden. Diese blaue Fahne steht hier nicht ohne Grund. Dreißig Jahre nach der Deutschen Einheit, 75 Jahre nach dem Ende des Krieges sind wir Deutsche zur Solidarität in Europa nicht nur aufgerufen – wir sind dazu verpflichtet! Solidarität – ich weiß, das ist ein großes Wort. Aber erfährt nicht jeder und jede von uns derzeit ganz konkret, ganz existenziell, was Solidarität bedeutet? Mein Handeln ist für andere überlebenswichtig. Bitte bewahren wir uns diese kostbare Erfahrung. Die Solidarität, die Sie jetzt jeden Tag beweisen, die brauchen wir in Zukunft umso mehr! Wir werden nach dieser Krise eine andere Gesellschaft sein. Wir wollen keine ängstliche, keine misstrauische Gesellschaft werden. Sondern wir können eine Gesellschaft sein mit mehr Vertrauen, mit mehr Rücksicht und mehr Zuversicht. Ist das, selbst an Ostern, zu viel der guten Hoffnung? Über diese Frage hat das Virus keine Macht. Darüber entscheiden allein wir selbst. Vieles wird in der kommenden Zeit sicher nicht einfacher. Aber wir Deutsche machen es uns ja auch sonst nicht immer einfach. Wir verlangen uns selbst viel ab und trauen einander viel zu. Wir können und wir werden auch in dieser Lage wachsen. Frohe Ostern, alles Gute – und geben wir acht aufeinander!  
......

khẩu trang "Textilmaske" không có tác dụng nhiều cho lắm

Nguyễn Doãn Đôn Viện trưởng Robert Koch Institut (RKI) là Giáo sư Tiến sỹ Lothar Wieler trả lời họp báo hôm nay 03.04.2020 về tình hình "chiến sự" chống covid-19 có mấy điểm chính được tóm tắt như sau: - Số người chết tại Đức là 1017 người - Số người lây nhiễm có trình diện là gần 80.000 người. Số thực tế là cao hơn nhiều. - Chiến lược chống dịch vẫn là cố gắng ở lại nhà càng nhiều càng tốt và giữ khoảng cách giữa người với nhau khi bắt buộc phải ra ngoài. Qua đó mà giảm tốc độ lây nhiễm. Cái đó trong những ngày qua chúng ta đã làm tốt, và phải nên duy trì. Miễn là phải giữ được đồ thì phẳng (flach) như hiện nay. Cố gắng không để nhảy vọt, đột biến. Nếu được như vậy thì chúng ta sẽ phản ứng được tối và cứu được nhiều người. - Quan trọng nhất vẫn là ý thức của từng người dân. - Tình hình hiện nay Đức đã chuẩn bị tốt và đang hoàn thiệt 4 khâu: Đã Test được nhiều người/ Giường bệnh tăng/ máy thở đã cung cấp tạm đủ/ Nhân viên phục vụ cũng được tăng cường. - Chiến lược và biện pháp vẫn nhằm mục đích làm cho nạn dịch phát triển với tốc độ chậm để khỏi quá tải về mọi mặt. Làm sao người được điều trị khỏi bệnh ra, thì người có bệnh tới là đẹp. - Số người lây nhiễm và tử vong sẽ còn tăng lên. - Số người chết thực chất còn nhiều hơn nữa., không phải là 1017 người vì ông nói nhiều người chết do có bệnh sẵn, nhưng vì nhiễm virus mà chết; Số người này không phải ai cũng có điều kiện để xét nghiệm sau khi chết. Trong số này còn có cả những trường hợp chết tại nhà... Được hỏi về Khẩu trang dân thường dùng bây giờ thì ông cho rằng số khẩu trang này nên gọi là "Textilmaske" không có tác dụng nhiều cho lắm. Cái đó không đủ tiêu chuẩn để chống virus xâm nhập từ ngoài vào mình mà chỉ có thể hạn chế một phần nào đó về sự lây từ mình tới người khác mà thôi. Ông vẫn cho 2 điểm quan trọng nhất là giữ khoảng cách và chăm rửa tay! Và ông nhắc lại là: Có việc thì hãy ra khỏi nhà. Nhất là người nhiễm hoặc nghi mình nhiễm thì phải ở lại trong nhà. Cần thì gọi điện cho Bác sỹ và chính quyền./. Nguyễn Doãn Đôn tổng hợp qua "ntv"
......

Thủ tướng Đức phải cách ly do tiếp xúc bác sĩ nhiễm virus Vũ Hán

Thủ tướng Đức Angela Merkel đã được cách ly sau khi một bác sĩ gần đây từng tiêm vắc-xin cho bà đã có kết quả xét nghiệm dương tính với virus corona Vũ Hán. Phát ngôn viên của chính phủ Đức Steffen Seibert hôm Chủ Nhật (22/3) nói trong một tuyên bố gửi hãng tin AP rằng bà Merkel đã được thông tin về kết quả xét nghiệm của bác sĩ chỉ thời gian ngắn sau một cuộc họp báo về ngăn chặn virus corona lây lan. Bà Merkel từng tiêm vắc-xin ngừa phế cầu khuẩn vào ngày 20/3. Người bác sĩ tiêm viêm vắc-xin cho bà giờ đã nhiễm virus corona chủng mới gây viêm phổi Vũ Hán (COVID-19). Ông Steffen Seibert cho biết Thủ tướng Merkel bây giờ sẽ được “kiểm tra thường xuyên” trong những ngày tới và bà sẽ làm việc từ nhà. Trong cuộc họp báo hôm 22/3, bà Merkel đã gửi lời cảm ơn tới “đại bộ phận” người dân Đức đang tuân thủ các hướng dẫn phòng đại dịch virus corona mà chính phủ của bà đã ban hành. “Tôi biết thực hiện điều này là một sự hy sinh”, bà Merkel nói về việc tuân thủ các biện pháp xã hội mới. “Tôi đã rất xúc động vì thực tế rất nhiều người đang tuân thủ các quy định này. Bằng cách này chúng ta sẽ chăm sóc được cho những người già và người ốm bệnh, vì virus này là nguy hiểm nhất đối với họ. Nói tóm lại: chúng ta cứu người bằng [các biện pháp xã hội này]”, AP dẫn lời bà Merkel. Sau buổi họp báo, thủ tướng Đức được thông tin bác sĩ của bà đã có kết quả xét nghiệm dương tính với virus Vũ Hán. Tuần trước, bà Merkel đã so sánh đại dịch virus corona lần này với Thế Chiến II. “Đây là vấn đề nghiêm trọng. Chúng ta phải coi trọng điều này”, bà Merkel nói hôm 18/3. “Đất nước ta chưa từng gặp thách thức nào như này kể từ khi tái thống nhất. Chúng ta chưa gặp thách thức nào như này từ Thế Chiến II. [Có vượt qua được thách thức này hay không] phụ thuộc rất lớn vào việc tất cả chúng ta phải đoàn kết cùng nhau.” Trong cuộc họp báo hôm 22/3, Thủ tướng Merkel đã thông báo cấm các cuộc tụ họp công cộng từ hai người trở lên để ngăn chặn virus Vũ Hán lây lan. Bà Merkel cũng đã ra lệnh yêu cầu các nhà hàng chỉ phục vụ các đơn hàng mang đi, không ăn uống tại chỗ. Các dịch vụ làm đẹp, massage và xăm mình được yêu cầu phải đóng cửa. Tính đến hết ngày 22/3, theo thống kê của Đại học Johns Hopkins, số ca nhiễm virus corona Vũ Hán tại Đức là 23.974 và 92 trường hợp tử vong. Trên toàn thế giới, tổng số ca nhiễm đã vượt qua 330.000 và 14.450 ca tử vong. Xuân Thành  
......

Chính phủ liên bang Đức có kế hoạch tăng khoản nợ lên tới 356 tỷ Euro để hỗ trợ bù đắp khủng hoảng Coronavirus

Hoa Mai Nguyen © SZ.de/gba Dịch ngữ. Hoa Mai Nguyen|   Chính phủ liên bang có kế hoạch tăng 356 tỷ euro nợ mới để giảm tối thiểu hậu quả của dịch corona virus. Điều này đã được bàn đến vào thứ Bảy 21.03, từ các vòng đàm phán tại Berlin CHLBĐức. Tổng số tương ứng với khối lượng của một ngân sách liên bang bổ sung cho năm 2020. Cho đến nay, chính phủ liên bang đã lên kế hoạch chi 362 tỷ euro mà không cần thêm nợ. Vay ròng được thêm vào do cuộc khủng hoảng corona. Theo báo cáo từ các nhóm đàm phán, con số 356 tỷ euro đại diện cho khoản nợ ròng mới được lên kế hoạch tối đa. Tất nhiên có thể ngân sách này chưa đến mức phải cạn kiệt.   Chính phủ liên bang đã đàm phán với tất cả các thành viên có tham dự vào thứ Bảy để cùng nhau lên kế hoạch các gói giải cứu. Và chờ được quyết định vào thứ Hai trong buổi họp tại Quốc hội .   Trong cuộc họp thứ bảy vừa qua , các chi tiết quan trọng đã được đồng ý. Sau đó ngân sách bổ sung thêm cho năm 2020 dự kiến ​​sẽ tăng lên 156 tỷ euro. Điều này là cần thiết vì sự thiếu hụt thuế có thể thấy trước ,trong chương trình hỗ trợ các doanh nhân vừa và nhỏ.   Ngoài ra, chính phủ liên bang muốn cung cấp bảo lãnh lên tới 400 tỷ euro. Do đó, viện trợ của nhà nước chống lại hậu quả của cuộc khủng hoảng đại dịch Corona virus, tổng cộng lên tới 756 tỷ EUR, trong đó có 356 tỷ EUR được vay và 400 tỷ EUR bảo lãnh   50 TỶ EURO CHO CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ   Viện trợ hơn 50 tỷ euro được lên kế hoạch cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Theo đó, cần có một khoản thanh toán một lần trong ba tháng lên tới 15.000 euro cho các doanh nghiệp nhỏ với tối đa mười nhân viên. Các công ty có ít hơn năm nhân viên có thể nhận được tới 9.000 euro. Các quỹ được dự định đặc biệt để phục vụ như là một trợ cấp cho chi phí thuê và cho thuê liên tục.   Khoảng tiền 100 tỷ được dành cho các khoản đầu tư vào các công ty như Lufthansa. Ngoài ra còn có một quỹ ổn định kinh tế mới. Chính phủ liên bang đang trao cho ngân hàng khuyến mại KfW 100 tỷ euro thuộc sở hữu nhà nước thông qua quỹ mới để theo kế hoạch, nó có thể cung cấp các khoản vay không giới hạn cho các công ty có nhu cầu. Ngoài ra, có 400 tỷ euro cho các khoản bảo lãnh từ quỹ mới cho các khoản nợ của công ty.   Các cuộc tham vấn liên tiếp tục trong cuối tuần này tại Berlin. Khoản tiền hỗ trợ phải được sự đồng thuận các tiểu bang trong các khoản gói tiền cứu trợ, . Mục đích hỗ trợ cần phải được chính xác và tránh chi trả hai lần.   Tác giả.© SZ.de/gba Nguồn.https://www.sueddeutsche.de/…/coronavirus-corona-krise-wirt…
......

Tuyên bố quy định của chính phủ Đức Quốc cho toàn dân về đại dịch Coronavirus tại Đức

"Đây không phải là khuyến nghị": Merkel khuyến cáo công dân sẽ bị chế tài khi vi phạm các quy tắc Vào lúc 17g30 chiều ngày 22.03.2020, Nữ Thủ Tướng Liên bang, Tiến sĩ Angela Merkel, tuyên bố những quy định dưới đây cho tất cả dân chúng sau khi đã họp qua đường truyền Video với các Thủ hiến Tiểu bang. Bà nhấn mạnh đây không phải là những lời khuyến nghị mà những quy định để giảm tốc độ lan truyền của nạn đại dịch vi rút Corona, và bà kêu gọi mọi người cùng chung tay góp sức để vượt qua thách thức này. 1) Giảm thiểu tối đa các giao tiếp xã hội với những người không thuộc về gia quyến và không thuộc về hộ khẩu của mình. 2) Trong phạm vi công cộng phải cố gắng giữ khoảng cách ít nhất là 1,5 m tới 2,0 m với những người không thuộc về hộ khẩu của mình. 3) Sự hiện diện tại những nơi công cộng chỉ được phép ở một mình hoặc với những người trong hộ khẩu hoặc chỉ được với một người không thuộc hộ khẩu mình. 4) Đi làm, đi chăm sóc cấp cứu, đi chợ, đi khám bịnh, tham gia họp những buổi cần thiết hoặc thi cử, những trợ giúp cho tha nhân, thể thao cá nhân, vận động ngoài trời và những điều cần thiết khác đều được phép. 5) Tất cả các nhà hàng và tiệm ăn đều phải đóng cửa, ngoại trừ khi mang hàng giao cho khách hoặc khách tự tới lấy mang về nhà dùng. 6) Những nhóm ăn tiệc mừng trong phạm vi công cộng hay tại tư gia hoặc là những nơi tư nhân đều không thể chấp nhận được trong hoàn cảnh nghiêm trọng này trên quê hương chúng ta. Những quy định về giao tiếp xã hội trên sẽ được các các cơ quan sở trật tự và cảnh sát kiểm soát. Những vi phạm bị xử phạt. 7) Những dịch vụ chăm sóc cơ thể như các tiệm cắt tóc, tiệm trang điểm sắc đẹp, tiệm thoa bóp, tiệm xăm (Tattoo) và những tiệm tương tự phải đóng cửa. Những điều trị y tế cần thiết thì vẫn được tiếp tục. 8) Trong tất cả các hãng xưởng và nhất là những nơi có khách hàng thì những quy tắc vệ sinh phải được tôn trọng cũng như những biện pháp hữu hiệu bảo vệ công nhân và khách hàng phải được áp dụng. 9) Những biện pháp trên sẽ được áp dụng trong vòng ít nhất hai tuần. Lược dịch: Tôn Vinh Số ca nhiễm tại các tiểu bang tại CHLB Đức tính đến 0 giờ ngày 23.03.2020  
......

Đạo luật chống “Tội phạm hận thù“.

Tho Nguyen| Chỉ vài ngày sau khi tôi trở về Đức, tối 19.2.20 một kẻ say máu cực hữu, phân biệt chủng tộc đã nổ súng ở Hanau, giết chết 9 người. Sau đó y về nhà giết chết mẹ đẻ rồi tự sát. Trước đó vài ngày, công an Đức mở đợt truy quét diện rộng tại 6 bang để phá kế hoạch bạo động của tổ chức cực hữu „Gruppe S“. Cuối năm 2019, vụ xả súng ở vào nhà thờ Do Thái ở Halle và vụ giết ông thị trưởng Lubke vì quá thân thiện với người tỵ nạn đã khiến nước Đức rung động. Các vụ bạo hành này là kết quả của tư tưởng chủng tộc đang trỗi dậy mà sự thăng tiến của đảng cực hữu AfD là một minh chứng. Bất chấp sự tẩy chay của các lực lượng tiến bộ, của toàn bộ truyền thông Đức, cái bóng ma AfD đang lừ lừ tiến tới. Đầu tháng 2, Nghị viện bang Thueringen lâm vào khủng hoảng: Đảng theo chủ nghĩa neo-liberal FDP và đảng trung hữu CDU đã dựa vào phiếu của đảng cực hữu AfD để lật liên minh trung tả gồm đảng Cánh Tả (Linke), đảng Xã hội dân chủ (SPD) và đảng Xanh. Điều tồi tệ ở đây là: Trước ngày bầu cử, tất cả các đảng phái chính trị đều cam kết sẽ không hợp tác với đảng cưc hữu AfD. Sự trở mặt này của FDP và CDU đã làm cả nước Đức phẫn nộ. Ban lãnh đạo đảng FDP liên bang đã đề nghị ông Kemmerich, lãnh đạo FDP của bang Thueringen, mới được Afd bầu làm thủ tướng phải từ nhiệm. Thủ tướng Đức Merkel cũng lên án kết quả bầu cử và đề nghị bầu cử lại. Hiên nay Bang Thueringen đang là con thuyền không có lái và AfD đang muốn chơi trò cướp biển nổi loạn trên tàu. Tới đây, nếu bầu cử lại, phe tả dù có đủ phiếu bầu thủ tướng thì rất có khả năng các nghị sỹ AfD sẽ chơi trò bỏ phiếu cho chính thủ tướng cánh tả để bôi nhọ ông ta. Sở dĩ AfD có khả năng phá rối nền chính trị Đức như vậy không đơn giản vì họ giỏi, mà chính vì một bộ phận xã hội Đức đang bị chi phối bởi truyền thông bóp méo. Những thông tin của lực lượng dư luận viên chuyên nghiệp cực hữu đưa ra khiến một bộ phận dân chúng lo sợ sự lấn át của người nhập cư, lo sợ sự hủy diệt của văn hóa Đức. Họ rơi vào cái bẫy của tư tưởng „Nước Đức trên hết“. Từ lâu chính phủ Đức và EU đã ra những sắc luật để chống lại các tư tưởng độc hại trên mạng xã hội. Ngoài việc chống lại các Fake News, khái niệm „Tội phạm hận thù“ (Tiếng Đức = Hasskriminalität, tiếng Anh = Hate Crime) đã được đưa vào luật hình sự của khoảng gần 40 nước Châu Âu, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. https://en.wikipedia.org/wiki/Hate_crime Một trong các hành vi bị ghép vào "tội phạm hận thù" là các lời nói, bài viết mang nặng các định kiến, kỳ thị về chủng tộc, giới tính, tôn giáo…. Ủy ban EU đã yêu cầu các nhà mạng Facebook, Google, Twitter v.v phải có trách nhiệm xóa những lời nói, bàn viết bao hàm các tội phạm trên đây, thậm chí cấm cửa những kẻ phát biểu. Nhưng chính phủ Đức đã tiến thêm một bước nữa. Ngày 19.2.2020 trước khi vụ thảm sát Hanau xảy ra „Đạo luật chống tội phạm hận thù trên mạng“ đã được thông qua https://rsw.beck.de/…/bundeskabinett-beschliesst-schaerfere… Bundesjustizministerin Christine Lambrecht Theo đạo luật này, các nhà mạng phải cung cấp cho Cục hình sự liên bang Đức BKA địa chỉ, tên tuổi, thông qua IP của những kẻ có các phát ngôn gây hận thù, đe dọa người khác hoặc truyền bác các tư tưởng phát xít, chủ nghĩa khủng bố hồi giáo.... Vì EU là một không gian mạng thống nhất nên đạo luật chống tội phạm hận thù trên mạng chắc chắn sẽ không nằm trong biên giới Đức. Chủ nghĩa phát xít mới và các tổ chức cực đoan hồi giáo hoạt động xuyên biên giới sẽ khiến đạo luật này mau chóng được EU hóa. Tư pháp Đức coi đây sẽ là một cách hạn chế hữu hiệu hoạt động của bọn dư luận viên cực đoan. Khi tôi viết về cuộc viếng thăm gia đình bà Thành ở Đồng Tâm, có rất nhiều kẻ nhảy vào FB của tôi, chửi bới tục tĩu và không ít những lời đe dọa có thể khép vào tội phạm hận thù. Sự vô văn hóa của đa số các lời bình đó không thể coi là của các „dư luận viên“, vì chúng không thể tạo ra dư luận, mà chỉ tạo ra sự tởm lợm. Trong vũng bùn ghê tởm đó thỉnh thoảng cũng chen vào những câu sạch sẽ hơn [1]. Nhưng tất cả chúng đều có một đặc điểm chung: các lời bình đó đều tránh được hệ thống báo tin của FB. Ví dụ nếu ai đó bình luận bài viết, FB sẽ nhắn tác giả để tác giả vào xem mà trả lời. Nhưng các câu thóa mạ. đe dọa của đám chửi thuê thì được lập trình đến mức hệ thống thông báo của FB không nhận ra. Như vậy tác giả không biết là chúng đang vào nhà mình bôi bẩn. Chỉ đến khi có lời bình của người tử tế thì tác giả mới được FB nhắc để vào tương tác. Lúc đó mới ôi thôi… Thế là xóa, block mỏi tay. Chỉ đơn cử việc đó cho thấy đám chửi thuê được tổ chức và trang bị các công cụ gây hận thù mà vẫn lọt lưới nhà mạng. Bọn cực hữu và khủng bố Islam ở Châu Âu chắc phải cắp sách sang Việt Nam học cách gây án trên mạng. [1] Ví dụ như họ bảo tôi nói dối là Phấn và tôi cùng học lớp 8 ở Bình Đà, rằng hôi đó ở Bình Đà chỉ có cấp 2 không có lớp 8. Họ không biết rằng từ 1966-1970, trường cấp III Hà nội A2 đã sơ tán về Bình Đà.)
......

Đảng Xanh sẽ bỏ phiếu chống lại thỏa thuận thương mại EU-Việt Nam EVFTA

RFA | Hôm 11-2, đảng Xanh trong Liên minh Châu Âu ra thông cáo báo chí tuyên bố, các Nghị sĩ trong đảng này sẽ bỏ phiếu không thông qua thỏa thuận thương mại tự do giữa EU và Việt Nam (EVFTA) trước cuộc bỏ phiếu chỉ một ngày. Các nghị sĩ đảng này cho biết lý do của hành động này là do, chính phủ Việt Nam tiếp tục vi phạm nhân quyền, đàn áp phe đối lập và lao động có tổ chức, tiếp tục nạn phá rừng, thiếu các tiêu chuẩn thực thi về con người, môi trường và xã hội và đặc quyền cho các nhà đầu tư. Nghị sĩ Heidi Hautala, Điều phối viên đảng Xanh/Liên minh tự do châu Âu trong Ủy ban thương mại quốc tế tại Nghị viện châu Âu nhận xét: "Các thỏa thuận giữa EU và Việt Nam chắc chắn rất quan trọng về mặt địa chính trị, tuy nhiên, đây là một cơ hội bị phí phạm để hỗ trợ nhân quyền và phát triển bền vững. Việt Nam đã đạt được tiến bộ trong việc cải cách quyền lao động, nhưng mặt khác, đã không sửa đổi Bộ luật hình sự của mình để cho phép người lao động được hưởng những quyền đó. Sự áp bức đã trở nên nghiêm trọng hơn, ngay cả trong giai đoạn cuối cùng của việc hoàn thiện các thỏa thuận này. Đó là lý do tại sao nhóm của chúng tôi chưa thể hỗ trợ thỏa thuận.” "Nghị viện, bằng cách tán thành, có trách nhiệm nặng nề trong việc đưa ra các yêu cầu của chính mình trong thực tế, về phát triển bền vững, nhân quyền và sự tham gia của xã hội dân sự độc lập. Ủy ban và các đối tác Việt Nam cần thiết lập một cơ chế giám sát độc lập về quyền con người và cơ chế khiếu nại độc lập cùng với một biện pháp khắc phục. Chúng ta cần một tín hiệu rõ ràng rằng thỏa thuận thương mại này không phải là kết thúc, mà là khởi đầu cho những phát triển tích cực tại Việt Nam.” Hôm 10-2-2020, 68 tổ chức phi chính phủ quốc tế ra tuyên bố chung kêu gọi các nghị sĩ châu Âu không phê chuẩn thỏa thuận tự do thương mại giữa Liên minh Châu Âu và Việt Nam, vì tình trạng nhân quyền và quyền lao động tại Việt Nam vẫn còn đáng lo ngại.
......

Bà Annegret Kramp-Karrenbauer tuyên bố không tranh cử chức Thủ tướng Đức

Vào ngày 10.02.2020, Chủ tịch đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo (CDU) ở Đức Annegret Kramp-Karrenbauer, người được xem là lựa chọn sáng giá của Thủ tướng Angela Merkel để kế nhiệm, tuyên bố sẽ không tranh cử Thủ tướng trong cuộc bầu cử liên bang năm 2021. Một nguồn tin trong nội bộ CDU cho giới truyền thông, báo chí biết, bà Kramp-Karrenbauer đã thông báo với các nhà lãnh đạo CDU rằng, bà sẽ từ bỏ chức vụ Chủ tịch đảng, cũng như tham vọng tranh cử thủ tướng. Bà nhấn mạnh sẽ thúc đẩy tiến trình đề cử một nhân vật khác đảm nhiệm hai vai trò này vào mùa Hè năm nay. Trước đó, hồi tháng 11/2019, bà Kramp-Karrenbauer tuyên bố sẽ từ chức Chủ tịch CDU nếu không nhận được sự ủng hộ trong nội bộ đảng này. Bà Kramp-Karrenbauer, 57 tuổi, từng làm Thủ hiến bang Saarland giai đoạn 2011-2018. Bà là người có nhiều kinh nghiệm chính trường và có tính cách khá giống với Thủ tướng Angela Merkel. Hồi tháng 12/2018, bà giành chiến thắng trước hai đối thủ là cựu lãnh đạo nhóm nghị sỹ CDU tại Quốc hội liên bang Friedrich Merz và Bộ trưởng Y tế Jens Spahn để trở thành Chủ tịch đảng CDU, thay thế bà Angela Merkel. Friedrich Merz, Kramp-Karrenbauer và Jens Spahn Tuy nhiên, năm đầu tiên kể từ khi đảm nhiệm chức vụ này đối với bà Kramp-Karrenbauer khá sóng gió khi xuất hiện ngày càng nhiều ý kiến chỉ trích khả năng lãnh đạo của bà. Bà Kramp-Karrenbauer cũng bị chỉ trích vì đã không thể đưa ra một đường lối chính trị rõ ràng cho CDU.
......

Quân đội Đức sẽ đưa người Đức ra khỏi khu vực Vũ Hán TQ

Hoa Mai Nguyen| Chính phủ Đức muốn dùng máy quân sự để đưa tất cả người Đức trở về nước, họ đang ở khu vực Vũ Hán tại Trung Quốc, nếu có thể đưa được về càng sớm thì càng tốt. Đó là thông tin của tờ báo SPIEGEL tại Đức. Hôm qua chính phủ Liên bang Đức lên kế hoạch sẽ đưa quân đội để di chuyển tất cả người Đức khỏi khu vực Vũ Hán bị ảnh hưởng bởi sự bùng dịch phát coronavirus. Theo thông tin của SPIEGEL Không quân sẽ sẽ bay đến Trung Quốc vào thứ Tư hoặc thứ Năm để di chuyển khoảng 90 người Đức trở về nước, số người này đã đăng ký với Bộ Ngoại giao Liên bang (AA). Đó là kế hoạch của chính phủ Đức, còn nhà cầm quyền VN không biết đã có kế hoạch để di dời người dân VN đang sinh sống và làm việc ở khu vực Vũ Hán, xung quanh cách Tỉnh Hồ Bắc chưa nhỉ? Người Việt bên đó cũng là Việt kiều đấy chứ?, hàng năm gửi tiền về VN để giúp đỡ thân nhân và đất nước như một khúc ruột ngàn dặm và không thể tách rới được quê hương và đất nước như những gì mà nhà cầm quyền VN vẫn rêu rao. Vẫn theo thông tin trên tờ báo cho biết là. Nhà cầm quyền TQ chưa đồng ý cho máy bay quân sự Đức đến tiếp cận nơi đó, bởi vì TQ lo ngại các hình ảnh máy bay quân sự xuất hiện nơi đó gây hoang mang đến người dân trong đợt đại dịch virus làn tràn. Chính phủ Trung Quốc khẳng định rằng chỉ có công dân Đức được bay ra khỏi nơi đó. Nhưng điều này cho thấy rất buồn cho nhiều gia đình chồng Đức vợ là người Trung Quốc, sẽ có cuộc chia tay. Vợ chồng, con cái có thể không bao giờ gặp lại, đó là một chế độ CS độc tài. Khoảng 90 người Đức ở khu vực Vũ Hán hiện đã đăng ký trên trang web điện tử cho người Đức ở nước ngoài ("Elefand") và đã liên lạc được với đại sứ quán Đức ở Bắc Kinh. Vào hôm qua ngày thứ hai, đại sứ quán đã cử một nhóm nhỏ các nhà ngoại giao bằng ô tô đến khu vực kín để tiếp cận được tình hình. Trong danh sách những người đăng ký có một cặp vợ chồng người Đức bay đến Vũ Hán du lịch vào ngày 14 tháng 1 đã mô tả tình huống tại nơi đó trong một cuộc trò chuyện qua điện thoại với trụ sở báo SPIEGEL là rất căng thẳng, cả hai đã bị mắc kẹt trong một khách sạn ở trung tâm thành phố trong nhiều ngày. Kể từ thứ hai, không có bữa sáng trong khách sạn, người chồng liên lạc qua điện thoại nhưng nhân viên dọn dẹp không còn xuất hiện nữa. Thay vào đó, 200 bác sĩ chuyển đến đó vào ngày thứ bảy tuần qua, Cặp vơ chồng người Đức chia sẻ rằng, họ đã may mắn. khi đi du lịch mang theo một số dụng cụ như khẩu trang để bảo vệ chất thải trong không khí . Họ cho biết rằng các trường hợp mắc bệnh phổi đã bùng phát ở Vũ Hán rất nhiều "Những thông tin ở đó hầu như là không được truyền tải ra thế giới bên ngoài vì do mạng internet yếu, đôi khi bị ngắt sóng. Mầm bệnh và nỗi hoang mang lo sợ Các triệu chứng gây nên nguyên nhân gây bệnh vẫn đang là một điều mang cho cộng đồng y tế. Chính phủ Trung Quốc chỉ thông báo rất ít về về những trường hợp tử vong và những bệnh nhân mang nhiễm bệnh với (WHO). Điều đáng nói ở đây là, WHO vẫn đánh giá nguy cơ lây lan mầm bệnh trên toàn thế giới là mức độ "vừa phải", chắc có lẽ đã tin vào những thông tin từ chính phủ Trung Quốc cung cấp chưa chính xác và đầy đủ về nguồn lây nhiễm, lây truyền và mức độ nghiêm trọng với con số những người tử vong hoặc con số bệnh nhân. Chính phủ TQ đang làm cho công việc trở nên phức tạp và rủi ro cho nhiều người dân khó có thể lường trước. Qua những sự việc trên, nhân dân VN nên rút ra một điều rằng (Đừng bao giờ tin vào chế độ CS độc tài, Một chế độ luôn dối trá, lừa gạt nhân dân, lừa gạt cộng đồng Quốc tế) và họ chẳng bao giờ quan tâm đến cuộc sống của nhân dân chúng ta. Chúng ta hãy cùng nhau tranh đấu để xóa bỏ thể chế độc tài và xây dựng một đất nước với một thể chế dân chủ và đa nguyên, như nước Đức mà họ đã và đang thực sự quan tâm đến đời sống của công dân của, chỉ một cử chỉ nhó bé như thế nó cũng khác xa với một chế độc CS độc tài như Trung Quốc và Việt Nam.   *Tham khảo bài viết của tác giả Matthias Gebauer und Christoph Schult đăng trên báo:  https://www.spiegel.de/politik/deutschland/corona-virus-bundeswehr-soll-deutsche-aus-krisengebiet-wuhan-ausfliegen-a-9037588f-517f-4916-8609-e633bac1b614  
......

Hàng loạt gián điệp Trung Quốc bị Đức truy quét

Đức ồ ạt đột kích truy bắt các nghi phạm làm gián điệp cho Trung Quốc. Các công tố viên Đức vừa cho biết, cảnh sát đã đột kích nhiều ngôi nhà và văn phòng trên toàn nước Đức trong một vụ án liên quan đến ba người bị nghi là gián điệp cho Trung Quốc. Tạp chí Der Spiegel - cơ quan truyền thông đầu tiên đưa tin về các cuộc đột kích, cho biết một trong ba nghi phạm là một công dân Đức từng là một nhà ngoại giao cao cấp cho cơ quan đối ngoại của Liên minh châu Âu cho đến năm 2017. Người này thậm chí từng giữ chức đại sứ EU. "Tôi có thể xác nhận rằng chúng tôi đang thực hiện một cuộc điều tra về hoạt động của các điệp viên tình báo. Chưa có nghi phạm nào bị bắt giữ", ông Markus Schmitt, phát ngôn viên của các công tố viên liên bang Đức cho biết. Trong khi đó, các công tố viên từ chối xác nhận danh tính hoặc ngành nghề của 3 nghi phạm. Đây là vụ việc đầu tiên trong những năm gần đây liên quan đến các cáo buộc cụ thể về gián điệp của Trung Quốc tại Đức và EU. Vụ việc vảy ra trong bối cảnh mối lo ngại ngày càng tăng trên khắp châu Âu về việc Trung Quốc đang tăng cường hoạt động gián điệp trên toàn thế giới khi nước này ra sức xây dựng ảnh hưởng chính trị tương đương với kinh tế của họ. Đức và các nước châu Âu khác đang chịu áp lực từ Washington để loại trừ nhà sản xuất thiết bị viễn thông của Trung Quốc Huawei khỏi đấu thầu xây dựng mạng điện thoại di động thế hệ thứ năm. Các cuộc đột kích diễn ra tại Brussels, Berlin và hai bang miền nam nước Đức là Baden-Wüttemberg và Bayern, trung tâm chính của các ngành công nghiệp sản xuất tiên tiến của Đức./. https://de.reuters.com/article/eu-deutschland-china-spionage-idDEKBN1ZF0JR  
......

Speyer - Đức Quốc, Vận động cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam

Vận động cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam tại Đại Hội Công Giáo địa phận Speyer, Đức Quốc. Kaiserslautern, 15.9.2019 khoảng 2500 tham dự viên từ mọi miền giáo phận Năm nay Đại Hội Công Giáo của địa phận Speyer được tổ chức tại khu vực Triển Lãm Vườn của tiểu bang Rheinland-Pfalz, trong thành phố Kaiserslautern, thuộc miền Tây Nam Đức Quốc. Đức Giám Mục TS Karl-Heinz Wiesemann, chủ tịch UB Tín Lý, Hội Đồng ĐGM Đức Quốc Với chủ đề „Hãy suy tư rộng ra! Hãy suy tư tiếp!“ Đức Giám Mục TS Karl-Heinz Wiesemann đã chào đón khoảng 2500 tham dự viên từ mọi miền giáo phận, và đã kêu gọi các tín hữu lên tiếng và lãnh trách nhiệm của mình trong bối cảnh xã hội và tình hình thế giới phức tạp, gây ra bởi tranh dành quyền lực, quặng mỏ, thị trường, năng lượng, nước; khí hậu thay đổi, chiến tranh, hơn 70 triệu người tỵ nạn; nạn ấu dâm trong giáo hội công giáo cũng như trong những lãnh vực xã hội khác… Theo Wieder, chủ tịch hội đồng huyện Pfalz Đức Giám Mục phó Otto Georgens Lm quản hạt Peter Nirmaier Cùng với tổ chức tôn giáo phi chính phủ có tên là PAX CHRISTI (Hòa Bình của Đức Kitô) anh chị em đảng viên Việt Tân đã dựng quầy thông tin về tình hình Nhân Quyền Việt Nam, về các Tù Nhân Lương Tâm, và vận động xin chữ ký gửi đến Quốc Hội Âu Châu để kêu gọi hoãn lại dự định thông qua Hiệp Ước Thương Mại EVFTA bao lâu nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp nhân quyền một cách khốc liệt. Anh chị em nhóm cầu nguyện "Chara" https://www.bistum-speyer.de/aktuelles/bildergalerien/bildergalerie-katholikentag-kaiserslautern/ https://www.facebook.com/dein.Bistum/videos/909632536081838/ Trịnh Đỗ Tôn Vinh
......

Rupert Neudeck – Người không chịu hèn

Tho Nguyen| Nhân dịp bạn Trần Văn Thái từ Việt Nam sang, tuần qua tôi đã cùng mấy bạn học ở Königs Wusterhausen (Berlin) từ thời trai trẻ tổ chức một cuộc gặp gỡ với các thầy cô giáo ở đó. Tôi luôn áy náy vì cứ mỗi lần quay về trường cũ là lại thiếu vắng thêm một vài thầy cô. Tôi sẽ kể trong bài sau về cuộc gặp gỡ này. Vì vậy nên tôi không thể tham gia lễ kỷ niệm 40 năm „Tổ chức cứu trợ Cap Anamur“ vào hôm thứ bảy 31.8 vừa qua. Tuy không phải là thuyền nhân được tàu Cap Anamur của ông Rupert Neudeck vớt lên từ Biển Đông như hàng chục ngàn đồng bào, nhưng tôi vẫn coi ông Neudeck là ân nhân. Ân nhân vì ông đã giúp tôi hiểu hơn ý nghĩa của cuộc đời. Trước khi đi Berlin, tôi kịp đưa bạn Thái về Troisdorf để viếng ông Neudeck và thăm „Đài tưởng niệm thuyền nhân Việt Nam“. Con thuyền gỗ nhỏ bé với 52 người tỵ nạn đang sắp chết khát được tàu Cap-Anamur vớt vào phút chót, ngày nay trở thành đài kỷ niệm. Mỗi lần qua đó, tôi lại nghĩ đến những đồng bào xấu số đã nằm lại trong lòng Biển Đông. Rồi tôi nghĩ đến người ty nạn Neudeck. Ông Neudeck cũng là một người Đức tỵ nạn chạy trốn cuộc tổng tiến công của Hồng quân Liên-Xô. Năm 1945, cậu bé 6 tuổi Rupert đã phải theo cha mẹ, cùng 12 triệu người Đức đi bộ hơn 1000 km từ vùng Danzig (nay là Gdansk, Ba-Lan) để về Tây Đức. Gia đình Neudeck sống sót về đến đây vì họ bị nhỡ chuyến tàu thủy Wilhelm Gustloff. Con tàu chở người Đức tỵ nạn này đã bị tàu ngầm S13 của Hồng quân Liên Xô bắn chìm ngày 30.1.1945 trên biến Baltic, đem theo 9.000 người Đức xấu số xuống đáy biển. Cậu bé Rupert đứng trên bờ kinh hoàng nhìn những mảnh tàu vỡ cùng xác người trôi dạt vào bờ. Hình ảnh đó đã không bao giờ ra khỏi đầu ông già Neudeck sau này. Vì vậy khi nhìn thấy những hình ảnh thuyền đắm, người chết trên Biển Đông, nghe về những vụ cướp biển, về các vụ hãm hiếp, về những vụ ăn thịt người để sống, ông không thể ngồi im. Ông thậm chí vượt cả rào cản ý thức hệ. Rupert Neudeck vốn là một báo cánh tả, ảnh hưởng bởi các thần tượng như Jean Paul Sartre, Yve Montant hay Heinrich Böll. Cánh tả phương tây đã đứng về phía những kẻ yếu trong chiến tranh Việt Nam và có cảm tình với Việt Cộng. Nay phải ra tay cứu những người trốn đang chạy chế độ mình từng ủng hộ không phải là quyết định dễ dàng. Khó khăn nữa là phá bỏ được nỗi lo ngại của dư luận Đức trước dòng người tỵ nạn Việt Nam. Chỉ riêng việc một dân tộc tự đàn áp nhau đến mức hàng triệu người phải chấp nhận cái chết, bỏ quê hương ra đi, đã khiến người ta lo sợ bản chất bạo lực tiềm tàng trong dân tộc đó. Không nước nào thích đón nhận người Việt tỵ nạn, kể cả các nước láng giềng như Thái Lan, Mã Lai, Indonexia. Liên hiệp quốc phải tổ chức hội nghị quốc tế Geneve 1979 để phân bổ hạn ngạch, buộc mỗi nước giàu phải nhận một cơ số người Việt tỵ nạn. (Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến một số người Việt tỵ nan đang có cái nhìn hẹp hòi đối với những người tỵ nạn hôm nay và coi chỉ có họ mới xứng đáng được cứu vớt) Rupert Neudeck bị chỉ trích từ cả hai phía, tả và hữu. Người thì coi con tàu Cap-Anamur là cái nam châm thu hút và kích động người vượt biên, người thì chửi ông “Chống lại một nhà nước XHCN đang hồi sinh“ (Peter Weiss)[1]. Nhiều bạn bè coi ông là kẻ điên rồ, tự nhiên từ bỏ cuộc sống no ấm của một nhà báo để lao vào cuộc phiêu lưu cứu người giữa biển cả. Hai vợ chồng Christel và Rupert Neudeck không hề phủ nhận là mình điên khùng. Những kẻ điên khùng sẽ chuyển động thế giới. Đại văn hào Heinrich Böll[2] đã đồng cảm với sự hy sinh của vợ chồng Neudeck và chính sự ra tay của ông Böll đã tạo nên chuyển biến kỳ diệu trong dư luận. Sau buổi phát sóng đầu tiên cùng Heinrich Böll, ông Neudeck thu được hơn 1,3 triệu DM tiền quyên góp. Số tiền đó đủ để tổ chức „Con tàu cho Việt nam“ của ông thuê chiếc tàu buôn với cái tên Cap Anamur [1]. Rất nhiều thiện nguyện viên đã góp sức, góp của sửa chiếc tàu đó thành tàu y tế cứu nạn. Nhiều chuyên gia y tế, hàng hải đã đầu quân làm nhân viên không lương cho tàu Cap-Anamur. Ngày 13.8.1979, con tàu rời cảng Hamburg đi biển Đông để cứu người Việt tỵ nạn. Trong 10 năm liên tục, con tàu đã vớt được 11.300 người tỵ nạn Đông Dương đưa về Đức. Cứu người đã khó, đưa được họ về Đức cũng không dễ. Chính quyền Đức không muốn đón nhận tất cả những người được cứu trên tàu. Nước Đức được phân công phải nhận 20.000 thuyền nhân. Chính quyền chỉ muốn đến các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á phỏng vấn từng người, lựa chọn và nhận những người đã thẩm tra. Trong khi con tàu lênh đênh trên biển để về Hamburg, một cuộc chiến truyền thông và vận động hành lang đã nổ ra tại Đức. Kết cục là tất cả những người trong danh sách gửi về từ Biển Đông đều được chấp nhận tỵ nạn tại Đức. Trong chiến tranh thế giới 2, „Bản danh sách Schindler“ là một ngọn nến nhỏ của tình người chìm trong bóng tối của tư tưởng phát xít. Trong thời bình những „Bản danh sách Neudeck“ gửi đi từ tàu Cap Anamur đã thức tỉnh lương tâm dân tộc này, đã đưa hình ảnh nước Đức từ những lò thiêu xác, trại tập trung, trở thành bến bờ của lòng nhân đạo. Bà Neudeck nói, họ làm được điều đó vì họ dám đứng lên, đi ngược lại những luồng tư tưởng ngự trị (mean stream). Xin dẫn một câu nói của Rupert Neudeck: Tôi muốn không bao giờ hèn nữa. Cap-Anamur là ấn tượng đẹp nhất của ý nguyện Đức: Không bao giờ trở lại với sự hèn hạ, phải luôn luôn dũng cảm. (Ich möchte nie mehr feige sein. Cap Anamur ist das schönste Ergebnis des deutschen Verlangens, niemals wieder feige, sondern immer mutig zu sein) Sự hèn hạ mà ông Neudeck muốn nói ở đây chính là sự quay mặt đi trước những điều ác đang xảy ra trước mắt mình. Chủ nghĩa phát xít tàn phá thế giới từ 1933 đến 1945 không phải vì Hitler tài giỏi, mà vì đã có 90 triệu người Đức hèn, ngậm miệng. Köln 04.09.2019 ————- [1] Cap Anamur là tên một cảng biển phía nam Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc đầu ông Neudeck thuê tàu Cap Anamur, sau khi có đủ tiền, ông mua lại. Năm 1982, ông lấy tên Cap Anamur đăt tên cho tổ chức của mình. [2]https://www.spiegel.de/spiegel/print/d-14339003.html [3] Heinrich Böll: 1917-1985, quê ở Köln, được coi là nhà văn hiện đại lỗi lạc nhất nước Đức, giải thưởng Nobel văn học 1972.  
......

Máy bay ném bom nho (Rosinenbomber)

Cầu không vận Berlin -  (Cầu hàng không Berlin) Tho Nguyen Nhiều người không biết rằng cách đây 71 năm, trong mùa hè 1948 đã diễn ra cầu hàng không lớn nhất trong lịch sử Thành phố Tây Berlin với hơn 2,2 triệu dân, nằm lọt thỏm trong Đông Đức XHCN, được nuôi sống bằng 75% hàng hóa từ Tây Đức. 25% còn lại là nông sản, nguyên liệu từ các vùng nông thôn Đông Đức. Theo thỏa thuận Potsdam, Tây Đức và Đồng minh được phép sử dụng 5 đường tàu hỏa, 5 đường cao tốc và 3 hành lang bay để vận chuyển hàng hóa, hành khách giữa Tây Đức và Tây Berlin. Nhưng từ đầu năm 1948, Liên Xô đã bắt đầu chặn dần các đầu mối giao thông đường bộ đường sắt đi vào Tây Berlin. Người dân Đông Đức cũng hết đường bán nông sản, củi đốt cho Tây Berlin. Sáng sớm 24.6.1948, Tư lệnh quân đồn trú Liên Xô tại Đông Đức ra lệnh cắt điện, nước từ các nhà máy phía đông sang các quận phía tây. Các nhà máy điện, nước tây Berlin vẫn làm việc, nhưng nguồn nguyên liệu chỉ dự trữ cho vài tuần. Chính quyền Tây Berlin có tính đến khả năng những cuộc khủng hoảng ngoại giao nên đã dự trữ nhiều thứ: Ví dụ như thuốc men đủ cho 6 tháng, xăng dầu đủ cho 4 tháng. Nhưng Tây Berlin là điểm dừng chân cho dòng người tỵ nạn từ khắp Đông Đức đổ về để đi sang Tây Đức. Trước khi bức thành Berlin được dựng lên hôm 13.8.1961, người Đông Đức nào muốn chạy sang Tây Đức mà không phải đi qua biên giới Đông-Tây Đức đầy mìn và dây thép gai, thường đến Đông Berlin (như kiểu ta lên thủ đô thăm Hồ Gươm), rồì lén qua phố bên kia sang Tây Berlin. Từ đó họ xin tỵ nạn và đươc chuyển bằng máy bay về Tây Đức. Do vậy đúng vào lúc Berlin bị phong tỏa đường bộ, đường sắt vào buổi trưa cùng ngày, dự trữ thực phẩm của thành phố chỉ còn đủ cho 5 tuần. Nguy hiểm nhất là than sưởi và than cho nhiệt điện chỉ đủ cho 30 ngày. Mục tiêu của Stalin là gây sức ép để phương tây từ bỏ quyền chiếm đóng Tây Berlin. Nhưng ông ta đã nhầm. Mỹ, Anh và Đồng Minh đã tiến hành một cuộc không vận tiếp tế lớn nhất trong lịch sử, không phải chỉ để cứu 9000 lính Mỹ, 7600 lính Anh và 6100 lính Pháp đang đóng ở đó, mà để duy trì cuộc sống của Tây Berlin, được coi là thành trì của „Thế giới tự do“ trong lòng CHXH. Tham gia vào chiến dịch này gồm hàng ngàn máy bay, chủ yếu của không quân Mỹ và Anh. Các nước Úc, Tân Tây Lan, Canada và Nam Phi cũng gửi máy bay tham gia. Pháp tuy là cường quốc chiếm đóng Đức, nhưng đang vướng chiến tranh Đông Dương nên chỉ cử vài chiếc “Bà già” chở hàng sang cho quân Pháp ở Tây Berlin. Để góp phần, Pháp cho phép xây sân bay thứ ba là Tegel, ngay trên vùng chiếm đóng của họ. Ngày 5.11.1948, công binh Pháp đã bàn giao sân bay với đường băng 2,42 km, được coi là dài nhất châu Âu ngày đó, cho phép máy bay vận tải hạng nặng hạ cánh và cất cánh. Sân bay Tempelhof được chia sẻ tải trọng từ đó. Còn sân bay Gatow chỉ là một bãi cỏ hạ cánh cho máy bay nhỏ. Cho đến lúc này, hàng ngày sân bay Tempelhof phải đón nhận hàng trăm máy bay vận tải các loại. Ngày cao điểm 13.8.1948 được gọi là “Ngày thứ sáu đen” vì 700 máy bay vận tải bay đen kịt bầu trời Tây Berlin để chờ hạ cánh với tần suất 2 phút một chiếc. Ở mặt đất, công nhân bốc vác làm việc với cường độ điên cuồng, rút ngắn thời gian dừng lại của mỗi máy bay từ 75 phút xuống còn 30 phút. Trên trời, máy bay phải bay thành nhiều độ cao, cách nhau 500m để không bị lạc ra khỏi 3 đường hành lang hẹp mà lực lượng phòng không Liên Xô cho phép. Đã có những cuộc tập trận bắn đạn thật của cao xạ Liên Xô dọc theo đường biên của hành lang bay. Ban đêm tỉnh thoảng đèn thám không bỗng chiếu sáng để gây rối mắt cho phi công. Sau khi thêm sân bay Tegel, hàng ngày, khoảng 1000 chuyến bay từ các sân bay Tây Đức tới Tây Berlin. Trong thời gian 11 tháng, đã có 277.569 chuyến bay, vận tải 2.1 triệu tấn hàng hóa. Người ta vận chuyển tất cả, từ khoai tây, rau xanh, sữa, muối… để nuôi sống thành phố. Berlin vốn là môt trung tâm công nghiệp nên cũng cần vận chuyển hàng hóa sản xuất ra thị trường. 74.000 tấn hàng đã được xuất đi. Nhưng quan trọng nhất là gần 1,5 triệu tấn than đá, than nâu được vận chuyển bằng máy bay: Những cân than đắt như vàng đó đã cứu sống tây Berlin trong mùa đông 1948-1949. Tuy huy động một lực lượng khổng lồ như vậy, trung bình mỗi ngày Berlin chỉ nhận được khoảng 7000 tấn hàng tiếp tế, trong khi nhu cầu trước đó của thành phố vốn đã bị tàn phá nặng nề là 10.000 tấn/ngày. Do vậy dân chúng Tây Berlin phải thắt lưng buộc bụng rất nhiều suốt trong thời gian bị phong tỏa. Khẩu phần tem phiếu được duy trì từ năm 1945, nay lại bị siết thêm. Nạn nhân chịu hậu quả nặng nhất tất nhiên là các em nhỏ. Lần đầu tiên hạ cánh xuống sân bay Tempelhof, anh phi công Mỹ Gail Halvorsen bỗng nhìn thấy những em bé đứng bên đống gạch vụn đổ nát bên ngoài đường băng đang vẫy tay. Đứa nào cũng gầy gò, thiếu ăn. Anh đến gặp bọn trẻ và hứa sẽ mang cho chúng quà bằng cách thả dù. Vì máy bay xếp hàng hạ cánh tần xuất 90 giây, nên anh bảo: phi công Mỹ Gail Halvorsen - Chú sẽ lắc cánh trước khi ném quà, các cháu đón nhặt nhé. Hôm sau anh gói ghém kẹo bánh và các túi nho khô, treo vào những chiếc dù nhỏ. Gần đến chỗ đã hẹn, anh lắc cánh vài lần rồi ném những gói quà nhỏ này xuống cho đám trẻ em đang hò hét bên dưới. Thật không thể tả nổi niềm vui của lũ trẻ khi nhặt được những gói quà nặng tình với những chiếc dù xinh đẹp. Từ đó lũ trẻ đặt cho Gail cái tên là “Chú cánh lắc” (Onkel Wackelflügel) “Chú cánh lắc” (Onkel Wackelflügel) Việc làm của Gail đã được nhiều phi công khác noi theo. Hàng ngàn những cánh dù như vậy được ném xuỗng Berlin từ độ cao vài trăm mét mỗi ngày. Những chiếc máy bay ném bom quân sự dữ tợn, đen ngòm, mới cách đó ba năm từng gieo chết chóc kinh hoàng xuống nước Đức, nay được người Đức gọi bằng cái tên thân yêu: “Máy bay ném bom nho”(Rosinenbomber)[3]. Từ đó trẻ em Berlin có một trò chơi mới, hàng ngày đi nhặt các gói quà theo những cánh dù nhỏ đáp xuống thành phố. Hành động của Gail Halvorsen đã khiến các bà mẹ Đức ở miền Tây xúc động. Họ tổ chức quyên góp, mua hàng và đóng thành các bưu kiện nhu yếu phẩm, nhờ các phi công Mỹ gửi cho các bà mẹ không quen biết ở đầu kia của đất nước. Gần ba triệu gói hàng như vậy đã sưởi ấm lòng người Tây Berlin trong mùa đông đó. Sau 11 tháng, Stalin biết là không khuất phục được Berlin, trong khi Wilhelm Pieck, chủ tịch Đông Đức thì lo ngai không khí chiến tranh có thể gây bùng nổ làn sóng tỵ nạn sang Tây Đức. Ngày 12.5.1949, mọi phong tỏa Berlin được tháo gỡ. Các cửa khẩu đường sắt, đường bộ lại được khai thông. Máy bay Đồng minh tiếp tục bay vài ngàn chuyến nữa để nâng dự trữ mọi mặt của Tây Berlin lên hai tháng “Chú cánh lắc” lái chiếc “Máy bay ném bom nho” đã trở thành biểu tượng cho tình người, tình hữu nghị. Tên của ông đã được Thành phố Berlin đặt cho một trường học và một sân thể thao. Tháng 6.2018, nhân kỷ niệm 70 năm cầu hàng không Berlin, ông “chú” 98 tuổi lại sang Berlin gặp lại các ông bà “cháu” ngày xưa nhặt nho của mình. Köln, 9.08.2019 [1]https://vi.wikipedia.org/…/C%E1%BA%A7u_kh%C3%B4ng_v%E1%BA%A… [2] https://en.wikipedia.org/wiki/Gail_Halvorsen [3] https://en.wikipedia.org/wiki/Raisin_Bombers  
......

Luật sư Nguyễn Văn Đài đến giáo phận Speyer cầu nguyện và vận động cho Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam

......

Luật sư Nguyễn Văn Đài vận động cho TNLT và Nhân Quyền Việt Nam

  Neustadt-Hambach, Đức Quốc, 14.6.2019, Cựu Tù Nhân Lương Tâm luật sư Nguyễn Văn Đài vận động cho Nhân Quyền Việt Nam tại Hội Chợ Dân Chủ Neustadt-Hambach Lâu đài Hambach được mệnh danh là „Cái Nôi của nền Dân Chủ Đức“. Nơi đây vào năm 1832 khoảng 30.000 người dân đã tụ tập về để biểu tình tranh đấu cho những quyền tự do căn bản. Và Hambach cũng là nơi dân làng từ mấy năm qua đã phát động chiến dịch cầu nguyện và đòi trả tự do cho những Tù Nhân Lương Tâm (TNLT) Việt Nam. Đông đảo quần chúng, tầng lớp trí thức, chính trị gia và các chức sắc tôn giáo đã liên tục lên tiếng và tỏ tình liên đới với các nạn nhân của chế độ độc tài Cộng Sản Việt Nam (Xin coi thêm: http://www.viettin.de/node/628 ). Sau TNLT Đặng Xuân Diệu năm 2017, lần này luật sư Nguyễn Văn Đài đến tham gia Hội Chợ Dân Chủ trước nhất để cảm ơn mọi tầng lớp dân làng và thành phố đã tranh đấu cho ông khi còn trong lao tù; sau là để tiếp tục vận động cho hơn 300 TNLT khác còn trong tù ngục của Cộng Sản Việt Nam. Bà Gerda Bolz, chủ tịch làng Neustadt-Hambach, liên minh Kitô dân chủ LS Nguyễn Văn Đài và anh Trịnh Đỗ Tôn Vinh có lời cám ơn quý vị chính giới, Linh Mục Tu sĩ và nhân dân Đức đã can thiệp trả tự do cho anh, và anh cũng đã nói lên thảm trạng nhân quyền VN. LS Nguyễn Văn Đài đã đón nhận được rất nhiều lời chia vui, chúc mừng và chúc sức khỏe, và nhất là sự ủng hộ tiếp tục cho công cuộc dân chủ hóa Việt Nam. Hình ảnh tiếp xúc chính giới: Dân biểu quốc hội tiểu bang Rheinland-Pfalz bà Giorgina Kazungu-Haß, đảng SPD, xã hội dân chủ ông Dirk Herber, dân biểu quốc hội tiểu bang Rheinland-Pfalz, đảng CDU, Liên Minh Kitô dân chủ Ông Martin Hauck, chủ tịch đảng  xã hội dân chủ Hambach Bà Waltraud Blarr, giám đốc sở trật tự thành phố Neustadt an der Weinstraße, đảng Xanh Chủ tịch đảng xã hội dân chủ thành phố Neustadt an der Weinstraße và thành viên hội đồng thành phố Linh mục Michael Paul và Mục sư Ludger Mandelbaum Bà Gerda Bolz, chủ tịch làng Neustadt-Hambach, liên minh Kitô dân chủ Luật sư tiến sĩ Ute Jausel đảng Tự Do Dân Chủ Đức, Hội Đồng Thành Phố Sĩ quan binh chủng không quân Robert Mikolajczak Ông bà cựu Tổng Đô Trưởng Hans Georg Löffler Ân nhân người Đức Thương gia Norbert Gutting   Đức Nam  
......

Merkel tính sổ với Trump

Thủ tướng Angela Merkel đọc diễn văn tại đại học Harvard ngày 30.5.2019 Nguồn : Bergmann - Trang web của chính phủ Đức (Bundesregierung.de) Tôn Thất Thông - diendan.org Ngày 30.5.2019, trường đại học Harvard vinh danh Thủ tướng Angela Merkel với tước vị Tiến sĩ Danh dự về Luật, được tổ chức trong dịp lễ mãn khóa sinh viên tốt nghiệp năm 2019. Trước cử tọa hơn 20.000 người, bao gồm giáo sư, nhân viên, cựu sinh viên, phụ huynh sinh viên và các sinh viên tốt nghiệp, Angela Merkel đọc một bài diễn văn đầy ấn tượng,  điều được thể hiện qua 31 lần vỗ tay vang dội trong suốt bài diễn văn dài khoảng nửa giờ, có lúc cả cử tọa đứng dậy ngưỡng mộ vỗ tay lâu hơn một phút, có lúc sinh viên hô to „wow“, „bravo“ để biểu lộ cảm xúc. Chỉ nhìn vào điệu bộ của Merkel trước micro, có lẽ mọi người đều thấy cảm giác bối rối, ngạc nhiên của Merkel trước sự nồng nhiệt của cử tọa. Bà đứng trên bục ở ngoài trời và dường như có lúc không tin những điều bà thấy ở cử tọa bên dưới. Ở Đức, Angela Merkel đang đối diện với những vấn đề chính trị quốc nội và sự thất bại trong cuộc bầu cử châu Âu vừa qua, nhưng bên kia bờ đại dương, Merkel được chào đón như một thần tượng nhạc Pop nhờ những thông điệp hết sức rõ ràng, không che giấu, vốn dĩ không phải là phong thái thường ngày của bà. Angela Merkel chủ yếu phát biểu những gì ? Không hề đề cập đến Tổng thống Donald Trump một lần, nhưng mọi người có mặt đều hiểu rằng, Merkel muốn gởi nhiều thông điệp đến Donald Trump, như một bảng tính sổ với người đồng nghiệp trước khi Merkel rời chức vụ nay mai. Về mặt nội dung, cảm nhận đó của cử tọa hoàn toàn chính xác. Có lẽ, Angela Merkel muốn sử dụng cơ hội cuối cùng này để vẽ một lằn ranh phân biệt giữa bà và Trump, sự khác nhau như trời và đất giữa hai nhà lãnh đạo, nhưng có lẽ quan trọng hơn, giữa hai con người với nhân cách khác nhau. Angela Merkel vốn không phải là người có tài hùng biện, đôi lúc nghe bà diễn thuyết có vẻ nhàm chán, buồn ngủ. Những bài diễn văn nổi tiếng nhất của bà thường thể hiện sự hấp dẫn qua nội dung, chứ không phải qua phong thái diễn đạt. Lần này, Merkel phát biểu những gì để gởi gắm đến các sinh viên tốt nghiệp, và qua đó tính sổ với Donald Trump ?   Thông điệp chính trị Tuy bài diễn văn được đọc cho cử tọa ở Harvard, và nội dung là nhắm tới các sinh viên tốt nghiệp. Nhưng thông điệp chính trị đằng sau các câu chữ là không thể nhầm lẫn : đó là những thông điệp để gởi đến Nhà Trắng và Donald Trump. Sự hưởng ứng nồng nhiệt của cử tọa biểu lộ sự đồng tâm giữa đôi bên, Merkel và cử tọa ở Hardvard, rằng họ có chung những thông điệp chống lại chính sách của chính phủ Mỹ, và chống lại phong cách hành xử của Donald Trump. Chính sách thương mại : Đối với chính sách bảo hộ với thuế quan, chiến tranh thương mại của Trump, Angela Merkel phát biểu không hề che giấu và nhân nhượng theo phong cách ngoại giao. Bà nói : „Chủ nghĩa bảo hộ và xung đột thương mại gây nguy hiểm cho thương mại tự do trên thế giới, vốn dĩ là nền tảng cho sự thịnh vượng của chúng ta“, và không quên kêu gọi các sinh viên tốt nghiệp hành động để chống lại xu hướng nguy hiểm đó. Bảo vệ môi trường : Trump không hề xấu hổ khi từng tuyên bố là không hề có cái gọi là „biến đổi khí hậu“ hoặc „phá hủy môi trường“ và con người cũng không có tội lỗi gì với những khái niệm đó, mặc dù Mỹ là quốc gia số một với lượng khí thải nhiều nhất phun lên bầu khí quyển. Ngay từ lúc vừa nhậm chức, Trump rút lui khỏi Hiệp ước Paris về biến đổi khí hậu, một hiệp ước được bàn cãi gần 10 năm và được 195 nước tham gia ký kết. Angela Merkel phát biểu không che giấu, không ngoại giao  : „Biến đổi khí hậu đe dọa nguồn sống tự nhiên. Sự biến đổi đó với các cuộc khủng hoảng đi kèm là do con người tạo ra. Vì vậy, chúng ta có thể và phải làm mọi thứ trong khả năng của con người để thực sự có thể kiểm soát được những thách thức đối với nhân loại. Điều này vẫn còn khả thi”. Angela Merkel còn được cử tọa đứng dậy vỗ tay hoan hô, khi bà công bố một quyết định mà chính phủ Đức vừa ban hành vào tuần lễ cuối tháng 5.2019, là đến năm 2050, Đức sẽ đạt tình trạng „trung hòa thán khí“. Đây là tác phẩm để đời của Angela Merkel, cho nên chúng ta có thể chờ đợi rằng, bà sẽ thúc đẩy quyết định đó sẽ nhanh chóng trở thành luật pháp trước khi bà rời chức vụ Thủ tướng. Chủ nghĩa ích kỷ quốc gia : Angela Merkel dành một đoạn khá dài để kể về trải nghiệm bản thân trong những ngày còn trẻ trong Đông Đức, trong một phần đất tù túng, độc tài, ích kỷ. Nhưng đó chỉ là vài câu dạo đầu để đặt một dấu chấm hết trước cử tọa ở Harvard, vốn có truyền thống tự do phóng khoáng này. Bà nói đến một thế giới mở, dân chủ, gắn kết với nhau trong một không gian hữu nghị, khoan dung, lấy nhân phẩm con người làm trung tâm điểm của mọi quyết định. Đó là những điều đối nghịch với Donald Trump và chủ nghĩa ích kỷ trên bình diện quốc gia mà Trump cứ lập đi lập lại không hề nhàm chán : „America First“, và đi kèm theo là những bài diễn văn của Trump với đầy phong cách American, tự hào, dân tộc chủ nghĩa, sức mạnh quân sự, „các bạn làm cho nước Mỹ tự hào“, „không ai có thể ngăn chặn nước Mỹ làm những chuyện chúng ta muốn“ v.v… Phong cách này làm chúng ta nhớ lại kho thuật ngữ của Joseph Goebel, bộ trưởng tuyên truyền của Quốc xã Hitler. Tai hại thế nào thì chúng ta đã biết. Chủ nghĩa đa phương toàn cầu : Thay vì co cụm trong khuôn khổ quốc gia theo phương châm „America First“ hay tương tự, Angela Merkel muốn truyền cảm hứng cho sinh viên tốt nghiệp một lối nhìn cởi mở, quốc tế thay vì tư duy chật hẹp trong khuôn khổ biên giới quốc gia : „Đây là suy nghĩ thứ hai của tôi dành cho các bạn : Hơn bao giờ hết, chúng ta cần suy nghĩ và hành động đa phương thay vì đơn phương, toàn cầu thay vì quốc gia, thế giới mở thay vì tự cô lập. Nói tóm tắt : đi chung với nhau thay vì độc hành“. Thế giới mở là một thế giới có tương lai, mặc dù Merkel cũng thú nhận rằng „khoảnh khắc mở lòng cũng là khoảnh khắc của sự rủi ro“, nhưng „nếu chúng ta đi vào không gian rộng mở và dám bắt đầu, mọi chuyện đều khả thi“. Hợp tác xuyên Đại Tây Dương : Angela Merkel không quên nhắc đến một nỗi tự hào của người Mỹ nói chung và của đại học Harvard nói riêng. Bà nhắc lại rằng, cách đây 72 năm, ngoại trưởng George Marshall đọc diễn văn trong buổi lễ nhận bằng Tiến sĩ Danh dự tại Harvard. Sau đó, kế hoạch Marshall, tức là Kế hoạch Phục hưng châu Âu (ERP) đã mang lại hòa bình, hữu nghị, phồn vinh cho châu Âu và cho cả Hoa Kỳ. Merkel kết luận : „Quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương với các giá trị dân chủ và nhân quyền đã cho chúng ta một thời gian hòa bình và thịnh vượng dài suốt hơn 70 năm, mà qua đó tất cả các bên đều hưởng lợi“. Mối quan hệ này bị sứt mẻ nặng nề kể từ lúc Donald Trump làm Tổng thống. Thông điệp của Merkel là lời nhắc nhở cho Donald Trump rằng, chuyện gì chống lại quan hệ đối tác chiến lược này chỉ mang lại thiệt hại cho từng quốc gia riêng lẻ ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương.   Thông điệp đạo đức luân lý   Sự thật và sự giả dối : Sau hai năm, chúng ta đã biết Donald Trump thường lừa dối cử tri với những thủ thuật điều khiển đám đông bằng truyền thông đại chúng, bằng cách chỉ nói một nửa sự thật, bằng thống kê không đầy đủ, thâm chí dùng cả Fake News, rồi sau đó rút lại, trước sau bất nhất. Merkel vẽ một bức tranh tương phản để làm rõ tầm quan trọng của tính chân thật, vì người lãnh đạo „không gọi điều dối trá là sự thật và gọi sự thật là chuyện gian dối“. Sau câu này, tiếng vỗ tay rầm rộ nhất và lâu nhất, đi kèm với lời hô to „bravo“ của sinh viên. Điều này cũng cho thấy tính chất phóng khoáng của cử tọa Harvard, và dường như Trump không có ảnh hưởng gì lên những sinh viên của đại học elite này. Chân thật với chính mình : Với phong cách trước sau bất nhất của Trump trước và sau kỳ bầu cử, nhân cách của Trump cũng đã lộ rõ. Đối với Trump, chỉ cần đạt mục đích chính trị, còn lại những yếu tố khác đều là thứ yếu. Đối với các sinh viên tốt nghiệp, mà chắc hẳn sau này sẽ có nhiều người trở thành lãnh đạo cao cấp, Merkel nhắc nhở họ về những giá trị đạo đức, những „giá trị không thể dùng để mua bán“ và trong mọi quyết định, cần lấy „sự trung thực đối với người khác, và đối với cả chính mình“ làm gốc. Angela Merkel đặt cho các sinh viên một câu hỏi để họ tự trả lời: „Chúng ta đưa con người, với nhân phẩm và tất cả các khía cạnh của họ, vào trung tâm mọi suy nghĩ, hay chúng ta chỉ nhìn thấy họ là khách hàng, là nguồn dữ liệu, là đối tượng để giám sát?“ Bức tường biên giới : Trong lúc Trump dùng đủ mọi mánh khóe chính trị để có ngân sách xây tường ở biên giới Mexico, thì Merkel nói khá nhiều đến những bức tường khác và kêu gọi các sinh viên tốt nghiệp „Hãy đập bỏ những bức tường của sự thờ ơ vô cảm và tư duy hẹp hòi, vì không có gì sẽ phải tồn lại như nó đang diễn ra“. Trước đó, Merkel bỏ khá nhiều thì giờ để kể về bức tường Berlin, về trải nghiệm cá nhân bà trong những ngày Đông-Tây còn chia cắt, về cuộc cách mạng hòa bình năm 1989 và kết luận là „cuối cùng, bức tường đã sụp đổ“. Và tất nhiên, mặc dù như bà nói „mọi bức tường đều bắt đầu từ trong đầu óc“, Merkel không quên gián tiếp nói đến bức tường biên giới giữa các quốc gia và nhắn nhủ các sinh viên: „Tôi ước ao rằng, chúng ta đập tan những bức tường này – những bức tường vốn dĩ ngăn chúng ta hiểu biết thế giới, trong đó chúng ta muốn sống cùng nhau“. Phong thái này làm chúng ta nhớ lại câu nói „Tear down this wall“ của Tổng thống Mỹ Ronald Reagan bên bức tường Berlin năm 1961 gởi Mikhail Gorbachev. Theo Angela Merkel, các bức tường sẽ ngăn cản sự chuyển hóa thế giới đến tình trạng tốt đẹp hơn, và sinh viên tốt nghiệp, những người mang trọng trách thiết kế lại bộ mặt thế giới, không thể ngồi yên cho phép chuyện đó xảy ra. Chắc hẳn Trump sẽ không hài lòng chút nào về những ý tưởng của Merkel, nhưng đấy không chỉ là một đòn tạt sườn đối với chính sách của Trump, mà nó là một hồi chuông cảnh tỉnh cho cả thế giới. Suy nghĩ đắn do thay vì kích động nhất thời : Không có vị nguyên thủ nào trên thế gian lại mang tính chất kích động như Donald Trump. Trong lúc Trump thường bày tỏ cảm xúc của mình qua những giòng Tweet được viết ở mọi nơi, mọi lúc, không cần suy trước tính sau, nếu cần thì rút lại không hề đắn đo, thì Angela Merkel nhắn nhủ sinh viên rằng, „[…] và dưới áp lực phải có quyết định, nếu chúng ta không tuân theo những kích động ban đầu, mà thay vào đó hãy dừng lại một chút, giữ im lặng, suy nghĩ, tạm ngừng một khắc“ và bà mong rằng, các sinh viên hãy „kiên quyết đứng vững trên các giá trị không thể mua bán được, và hành động đúng theo lẽ phải“. Nói cách khác, hãy đắn đo suy nghĩ trước khi hành động. Đó chính là chất lượng của người lãnh đạo mà Merkel muốn truyền lại cho sinh viên tốt nghiệp.   Những điều nói không rõ ở Harvard Trong lúc ca ngợi thành tựu 70 năm của đối tác xuyên Đại Tây Dương, Merkel không bày tỏ một cảm nhận, cũng không đưa ra một phỏng đoán hoặc biểu lộ một niềm hy vọng cụ thể về 70 năm tiếp theo. Merkel không đưa ra một phỏng đoán nào về NATO vốn dĩ thường trực bị Trump công kích. Sợi chỉ hồng „không có gì phải tồn lại như nó đang diễn ra“ xuyên suốt bài diễn văn mà Angela Merkel lập lại trong phần kết luận đọc bằng tiếng Anh, có phải cũng sẽ đúng cho NATO, cho đối tác xuyên Đại Tây Dương? Đây cũng là phong cách quen thuộc của Angela Merkel, và chỉ có bà mới trả lời được. Chuyến công du sang Harvard cũng là cơ hội cuối cùng trong cuộc đời chính trị, một mặt với tư cách cá nhân đi nhận bằng tiến sĩ danh dự, nhưng mặt khác vẫn còn trong cương vị Thủ tướng, Merkel muốn gián tiếp nhưng chính thức xin lỗi thế giới một lần nữa về tội ác mà Quốc xã Đức đã gây ra cho nhân loại. Bà nói : „Đất nước của tôi, Đức, đã mang những đau khổ không thể tưởng tượng được đến châu Âu và thế giới“. Có vị nguyên thủ nào có thể can đảm nói như thế, ngoại trừ Tổng thống Đức Richard Weizsäcker phát biểu một lần vào ngày 8.5.1985, cách đây hơn 30 năm ? Ngoài ra từ trước tới sau, chúng ta không hề nghe một lời thú tội như thế từ Nhật, từ Ý về những tội ác trong Thế chiến II, lại càng không bao giờ nghe từ một nguyên thủ nào của British Empire nói về tội ác tại các thuộc địa, cũng không nghe từ Grande Nation Pháp, không nghe từ Tây Ban Nha nói về Nam Mỹ, không nghe từ Bồ Đào Nha nói về buôn bán nô lệ ở châu Phi. Merkel xứng đáng được hưởng sự ngưỡng mộ nồng nhiệt từ cử tọa ở đại học Harvard. Có vẻ như sau bài diễn văn này, thêm nhiều người Đức có cảm tình hơn và hãnh diện hơn về vị nguyên thủ của mình.   Cử tọa ở Harvard nghĩ gì về Merkel ? Trong lời giới thiệu và nêu lý do vinh danh Merkel với tước vị Tiến sĩ Danh dự, chủ tịch Larry Bacow phát biểu: „Một bức tường sụp đổ, và bà ấy vươn dậy, lãnh đạo quốc gia của bà bằng sức mạnh và lương tri, và hướng dẫn châu Âu vượt qua thử thách và thay đổi“. Larry Bacow đặc biệt ca ngợi chính sách nhập cư của Angela Merkel với phương châm „Wir schaffen das“ (ND: chúng ta làm được là phương châm hành động của Merkel trong cuộc khủng hoảng nhập cư năm 2015). Tờ báo chính thức của nhà trường, Harvard Gazette, đã từng đưa tít „Thủ tướng của thế giới tự do“ trong số đặc biệt cho buổi lễ, họ viết : „Với phương châm Wir schaffen das, bốn nhiệm kỳ của Angela Merkel đã để lại dấu ấn của quyết tâm và chủ nghĩa thực tiễn“. Cho dù chính sách nhập cư của Merkel bị chỉ trích trong nội bộ Đức, nhưng vẫn được phái tự do trên thế giới hết lòng ủng hộ, và Angela Merkel biết „phải làm những gì bà cho là đúng“. Nực cười thay, chính sách nhập cư của Merkel bị phê bình dữ dội ở Đức, trong cũng như ngoài Liên minh Cơ đốc (CDU/CSU). Phê bình đó xuất phát từ nhận thức đúng-sai, hay chỉ vì các đảng lớn mất phiếu về phe cực hữu ? Mỗi người có một cách nhìn khác nhau. Dù sao, chính sách nhập cư của Merkel được nhóm người phóng khoáng trên thế giới ngưỡng mộ, thán phục. Harvard là một thí dụ. Và không ít người Đức công khai tuyên bố rằng, họ hãnh diện về chính sách thu nhận dân nhập cư. Họ còn mong muốn rằng, nhà nước nên thu nhận nhiều hơn để cứu các nạn nhân của chiến tranh, khủng bố, đói nghèo và biến đổi khí hậu.  Khi chủ tịch hội cựu sinh viên Harvard, Margaret Wang giới thiệu rằng, Angela Merkel „thực tế là nhân vật lãnh đạo EU“, thì cử tọa vỗ tay hoan hô. Merkel chỉ mỉm cười khiêm tốn. Nhưng khi bà Wang nhắc nhở thêm rằng, chính Angela Merkel đã thu nhận hơn một triệu người nhập cư từ Bắc Phi, thì cả cử tọa đều đứng dậy vỗ tay không dứt. Thái độ đó là câu trả lời hay nhất cho cách hành xử của Donald Trump. Chính Trump, chứ không ai khác, đã bình luận quyết định của Merkel năm 2015 về nhập cư là nó „sẽ phá hủy nước Đức“. Nhà giáo Harvard Cathryn Clüver phát biểu trong cuộc phỏng vấn ngay sau buổi lễ : „Người Mỹ tìm thấy ở Angela Merkel một sự bảo đảm cho ổn định“. Ethan Hughes, sinh viên vừa tốt nghiệp Master phát biểu : “Nhiều người Mỹ hướng tầm nhìn về bà, vì ở đây (Mỹ) đang thiếu một khuôn mặt lãnh đạo chính trị có tầm cỡ“. Malek Hassan, tốt nghiệp y khoa : „Bà đã tạo niềm cảm hứng cho cả một thế hệ trẻ“. Nữ sinh viên Đức Marcella Vutto tốt nghiệp Harvard : „Merkel có một tiếng tăm đáng kể trên bình diện quốc tế. Trong nội bộ Đức, điều đó tiếc thay không được cảm nhận thấu đáo“, và cô bạn học Sonja Krein nói thêm : „Merkel thể hiện một gương mặt rất tốt, đặc biệt trong thời gian còn Trump“. Cô tiếp theo khi được hỏi đến bài diễn văn : „Thật là cool, để có thể có mặt hôm nay với tư cách là một người Đức“. Nikhil Kumar, sinh viên Mỹ, thì hào hứng hơn : „Merkel đã thành công trong việc truyền cảm hứng cho sinh viên tốt nghiệp, đồng thời gởi thông điệp đến Donald Trump“ và nói tiếp, dù bà không nhắc đến Trump nhưng „quá rõ ràng là các thông điệp của bà đều hướng về Trump. Merkel nhấn mạnh một cách có chủ ý về tầm quan trọng của quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương“. Tôn Thất Thông     Tài liệu tham khảo 1.    Angela Merkel : Toàn văn bài diễn văn 2.    DW Deutsche Welle : Worüber Merkel in Harvard nicht gesprochen hat (Những điều Merkel không nói ở Harvard): 3.    DW Deutsche Welle – Gefeiert und geehrt : Merkel in Harvard (Được hoan hô và kính trọng: Merkel ở Harvard) 4.    FOCUS – Weckruf an die Welt (Lời cảnh tỉnh gởi đến thế giới) 5.    FOCUS – Die wichtigsten Botschaften der Merkel-Rede (Những thông điệp quan trọng nhất trong bài diễn văn của Merkel) 6.    FOCUS – Merkel grenzt sich bei Harvard-Rede scharf von Trump ab (Merkel vạch lằn ranh rõ rệt với Trump qua bài diễn văn tại Harvard) 7.    SPIEGEL – Merkels Abrechnung (Bảng tính sổ của Merkel) 8.    SPIEGEL – Merkel kritisiert indirekt Trump (Merkel gián tiếp phê bình Trump) 9.    SPIEGEL – Merkel in Harvard gewürdigt (Merkel được vinh danh tại Harvard) 10.    Washington Post – Merkel tells Harvard grads to tear down „walls of ignorance“ (Merkel kêu gọi các sinh viên tốt nghiệp Harvard “hãy phá bỏ bức tường vô cảm”): 11.    Washington Post – Harvard celebrates Angela Merkel Liberal Hero 12.    WELT – Merkels Anti-Trump-Rede mit vielen Botschaften (Bài diễn văn chống Trump với nhiều thông điệp) 13.    WELT – Harvard Universität lobt explizit „Wir schaffen das“-Slogan (Đại học Hardvard ca ngợi phương châm „Chúng ta làm được“):       Toàn văn bài diễn văn của Thủ tướng Angela Merkel   Tôn Thất Thông dịch   (Đoạn đầu và đoạn cuối, bà Merkel phát biểu bằng tiếng Anh như một thủ tục ngoại giao. Đoạn chính thì phát biểu bằng tiếng Đức có thông dịch sang tiếng Anh) (Đoạn này tiếng Anh) Thưa Chủ tịch Bacow, Các nghiên cứu sinh của trường, Thành viên của Hội đồng Giám thị, Thành viên của Hội cựu sinh viên, Thành viên của Khoa, Quí vị phụ huynh và sinh viên tốt nghiệp! Hôm nay là một ngày vui sướng. Đó ngày của các bạn. Xin gởi đến các bạn nhiều lời chúc mừng ! Tôi rất sung sướng được có mặt hôm nay và muốn kể cho các bạn nghe một số trải nghiệm của riêng tôi. Buổi lễ này đánh dấu sự kết thúc của một giai đoạn đầy nỗ lực và có lẽ cũng đầy khó khăn trong cuộc sống của các bạn. Bây giờ, cánh cửa đang mở ra để đón chào cuộc sống mới. Điều đó thật hứng thú và đầy cảm hứng. Nhà văn Đức Hermann Hesse có một số từ ngữ tuyệt vời cho một tình huống như vậy trong cuộc sống. Tôi muốn trích dẫn ông ấy và sau đó xin tiếp tục bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của tôi. Hermann Hesse đã viết: "Mỗi bước khởi đầu đều hàm chứa một điều thần diệu, nó bảo vệ chúng ta và giúp chúng ta sống." (Đoạn này tiếng Đức) Những lời này của Hermann Hesse đã truyền cảm hứng cho tôi khi tôi tốt nghiệp khoa vật lý lúc vừa 24 tuổi. Đó là năm 1978. Thế giới bị chia đôi thành Đông và Tây. Đó là thời đại của chiến tranh lạnh. Tôi lớn lên ở Đông Đức, Cộng Hòa Dân Chủ Đức, lúc đó còn là phần đất chưa có tự do trên quê hương tôi, trong một chế độ độc tài. Con người bị đàn áp và bị kiểm soát. Đối thủ chính trị thì bị theo dõi. Chính phủ của CHDC Đức sợ rằng người dân sẽ chạy trốn để đi tìm tự do. Đó là lý do tại sao họ đã xây bức tường Berlin. Nó được làm bằng bê tông và thép. Bất cứ ai bị phát hiện có ý định vượt rào, sẽ bị bắt giữ hoặc bị bắn chết. Bức tường ngay ở giữa Berlin này đã chia rẽ một dân tộc - và nó chia cắt nhiều gia đình. Gia đình tôi cũng bị phân cách như thế. Chỗ làm đầu tiên của tôi sau khi tốt nghiệp là Học viện Khoa học ở Đông Berlin, tôi làm việc với tư cách một nhà vật lý. Tôi sống gần bức tường Berlin. Trên đường từ học viện về nhà, tôi đã đi về hướng đó mỗi ngày. Đằng sau bức tường là Tây Berlin, vùng đất tự do. Và mỗi ngày, khi tôi đến rất gần bức tường, tôi phải rẽ ngang đường khác vào phút cuối – để đến căn hộ của tôi. Mỗi ngày tôi phải rẽ tránh con đường dẫn đến tự do. Đã bao lần tôi nghĩ, tôi khó có thể chịu đựng được điều đó. Nó thật sự rất cay đắng. Tôi không phải là người ly khai vì bất đồng chính kiến. Tôi không chạy đến bức tường, nhưng tôi không thể phủ nhận sự tồn tại của nó, vì tôi không muốn nói dối bản thân mình. Bức tường Berlin đã hạn chế khả năng của tôi. Rõ ràng nó cản đường của tôi. Nhưng có một điều mà bức tường này không làm được trong suốt những năm đó: nó không thể qui định cho tôi một giới hạn nội tâm. Nhân cách của tôi, trí tưởng tượng của tôi, lòng khao khát của tôi - tất cả những điều này không thể bị hạn chế bởi sự cấm đoán và ép buộc. Rồi năm 1989 đã đến. Khắp châu Âu, ý chí chung về tự do đã tạo nên sức mạnh không thể tin được. Hàng trăm ngàn người đã dũng cảm xuống đường ở Ba Lan, Hungary, Tiệp Khắc và cả CHDC Đức. Người ta đi biểu tình và bức tường sụp đổ. Điều mà nhiều người – ngay cả tôi – nghĩ là không thể xảy ra đã trở thành hiện thực. Nơi từng là một bức tường tối tăm, đột nhiên mở ra một cánh cửa. Đối với tôi, khoảnh khắc đã đến để bước qua. Tôi không còn phải rẽ ngang đường khác để tránh tự do. Tôi có thể vượt qua nó và đi vào không gian mở. Trong những tháng này, 30 năm trước, cá nhân tôi đã trải nghiệm rằng không có một điều gì phải được giữ nguyên như nó đã có trong quá khứ. Các bạn sinh viên tốt nghiệp thân mến, tôi muốn truyền lại cho các bạn kinh nghiệm này như là luồng suy nghĩ đầu tiên của tôi: những gì có vẻ cố định và bất khả biến, tự nó cũng có thể thay đổi. Và dù điều đó lớn hay nhỏ: mọi thay đổi đều khởi đi từ trong đầu. Thế hệ cha mẹ tôi đã phải học điều này rất đau đớn. Cha và mẹ tôi sinh năm 1926 và 1928. Khi họ đã lớn như hầu hết các bạn ở đây ngày hôm nay, sự sụp đổ của văn minh với việc tàn sát người Do Thái và Thế chiến thứ hai cũng vừa kết thúc. Đất nước của tôi, Đức, đã mang những đau khổ không thể tưởng tượng được đến châu Âu và thế giới. Làm sao có thể tưởng tượng được rằng, những người chiến thắng và kẻ chiến bại sẽ tiếp tục đối đầu nhau bất khả hòa giải trong một thời gian dài? Nhưng may mắn thay, châu Âu đã vượt qua những cuộc xung đột dài hàng thế kỷ. Một trật tự hòa bình được thành lập, được xây dựng trên mẫu số chung thay vì trên sức mạnh của quốc gia. Cho dù bao cuộc tranh luận và thoái bộ tạm thời, tôi có một niềm tin chắc chắn: Chúng tôi, phụ nữ và nam giới ở châu Âu, đang thống nhất để tiến đến hạnh phúc. Mối quan hệ giữa người Đức và người Mỹ cũng cho thấy, làm thế nào mà các đối thủ cũ của cuộc chiến đã trở thành bạn hữu. Đóng góp rất quyết định cho chuyện đó là kế hoạch của George Marshall, mà ông đã tuyên bố tại đây vào năm 1947 trong bài phát biểu khai mạc. Quan hệ đối tác xuyên Đại Tây Dương với các giá trị dân chủ và nhân quyền đã cho chúng ta một thời gian hòa bình và thịnh vượng dài suốt hơn 70 năm, mà qua đó tất cả các bên đều hưởng lợi. Còn hôm nay? Sẽ không lâu nữa, các chính trị gia thuộc thế hệ của tôi không còn là đối tượng của khóa học "Làm công tác lãnh đạo", mà cùng lắm là "Lãnh đạo trong lịch sử". Các bạn tốt nghiệp Harvard năm 2019 thân mến, trong những thập kỷ tới, thế hệ của các bạn sẽ đối mặt với những thách thức của thế kỷ 21. Các bạn nằm trong số những người sẽ dẫn chúng tôi đến tương lai. Chủ nghĩa bảo hộ và xung đột thương mại gây nguy hiểm cho thương mại tự do trên thế giới, vốn dĩ là nền tảng cho sự thịnh vượng của chúng ta. Công nghệ số hóa phủ bóng lên tất cả các lĩnh vực của đời sống. Chiến tranh và khủng bố dẫn đến di tản và trục xuất. Biến đổi khí hậu đe dọa nguồn sống tự nhiên. Sự biến đổi đó với các cuộc khủng hoảng đi kèm là do con người tạo ra. Vì vậy, chúng ta có thể và phải làm mọi thứ trong khả năng của con người để thực sự có thể kiểm soát được những thách thức đối với nhân loại. Điều này vẫn còn khả thi. Nhưng mọi người phải góp phần của mình vào - tôi nói điều đó với tinh thần tự phê bình – và trở nên tốt hơn. Do đó, tôi sẽ làm hết sức mình để đảm bảo rằng Đức, đất nước tôi, sẽ đạt được mục tiêu: trung hòa thán khí vào năm 2050. Thay đổi để tốt hơn là điều có thể làm được, nếu chúng ta cùng nhau giải quyết. Làm một mình đơn độc sẽ không dẫn đến thành công. Và đây là suy nghĩ thứ hai của tôi dành cho các bạn: Hơn bao giờ hết, chúng ta cần suy nghĩ và hành động đa phương thay vì đơn phương, toàn cầu thay vì quốc gia, thế giới mở thay vì tự cô lập. Nói tóm tắt: đi chung với nhau thay vì độc hành. Các sinh viên tốt nghiệp thân mến, trong tương lai các bạn sẽ có rất nhiều cơ hội khác hẳn so với thế hệ của tôi. Có lẽ, chiếc điện thoại thông minh của các bạn có công suất tính toán mạnh hơn nhiều so với chiếc máy tính lớn của IBM được Liên Xô sao chép, phương tiện mà tôi đã sử dụng vào năm 1986 để hoàn tất luận án tiến sĩ của mình tại CHDC Đức. Ngày nay, chúng ta sử dụng trí thông minh nhân tạo để quét hàng triệu hình ảnh về các triệu chứng của bệnh tật, ví dụ, để chẩn đoán ung thư tốt hơn. Trong tương lai, robot có tính đồng cảm có thể giúp các bác sĩ và y tá tập trung vào nhu cầu cá nhân của từng bệnh nhân. Chúng ta không thể nói trước, những ứng dụng nào có thể sử dụng được. Nhưng những cơ hội đi kèm với nó thật sự rất ngoạn mục có thể làm ta đứng tim. Các sinh viên tốt nghiệp thân mến, về cơ bản, mọi chuyện đều nằm trong tay các bạn, là làm thế nào để chúng ta tận dụng những cơ hội này. Chính bạn chứ không ai khác, sẽ là người tham gia quyết định việc phát triển tiếp tục về phương cách chúng ta làm việc, giao tiếp, di chuyển và, đúng vậy, toàn bộ phong cách chúng ta sống. Là Thủ tướng, tôi thường phải tự hỏi: mình có đang làm đúng hay không? Tôi đang làm một cái gì đó bởi vì nó hợp lẽ phải, hay đơn giản chỉ vì nó khả thi? Các bạn cũng nên tự hỏi điều đó nhiều lần - và đó là suy nghĩ thứ ba của tôi gởi đến các bạn ngày hôm nay. Chúng ta đặt ra các quy tắc cho công nghệ hay công nghệ quyết định cuộc sống chung giữa chúng ta? Chúng ta đưa con người, với nhân phẩm và tất cả các khía cạnh của họ, vào trung tâm mọi suy nghĩ, hay chúng ta chỉ nhìn thấy họ là khách hàng, nguồn dữ liệu, đối tượng để giám sát? Đây là những câu hỏi khó. Tôi đã học được rằng, câu trả lời cho các câu hỏi khó có thể được tìm thấy, nếu chúng ta luôn nhìn thế giới cũng qua con mắt của người khác; nếu chúng ta biết tôn trọng lịch sử, truyền thống, tôn giáo và bản sắc của người khác; nếu chúng ta kiên quyết đứng vững trên các giá trị không thể mua bán được, và hành động đúng theo lẽ phải đó; và dưới áp lực phải có quyết định, nếu chúng ta không luôn tuân theo những kích động ban đầu, mà thay vào đó hãy dừng lại một chút, giữ im lặng, suy nghĩ, tạm ngừng một khắc. Tất nhiên, điều đó cần rất nhiều can đảm. Trên hết, nó cần phải trung thực với người khác và - có lẽ là quan trọng nhất – trung thực với chính mình. Có nơi nào tốt hơn để bắt đầu với nó hơn chính ở chỗ này, nơi có rất nhiều người trẻ từ khắp nơi trên thế giới cùng nhau học hỏi theo phương châm của chân lý, cùng nghiên cứu và thảo luận các vấn đề của thời đại chúng ta? Điều này hàm chứa ý nghĩa rằng, chúng tôi không gọi điều dối trá là sự thật và gọi sự thật là chuyện gian dối. Điều đó cũng có ý nghĩa rằng, chúng ta không chấp nhận sự sai trái là chuyện bình thường của chúng ta. Các sinh viên tốt nghiệp thân mến, nhưng những gì có thể cản trở các bạn, cản trở chúng ta? Một lần nữa, đó là những bức tường: những bức tường trong đầu óc – vì sự thờ ơ vô cảm và đầu óc hẹp hòi. Các bức tường giữa các thành viên của một gia đình, cũng như giữa các nhóm người trong xã hội, các màu da, các dân tộc, các tôn giáo. Tôi ước ao rằng, chúng ta đập tan những bức tường này - những bức tường vốn dĩ ngăn chúng ta hiểu biết thế giới, trong đó chúng ta muốn sống cùng nhau. Có thành công hay không, điều đó tùy thuộc vào chúng ta. Do đó, các sinh viên tốt nghiệp thân mến, suy nghĩ thứ tư của tôi là, hãy xem lại: không có gì là hiển nhiên. Tự do cá nhân của chúng ta không là hiển nhiên, dân chủ không hiển nhiên, hòa bình cũng không và thịnh vượng cũng không tự nhiên đạt được. Nhưng nếu chúng ta phá bỏ những bức tường kìm hãm chúng ta, nếu chúng ta đi vào không gian rộng mở và dám bắt đầu, mọi chuyện đều khả thi. Tường có thể sụp đổ. Chế độ độc tài có thể biến mất. Chúng ta có thể ngăn chận sự nóng lên của quả đất. Chúng ta có thể thắng nạn đói. Chúng ta có thể diệt trừ bệnh tật. Chúng ta có thể tạo ra cho cho mọi người, đặc biệt là các cô gái, khả năng tiếp cận với giáo dục. Chúng ta có thể chống lại các nguyên nhân của di tản và trục xuất. Chúng ta có thể làm tất cả điều đó. Vì vậy, trước tiên đừng hỏi những gì không làm được, hoặc những gì đã luôn luôn hiện hữu. Mà trước tiên, chúng ta hãy hỏi những gì làm được và tìm kiếm những điều chưa từng được thực hiện trước đây. Chính những lời này tôi đã phát biểu vào năm 2005 trong tuyên bố chính phủ đầu tiên, với tư cách là Thủ tướng Liên bang mới được bầu của Cộng hòa Liên bang Đức, với tư cách là người phụ nữ đầu tiên trong chức vụ này, tại Deutscher Bundestag, Quốc hội Đức. Và với những lời này tôi cũng muốn nói với các bạn suy nghĩ thứ năm của tôi: Hãy tự làm cho mình ngạc nhiên với những gì khả thi - hãy tự làm mình ngạc nhiên với những gì chúng ta có thể làm được! Trong cuộc đời của tôi, sự sụp đổ của bức tường Berlin gần 30 năm trước đã cho phép tôi đi vào không gian mở. Lúc đó, tôi đã bỏ lại công việc của một nhà khoa học và đi vào con đường chính trị. Đó là điều thật xúc động và đầy ma lực, giống như cuộc sống của các bạn cũng sẽ thú vị và đầy sự thần diệu. Nhưng tôi cũng có những giây phút hoang mang và lo lắng. Hồi đó, tất cả chúng tôi đều biết những gì ở phía sau chúng tôi, nhưng không biết những gì sẽ nằm ở phía trước. Có lẽ, với tất cả niềm vui của ngày hôm nay, các bạn cũng ít nhiều mang tâm trạng như thế. Do đó, tôi cũng có thể nói với các bạn trải nghiệm thứ sáu của tôi: khoảnh khắc mở lòng cũng là một khoảnh khắc của sự rủi ro. Việc buông bỏ cái cũ là thành tố của một khởi đầu mới. Không có sự bắt đầu nào mà không có kết thúc, không có ngày nào mà không có đêm, không có sự sống nào mà không có cái chết. Toàn bộ cuộc sống của chúng ta bao gồm sự khác biệt, khác biệt giữa bắt đầu và kết thúc. Những gì ở giữa, chúng ta gọi là cuộc sống và trải nghiệm. Tôi tin rằng, chúng ta lại phải luôn sẵn sàng hoàn thành mọi thứ, để cảm nhận sự kỳ diệu của bước khởi đầu và có thể thực sự nắm lấy cơ hội. Đó là kinh nghiệm của tôi trong nghiên cứu, trong khoa học - và đó cũng là kinh nghiệm trong chính trị. Và có ai biết được, những gì sẽ đến với tôi sau cuộc đời chính trị gia? Nó hoàn toàn để ngỏ. Chỉ có một điều rõ ràng: nó sẽ là một cái gì khác và mới mẻ. (Đoạn này tiếng Anh) Đó là lý do tại sao tôi muốn gởi cho các bạn điều ước này: Hãy đập bỏ những bức tường của sự thờ ơ vô cảm và tư duy hẹp hòi, vì không có gì phải tồn lại như nó đang diễn ra. Hãy cùng nhau hành động - vì lợi ích của một thế giới toàn cầu đa phương. Các bạn hãy tiếp tục tự hỏi: Tôi đang làm một cái gì đó vì nó đúng hay đơn giản chỉ vì nó khả thi? Đừng quên rằng, tự do không bao giờ là điều có thể có được do người khác ban phát. Hãy làm cho chính mình tự ngạc nhiên về những điều gì khả thi. Hãy nhớ rằng, sự cởi lòng luôn luôn liên quan đến sự rủi ro. Buông bỏ cái cũ là một phần của sự khởi đầu mới. Và trên hết: Không có gì có thể được coi là hiển nhiên, mọi thứ đều khả thi. Xin cám ơn quí vị ! Nguyên bản tiếng Đức:  https://www.bundesregierung.de/breg-de/aktuelles/rede-von-bundeskanzlerin-merkel-bei-der-368-graduationsfeier-der-harvard-university-am-30-mai-2019-in-cambridge-usa-1633384        
......

Câu chuyện của bà thủ tướng Đức

Lê Phan - Người Việt| Tuần này Thủ Tướng Angela Merkel của Đức đến Hoa Kỳ. Bà được Đại Học Harvard mời đọc bài diễn văn tốt nghiệp. Nhưng bà không có ý định ghé thăm Tổng Thống Donald Trump ở Tòa Bạch Ốc. Đối với bà Angela Merkel, tiếng chuông báo động đến vào lúc nửa đêm. Thủ tướng Đức đang ngủ trên chiếc phi cơ của chính phủ bà ở đâu đó trên bầu trời Đại Tây Dương vào Tháng Sáu năm ngoái khi Tổng Thống Donald Trump phá hủy một thỏa thuận mong manh mà bà đã xây dựng với các lãnh tụ Khối G7 ở Canada.   Trước khi đi ngủ, bà đã lạc quan vì những nhượng bộ bà đã đạt được từ tổng thống Hoa Kỳ cho một tuyên bố chung về mậu dịch. Khi ông thất hứa, bà sửng sốt. Cũng phải nói bà Merkel đã chịu đựng một loạt những cuộc tấn công kể từ khi ông Trump nhậm chức -về xe hơi hạng sang của Đức, công chi về quốc phòng, Iran, khí đốt từ Nga, và làm ăn với Huawei Technologies Co. Nhưng sự đổ vỡ ở cuộc họp thượng đỉnh G7 hồi Tháng Sáu năm ngoái đã khiến bà đi đến quyết định: Tổng Thống Trump không phải là một partner mà nước Đức có thể trông cậy được. Gần 12 tháng sau, tình hình ngày càng tệ hơn. Đã có một sự pha trộn đau lòng và bực mình ở Berlin và các viên chức đã tự hỏi liệu liên hệ giữa hai đồng minh có phải đã vượt điểm không còn trở lại được như xưa nữa chăng. Ngay cả nếu ông Trump thất cử năm 2020, họ nói là niềm tin vốn là nền tảng của tình thân hữu xuyên Đại Tây Dương từ bảy thập niên nay có thể đã biến mất không còn tìm lại được nữa. Đức đã bắt đầu xây dựng những liên minh mới mà rồi sẽ bảo vệ quyền lợi của họ trong một thế giới mà Hoa Kỳ không muốn tham gia. Và một số còn có thể không làm Hoa Kỳ hài lòng. Hôm Thứ Sáu tuần trước, 24 Tháng Năm, trong một cuộc mít tinh ở Munich, bà Merkel đã bảo với nhân dân Đức: “Chúng ta phải nắm lấy định mệnh của chúng ta trong tay mình trong tương lai nếu chúng ta muốn mạnh hơn.” Thành ra khi thủ tướng đến Hoa Kỳ vào ngày Thứ Năm vừa qua để đọc bài diễn văn tốt nghiệp tại Đại Học Harvard, bà đã không tính đến chuyện viếng thăm Tòa Bạch Ốc như bà đã làm trong hai năm qua. Các viên chức Hoa Kỳ cả quyết là Tổng Thống Trump tôn trọng Thủ Tướng Merkel. Nhưng họ cũng cho thấy sự hiểu lầm vốn đã xảy ra trong liên hệ giữa hai vị lãnh tụ. Một viên chức của chính phủ Hoa Kỳ giải thích với thông tấn xã Bloomberg vấn đề chính của Tổng Thống Trump với Thủ Tướng Merkel là thặng dư mậu dịch của Đức với Hoa Kỳ. Nhưng chính phủ Trump tỏ ra mất kiên nhẫn khi Đức, như tất cả các thành viên Liên Hiệp Âu Châu khác, đã trao quyền điều đình mậu dịch cho Brussels. Tổng Thống Trump không chịu hiểu điều đó hay là, với bản tính bắt nạt, ông lý luận là Đức phải dùng cái quyền là nền kinh tế lớn nhất Âu Châu để đẩy các cuộc thảo luận theo chiều hướng Đức muốn. Trong những cuộc gặp gỡ riêng, tổng thống đã năn nỉ bà Merkel hãy đích thân tham gia vào điều đình mậu dịch, viên chức này giải thích. Nhưng thủ tướng cả quyết là ông phải nói chuyện với Ủy Hội Âu Châu tức chính phủ của Liên Hiệp. Viên chức này nói không có sự thù hận nhưng không có tình thân hữu. Điều ông Trump không hiểu và có lẽ cũng không có khả năng để muốn hiểu là bà không thể nào hủy bỏ công trình xây dựng mấy chục thập niên nay để tạo dựng nên một Âu Châu hòa bình, tương đối thống nhất và không có chiến tranh. Muốn hiểu bà Angela Merkel, thủ tướng Đức, thì chúng ta phải nhớ bà sinh ra ở Tây Đức nhưng lớn lên là một người Đông Đức, con gái một mục sư và là một nhà khoa học. Hơn nữa, bà là con của một mục sư đã được đưa sang chủ trì một ngôi nhà thờ ở Đông Đức. Bà lớn lên khi bức tường Berlin được dựng lên để ngăn cách Âu Châu làm hai. Ở Harvard, bà thú nhận với các sinh viên tốt nghiệp là bức tường Berlin đã cắt đứt mọi hy vọng và cơ hội cho bà, nhưng bà nói với họ: “Bức tường Berlin đã giới hạn cơ hội cho tôi. Nó thực sự đã đứng cản đường tôi. Tuy nhiên, có một điều bức tường đó không làm gì nổi trong những năm tháng đó: nó không áp đặt được giới hạn cho những gì tôi nghĩ trong thâm tâm tôi. Cá tính con người tôi, trí tưởng tượng của tôi, ước mơ và thèm muốn, cấm kỵ và ép buộc không giới hạn được bất cứ điều gì bên trong tôi cả.” Là con của một mục sư bà đặt những giá trị cao cho đạo đức và lòng nhân ái. Bà đã cương quyết mở cửa cho dân tị nạn vì bà bảo là những người may mắn hơn có trách nhiệm cưu mang cho những người ít may mắn hơn. Là một nhà khoa học bà suy nghĩ và hành động theo lý trí. Là một người Âu Châu đã là nạn nhân của phân chia, độc tài và đàn áp, và chính vì vậy mà bà đã coi lý tưởng của một Âu Châu thống nhất và hòa bình quan trọng hơn tất cả. Chính vì thế bà khó có thể hòa hợp với Tổng Thống Trump, ở mọi khía cạnh hoàn toàn đối nghịch với bà. Một cách ngoại giao bà trả lời đài CNN “Tổng thống có lập trường của ông, và tôi có lập trường của tôi. Thường chúng tôi cũng tìm thấy chỗ đứng chung. Nếu không thì chúng tôi sẽ tiếp tục thảo luận và điều đình.” Thật là khác xa với hai cựu Tổng Thống Barack Obama và George W. Bush. Bà đã tìm được người đồng điệu ở ông Obama trí thức, nhưng bà vui vẻ đến thăm hai ông bà Bush ở Texas và tìm thấy đức tin và sự chân thành của ông bà Bush đáng mến. Không phải là ông Trump và bà Merkel không cố gắng tạo một mối liên lạc. Lần thứ nhì bà viếng thăm Tòa Bạch Ốc vào Tháng Tư, 2018, tổng thống mời bà đi thăm dinh thự, kể cả phòng ngủ của cố Tổng Thống Lincoln, khi ông tìm cách lấy lòng bà. Nhưng ông hành động như là thái độ tử tế của ông có thể có ảnh hưởng tốt ngay khi ông đang tấn công các vấn đề chính sách của Đức. Đối với bà Merkel mọi sự đều dẫn đến kết luận ông là một tổng thống bà không tin cậy nổi. Vài tuần sau cuộc viếng thăm ở Tòa Bạch Ốc, ông nói – hoàn toàn vô căn cứ – là tội ác ở Đức là “tăng vọt” vì chính sách di dân của bà Merkel. Một tháng sau ông gọi bà là “lệ thuộc vào Nga” vì dự định một đường dẫn khí đốt mới. Hồi Tháng Mười Hai, các viên chức Hoa Kỳ đe dọa không cho Đức tham gia hệ thống chia sẻ tình báo nếu Huawei được phép cung cấp dụng cụ cho hệ thống truyền tin thế hệ thứ 5. Tất cả là một phần của một cuộc tấn công rộng lớn hơn vào trật tự thế giới đa phương vốn đã giữ cho Đức an toàn và làm cho Đức giàu có. Ông Trump càng tấn công thì những khuyến cáo của bà Merkel lại càng bi quan. Sau chuyến viếng thăm Tòa Bạch Ốc lần cuối, thủ tương bắt đầu nhắc đến Cuộc Chiến 30 Năm vốn đã tàn phá Âu Châu hồi thế kỷ thứ 17. Lúc đó, cũng như bây giờ, Âu Châu đã mới được hưởng 70 năm hòa bình ổn định. Và lúc đó, cũng như bây giờ, các lãnh tụ bắt đầu lờ đi những giới hạn vốn đã là nền tảng của hòa bình đó. “Trong chỉ một đòn giáng xuống, toàn thể trật tự trở thành cát bụi,” bà nói trong một hội nghj tôn giáo vài ngày sau khi từ Washington trở về. Và đó là lập trường mà các lãnh tụ của nước Đức ngày càng có về liên hệ xuyên Đại Tây Dương. Ngay cả những khi họ có thể thông qua được những khu vực có thể hợp tác, những vấn đề khó khăn ngày càng khó khăn hơn. Chính sách “áp lực tối đa” của ông Trump về Iran đã làm các viên chức Đức khó khăn duy trì thỏa thuận vốn giới hạn khả năng của chế độ ở Iran sản xuất uranium có thể làm vũ khí sau khi Hoa Kỳ rút lui. Các viên chức Đức ngơ ngác trước điều mà họ thấy là thiếu chiều hướng chiến lược. Với doanh nghiệp Đức tức giận vì phải đầu hàng trước đe dọa của Tòa Bạch Ốc, một viên chức nói Iran có thể là vấn đề tạo nên một chia rẽ rộng lớn hơn giữa Hoa Kỳ và Đức. Khi ông Trump siết chặt áp lực, ông đang đẩy Đức vào cánh tay của những cường quốc đối thủ như Trung Cộng và Nga, một hành động tự nó lại làm cho Washington thêm bực tức. Có lẽ thí dụ nổi bật nhất là vụ đường ống dẫn Nord Stream 2 vốn sẽ bơm 55 tỷ mét khối khí đốt một năm dưới biển Baltic từ Nga sang Đức. Các viên chức của phủ thủ tướng Đức sửng sốt hồi Tháng Hai trước cố gắng phối hợp ngoại giao của Hoa Kỳ để hủy bỏ dự án và nay Hoa Kỳ đang đe dọa cấm vận những công ty liên hệ. Thứ Trưởng Ngoại Giao Niels Annen của Đức nói với một hội nghị ở Berlin hôm tháng rồi: “Chúng ta luôn có cường quốc đòi thay đổi luật chơi. Điều mới là một quốc gia thực sự đã tạo nên những luật chơi này nay lại đặt vấn đề về chúng.” Tình hình còn tệ hơn vì ông đại sứ. Tâm điểm của chính sách ngoại giao của tổng thống ở Đức là ông Richard Grenell, một người tín cẩn và một cựu phân tích cho Fox News, và là một người có tài gây sự nhưng lại được tổng thống tín nhiệm. Khi ông đại sứ công khai nhục mạ nước chủ nhà thì thật khó có ai có cảm tình với quốc gia mà ông đại diện. Và vì thế bà Merkel cảm thấy ngày càng đi dần tới một thế giới trong đó Đức không còn có thể trông cậy vào Hoa Kỳ nữa. Tháng Mười Một năm ngoái, bà đề nghị một quân đội cho Âu Châu, mà trước đây, qua sự chống đối của Anh đại diện cho Hoa Kỳ, đã không thành hình nổi. Bà đã bất chấp những đe dọa mà hầu hết chỉ là xuông của tổng thống về Huawei, từ chối cấm công ty khỏi hệ thống của Đức. Và đường ống dẫn khí đốt từ Nga đã khởi công. Đó không phải là một thế giới bà muốn và cũng không phải là một thế giới bà chào đón. Khi bà ý thức được trách nhiệm của bà là xây dựng thế giới đó trên chuyến bay từ Quebec về, bà bị cú “shock.” Bà tránh phóng viên trên phi cơ cho đến khi hạ cánh ở Berlin. Rồi bà leo lên xe đi thẳng. Nhưng với bản chất của bà, bà sẽ cố gắng xây dựng thế giới đó với hết khả năng của mình vì tương lai của nước Đức và vì tương lai của Âu Châu./.
......

TQ kêu gọi Đức sửa ‘sai’ vì cho 2 nhà hoạt động Hong Kong tị nạn

Ray Wong, 25 tuổi, là một trong hai nhà hoạt động người Hong Kong bị buộc tội bạo loạn liên quan đến một cuộc biểu tình biến thành bạo lực vào tháng 2 năm 2016. Trung Quốc đã đệ trình “kháng nghị nghiêm khắc” với Đức sau khi nước này cấp tư cách người tị nạn cho hai nhà hoạt động Hong Kong đối mặt với cáo buộc bạo loạn ở thành phố do Trung Quốc cai trị, đòi Đức sửa chữa “sai lầm” của mình, thông tấn xã nhà nước Tân Hoa Xã đưa tin ngày thứ Bảy. Tân Hoa Xã cho biết văn phòng Hong Kong của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã triệu tập Quyền Tổng lãnh sự Đức ở Hong Kong David Schmidt tới để họp khẩn vào ngày thứ Sáu, nơi một đại diện bày tỏ “sự bất mãn mạnh mẽ và sự phản đối kiên quyết.” Hai nhà hoạt động Hong Kong - Ray Wong, 25 tuổi và Alan Li, 27 tuổi - từng là thành viên của Hong Kong Indigenous, một nhóm ủng hộ Hong Kong độc lập khỏi Trung Quốc. Họ bị buộc tội bạo loạn liên quan đến một cuộc biểu tình biến thành bạo lực vào tháng 2 năm 2016. Hai người họ, sau đó bỏ không dự phiên tòa xét xử và trốn sang Đức vào năm 2017 qua ngả Đài Loan, nói với Reuters trong tuần này họ đã được cấp tư cách người tị nạn ở Đức vào tháng 5 năm 2018. “Trung Quốc kêu gọi phía Đức thừa nhận sai lầm của mình và thay đổi đường hướng, và không chấp nhận và dung túng tội phạm, và can thiệp vào các vấn đề nội bộ của Hong Kong và Trung Quốc,” Tân Hoa Xã nói. Lãnh sự quán Đức tuần này nói rằng họ có biết chuyện hai người dân Hong Kong đang ở Đức, dù họ không thể cung cấp chi tiết về các trường hợp cá nhân. Các nhà hoạt động Hong Kong ngày càng tỏ ra thách thức trong những năm gần đây, lo ngại về sự can thiệp từ Bắc Kinh bất chấp lời hứa dành cho thành phố này quyền tự chủ đặc biệt sau khi Hong Kong được trao trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997. Hàng chục nhà hoạt động đã bị bỏ tù về các cáo buộc khác nhau bao gồm khinh thị tòa án và gây rối nơi công cộng. Những người chỉ trích nói rằng chính quyền Hong Kong đưa ra những cáo buộc như vậy để kìm hãm quyền tự do ngôn luận và hội họp. VOA - Châu Á-Thái Bình Dương
......

Kỷ niệm 70 năm ban hành - Nhận xét tổng quát Hiến Pháp CHLB Đức

16/02/2019 (DĐVN21) - LTS: Vào tháng 5 tới đây, nước Đức sẽ kỷ niệm 70 năm ban hành bản Hiến Pháp mang tên" Luật cơ bản". Được thông qua năm 1949, "Luật cơ bản" ban đầu dự định chỉ mang tính cách tạm thời vì các nhà soạn thảo coi sự chia đôi giữa Tây và Đông không phải là vĩnh viễn. "Luật cơ bản" theo thời gian và qua các sửa đổi, cuối cùng đã trở thành bản hiến pháp cho toàn nước Đức sau ngày thống nhất Đông và Tây Đức, nó xác định các quyền cơ bản mà mọi công dân Đức đều có thể tiếp cận được. Điều hết sức quan trọng là ngay trong lời nói đầu, bản hiếp pháp này đã nhấn mạnh rằng „Phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan nhà nước".  Bài sau đây đưa ra một số nhận xét về bản hiến pháp này. *** Con đường dân chủ hoá   Nước Đức có cả một đoạn đường dài tiến tới dân chủ . So với các quốc gia láng giềng, Đức đã thay đổi chính thể nhiều lần . Sau thề chiến thứ nhất (1914-1918), chính thể quân chủ lập hiến được thay thê bằng chính thể cộng hòa Weimar (1919-1933) mở đầu cho tiến trình dân chủ hóa nước Đức. Cộng hòa Weimar tồn tại được 14 năm bị độc tài quốc xã của Hitler (Nationalsozialismus), một biến thể của độc tài Phát xít tiếm quyền vào năm 1933. Quốc xã đưa Đức vào thế chiến thứ hai (1939-1945) và sau khi bị bại trận chế độ độc tài quốc xã (1933-1945) sụp đổ. Từ năm 1945,  Đức bị Tứ cường chiến thắng (Anh, Pháp Mỹ và Liên xô ) chiếm đóng và chia Đức thành 4 vùng . Ba vùng miền Nam, Bắc và Tây do Anh, Mỹ và Pháp quản lý . Vùng Đông do Liên xô cai trị.  Năm 1948 ba đông minh phương Tây muốn Đức có một bản Hiến pháp để tổ chức lại cơ cấu nhà nước. Vào ngày 01/09/1948 tại Bonn, Hội đồng nghị viện (parlamentarischer Rat) thay vì Hội đồng lập hiến (verfassungsgebende Versammlung) được triệu tập và thông qua một văn kiện pháp lý không gọi là Hiến Pháp (Verfassung) mà là „Luật cơ bản“ (Grundgesetz - GG). 65 đại biểu của các Nghị viện tiểu bang tham dự Hội nghị này. Ngày 23. 05. 1949 Konrad Adenauer với tư cách chủ tịch Hội đồng Nghị viện công bố ban hành Luật căn bản. Ngày này cũng được nhìn nhận là ngày thành lập Cộng hòa Liên bang Đức (BRD)với thủ đô Bonn. Dựa trên văn kiện pháp lý, các cuộc bầu cử đầu tiên được xúc tiến. Bầu Nghi hội liên bang (Bundestag) gọi là Quốc hội hay Hạ Nghị Viện diễn ra vào ngaỳ 14/08/1949. Kế tiếp 07/09/1949 lập Hội đồng Liên bang (Bundesrat) hay Thượng Viện. Ngày 12/09/1949 bầu Nhà Báo Theodor Heuss, chủ tịch đảng Dân chủ Tự do FDP làm Tổng thống liên bang (Bundespräsident) và vào ngày 15/09/1949 bầu cựu thị trưởng thành phố Köln (Cologne) Konrad Adenauer, chủ tịch Liên minh Dân chủ Thiên chúa giáo CDỤ vào chức vụ Thủ tướng . Tại Đông Đức vào ngày 07/10/1949 Ủy ban quân quản Liên xô dựng lên một chế độ độc tài xã hội chủ nghĩa với danh xưng Cộng hòa dân chủ Đức (DDR) do đảng thống nhất xã hội chủ nghiã Đức (SED)câm quyền. Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ (9. 11. 1989) chế độ cộng sản Đông Đức cáo chung và nước Đức thống nhất vào ngày 03/10/1990. Nước Đức nhận lại chủ quyền toàn vẹn, kết thúc 45 năm bị Tứ cường chiếm đóng và nhân dân hai miền Đông-Tây cùng nhau chung sức phát triển một quốc gia dân chủ hiến trị . Quá trình lập hiến Sau cách mạng tháng 2 năm 1848 của Pháp, ở Đức cũng như nhiều nước Châu Âu khác, nhiều cuộc biểu tình, đấu tranh chống phong kiến đã diễn ra mạnh mẽ. Hiến pháp nhà thờ thánh Phao lô (Paulskirchenverfassung) hay còn được gọi là Hiến pháp Frankfurt của Phổ được thông qua bởi một Quốc hội lập hiến vào ngày 28/03/1849. Hiến pháp Frankfurt là bản hiến pháp dân chủ của toàn nước Đức, dự kiến một hệ thống chính trị theo chính thể quân chủ lập hiến, ghi nhận,  bảo vệ quyền con người và chống lại sự lạm quyền của nhà nước. Các quyền cơ bản cuả công dân có thể kháng cáo trước toà án . Năm 1871 dưới thời Thủ tướng Bismark, Hiến pháp vương quốc Bismark (Bismarcksche Reichsverfassung) được ban hành. Hiến pháp này chỉ đề cập đến vấn đề tổ chức nhà nước và hoàn toàn không nêu ra những quyền cơ bản của công dân. Thế chiến thứ nhất (1914-1918) chấm dứt,  Đức bại trận chấp nhận Hoà ước Versailles. Một bản Hiến pháp mới được soạn thảo, thông qua ở thành phố Weimar, gọi là Hiến pháp cộng hoà Weimar (Weimarer Verfassung) có hiệu lực từ ngày 14/8/1919. Với Hiến pháp Weimar, Đức lần đầu tiên trở thành một quốc gia cộng hoà dân chủ đại nghị. Chính thể Weimar là chính thể hỗn hợp mang đặc tính của Tổng thống chế và Đại nghị chế. Về mặt tổ chức quốc gia, Hiến pháp Weimar phân định cấu trúc liên bang và các tiểu bang cũng như xác định tính chất pháp lý, nhiệm vụ của các thiết chế hiến định (Verfassungsorgane) Hạ viện, Thượng viện, Tòa án, Tổng thống và Chính phủ. Trong Hiến pháp này, các quyền căn bản được quy định rõ ràng như quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng,  quyền tự do kinh doanh, bất khả xâm phạm nơi cư ngụ, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do biểu tình, quyền tự do bầu cử,  quyền bình đẳng nam nữ, quyền sở hữu, quyền thừa kế . Luật Cơ Bản cuả Liên bang cộng hoà Đức (Grundgesetz für die Bundesrepublik) được phê chuẩn tại Bonn và có hiệu lực từ ngày 23/05/1949 . Từ Luật cơ bản được dùng thay vì hiến pháp để chỉ tính tạm thời chỉ có giá trị cho Tây Đức, và một hiến pháp mới sẽ thay thế khi nước Đức thống nhất. Dưạ trên những nội dung tiến bộ cùa Hiến pháp cộng hòa Weimar và Hiến pháp Frankfurt cũng như tiếp thu những kinh nghiêm trong quá trình lập hiến, Luật cơ bản được soạn thảo có hệ thống mẫu mưc phù hợp điều kiện cuả đất nước. Nội dung Luật cơ bản hay Hiến pháp CHLB Đức Luật cơ bản có 146 Điều, chia thành 11 Chương như sau: Lời nói đầu 1. Các quyền cơ bản từ Điều 1 đến 19 2. Liên bang và Tiểu bang từ Điều 20 đến 37 3. Quốc hội –Hạ Viện từ Điều 38 đến 49 4. Thượng Viện từ Điều 50 đến 53 4a. Ủy ban hỗn hợp từ Điều 53a 5. Tổng thống từ Điều 54 đến 61 6. Chính quyền liên bang từ Điều 62 đến 69 7. Hành pháp liên bang từ Điều 70 đến 82 8. Thi hành luật và hành chính liên bang từ Điều 83 đến 91 8a. Nghiã vụ chung và hợp tác hành chính từ Điều 91a đến 91e 9. Tư pháp từ Điều 92 đến 104 10.  Tài chính từ Điều 104a đến 115 10a. Quốc phòng từ Điều 115a đến 115l 11.  Quy định chuyền tiếp và cuối cùng từ Điều 116 đến 146 Sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ và nước Đức thống nhất 3. 10. 1990, Luật cơ bản trở thành Hiến pháp của toàn nước Đức với thủ đô Bá Linh (Berlin). Ý nghĩa Hiến Pháp 1. Hiến pháp là khởi nguồn của hệ thống chính danh Hiến pháp thường được hiểu là một trật tự pháp lý cơ bản giới hạn quyền lực, ràng buộc trách nhiệm nhà nước và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân. Đó là tổng thể tất cả các qui phạm qui định trật tự pháp lý cơ bản của nhà nước, đặc biệt là các vấn đề hình thức nhà nước, cơ chế xác lập các cơ quan nhà nước tối cao và bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên Hiến pháp Đức không đơn thuần chỉ là bản điều lệ tổ chức quốc gia, ngoài các điều khoản quy định chính thể cộng hoà, dân chủ, cấu trúc liên bang, các cơ quan liên bang, thẩm quyền tư pháp, hành chính, bầư cử, bổ nhiệm. . . Hiến pháp còn làm rõ nguồn gốc chính danh cho sự cai trị cũng như thực hiện ý tưởng Nhân quyền, dân quyền. Lời nói đầu (Präambel): “Ý thức trách nhiệm trước Thiên chúa và loài người, với mong muốn phục vụ hòa bình thế giới trên tư cách là một thành viên bình đẳng trong một Châu Âu liên hợp, thông qua cơ quan lập hiến của mình, nhân dân Đức đã tự ban hành Luật căn bản này” đã thể hiện tinh thần tự chủ, tự ý thức, tự trách nhiệm và quyết định ý muốn của một dân tộc tự do không phải xin phép người nào dù đất nước đang bị chiếm đóng. Luật pháp tân tiến của Phương Tây được hiểu là những kết quả thể hiện ý muốn tự do cuả công dân. Tuyên xưng „ý thức trách nhiệm trước Thiên chúa“ trong Lời nói đầu không có ý nghĩa đề cao Thiên chúa giáo và phân biệt các tôn giáo hay tín ngưỡng khác, mà các nhà kiến tạo Hiến pháp muốn nhấn mạnh bản sắc văn hoá mà đất nước Đức xây dựng và phát triển dựa trên Thiên chúa giáo. Nhà nước không thể thờ ơ một khi gốc rễ tôn giáo và tinh thần của dân tộc bị suy yếu và hiểm nguy.  2. Hiến định các quyền cơ bản Điều đầu tiên, trang trọng nhất của Luật Cơ bản của Đức là quy định về nhân phẩm: Điều 1 [Nhân phẩm – nhân quyền – giá trị pháp lý của các quyền cơ bản]  „Phẩm giá con người là bất khả xâm phạm. Tôn trọng và bảo vệ nó là nhiệm vụ của tất cả các cơ quan nhà nước.  Nhân dân Đức do đó thừa nhận các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người như là cơ sở của mọi cộng đồng, của hòa bình và công lý trên thế giới. Các quyền cơ bản sau đây sẽ ràng buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp như luật có thể áp dụng trực tiếp“.  Các quyền cơ bản từ điều 2 tới 19 cũng là những quyền công dân và quyền cơ bản tư pháp được thể hiện có hệ thống, mẫu mực, đầy đủ và rõ ràng. Các điều này đảm bảo con người hành sử tự do để thăng tiến. Điều 2 [Tự do cá nhân] Điều 3 [Bình đẳng trước pháp luật] Điều 4 [Tự do tín ngưỡng và lương tâm] Điều 5 [Tự do ngôn luận] Điều 6 [Hôn nhân - gia đình - trẻ em] Điều 7 [Hệ thống giáo dục] Điều 8 [Tự do hội họp] Điều 9 [Tự do lập hội] Điều 10 [Bảo mật thư tín, bưu chính và viễn thông] Điều 11 [Tự do đi lại] Điều 12 [Tự do nghề nghiệp] Điều 13 [Bất khả xâm phạm nhà riêng] Điều 14 [Tài sản - thừa kế - tước quyền sở hữu] Điều 15 [Xã hội hóa] Điều 16 [Quốc tịch - dẫn độ] Điều 16a [Quyền tị nạn] Điều 17 [Quyền khởi kiện] Điều 17a [Hạn chế quyền cơ bản trong các trường hợp cụ thể] Điều 18 [Tước quyền cơ bản] Điều 19 [Hạn chế các quyền cơ bản – các cơ chế pháp lý] “Nhân phẩm là bất khả xâm phạm” phản ánh đầy đủ tính nhân bản, tính dân tộc và tính thời đại của Hiến pháp Đức. Những hành vi của công quyền như bắt người làm nô lệ, tra tấn, phân biệt đối xử, làm nhục, từ chối cung cấp những điều kiện sống tối thiểu của một con người đều là những hành vi xâm phạm nhân phẩm và vi hiến. Tất cả mọi người đều được bảo vệ nhân phẩm, không phân biệt người đó là ai, trẻ em hay người trưởng thành, người bị tâm thần hay tội phạm, Không chỉ việc tử hình bị coi là vi phạm nhân phẩm con người, mà ngay cả hình phạt tù chung thân (die lebenslange Freiheitsstrafe) không chú ý đến khả năng hoàn lương của con người cũng bị coi là vi phạm nhân phẩm . 3. Xây dựng một chế độ đại nghị, dân chủ, pháp trị và đa đảng Điều 20 [Những nguyên tắc hiến định - bảo vệ trật tự hiến pháp]  „Cộng hòa Liên bang Đức là một nhà nước liên bang dân chủ và xã hội.  Mọi quyền lực của các cơ quan nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Quyền lực đó được nhân dân thực hiện trong bầu cử, biểu quyết và thông qua các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp cụ thể.  Cơ quan lập pháp sẽ bị ràng buộc vào hệ thống hợp hiến, hành pháp và tư pháp vào luật pháp. “ Sự tổ chức ở Liên bang và các tiểu bang được thực hiện theo những nguyên tắc quy định trong điều 20 của Luật cơ bản: Cộng hoà, Dân chủ, Pháp trị xã hội và liên bang, Các nguyên tắc này sẽ chỉ định thiết lập các cơ quan hiến định, với thẩm quyền, phân quyền, kiểm soát và cân bầng nhau. Pháp trị - Ràng buộc các cơ quan công quyển vào Hiến pháp và luật pháp. - Phân quyền, kiểm soát và cân bằng các quyền Hành pháp, Lập pháp và Tư pháp . - Giao quyền thẩm tra các hành vi của Hành pháp và Lập pháp cho các thẩm phán. - Thẩm phán độc lập và chỉ tuân thủ theo pháp luật - Cấm hồi tố . - Tự do cá nhân chỉ có thể bị hạn chế dựa trên luật pháp. Cấm truy bức và tra tấn người bị giam giữ . - Huỷ bỏ án tử hình Cộng hoà Quốc gia không quy chiếu theo ý thức hệ, tôn giáo, hay vua chúa . Dưới chính thể Cộng Hoà, nhân dân bầu lãnh đạo với nhiệm kỳ giớí hạn thay vì lãnh đạo được thừa kế hoặc tuyển chọn và tại vị cả đời như trong chính thể độc đảng, thần quyền, quân Chủ. - Chính quyền được lập ra sau cuộc bầu cử với một nhiệm kỳ giới hạn. Dân chủ - Nguyên tắc dân chủ đòi hỏi mọi quyền lực xuất phát từ ý dân thể hiện qua bầu cử hay biểu quyết . - Quốc hội lập chính quyền và có thể giải nhiệm chính quyền - Hiến định vai trò chính đảng trong sinh hoạt chính trị quốc gia. - Công nhận vai trò xã hội dân sự - Tôn trọng tự do báo chí, truyền thông. - Ưu tiên dân chủ đại diện thay vì dân chủ trực tiếp. Trưng cầu dân ý không thực hiện ở bỉnh diện liên bang. Liên bang Nhà mước liên bang bao gồm nhiều tiểu bang . Quy định cấu trúc phản ảnh truyền thống phân quyền, bảo vệ thiểu số và hội nhập xã hội mà vẫn duy trì tính tự trị tương đối, đảm bảo quyền tham dự . Trên bình diện liên bang các tiểu bang tham dự vào việc lập pháp thông qua Thượng viện. Trong Thượng viện Đức không có nghị sĩ do dân bầu mà là các đaị biểu của tiểu bang. Đức hiện nay có 1 chính quyền liên bang ở Bá Linh vả 16 chính quyền tiểu bang Nhà nước xã hội Hiến pháp quy định nguyên tắc xã hội như môt cam kết chính sách xã hội đối với nhả nước. Nhà nước có quyền can thiệp vào sở hữu vỉ mục đích cân bằng xã hội. Nhà nước cởi mở Hiến pháp Đức dự kiến định hướng nhà nước cởi mở cho phép Liên bang chuyển giao thẩm quyền cho các tổ chức xuyên quốc gia hay quốc tế.  Lập Pháp Chính thể nước hiện nay là chính thể cộng hòa đại nghị điển hình trên thế giới. Nghị viện gồm Quốc hội liên bang, gọi là Hạ Viện liên bang (Bundestag) và Hội đồng liên bang, gọi là Thượng viện liên bang (Bundesrat) Hạ Viện Điều 38 [Bầu cử] „ Thành viên của Hạ viện Đức được bầu từ các cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Họ đại diện cho toàn dân, không bị ràng buộc bởi các chỉ đạo hoặc hướng dẫn và chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm mình. Mọi người đã đến tuổi 18 sẽ được quyền bỏ phiếu, người nào đã đạt tuổi trưởng thành đều được bầu. “ Điều 39 [Nhiệm kỳ - Triệu tập] „Hạ viện được bầu theo nhiệm kỳ 4 năm. Nhiệm kỳ của nó kết thúc khi Hạ viện mới được triệu tập“. Thượng Viện Điều 50 [Các chức năng] „Các Bang sẽ tham gia, thông qua Thượng viện, vào hoạt động lập pháp, hành chính của Liên bang và các vấn đề liên quan đến Liên minh Châu Âu. “ Điều 51 [Thành phần] „Thượng viện sẽ bao gồm các thành viên của chính quyền các Bang, các Bang bổ nhiệm và triệu hồi các thành viên đó. Các thành viên khác của các chính quyền đó có thể hoạt động thay thế. Mỗi Bang sẽ có tối thiểu 3 phiếu bầu; các Bang có hơn 2 triệu dân sẽ có 4 phiếu, các Bang có hơn 6 triệu dân sẽ có 5 phiếu, và các Bang hơn 7 triệu dân sẽ có 6 phiếu. “ Về hành pháp, Hiến pháp có hai thiết chế Tổng thống liên bang Điều 54 [Bầu cử Tổng Thống Liên Bang] „Tổng thống Liên bang sẽ được bầu bởi Hội nghị Liên bang (Bundesversammlung) mà không qua tranh luận. Bất kỳ công dân Đức đủ điều kiện bầu cử Hạ viện và đủ 40 tuổi có thể ứng cử. Nhiệm kỳ của Tổng thống Liên bang là 5 năm. Việc tái cử nhiệm kỳ chỉ được phép một lần. Hội nghị Liên bang sẽ bao gồm các thành viên của Hạ viện và một số tương đương thành viên được bầu bởi nghị viện các Bang trên cơ sở đại diện tỷ lệ. “ Thủ tướng liên bang (Kanzler) Điều 63 [Bầu cử Thù Tướng Liên Bang] „Thủ tướng liên bang được Hạ Viện bầu không cần thảo luận, theo lời yêu caầu cuả Tổng Thống liên bang „ Điều 67 [Phiếu bất tín nhiệm]  „Phiếu bất tín nhiệm Hạ Viện có thể tuyên bố bẫt tín nhiệm Thủ Tướng liên bang bằng cách bầu người kế nhiệm với đa số phiếu thành viên Hạ Viện và thỉnh cầu Tổng Thống sa thải Thủ Tướng“. Theo Hiến Pháp, Tổng thống liên bang không có nhiều quyền hành. Tổng thống liên bang là một thiết chế đại diện, không được nhân dân bầu trực tiếp mà được bầu thông qua Hội nghị liên bang (Bundesversammlung) . Thủ tướng thực tế là người lãnh đạo chính trị đất nước. Nhưng Thủ tướng không thể cai trị một mình nên phải tìm cách dung hoà hay hợp tác với các chính đảng khác để có đa số trong Quốc hội. Một nền dân chủ hoạt động hữu hiệu không thể thiếu các chính đảng. Vai trò chính đảng được hiến định rõ trong Điều 21 [Đảng phái chính trị] „ Các đảng chính trị tham gia vào sự hình thành của ý chí chính trị của nhân dân. Chúng được tự do thành lập. Tổ chức nội bộ của các đảng phải phù hợp với nguyên tắc dân chủ. Các đảng chính trị phải chịu trách nhiệm công khai về tài sản, các nguồn lực và việc sử dụng các quỹ của mình „.  Tư Pháp Quyền lực Tư pháp được trao cho các Thẩm phán. Quyền lực đó được thực thi bởi Toà án Hiến pháp liên bang (Bundesverfassungsgericht), các toà án liên bang và toà án tiểu bang. Toà án Hiến pháp liên bang Tòa án Hiến pháp liên bang là một thiết chế bảo vệ Hiến pháp và bảo vệ nền dân chủ (wehrhafte Demokratie) ở Đức. Tầm quan trọng đặc biệt của Tòa án Hiến pháp Liên bang được thể hiện trong điều 31 Luật Tòa án Hiến pháp Liên bang: “ Các phán quyết của Tòa án Hiến pháp Liên bang là bắt buộc đối với các cơ quan hiến pháp của liên bang và tiểu bang cũng như đối với tất cả các tòa án và cơ quan nhà nước“. Tòa án hiến pháp liên bang có hai chức năng : Chức năng thứ nhất, Tòa án hiến pháp liên bang là một cơ quan có chức năng xét xử như các Tòa án khác (Theo các Điều 92, 93, 94, 97 Luật cơ bản ). Điều 92 qui định: “Quyền xét xử được trao cho thẩm phán”. Điều này có nghĩa rằng ở Đức, thẩm phán luôn nhận được sự tin tưởng tuyệt đối và cũng nhận lấy trách nhiệm to lớn trước nhà nước và xã hội. Qui định này được bổ sung bởi Điều 97 “Khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo luật”. Chức năng thứ hai, theo Điều 1 Khoản 1 Luật toà án Hiến pháp liên bang, Tòa án hiến pháp liên bang là một thiết chế hiến định (Verfassungsorgan) giống như các thiết chế khác ở liên bang như Hạ viện, Thượng viện, Tổng thống liên bang và Chính phủ liên bang . Hai chức năng này tạo nên vị trí độc lập của Tòa án hiến pháp liên bang trong hoạt động xét xử.  Quốc gia cởi mở Hiến pháp Đức dự kiến định hướng nhà nước cởi mở cho phép Liên bang chuyển giao thẩm quyền cho các tổ chức xuyên quốc gia hay quốc tế như Liên minh Âu châu EU và Minh ước bắc đại tây dương NATO hay Toà án quốc tế. Nhờ vậy Cộng hoà liên bang Đức đã nhanh chóng hội nhập trở laị Cộng đồng các quốc gia dân chủ và văn minh. Nay Cộng hòa liên bang Đức là một quốc gia có ảnh hưởng rất lớn ở châu Âu, là đối tác quan trọng trên phạm vi toàn cầu. Nước Đức là một thành viên sáng lập Liên minh châu Âu (EU) và là nước đông dân nhất trong khối. Cùng với 17 thành viên EU khác, Đức xây dựng Khu vực đồng Euro, một liên minh tiền tệ. Đức còn là thành viên của UNO (Liên hiệp quốc), của OECD (Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển), của NATO (Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương), của tổ chức G7 (Bảy nước kinh tế hàng đầu thế giới gồm Mỹ, Canada, Nhật, Đức, Anh, Pháp, Ý) và tổ chức G20 (Hai mươi nước công nghiệp phát triển của thế giới). Tính hiệu quả của Hiến pháp trong thực tiễn chính trị tại Đức Hiến pháp là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất . Tất cả việc tổ chức và hoạt động của nhà nước phải được đặt trên cơ sở Hiến pháp. Hiến pháp đặt ra nhửng quy định cho guồng máy chính trị quốc gia và tính hiệu quả của Hiến pháp chỉ có thể xác nhận khi những quy định được tuân thủ trong thực tế. Quy định bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Hiến pháp CHLB Đức thừa nhận nhân quyền và dân quyền. Các quyền này ràng buộc các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp như luật phải tôn trọng và bảo vệ. Nếu bất cứ ai bị các cơ quan công quyền xâm hại các quyền cơ bản đều có quyền khởi kiện tại Toà án. Quy định xây dựng guồng máy chính trị-hành chính quốc gia Hiến pháp đề ra sáu nguyên tắc căn bản cho việc tổ chức nhà nước: Pháp trị, cộng hoà, dân chủ, liên bang, xã hội và cởi mở. ̀Quy định này được tuăn thủ vả sinh hoạt chính trị đã tạo ra một chế độ có bốn đặc điểm: 1. Một nền dân chủ hiến trị . Theo đó phạm vi hoạt động chính trị bị luật pháp và hiến pháp được diễn giải bởi Toà án hiến pháp liên bang giới hạn . Phương châm „cai trị cùng thẩm phán“ trong thực tế đã bị phương châm „cai trị thông qua thẩm phán“ thay thế. 2. Một sự pha trộn dân chủ đa số với dân chủ thương thảo. Vì cấu trúc liên bang-tiểu bang vả khó khăn lập chính quyền hay thông qua dự luật nên các chính đảng câm quyền vả đối lập phải tỉm giải pháp đồng thuận. 3. Đức không chỉ là nhà nước đa đảng mả cỏn lả nhả nước của Hiệp hội xã hội dân sự. Nhà nước chuyển giao một số trách nhiệm cho hiệp hội và đổng thời ràng buộc các hiệp vào các cơ quan lãnh đạo. 4. Nhà nước nửa dân chù, nửa chủ quyền vì định hướng cởi mở Thay lời kết - Các quyền cơ bản trong Hiến pháp bao gổm nhân quyền và dân quyền là những quyền có thực chất và sức mạnh thi hành. - Các định hướng cơ bản cùa Hiến pháp đã góp phần kiến tạo một quốc gia thực sự dân chủ, pháp trị và xã hội - Toà án Hiến Pháp có uy quyền đảm bảo sự thực thi luật pháp và tính độc lập của toà án Luật cơ bản của CHLB Đức đến nay đã trải qua lịch sử 70 năm (1949 - 2019) đã góp phần xây dựng Đức từ hoang tàn đổ nát sau chiến tranh và thảm họa độc tài trở thảnh một quôc gia hiến trị dân chủ ổn định và tân tiến nên Luật cơ bản được nhân dân Đức chấp nhận là bản Hiến pháp tốt nhất từ trước đến nay dù không thông qua trưng cầu dân ý. Vũ Ngọc Yên  -  <ngocyenvu@gmx.de>
......

Đi tìm một chỗ đứng chung: Người Âu Châu tranh luận

Lê Phan - Người Việt| Liên Hiệp Âu Châu sắp tổ chức một trong những cuộc bầu cử dân chủ lớn nhất thế giới, cuộc bầu cử Quốc Hội Âu Châu (European Parliament, BBT). Với Anh Quốc đang còn chân trong chân ngoài, những phong trào bài Âu Châu vẫn còn đang gia tăng ủng hộ ở các quốc gia thuộc Đông Âu cũ, trong khi bên kia bờ Đại Tây Dương, lần đầu tiên Âu Châu đối diện với một chính phủ Hoa Kỳ không thân thiện, giấc mơ một Âu Châu thống nhất, hòa bình, dân chủ và tiến bộ, đang lâm nguy. Nhưng một số công dân Âu Châu đang tìm cách tạo đối thoại qua một cuộc tranh luận đối diện ở ngay thủ đô Brussels. Hầu hết trong số khoảng trên 500 người tham dự đã đi xe hay bay hơn 500 mile để đến dự – vài chục người đã đi hơn 1.000 mile – sau khi họ được cặp đôi qua Internet với bạn tranh luận từ các quốc gia khác để tham dự một cuộc bàn luận về tương lai của Âu Châu. Triển lãm tại trung tâm nghệ thuật Bozar ở Brussels, Bỉ, về cuộc khủng hoảng di dân ở Âu Châu. (Hình: John Thys/AFP/Getty Images) Cuộc gặp gỡ này, mang cái tên Europe Talks, là đứa con tinh thần của các chủ bút của tờ nhật báo Die Zeit, một tờ báo bảo thủ trung dung lâu đời ở Đức, vốn đã nảy sinh ý kiến này trong khi đang đánh ping pong ngay trong phòng tin. (Xin mở ngoặc trong cố gắng giúp sức khỏe của các nhà báo, vốn nổi tiếng có cuộc sống thiếu lành mạnh, có cơ hội vận động, tòa soạn đã đặt một cái bàn ping pong ngay trong phòng tin.) Mục đích của họ rất đơn giản nhưng đầy tham vọng: làm sao cho người ta bước ra khỏi cái “bong bóng filter” vốn loại bỏ mọi điều hay mọi người không đồng ý ra khỏi ý thức của mình, và liên lạc – trực diện – với những công dân Âu Châu có một quan điểm chính trị khác mình. Tổng chủ bút của tờ Die Zeit, ông Jochen Wegner, kể lại là cuộc thí nghiệm đầu tiên của họ là trong nội bộ nước Đức, nói tiếp, “Chúng tôi nghĩ chắc chỉ có 100 hay 200 người ghi tên, nhưng 12.000 người ghi tên” và họ đến từ khắp nước Đức. Họ bèn quyết định lập lại cuộc đối thoại này nhưng trên toàn Âu Châu. Ông thêm “Điều đang xảy ra hôm nay chưa từng xảy ra trong lịch sử Âu Châu.” Trong khi họ chờ cho chương trình chính thức bắt đầu, một cặp được chọn làm partner Juhani Tanayama từ Helsinki, Phần Lan đến; và Yavor Ivanov từ Sophia, Bulgaria đến, nói chuyện một cách hăng say. Họ đã được cặp đôi với nhau dựa trên những câu trả lời cho một số câu hỏi kể cả “Liên Hiệp Âu Châu có cải thiện cuộc sống của các công dân của họ không?” (90% đồng ý), “Liệu Liên Hiệp Âu Châu có nên tăng giá xăng để giúp bảo vệ môi trường không?” (72% đồng ý), và “Có phải có quá nhiều di dân ở Âu Châu hay không?” (76% không đồng ý). Ông Wegner nói, “Chúng tôi cố nghĩ ra những câu hỏi gây chia rẽ, nhưng nó có vẻ không làm được điều đó.” Ông Ivanov, một chuyên gia kỹ thuật vốn tự nhận mình là say mê về Hỏa Tinh và đi xe đạp, đã leo lên máy bay đến Brussels vì ông muốn có mặt để nói về những vấn đề chung của Âu Châu. Ông nói, “Tôi rất vui sướng là Bulgaria là một phần của Liên Hiệp Âu Châu.” Bulgaria là một trong những nước nghèo nhất của Liên Hiệp, trong khi quê hương của ông Tanayama, Phần Lan, là một trong những nước giàu nhất. Họ không đồng ý về câu hỏi “Các quốc gia giàu hơn ở Âu Châu có nên giúp đỡ những quốc gia nghèo hơn hay không?” (88% những người đến dự nói nên làm.) Tuy Liên Hiệp Âu Châu nên đầu tư một số tiền vào giáo dục và hạ tầng cơ sở, những ngân khoản đó nên phải có điều kiện, ông Tanayama nói, rồi thêm là phải có hậu quả nếu một quốc gia sử dụng sai tiền của Liên Hiệp, và không tuân thủ theo các tiêu chuẩn của Liên Hiệp. Ông Ivanov muốn thấy có thêm tài trợ tài chánh cho các quốc gia nghèo hơn trong Liên Hiệp Âu Châu, nhưng công nhận là tài trợ của Liên Hiệp đã gia tăng tham nhũng ở Bulgaria. Ông nói, “Chúng tôi đang xây dựng hạ tầng cơ sở với đồng tiền của Liên Hiệp, nhưng phẩm chất không tốt lắm vì một nửa số tiền đã đổ vào túi của các tay tài phiệt.” Ông Tanayama gật đầu đồng ý – ngay trước khi cuộc thảo luận chính thức bắt đầu họ đã đồng ý với nhau. Ông nói, “Điều quan trọng là tìm một chỗ đứng chung, một mẫu số chung.” Sau chương trình chào đón chính thức, cô Anne Helgers, một kỹ sư, và ông Anno Muhlhoff, một cảnh sát viên, đều từ Köln, Đức đến, bàn luận về cuộc gặp gỡ đầu tiên trong một quán cà phê. Cô Helgers nói, “Chúng tôi cảm thấy là cả hai chúng tôi đều có lập trường rất khác biệt về một số đề tài, thành ra tôi nói ‘Ờ, có một điều tôi bảo vệ rất mạnh mẽ. Tôi sống với một phụ nữ khác.’” Ông Muhlhoff không ủng hộ hôn nhân đồng tính. Nhưng ông Muhlhoff nói, hơi cảm động, vì cuộc thảo luận “đã làm giảm lập trường cứng rắn của tôi về vấn đề này – chính là vì tôi đặt lập luận của tôi theo một cách làm tổn thương Anne. Cô ấy tử tế nhận lời xin lỗi của tôi. Nó làm cho mọi sự trở thành thân cận hơn.” Cô Helgers nói, “Đối với tôi, nay tôi nghĩ nhiều hơn về truyền thông. Tôi muốn thuyết phục toàn thế giới là những người như tôi, chúng tôi tuyệt vời lắm – nhưng ngay cả nghĩ chúng tôi không đến nỗi xấu cũng là một tiến bộ.” Ông Muhlhoff vội chen vào “Tôi không bao giờ nghĩ cô là xấu.” Bên ngoài hành lang, các partner tranh luận đã bắt đầu chui vào những góc của Trung Tâm Mỹ Thuật, được gọi là BOZAR và là nơi được chọn cho cuộc thảo luận. Chủ trì cuộc ăn mừng cho Âu Châu dân chủ hôm nay, trung tâm này được xây dựng nên trong thời thập niên 1920 do những thế lực chắc chắn là không dân chủ: Nó được xây dựng hầu hết dưới hầm, để cho khỏi cản trở tầm nhìn của nhà vua từ tòa lâu đài nhìn xuống thành phố ở dưới chân. Tựa vào quầy nhận quần áo trong một bồ đồ tây may mắc tiền và cặp mắt kiếng mà có lẽ được gọi là “rất Ý,” ông Giulio Anichini của Rome, Ý, nói chuyện với cô Anastasia Weirich, ngồi xếp bằng trên quầy cho thấy đôi giày Doc Martens. Cô Weirich đi xe từ Aachen, Đức, đến vào buổi sáng. Ông Anichini đón xe lửa Eurostar từ Luân Đôn, nơi ông làm việc. Nghề của họ giống nhau – họ đều là bác sĩ – nhưng họ bất đồng về điều được coi như là câu hỏi gây tranh cãi nhất của hội nghị “Liệu Âu Châu có nên có liên hệ thân cận hơn với Nga hay không?” (53% đồng ý, 46% nói không). Ông Ainichini nói, “Tôi không thích cuộc xâm lăng Crimea.” Cô Weirich công nhận, “Và tôi không có một tầm nhìn khách quan.” Công nhận cô từ Nga đến, cô tiếp, “Gia đình tôi vẫn còn sống ở đó – Tôi muốn có nhiều hợp tác hơn.” Khi cuộc tranh luận kết thúc, những người tham dự tiếp tục câu chuyện của họ, tràn ra đường phố để uống ly cà phê hay ly bia ngay bên ngoài nhà hàng BOZAR, vốn đã được một ngôi sao Michelin cho những món ăn rất dân chủ như bánh pie thịt heo và sự bác bỏ “những món ăn phức tạp một cách vô lý.” Ông Christian Schroller từ Hamburg, Đức, và ông Kurt Strand từ Copenhagen, Đan Mạch, đã bàn luận suốt buổi chiều, vừa mới khám phá là họ bất đồng ý kiến về câu hỏi “Liệu bạn có đồng ý từ bỏ passport quốc gia của bạn để có một passport Âu Châu không?” (80% muốn có passport Âu Châu). Ông Schroller nói, “Tôi hết sức muốn bỏ đi cái cá tính Đức và có một công dân Âu Châu.” Ngay cả ở nước Anh Brexit, có nhiều người Anh giờ đây đang ao ước là họ có một passport Âu Châu để họ có thể từ bỏ Anh Quốc. Lê Phan Nguồn: Người Việt Cãi vã có thành dân chủ?  
......

Liên Minh châu Âu và bầu cử châu Âu 2019

Stadt Gersfeld|   EU là một liên minh chính trị và kinh tế lớn và quan trọng hàng đầu thế giới. EU có 2/5 nước thành viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc, 4/7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới (nhóm G7) và 4/20 nước trong nhóm các quốc gia phát triển G20. EU có nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu với GDP 19.100 USD, là thị trường toàn cầu lớn với dân số trên 512 triệu người (thu nhập bình quân 37.305 USD/người/năm và là nhà đầu tư nước ngoài hàng đầu ở hầu hết các nơi trên thế giới. EU đã đầu tư vào hợp tác phát triển và viện trợ nhân đạo nhiều hơn so với toàn bộ phần còn lại trên thế giới gộp lại. Viện trợ phát triển của EU được cung cấp đến khoảng 150 quốc gia trên thế giới và tập trung vào những nơi nghèo nhất. EU là nhà tài trợ lớn nhất cho viện trợ nhân đạo để chăm sóc cho hàng triệu người bao gồm nam giới, phụ nữ và trẻ em phải rời bỏ chỗ ở vì xung đột, chiến tranh. Năm 2012, Liên minh EU nhận giải Nobel Hoà Bình cho các nỗ lực phát huy Hoà bình, hoà giải, dân chù, và nhân quyền. Liên minh châu Âu hiện bao gồm 28 nước thành viên: Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hoà Lan, Anh Luxembourg, Ireland, Đan Mạch, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan, Tiệp, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Estonia, Latvia, Lithuania, Malta, Cyprus, Bungaria, Romania, Croats. Tiến trình Hội nhập châu Âu Lịch sử sự hình thành của Liên minh châu Âu (the European Union, EU) khởi đầu là bản Tuyên bố Schuman, ngày 09/5/1950 với đề xuất thành lập Cộng đồng than thép Châu Âu. Năm 1951, Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng than thép châu Âu (ECSC) được ký kết với sự tham gia của Pháp, Đức, Ý, Bỉ, Hoà Lan và Luxembourg . Năm 1957, Hiệp ước Roma thành lập Cộng đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu (Euratom) và Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC). EEC hướng tới thiết lập thị trường chung, liên minh thuế quan với sự di chuyển tự do của vốn và lao động. Năm 1967, Hợp nhất ECSC, Euratom và EEC, gọi chung là Cộng đồng Châu Âu (European Communities – EC). Năm 1992, Hiệp ước Maastricht hay còn gọi là Hiệp ước Liên minh châu Âu (Treaty of European Union),thành lập liên minh kinh tế và tiền tệ với một đơn vị tiền tệ chung và một ngân hàng trung ương độc lập. Điều kiện để tham gia vào liên minh kinh tế và tiền tệ (còn gọi là những tiêu chỉ hội nhập): Lạm phát thấp, không vượt quá 1,5%; Thâm hụt ngân sách không vượt quá 3% GDP; Nợ công dưới 60% GDP. Quyền công dân EU cũng được đưa vào lần đầu tiên, cho phép người dân ở các nước trong EU được đi lại tự do giữa các quốc gia thành viên. Hiệp ước Liên minh châu Âu 1992 Hiệp ước này ra đời sau sự sụp đổ cuả các chế độ cộng sàn ở Đông Âu và nước Đức thống nhất, đánh dấu một bước ngoặt trong tiến trình nhất thể hóa châu Âu và dẫn đến việc thành lập Liên minh châu Âu ( EU) thay thế Cộng đồng Châu Âu (European Communities – EC). Năm 2002 đồng Euro đã chính thức được lưu hành trong 19 quốc gia thành viên (còn gọi là khu vực Euro) gồm Pháp, Đức, Áo, Bỉ, Phần Lan, Ireland, Ý, Luxembourg, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Estonia, Latvia, Lithuania, Malta, Slovakia, Slovenia, Hy lạp và Cyprus. Hiện nay, đồng Euro đang có tỷ giá hối đoái cao hơn đồng USD. Năm 2009 ,Hiệp ước Lisbon sửa đổi nội dung của 2 hiệp định chủ chốt quy định bản chất, tổ chức và hoạt động của EU là Hiệp ước Roma (1957) và Hiệp ước Maastricht (1992). Hiệp ước Lisbon lần đầu tiên trao cho EU tư cách pháp nhân “thay thế và thừa kế tư cách pháp nhân của Cộng đồng châu Âu”. Ngoài ra, EU lập ra chức danh Chủ tịch Hội đồng châu Âu và Đại diện cao cấp của EU về Ngoại giao và An ninh (đồng thời là Phó Chủ tịch EC) đứng đầu Cơ quan đối ngoại. Cơ cấu tổ chức của EU EU có 8 định chế quan trọng chính: Hội đồng châu Âu, Hội đồng Bộ trường, Nghị Viện châu Âu, Ủy ban châu Âu, Toà án Công lý Liên minh châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu, Toà Kiểm toán châu Âu, và Cơ quan đối ngoại châu Âu. 1. Hội đồng châu Âu (European Council) Hội đồng châu Âu là cơ quan chỉ đạo chính trị và có nhiệm vụ nhóm họp ít nhất 4 lần trong năm. Hội đồng châu Âu bao gồm Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Chủ tịch Ủy ban châu Âu và một đại diện của mỗi quốc gia thành. Hội đồng châu Âu chủ động xem xét những thay đổi trong các hiệp ước điều chỉnh hoạt động Liên minh châu Âu cũng như xác định mục tiêu và chiến lược cho Liên minh châu Âu. Chủ tịch đương nhiệm của Hội đồng châu Âu: Donald Tusk, cựu thủ tướng Ba Lan.   2. Hội đồng Bộ trưởng (Council of the European Union hoặc Council of Ministers ) Hội đồng Liên minh châu Âu còn được gọi là Hội đồng Bộ trưởng (Council of Ministers) là cơ quan phối hợp chính sách trong các lĩnh vực Kinh tế, xã hội, an ninh và đối ngoại cùng với Nghị Viện châu Âu chấp thuận ngân sách, khuyến nghị EC xây dựng các đạo luật chung và ký kết các thoả ước quốc tế. Tại Hội đồng bộ trưởng,ncác quốc gia thành viên đều cử một bộ trưởng đại diện và luân phiên sau sáu tháng đảm nhận vai trò chủ tịch. Hiện tại chủ tịch là nước Romania.   3. Nghị viện Châu Âu (European Parliament – EP) Nghị viện châu Âu đươc công dân EU bầu trực tiếp. Nhiệm vụ của Nghị viện là phối hợp với Hội đồng Bộ trưởng (hay Hội đồng Liên minh châu Âu) thông qua các đạo luật, thông qua ngân sách, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách của Liên minh châu Âu. Ủy ban châu Âu chịu trách nhiệm trước Nghị viện đối với mọi hoạt động phải có sự chấp thuận của Nghị viện, báo cáo kết quả công tác trước Nghị viện châu Âu. Chủ tịch Nghị viện được bầu bởi các nghị sĩ với nhiệm kì 2 năm rưỡi. Nghị viện có quyền thông qua hoặc bãi miễn các chức vụ ủy viên Ủy ban châu Âu. Chủ tịch Nghị viện châu Âu, được bầu bởi các nghị sĩ với nhiệm kì 2 năm rưỡi. Chủ tịch đương nhiệm: Antonio Tajani (Ý), thuộc Khối Nhân dân Châu Âu từ ngày 17 tháng 1 năm 2017.   4. Ủy ban châu Âu (European Commission – EC) Ủy ban châu Âu là „động cơ của EU“ cơ quan hành pháp hoạt động độc lập, có chức năng xây dựng, kiến nghị các đạo luật của EU, thực thi, áp dụng và giám sát việc triển khai các hiệp ước và điều luật của EU, sử dụng ngân sách chung để thực hiện các chính sách chung của cả khối theo quy định. Về đối ngoại, EC thương thảo các Hiệp định và thỏa ước quốc tế quan trọng giữa Liên minh châu Âu và các quốc gia khác trên thế giới. Ủy ban châu Âu bao gồm 28 uỷ viên đại diện cho 28 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, nhiệm kỳ 5 năm do các chính phủ cử và chỉ bị bãi miễn bởi Nghị viện châu Âu. Chủ tịch Ủy ban châu Âu đương nhiệm: Jean- Claude Junke, cựu Thủ tướng Luxemborurg .   5. Tòa Công lý châu Âu (The Court of Justice) Toà án Eu là cơ quan phán án, có thẩm quyền tư pháp đối với các vấn đề liên quan đến luật pháp của EU. Bao gồm hai tòa chính là: “Tòa sơ thẩm châu Âu” (European General Court) và “Tòa án Công lý châu Âu” (EuropeanCourt of Justice). Tòa án có vai trò độc lập và có quyền bác bỏ những quy định của các tổ chức của Ủy ban châu Âu và Chính phủ các nước thành viên nếu những quy định này bị coi là không phù hợp với luật EU. Hiệp ước Lisbon đã trao hiệu lực pháp lý cho Hiến chương Liên minh châu Âu về những quyền cơ bản vào năm 2009. Điều 1 và 2 Hiến chương Liên minh châu Âu về những quyền cơ bản vào năm 2009. “Nhân phẩm là không thể xâm phạm. Nhân phẩm phải được tôn trọng và bảo vệ. Mọi người đều có quyền được sống. Không một ai bị kết án tử hình hoặc bị xử tử.” Các điều ước đã ký kết giữa các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu công nhận rằng Liên minh châu Âu được “thành lập trên cơ sở tôn trọng những giá trị nhân phẩm, tự do, dân chủ, công bằng, pháp trị và nhân quyền, bao gồm quyền của những người thuộc những sắc tộc thiểu số… trong một xã hội đa dạng, không phân biệt, khoan dung, công lý, đoàn kết và bình đẳng giới.” Trên bình diện thế giới, Liên minh châu Âu cũng thúc đẩy các vấn đề về nhân quyền. Liên minh châu Âu phản đối việc kết án tử hình và đề nghị loại bỏ hình phạt này trên khắp thế giới. Ngoài ra, việc loại bỏ án tử hình cũng là một điều kiện đối với quy chế thành viên Liên minh châu Âu. Tòa Công lý châu Âu bao gồm 28 thẩm phán, đại diện cho 28 quốc gia thành viên EU, do các chính phủ thỏa thuận bổ nhiệm, nhiệm kỳ 6 năm. Chủ tịch của Tòa Công lý châu Âu được bầu bởi các thẩm phán với nhiệm kỳ 3 năm có thể tái bổ nhiệm. Chủ tịch chịu trách nhiệm điều khiển các phiên xét xử cũng như các cuộc thảo luận. Chủ tịch đương nhiệm: Koen Lenaerts (Bỉ).   6. Ngân hàng Trung ương Châu Âu (The European Central Bank) Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) phụ trách về chính sách tiền tệ của khu vực Euro (19 nước thành viên), bao gồm: ổn định giá ấ n định lãi xuất chỉ đạo, ổn định cung tiền, giá trị của đồng Euro, cứu các ngân hàng của các thành viên khu vực sử dụng Euro có nguy cơ đổ vỡ. Điều hành ngân hàng là Ban giám đốc và các chủ tịch ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên. Chủ tịch Ngân hàng trung ương Âu châu đương nhiệm: Mario Draghi (Ý).   7. Tòa kiểm toán châu Âu (The European Court of Auditors) Cơ quan này không có quyền tư pháp nhưng có quyền: kiểm tra các sổ sách kế toán để bảo đảm ngân sách của Cộng đồng được chi tiêu chính xác; lập báo cáo kiểm toán cho mỗi năm tài chính đệ trình Hội đồng và Nghị viện châu Âu, và cho ý kiến về pháp luật tài chính và các hành động chống gian lận.   8. Cơ quan Đối ngoại của châu Âu (European External Action Service) Mục tiêu của Chính sách an ninh và đối ngoại chung (CFSP) là thúc đẩy lợi ích của chính Liên minh châu Âu cũng như của cộng đồng thế giới trong việc xúc tiến hợp tác quốc tế, tôn trọng nhân quyền, dân chủ và pháp trị. Cơ quan Đối ngoại châu Âu (EEAS) được thành lập sau khi Hiệp ước Lisbon có hiệu lực và bắt đầu chính thức hoạt động từ ngày 01/12/2010. Đây là Cơ quan (có nhiều chức năng và nhiệm vụ giống Bộ Ngoại giao) chuyên trách về chính sách đối ngoại và an ninh của châu Âu. Người đứng đầu EEAS là Đại diện cấp cao phụ trách về chính sách đối ngoại và an ninh kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu. EEAS hoạt động hoàn toàn độc lập và có ngân sách riêng, có nhiệm vụ kiến nghị các chính sách về đối ngoại và an ninh để các nước thành viên EU thông qua. Đại diện cao cấp của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh hiện nay, Bà Federica Mogherini. (Ý)   Bầu cử châu Âu 2019 Từ năm 1979, các Nghị sĩ của Nghị viện Châu Âu (EP)được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 5 năm, mỗi nước thành viên có ít nhất 6 ghế và nhiều nhất 96 ghế. Qua 40 năm, Liên minh châu Âu (EU) đã phát triền và mở rộng, nên thành phần của Nghị viện cũng thay đổi nhiều. Trong năm 1979, EU có 9 quốc gia thành viên với 410 Nghị sĩ đã tăng lên 28 thành viên với 751 Nghị sĩ vào năm 2014. EP là Nghị viện đa quốc gia lớn nhất ttrên thế giới. Hiện tại trong Nghị viện có 751 nghị sĩ phân chia theo 8 khối chính trị khác nhau (không phân chia theo quốc tịch). Các nhóm Đảng chính của EP: 1) Khối các đảng Nhân dân châu Âu – EPP (trung hữu): 216 ghế; 2) Khối Xã hội Dân chủ – S&D (trung tả): 185 ghế; 3) Liên minh Tự do và Dân chủ châu Âu – ALDE (tự do): 69 ghế, 4) Đảng Xanh – Green/EFA: 52 ghế; 5) Nhóm Bảo thủ và Cải cách châu Âu – ECR : 77 ghế; 6) Đảng Cánh tả thống nhất châu Âu – GUE/NGL (cực tả): 52 ghế; 7) Nhóm dân tộc và tự do – ENF (dân tuý): 36 ghế 8) Nhóm Tự do Dân chủ châu Âu – EFDD (dân chù,tự do và dân chủ trực tiếp – dân túy): 42 ghế; 9) Nhóm không thuộc khuynh hướng chính trị cụ thể: 20 ghế. Hơn 400 triệu cử tri được kêu gọi tham gia cuộc bầu Nghị viện châu Âu lần thứ 9 cho nhiệm kỳ 2019-2024 diễn ra từ ngày 23. đến 26.5. 2019 tại 28 quốc gia thành viên EU. Riêng Đức cuộc bầu được tổ chức vào ngày 26.05. Đây là cuộc bầu quan trọng nhất của EU. Ngoài vai trò của EP đã được nâng cao ngang tầm với các định chế Hội đồng và Ủy ban châu Âu từ khi thoả ước Lisbon có hiệu lực. Cuộc bầu cử sẽ còn xác định đường hướng và thành phần lãnh đaọ tương lai của các định chế EU (Ủy ban châu Âu, Hội đồng châu Âu, Nghị Viện châu Âu, Ngân hàng Trung ương châu Âu và Đại diện ngoại giao cấp cao) . Cuộc bầu cừ châu Âu 2019 diễn ra trong bối cảnh: Các lực lượng chính trị dân túy, cực hữu chống EU trổi dậy và Anh rút khỏi EU (Brexit). Dân túy trỗi dậy liên kết chống EU Mặc dù phần lớn dân chúng trong các quốc gia thành viên luôn cảm nhận là công dân EU và khu vực EU tương đối ổn định, dù còn tồn tại một số vấn đề (khủng hoảng Euro, nhập cư, ti nạn). Nhưng các chính đảng dân túy theo chủ nghĩa quốc gia cực đoan chống Liên minh EU và toàn cầu hóa đã khai thác những nỗi lo sợ cùa người dân về an ninh, thịnh vượng , phát triển thành những lực lượng đáng kể đang gây áp lực lên các chính đảng dân chủ truyền thống trong các Nghị viện của nhiều quốc gia thành viên. Các cuộc thăm dò dư luận mới nhất cho thấy các đảng dân túy, chống nhập cư ở các nước trong EU đang nhận được nhiều sự ủng hộ. Tại Hungary tỷ lệ ủng hộ đối với đảng cực hữu Fidesz của Thủ tướng Viktor Orbán cùng với đồng minh là đảng Nhân dân Dân chủ Thiên chúa giáo đã đạt trên 60%. Tại Ý, đảng cực hữu Lega của Phó Thủ tướng Matteo Salvini tăng lên mức 30% và tỷ lệ ủng hộ đối với Phong trào dân túy M5S, đối tác của Lega trong liên minh cầm quyền tại Rome, là 27% . Tại Pháp, phong trào dân túy “áo vàng” liên tiếp xuống đường chống đối chính quyền Tổng thống Emmanuel Macron cũng nhận được sự hưởng ứng từ các đảng cực hữu ở Anh, Đức, Hungary, Serbia. Qua nhiều cuộc thăm dò ý kiến, đa số công dân Pháp muốn trưng cầu dân ý tư cách thành viên EU của nước này (Frexit). Mức ủng hộ Macron hiện chỉ còn 20% – mức thấp từ trước đến nay. Tỷ lệ ủng hộ đối với phong trào Cộng hòa Tiến lên (LREM) của Macron hiện ít hơn so với đảng dân túy Tập hợp Quốc gia (RN) của Marine Le Pen. Tại Đức, tỷ lệ bầu đảng cực hữu AfD „Chọn lựa cho nước Đức“ ước chừng trên 10%. Đảng này từng kêu gọi Đức rời khỏi EU, gọi là “Dexit“ chống đồng Euro, nhưng trong thời gian gần đây đẩy mạnh các hoạt động bài ngoại, chống nhập cư, chống Hồi giáo và hiện là đảng đối lập mạnh trong Quốc hội Liên bang Đức. AfD hợp tác với các đảng quốc gia cực hữu khác như Đảng Tự do Áo hay Lega Ý. Cả hai đảng này đều nằm trong liên hiệp cầm quyền tại Vienna và Rome. Trong thời gian gần đây phe cực hữu, dân túy đã có có những nỗ lực liên minh nhằm đạt được các mục tiêu chung trong cuộc bầu cử sắp tới. Phó Thủ tướng Ý, Matteo Salvini đã gặp Thủ tướng Hungary Viktor Orbán và hai bên cam kết thành lập một mặt trận dân túy chung. Salvini và Jaroslaw Kaczynski, lãnh tụ đảng Luật pháp và công lý (PiS)cầm quyền tại Ba Lan đã thỏa thuận thành lập trục Ý – Ba Lan trong Nghị viện mới. Salvini cũng có cuộc gặp với lãnh đạo cực hữu Pháp Marine Le Pen (Tập hợp quốc gia) và Phó thủ tướng dân túy Áo Heinz Christian Strache (Đảng Tự do) bàn về liên minh chống nhập cư. Tác động của Brexit đối với EU Sau kết quả cuộc trưng cầu dân ý ngày 23.06.2016, Nước Anh quyết định sẽ rút khỏi EU . Brexit đang gây ra những tác động to lớn về kinh tế và tài chính cho EU. Nhưng hơn hết nó tạo thay đổi cục diện địa chính trị, lung lay nền tảng quyền lực của châu Âu . Vào năm 1973 Vương quốc Anh gia nhập Liên minh EU.Từ thời điểm đó Anh cùng Pháp và Đức đã tích cực xây dựng và phát triển EU. Anh rời EU sẽ khiến những chương trình mở rộng và hội nhập các quốc gia thành viên trong EU trì trệ và đặc biệt làm vị thế của EU trên thế giới bị suy giảm. Vì thiếu đi một thành viên có chân trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và một cường quốc về quân sự, EU trong tương lai khó có thể đối phó trước những thách thức quốc tế, như cuộc khủng hoảng di cư, chủ nghĩa khủng bố hay cuộc xung đột với Nga.. Brexit là một hình mẫu đi trước thúc đẩy chủ nghĩa hoài nghi châu Âu (Euroskeptics) ở các nước khác trong khu vực và sẽ kéo theo nhiều hệ lụy cho châu Âu. Hai đảng cực hữu Tập hợp Quốc gia (RN) của Marine Le Pen và đảng Tự do của Geert Wilders đang gây ồn ào xáo trộn ở hai nước Pháp và Hoà Lan. Cả hai chính trị gia „ái quốc“ này nhiều lần lên tiếng đòi tiến hành trưng cầu dân ý trong các quốc gia thành viên EU và cảnh báo hội chứng Brexit sẽ tạo ra “một mùa xuân ái quốc” mở đầu cho tiến trình giải thể EU. Thay lời kết Chính sự thắng thế của phong trào dân túy đã dẫn tới việc nước Anh rời khỏi EU. Brexit đã đẩy Anh lâm vào cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cũng như làm vị thế toàn cầu của EU bị suy giảm. Và cũng chính làn sóng dân túy và quốc gia cực đoan đã đưa một doanh nhân lên làm nguyên thủ quốc gia tại Mỹ vào cuối năm 2016 đang khởi động cuộc chiến tranh thương mại với nhiều nước trong đó có Âu châu, khiến tăng trưởng kinh tế thế giới bị kìm hãm. Trước cuộc bầu cử Nghị viện châu Âu sắp diễn ra, giới lãnh đạo chính trị và người dân trong EU rất lo ngại về sự trỗi dậy và liên kết của các đảng dân túy, quốc gia cực hữu. Hệ thống chính đảng ở các quốc gia thành viên EU trong những năm qua đã bị thay đổi sâu rộng. Các đảng dân chủ truyền thống không còn có nhiều hậu thuẫn của quần chúng như trước nên có lẽ không đảng nào đạt được đa số tuyệt đối trong cuộc bầu cử Nghị viện mới để chiếm ưu thế trong các cuộc bầu lãnh đạo EU. Trong Nghị viện mới, các đảng dân túy sẽ tranh cãi, đòi xét laị mọi chính sách liên hệ các vấn đề giới hạn tị nạn, di dân, an sinh xã hội, kiểm soát biên giới, kinh tế, thương mãi, đối ngoại, viện trợ, biến đổi khí hậu. Cuộc bầu cử Âu châu 2019 là cuộc bầu quan trọng nhất của EU và cuộc bầu cử lần này sẽ có nhiều thay đổi ảnh hưởng đến sự đoàn kết châu Âu và có nguy cơ đe doạ cuộc sống của mọi người dân trong liên minh EU. Vũ Ngọc Yên Email: Ngoc Yen Vu <ngocyenvu@gmx.de>
......

Danke Deutschland für 40 Jahre Aufnahme Vietnamesischer Boat – People !

Grußworte der Bundesregierung, des Landes Hessen und der Stadt Frankfurt am Main zur Dankfeier in der Christuskirche in Frankfurt am Main. ------------------------------------------------------------------------------- Lời chào mừng của Giáo Sư Tiến Sĩ Günter Krings, Nghị Viên QH Đức Quốc và là Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ Liên Bang, nhân ngày Kỷ Niệm 40 năm Thuyền Nhân Việt đến nước Đức do Liên Hội NVTN tại CHLB Đức tổ chức ngày 27.04.2019.   Kính thưa quý vị,   Trốn chạy và bị trục xuất ra khỏi quê hương  là một thực trạng trên thế giới. Trên toàn cầu hiện tại, theo báo cáo của Cơ Quan trợ giúp người Tỵ Nạn thuộc Liên Hiệp Quốc, có đến 69 triệu người đang trên đường lánh nạn. Năm ngoái, làn sóng tỵ nạn từ các quốc gia bị chiến tranh tàn phá như Syrien khiến việc thâu nhận những người tìm kiếm sự bảo vệ đã trở thành một tâm điểm trong các cuộc thảo luận chính trị. Nước Đức đã đứng ra nhận trách nhiệm nhân đạo và đã thâu nhận những con người cần được bảo vệ. Vào cuối thập niên 1970 Cộng Hòa Liên Bang Đức cũng đã không làm ngơ trước trước những thống khổ và đau thương của 38 ngàn thuyền nhân Việt, họ đã được nước Đức che chở. Thảm họa tỵ nạn ngày đó, cũng giống như  thảm họa năm 2015 mà chúng ta đã trải qua, đã đưa đến một làn sóng tương trợ trong xã hội  tại Cộng Hòa Liên Bang Đức.   Trước đây 40 năm, vào tháng 12 năm 1978 đã có 163 thuyền nhân Việt được đưa bằng đường hàng không đến Đức, các bạn là những người tỵ nạn đầu tiên đến từ quốc gia nằm ngoài Âu Châu. Những người tỵ nạn, bị chấn thương tinh thần và thể xác qua chiến tranh và khủng bố, các bạn đã  không nói được tiếng Đức và xuất thân từ một nền văn hóa khác. Nhưng nếu bây giờ có ai bảo rằng những yếu tố này làm  cản trở sự hội nhập thì chính các bạn  và con cháu đã chứng minh điều ngược lai. Các bạn đã trở thành  những nhân tố tích cực trong xã hội chúng ta, các bạn  siêng năng làm việc và tự tạo nên thành công tại nước Đức.   Theo dữ liệu của Phòng Thống Kê Liên Bang  năm 2017 có cả thảy 168 ngàn người  Việt và người Đức có nguồn gốc di dân từ Việt Nam sống tại Đức Quốc. Cộng đồng người Việt hải ngoại được hình thành từ nhiều lý do và nhiều con đường di dân. Có một điều chung ở họ là sự thành công đặc biệt về hội nhập trong trường học và trong nghề nghiệp. Những con số chứng minh cho điều này là: 48% người có nguồn gốc di cư từ Việt Nam lấy được bằng Tú Tài tại Đức hay tại Việt Nam và 34% những người  có bằng tốt nghiệp là những người có trình độ Đại Học. Trong số đó giới trẻ - 37% người Việt hải ngoại được sanh ra tại nước Đức thành công vượt bực. 60% con cái của người có nguồn gốc di cư từ Việt Nam học tại trường Trung Học chính thống (2008): nhiều hơn con cái của các nhóm người di dân khác và cũng nhiều hơn con cái cùa người Đức. Quỹ Học Bổng START, quỹ khuyến học đặc biệt cho học sinh giỏi có nguồn gốc di dân, cho biết có một số lượng lớn học sinh nhận học bổng  có nguồn gốc Việt Nam. Người Việt nhập cư mới cũng có nguyện vọng học hỏi cao. Ngày nay Việt Nam thuộc về 20 nước quan trọng nhất có Sinh Viên theo học tại nước Đức; con số người Việt trình luận án Tiến Sĩ ngày càng nhiều.   Đó là những thành công lớn và các bạn có thể làm gương cho các nhóm người nhập cư khác. Hội nhập thành công là kết quả của nhiều yếu tố, nhưng trước nhất vẫn là sự tự thân cố gắng. Chính sách hội nhập tại Đức Quốc làm theo nguyên tắc „ Nhu cầu và khuyến khích „. Chúng tôi mở khóa học ngôn ngữ, thực hiện chương trình hội nhập thị trường việc làm  và hội nhập xã hội là những phương tiện giúp đỡ của chính phủ cho người nhập cư. Vào những thập niên1970 và 1980 cũng đã có những chương trình thành công về khuyến học ngôn ngữ, về học nghề và tu nghiệp, về chăm sóc và tư vấn xã hội cho các thuyền nhân. Các bạn đã trải qua các khóa học này và đạt thành công trong xã hội nước Đức.   Ngày nay các bạn cám ơn nước Đức về sự tiếp nhận, về quê hương yên bình  và về cơ hội để tham gia góp phần. Sự việc đó là trách nhiệm nhân đạo của chúng tôi và nhìn theo chiều hướng hội nhập thành công thì đó cũng là một quyết định làm xã hội nước Đức thêm mạnh mẽ. Chúng tôi cũng xin cám ơn các bạn.   Nhưng vào một ngày như ngày hôm nay không chỉ để đo lường sự thành công và nói lên lời cám ơn. Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau tưởng niệm những người bỏ mình trên con đường trốn chạy ra khỏi Việt Nam. Chúng ta không biết vào thời điểm đó có bao nhiêu người thiệt mạng vì tàu thuyền hư hỏng, vì thiếu lương thực và vì cướp biển. Cùng với thân nhân của họ đang sống tại nước Đức tôi xin được chia buồn với họ. Sự ghi nhớ về thảm họa chiến tranh và hành trình lưu vong, như các bạn đã từng trải nghiệm, là những  chứng minh về ý nghĩa và sự may mắn của hòa bình trên toàn cõi Âu Châu.   Giáo Sư Tiến Sĩ Günter Krings -------------------------------------- Lời chúc mừng nhân dịp Lễ tạ ơn 40 năm của thuyền nhân người Việt Kính thưa Quý quan khách, Thân gửi ông Trịnh-Đỗ Tôn-Vinh, xin chân thành cảm ơn lời mời tham dự sự kiện đặc biệt này. Tôi sẽ rất hạnh phúc nếu như hôm nay có thể tham gia Lễ tạ ơn 40 năm của thuyền nhân người Việt tại tiểu bang Hessen. Thật đáng tiếc là tôi không thể đến được vì một cuộc hẹn khác. Tuy vậy nhưng tôi vẫn được phép gửi đến cho Qúy vị một lời chúc mừng, tôi rất hạnh phúc vì chuyện này. Với phi trường Frankfurt chúng ta có một cánh cửa bước ra thế giới. Mỗi ngày có hàng ngàn du khách từ Đức và thế giới sử dụng sân bay này để đến hay đi. Bốn mươi năm trước, cho Qúy vị phi trường này cũng là một cánh cửa để đi vào một thế giới mới lạ. Từ Đông Nam Á đi vào một Châu Âu xa xôi. Việt Nam vào thời điểm đó đã trải qua vài thập kỷ chiến tranh. Thoạt nhìn thì có thể suy ra là lịch sử của hai nước chúng ta không giống khác nhau mấy. Mặc dù hai nước Đức và Việt Nam có khoảng cách nhiều ngàn cây số, nhưng xuyên qua lịch sử, chúng ta lại có rất nhiều điểm tương đồng. Những tương đồng này không phải lúc nào cũng tích cực, không ít giai đoạn cũng hiện hữu đau thương. Nhưng chính nó đã kết nối chúng ta. Giống như Đức, Việt Nam bị tách ra sau Đệ Nhị Thế Chiến. Sự chia rẽ đất nước thành một miền Bắc Việt Nam có định hướng Chủ Nghĩa Cộng sản và một miền Nam Việt Nam với ý tưởng tự do Tây phương. Và tại Đức, chuyện đó cũng diễn ra với Cộng hòa Liên bang Đức (BRD) và Cộng hòa Dân chủ Đức (DDR). Việt Nam trở thành một đấu trường cho chiến tranh lạnh. Khi nghĩ về chiến tranh Việt Nam, trước mắt tôi hiện ra  hình ảnh của bé gái Kim Phúc đang khóc, em thoát khỏi lần dội bom với những vết phỏng nặng. Hình ảnh này, do nhiếp ảnh gia Nick Uts tình cờ chụp được, đã lan đi khắp thế giới và cho đến ngày hôm nay nó không những tác động nên những cảm xúc mạnh mẽ, mà còn nhắc nhở chúng ta rằng chuyện giống như vậy không bao giờ được phép  xảy ra nữa. Hôm nay Quý vị ở đây tại Frankfurt và cùng nhau tham dự Lễ kỷ niệm 40 năm Thuyền nhân ở tại tiều bang Hessen. Đây là một thời gian dài. Trong bốn mươi năm qua Quý vị đã tìm được công việc, đã mang theo hay tự thành lập gia đình. Tôi thực sự rất vui mừng là nhiều người nhập cư gốc Việt đã bén rễ ở Frankfurt và Quý vị đã xác định Tiểu bang Hessen là quê hương thứ hai của Quý vị. Ngày nay chúng ta lại có những người lên thuyền, họ cố gắng trốn chạy những hoàn cảnh thảm khốc ở đất nước của họ. Các nỗ lực cứu hộ và cứu trợ chưa từng có đối với chúng ta ngày hôm nay cũng vẫn nên xem là mẫu mực. Việc  mà nhiều thành phần của xã hội ngày nay  bắt đầu tranh luận về tính hợp pháp của giải cứu hàng hải một lần nữa cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải luôn nhắc nhở bản thân mình là tất cả chúng ta có thể sống cùng nhau trong một thế giới cởi mở và khoan dung. Lịch sử của  Quý vị là ví dụ tốt nhất. Chuyện mà những thuyền nhân của bốn mươi năm trước hôm nay cùng chung tổ chức  Lễ kỷ niệm ở Frankfurt cho thấy trong nhiều thập kỷ qua chúng ta đã cùng nhau phát triển thành một cộng đồng. Tại đây tôi đặc biệt chân thành cảm ơn Quý vị trong những năm qua đã vì hiệp hội mà cũng là vì công đồng của chúng ta, đã đầu tư  tất cả bao nhiêu công sức. Tôi chúc Quý vị tối nay có một buổi Lễ tạ ơn với diễn tiến thành công và chúc cho bản thân cũng như những công việc trong tương lai của Quý vị mọi điều tốt đẹp! ---------------------------------- Lời chào mừng của thủ hiến tiểu bang Hessen Volker Bouffier Buổi lễ Tri Ân của Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc „ 40 năm Cứu Giúp, Che Chở và cho Quê Hương“ Kính thưa quý vị, nhiều người ở tiểu bang Hessen biết rằng, thế nào là phải rời bỏ quê quán, phải trốn chạy và bị xua đuổi ra khỏi quê hương. Đó là những trải nghiệm mà họ cùng chia xẻ với vô số sinh linh trên thế giới. Khi hội nhập vào một môi trường mới mọi người đều phải có những nỗ lực lớn lao, người dân mới cũng như những người đã sống ở đây. Trong quá trình này những hội đoàn như Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức Quốc đóng một vai trò quan trọng nâng đỡ những đồng hương, mà hôm nay chúng ta nhìn lại lịch sử 40 năm Đức Quốc cưu mang người Việt tỵ nạn. Kính chào thân ái Volker Bouffier Thủ hiến tiểu bang Hessen --------------------------------------- Kính thưa quý vị,   Liên Hội Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Cộng Hòa Liên Bang Đức ngõ lời mời đến tham dự buổi cầu nguyện liên tôn và  tri ân vì nhiều ngườ i Việt tỵ  nạ n (Boat-People) đã được tiểu bang Hessen cũng như thành phố Frankfurt am Main tiếp nhận cách đây 40 năm.   Vì lý do chính trị ng ười việt nam đã trốn bằng đường biển, vượt đại dương bằng những chiếc ghe đánh cá hầu đến được bờ của của xứ ngoài. Những người sống sót của những cuộc  vượt biển này đã được đưa vào các trại tỵ nạn tại các nước châu Á l ân cận. Tại đó, họ đã chờ để được đưa đến các nước định cư thứ ba qua chương trình cứu giúp của Cao Ủy Tỵ Nạn (UNHCR). Dựa trên điều luật đã được ban hành cho các hoạt động về mặt nhân đạo vào năm 1980, theo tỷ lệ phân phối, một số người trong những trại tỵ nạn đã được nhận vào Cộng Hòa Liên Bang Đức. Những người vượt biển (Boat-People) khác đã được các thuyền chuyên biệt cứu vớt trên biển và đưa thẳng về Đức. Cap Anamur là một trong những chiếc thuyền đi cứu quan trọng nhất vào thời đó.   Tính cho đến năm 1990, Cộng Hòa Liên Bang Đức đã đón nhận 45.779 người việt tỵ nạn và thân nhân trong khuôn khổ  Đoàn Tụ Gia Đình. Nhiều người trong con số đó đã đến Frankfurt và đã ở lại thành phố này cho đến ngày hôm nay.   Hôm nay, quý vị đã tề tựu về nhà thờ “Christuskirche” tại Frankfurt để cầu nguyện liên tôn. Riêng sự việc này đã biểu hiện rất rõ sự hội nhập thành công của quý vị trong những năm qua. Trong cương vị Thị Trưởng của thành phố Frankfurt, tôi rất hãnh diện, khi quý vị cảm thấy thoải mái khi sống ở đây.   Hôm nay, quý vị muốn tri ân những người làm việc vô vị lợi đã giúp đỡ và sát cánh với quý vị. Cho đến hôm nay, quý vị vẫn còn giữ được liên lạc với rất nhiều người đó.   Nhân dịp này, tôi muốn cảm ơn quý vị đã cho thành phố Frankfurt am Main, tiểu bang Hessen và nước Đức cơ hội để trở thành quê hương của quý vị. Đất nước này ngày xưa rất xa lạ đối với quý vị, và đại đa số trong quý vị muốn đến một nước tiếp nhận khác. Mặc dù vậy, một khi đã đến tiểu bang Hessen, quý vị đã hội nhập một cách tuyệt hảo. Quý vị là một tấm gương lý tưởng cho sự hội nhập tốt.   Peter Feldmann Thị Trưởng Thành Phố Frankfurt am Main
......

Mạng di động 5G: Đức độc lập với Mỹ và sáng suốt với Trung Quốc

Hôm nay, 19/03/2019, Đức khởi động gọi thầu xây dựng mạng viễn thông, di động siêu tốc thế hệ 5 (5G). Điểm đặc biệt là Berlin không loại trừ trang thiết bị của tập đoàn Trung Quốc Hoa Vi bất chấp những khuyến cáo và đe dọa của Washington xét lại quan hệ an ninh xuyên Đại Tây Dương. Chiến thuật trung dung của Đức thể hiện tinh thần độc lập, không khoan nhượng với cả Mỹ và Trung Quốc. Gọi thầu quốc tế bắt đầu vào lúc 10 giờ sáng nay, giờ địa phương, dưới sự giám sát của Cơ quan liên bang Đức về internet. Jochen Homann, chủ tịch cơ quan này tuyên bố như sau : Đến từ Trung Quốc hay Thụy Điển, điều đó không quan trọng, miễn là các công ty cung cấp trang thiết bị đáp ứng những chuẩn mực và kiểm soát an ninh của nước Đức . Tổng cộng có 41 « khối chu kỳ » sẽ được phân chia cho bốn công ty dịch vụ viễn thông của ba nước Đức, Anh, Tây Ban Nha trong danh sách đấu thầu gồm Deutsche Telekom, 1&1/Drillisch, Vodafone và Telefónica/O2 . Tập đoàn Trung Quốc Hoa Vi không tranh thầu nhưng với tư cách là doanh nghiệp chế tạo trang thiết bị, Hoa Vi cũng như ZTE, đã bán cho bốn công ty dịch vụ kể trên các loại linh kiện, an-ten thu phát sóng, đương nhiên có tham vọng tiếp tục tham gia vào thời đại 5G tại Đức nói riêng và tại châu Âu nói chung. Đi trước trong tiến bộ công nghệ học, tập đoàn Hoa Vi trở thành « thủ lĩnh » không thể tranh cãi được trong lãnh vực mạng di động siêu tốc thế hệ 5. Nếu Đức, hay châu Âu, không sử dụng công nghệ của Hoa Vi thì khó tránh được tình trạng chậm trễ. Nhưng đối với Washington, các an-ten của Hoa Vi là « con ngựa thành Troie » của thế kỷ 21, làm nội gián, đánh cắp dữ liệu cho chính quyền Hoa lục. Tập đoàn Hoa Vi bị trói buộc với an ninh Trung Quốc theo một đạo luật ban hành vào năm 2017, theo đó mọi công dân và doanh nghiệp Trung Quốc có bổn phận hợp tác với cơ quan an ninh tình báo. Đức đặc biệt bị Mỹ chiếu cố Ba nước Úc, New Zealand và Nhật Bản đã loại trang thiết bị của Hoa Vi trong khi các chính phủ châu Âu nhận được khuyến cáo, cảnh giác của các cơ quan tình báo liên hệ về nguy cơ « con ngựa thành Troie » của Trung Quốc. Nước Đức của Angela Merkel đặc biệt bị áp lực rất mạnh của Washington. Gần đây trong một bức thư gửi bộ trưởng kinh tế Đức Peter Altmaier, một người thân cận với thủ tướng Angela Merkel, đại sứ Mỹ tại Berlin cảnh báo rằng nếu chính phủ Đức không cấm cửa Hoa Vi thì Mỹ sẽ xét lại mối hợp tác về tình báo và an ninh mạng. Tiếp theo đó, tư lệnh lực lượng đồng minh tại châu Âu, tướng Mỹ Curis Scaparrotti khẳng định « để bảo mật, NATO sẽ ngưng liên lạc với các sĩ quan Đức nếu Berlin cộng tác với Hoa Vi ». Theo tuần báo Der Spiegel, giới tình báo Đức cũng có cùng lo ngại. Thế nhưng, chính phủ Đức dường như gạt bỏ ngoài tai những đe dọa hay khuyến cáo này. Hư thực ra sao ? Con đường trung dung nhưng nghiêm ngặt Theo AFP, lý do đầu tiên, theo lý giải cúa bộ trưởng Nội Vụ Horst Seehofer hồi tuần trước, Berlin không muốn mở một mặt trận thứ hai với Bắc Kinh sau khi đã ra luật chống các nhà đầu tư Trung Quốc, tuy không nói ra, mua các công ty có giá trị chiến lược của Đức. Nhưng không phải vì thế mà chính phủ Đức xem nhẹ an ninh quốc gia và đồng minh Hoa Kỳ. Thủ tướng Angela Merkel cho biết sẽ « thảo luận » chiến lược bảo mật với Washington. Còn đối với Trung Quốc, thay vì cấm hay không cấm, Berlin chọn thái độ trung dung và sáng suốt. Theo báo chí, chính phủ Đức đánh ván bài lật ngửa, với chuẩn mực có giá trị như nhau đối với mỗi đối tác từ quản lý dịch vụ, trang thiết bị và nhà cung cấp trang thiết bị với các điều kiện nghiêm ngặt có mã số gốc, kiểm chứng trong phòng thí nghiệm và bảo đảm không cài linh kiện đánh cắp thông tin. Cũng trong chiều hướng này, chính phủ Đức có thể yêu cầu thay thế một trang thiết bị đã được lắp ráp. Nói cách khác, Hoa Vi có thể bị loại trừ mà chính phủ Đức không cần tuyên bố chọc giận Bắc Kinh, theo phân tích của nhật báo Handelsblatt.
......

Entschließung des Europäischen Parlaments vom 15. November 2018 zu Vietnam, insbesondere zur Lage der politischen Gefangenen (2018/2925(RSP))

Das Europäische Parlament,   –  unter Hinweis auf seine früheren Entschließungen, insbesondere die Entschließung vom 14. Dezember 2017 zu dem Recht auf freie Meinungsäußerung in Vietnam und insbesondere dem Fall Nguyen Van Hoa(1) , und die Entschließung vom 9. Juni 2016 zu Vietnam und insbesondere zur Meinungsfreiheit(2) ,   –  unter Hinweis auf das Partnerschafts- und Kooperationsabkommen zwischen der EU und Vietnam, das am 27. Juni 2012 unterzeichnet wurde,   –  unter Hinweis auf den 7. Menschenrechtsdialog zwischen der EU und Vietnam vom 1. Dezember 2017,   –  unter Hinweis auf die Erklärungen des Sprechers des Europäischen Auswärtigen Diensts (EAD) vom 9. Februar 2018 und vom 5. April 2018 zur Verurteilung von Menschenrechtsverteidigern in Vietnam,   –  unter Hinweis auf die am 20. August 2018 vor Ort abgegebenen Erklärungen der EU zur jüngsten Verurteilung von Le Dinh Luong,   –  unter Hinweis auf die EU-Leitlinien zum Schutz von Menschenrechtsverteidigern,   –  unter Hinweis auf die Erklärungen von Sachverständigen der Vereinten Nationen vom 23. Februar 2018, in der sie die Freilassung von Aktivisten fordern, die wegen Protests gegen das Einleiten giftiger Stoffe in die Umwelt inhaftiert wurden, und vom 12. April 2018, in der sie nach der Inhaftierung von Menschenrechtsverteidigern einen Wandel fordern,   –  unter Hinweis auf die Allgemeine Erklärung der Menschenrechte von 1948,   –  unter Hinweis auf den Internationalen Pakt über bürgerliche und politische Rechte (IPBPR), dem Vietnam 1982 beigetreten ist,   –  unter Hinweis auf die Entscheidung der Europäischen Bürgerbeauftragten vom 26. Februar 2016 im Fall 1409/2014/MHZ zum Versäumnis der Europäischen Kommission, eine vorausgehende Folgenabschätzung in Bezug auf die Menschenrechte beim Freihandelsabkommen zwischen der EU und Vietnam (FHA) durchzuführen,   –  gestützt auf Artikel 135 Absatz 5 und Artikel 123 Absatz 4 seiner Geschäftsordnung,   A.  in der Erwägung, dass laut der von der gemeinnützigen Organisation „The 88 Project“ erstellten Datenbank über vietnamesische politische Gefangene, schätzungsweise 160 Aktivisten Haftstrafen in Vietnam verbüßen und sich etwa 16 Aktivisten in Untersuchungshaft befinden;   B.  in der Erwägung, dass die vietnamesischen Behörden weiterhin Menschenrechtsverteidiger, Journalisten, Blogger, Menschenrechtsanwälte und Aktivisten der Zivilgesellschaft in dem Land festnehmen, inhaftieren, schikanieren und einschüchtern; in der Erwägung, dass Menschenrechtsverteidiger, die im Bereich der Menschenrechte aktiv sind und ihr Grundrecht auf freie Meinungsäußerung online oder offline wahrnehmen, lange Haftstrafen verbüßen müssen, was einen Verstoß gegen die völkerrechtlichen Verpflichtungen des Landes darstellt;   C.  in der Erwägung, dass politische Aktivisten und Menschenrechtsaktivisten mit strengen Haftbedingungen konfrontiert sind, wozu auch die Verweigerung des Zugangs zu medizinischer Versorgung, eines Rechtsbeistands und des Kontakts zu Familienangehörigen gehört;   D.  in der Erwägung, dass die Religions- und Glaubensfreiheit in Vietnam unterdrückt wird und dass die katholische Kirche sowie nicht anerkannte Glaubensgemeinschaften, etwa die Vereinigte Buddhistische Kirche von Vietnam, mehrere protestantische Kirchen und andere Gruppen wie die ethnische Minderheit der Montagnards weiterhin schwerwiegender religiöser Verfolgung ausgesetzt sind;   E.  in der Erwägung, dass Hoang Duc Binh zu einer Haftstrafe von 14 Jahren verurteilt wurde, weil er in seinem Blog über die Proteste berichtet hatte, zu denen es im Zuge der mit dem Formosa-Konzern zusammenhängenden Naturkatastrophe gekommen war; in der Erwägung, dass Nguyen Nam Phong zu zwei Jahren Haft verurteilt wurde, weil er sich angeblich geweigert hatte, Anordnungen von Amtsträgern zu befolgen, als er zu einer Demonstration fuhr; in der Erwägung, dass ihre Anstrengungen für die Sensibilisierung und die Sicherstellung der Rechenschaftspflicht im Zusammenhang mit der Einleitung von Abwässern durch das Formosa-Stahlwerk von entscheidender Bedeutung gewesen sind;   F.  in der Erwägung, dass die Mitglieder der Bruderschaft für Demokratie im April 2018 im Rahmen umfassender Maßnahmen zur Durchsetzung der Bestimmungen des vietnamesischen Strafgesetzbuchs in Bezug auf die nationale Sicherheit zu Haftstrafen zwischen sieben und 15 Jahren verurteilt wurden; in der Erwägung, dass Nguyen Trung Truc, ein weiteres Mitglied dieser Gruppe, im September 2018 zu einer Haftstrafe von 12 Jahren verurteilt wurde, weil er des versuchten Sturzes der Regierung für schuldig befunden worden war;   G.  in der Erwägung, dass Le Dinh Luong, ein Menschenrechtsverteidiger, der sich auf friedliche Weise für die Förderung und den Schutz der Menschenrechte ausgesprochen hat, am 16. August 2018 gemäß den Bestimmungen des vietnamesischen Strafgesetzbuchs in Bezug auf die nationale Sicherheit zu 20 Jahren Haft und fünf Jahren Hausarrest verurteilt wurde; in der Erwägung, dass es Vertretern der Delegation der EU und der Botschaften der EU-Mitgliedstaaten nicht gestattet war, der Gerichtsverhandlung beizuwohnen; in der Erwägung, dass es viele weitere Fälle von Menschenrechtsverteidigern und anderen Gefangenen aus Gewissensgründen gibt, die ein ähnliches Schicksal erleiden;   Le Dinh Luong, Nguyen Trung Truc, Nguyen Nam Phong, Hoang Duc Binh H.  in der Erwägung, dass am 12. April 2018 eine Gruppe von UN-Sachverständigen – dies sind im Einzelnen der Sonderberichterstatter über die Lage von Menschenrechtsverteidigern, der Vorsitzende und Berichterstatter der Arbeitsgruppe für willkürliche Inhaftierungen und der Sonderberichterstatter über die Förderung und den Schutz der Meinungsfreiheit und des Rechts der freien Meinungsäußerung – Vietnam nachdrücklich aufgefordert hat, nicht gegen die Zivilgesellschaft vorzugehen oder abweichende Meinungen zu unterdrücken;   I.  in der Erwägung, dass das vietnamesische Strafgesetzbuch repressive Bestimmungen enthält, die missbräuchlich dazu verwendet werden, Menschenrechtsaktivisten, Dissidenten, Anwälte, Arbeitnehmerverbände, religiöse Vereinigungen und nichtstaatliche Organisationen, insbesondere solche, die Kritik an der vietnamesischen Regierung üben, zum Schweigen zu bringen, festzunehmen, zu inhaftieren, zu verurteilen oder ihre Tätigkeit einzuschränken;   J.  in der Erwägung, dass die vietnamesische Regierung den Betrieb unabhängiger oder privater Medienunternehmen weiterhin untersagt und Radio- und Fernsehsender und gedruckte Veröffentlichungen streng kontrolliert; in der Erwägung, dass die Nationalversammlung im April 2016 ein Mediengesetz verabschiedet hat, das die Pressefreiheit in Vietnam stark einschränkt;   K.  in der Erwägung, dass die Nationalversammlung Vietnams am 12. Juni 2018 ein Gesetz zur Cybersicherheit verabschiedet hat, mit dem Internet-Kontrollen verschärft werden sollen und das die Anbieter dazu verpflichtet, Einträge zu löschen, die als „bedrohlich“ für die nationale Sicherheit eingestuft werden; in der Erwägung, dass dieses Gesetz die Freiheit der Meinungsäußerung im Internet stark einschränkt und darauf abzielt, das Recht auf Privatsphäre erheblich zu beschneiden;   L.  in der Erwägung, dass das erste vietnamesische Glaubens- und Religionsgesetz am 1. Januar 2018 in Kraft getreten ist, und dass dieses Gesetz allen religiösen Gruppen in dem Land vorschreibt, sich bei den Behörden zu registrieren und sie über ihre Tätigkeiten zu informieren; in der Erwägung, dass die Behörden diese Anträge auf Registrierung ablehnen oder behindern und religiöse Aktivitäten verbieten können, die von ihnen willkürlich als nicht mit dem „nationalen Interesse“, der „öffentlichen Ordnung“ oder der „nationalen Einheit“ vereinbar eingestuft werden; in der Erwägung, dass die Regierung mit diesem Gesetz ihre Einmischung in religiöse Angelegenheiten und die staatliche Kontrolle über religiöse Gruppen institutionalisiert hat;   M.  in der Erwägung, dass Vietnam auf der Rangliste der Pressefreiheit 2018 von „Reporter ohne Grenzen“ auf Platz 175 von 180 liegt;   N.  in der Erwägung, dass in Vietnam nach wie vor die Todesstrafe vollstreckt wird, die Zahl der Hinrichtungen jedoch unbekannt ist, da die vietnamesischen Behörden die Statistiken über die Todesstrafe als Staatsgeheimnis einstufen; in der Erwägung, dass Vietnam die Zahl der Straftaten, auf die die Todesstrafe steht, im Januar 2018 von 22 auf 18 verringert hat;   O.  in der Erwägung, dass Vietnam grundlegende Übereinkommen der Internationalen Arbeitsorganisation (IAO) noch nicht ratifiziert hat, nämlich das Übereinkommen Nr. 98 über die Anwendung der Grundsätze des Vereinigungsrechtes und des Rechtes zu Kollektivverhandlungen, das Übereinkommen Nr. 105 über die Abschaffung der Zwangsarbeit und das Übereinkommen Nr. 87 über die Vereinigungsfreiheit und den Schutz des Vereinigungsrechtes;   P.  in der Erwägung, dass der Menschenrechtsdialog zwischen der EU und Vietnam ein wichtiges Instrument mit Blick auf die laufende umfassende Diskussion von Themen ist, die der EU Sorge bereiten, darunter die uneingeschränkte Wahrung der Grundrechte betreffend das Recht auf freie Meinungsäußerung, die Vereinigungsfreiheit und das Recht, sich friedlich zu versammeln; in der Erwägung, dass eine grundlegende Voraussetzung für die Beziehungen zwischen der Europäischen Union und Vietnam darin liegen muss, dass die Menschenrechte gewahrt werden, Demokratie und Rechtstaatlichkeit sichergestellt sind und einschlägige internationale Normen eingehalten werden;   Q.  in der Erwägung, dass ein klarer Zusammenhang zwischen dem Partnerschafts- und Kooperationsabkommen (PKA) und dem FHA besteht, in deren Rahmen beide Seiten zugesagt haben, ihre Verpflichtungen im Bereich der Menschenrechte einzuhalten;   1.  verurteilt die anhaltenden Menschenrechtsverletzungen in Vietnam, darunter politische Einschüchterung, Überwachung, Drangsalierung von politischen Aktivisten, Journalisten, Bloggern, Dissidenten und Menschenrechtsverteidigern, die ihr Recht auf freie Meinungsäußerung online oder offline wahrnehmen, unfaire Gerichtsverfahren gegen sie, über sie verhängte Gerichtsurteile und Übergriffe auf sie;   2.  fordert die vietnamesischen Behörden auf, sämtliche Menschenrechtsverteidiger und Gefangenen aus Gewissensgründen, die nur festgenommen und verurteilt wurden, weil sie ihr Recht auf freie Meinungsäußerung wahrgenommen haben, etwa Hoang Duc Binh, Nguyen Nam Phong, Nguyen Trung Truc und Le Dinh Luong, unverzüglich und bedingungslos freizulassen und alle Vorwürfe gegen sie fallenzulassen;   3.  bekräftigt seine Forderung an die vietnamesischen Behörden, alle Restriktionen und die Drangsalierung von Menschenrechtsverteidigern einzustellen und in jedem Fall zu garantieren, dass sie ihrer legitimen Tätigkeit im Bereich Menschenrechte nachgehen können, ohne Repressalien fürchten zu müssen und ohne Restriktionen, etwa Schikanen seitens der Justiz ausgesetzt zu sein; fordert die vietnamesische Regierung auf, alle Einschränkungen der Religionsfreiheit aufzuheben und den Schikanen gegen Religionsgemeinschaften ein Ende zu setzen;   4.  fordert die vietnamesische Regierung nachdrücklich auf, sicherzustellen, dass alle Häftlinge im Einklang mit den internationalen Normen behandelt werden; hebt hervor, dass das Recht auf Kontakt mit Rechtsanwälten, medizinischen Fachkräften und Familienangehörigen eine wichtige Maßnahme zum Schutz vor Folter und Misshandlung, und im Hinblick auf das Recht auf ein faires Verfahren von wesentlicher Bedeutung ist;   5.  verurteilt den missbräuchlichen Einsatz repressiver Rechtsvorschriften zur Einschränkung der Grundrechte und Grundfreiheiten; fordert die vietnamesischen Behörden auf, sämtliche repressiven Gesetze – etwa das Strafgesetzbuch, das Gesetz über Cybersicherheit und das Weltanschauungs- und Religionsgesetz – aufzuheben, zu überprüfen oder zu ändern, und dafür zu sorgen, dass alle Rechtsvorschriften mit internationalen Menschenrechtsnormen und den damit verbundenen Verpflichtungen, etwa dem IPBPR, dem Vietnam beigetreten ist, eingehalten werden; fordert die Regierung auf, die Rechtsvorschriften, mit denen öffentliche Versammlungen und Demonstrationen geregelt werden, mit dem Recht auf Versammlungsfreiheit und Vereinigungsfreiheit in Einklang zu bringen;   6.  fordert die vietnamesischen Behörden auf, alle einschlägigen Menschenrechtsverträge der Vereinten Nationen und das Römische Statut des Internationalen Strafgerichtshofs sowie die Übereinkommen Nr. 87, Nr. 98 und Nr. 105 der IAO zu unterzeichnen;   7.  fordert die vietnamesische Regierung eindringlich auf, eine dauerhafte Einladung für Vertreter der Sonderverfahren des Menschenrechtsrats der Vereinten Nationen auszusprechen, insbesondere an den Sonderberichterstatter über die Förderung und den Schutz der Meinungsfreiheit und des Rechts der freien Meinungsäußerung und den Sonderberichterstatter über die Lage von Menschenrechtsverteidigern;   8.  fordert die vietnamesischen Behörden auf, unabhängige Arbeitnehmerverbände anzuerkennen;   9.  hält die EU dazu an, die Lage zu beobachten und mit den Behörden und allen einschlägigen Interessengruppen zusammenzuarbeiten, um die Menschenrechtslage in Vietnam zu verbessern;   10.  bekräftigt, dass es die Todesstrafe in jedem Fall ablehnt; fordert die vietnamesischen Behörden auf, als einen Schritt in Richtung der Abschaffung der Todesstrafe unverzüglich ein Moratorium einzuführen; fordert die vietnamesischen Behörden auf, alle Todesurteile zu überprüfen, um sicherzustellen, dass die jeweiligen Gerichtsverfahren den internationalen Normen entsprechen;   11.  fordert den EAD und die Kommission auf, zivilgesellschaftliche Gruppen und Einzelpersonen, die sich für die Menschenrechte in Vietnam einsetzen, unter anderem dadurch aktiv zu unterstützen, dass sie bei all ihren Kontakten mit der vietnamesischen Regierung die Freilassung von Menschenrechtsverteidigern und gewaltlosen Gefangenen fordern; fordert die EU-Delegation in Hanoi nachdrücklich auf, inhaftierten Menschenrechtsverteidigern und gewaltlosen Gefangenen jedwede angemessene Unterstützung zukommen zu lassen, etwa durch die Organisation von Besuchen in der Haftanstalt, die Beobachtung von Gerichtsverfahren oder die Bereitstellung rechtlicher Unterstützung;   12.  hält die Mitgliedstaaten der EU dazu an, im Hinblick auf die Forderung nach konkreten Verbesserungen der Menschenrechtslage in Vietnam ihre Anstrengungen zu verstärken, etwa im Rahmen der anstehenden allgemeinen regelmäßigen Überprüfung von Vietnam im Menschenrechtsrat der Vereinten Nationen;   13.  bekräftigt seine Forderung nach einem EU-weiten Verbot der Ausfuhr und des Verkaufs jeglicher Form von Sicherheitsausrüstung sowie der Modernisierung und Instandhaltung derartiger Ausrüstung, die zur internen Repression eingesetzt wird oder werden kann – einschließlich Technologien für die Überwachung des Internets – an bzw. für Staaten mit einer besorgniserregenden Menschenrechtsbilanz;   14.  begrüßt die gestärkte Partnerschaft und den Menschenrechtsdialog zwischen der EU und Vietnam und weist darauf hin, dass dieser Dialog ein wesentliches Instrument ist, das effizient genutzt werden muss, um Vietnam bei der Umsetzung notwendiger Reformen zu begleiten und zu unterstützen; fordert die Kommission nachdrücklich auf, die im Rahmen des Dialogs erzielten Fortschritte mithilfe der Einführung von Richtwerten und entsprechenden Mechanismen zu überwachen;   15.  fordert die vietnamesische Regierung und die EU als wichtige Partner auf, sich zu verpflichten, der Achtung der Menschenrechte und der Grundfreiheiten im Land größere Geltung zu verschaffen, zumal es sich dabei – insbesondere im Hinblick auf die Ratifizierung des FHA und das PKA zwischen der EU und Vietnam – um einen Eckpfeiler aller bilateralen Beziehungen zwischen Vietnam und der Union handelt;   16.  beauftragt seinen Präsidenten, diese Entschließung dem Rat, der Kommission, der Vizepräsidentin der Kommission/Hohen Vertreterin der Union für Außen- und Sicherheitspolitik, dem Generalsekretär des Verbands Südostasiatischer Nationen (ASEAN), der Regierung und der Nationalversammlung von Vietnam, dem Hohen Kommissar der Vereinten Nationen für Menschenrechte und dem Generalsekretär der Vereinten Nationen zu übermitteln.     (1)        ABl. C 369 vom 11.10.2018, S. 73. (2)        ABl. C 86 vom 6.3.2018, S. 122. http://www.europarl.europa.eu/sides/getDoc.do?pubRef=-//EP//TEXT+TA+P8-TA-2018-0459+0+DOC+XML+V0//DE
......

OPENPETITION: KEIN FREIHANDELSABKOMMEN MIT DER VIETNEMESISCHEN KOMMUNISTISCHEN REGIERUNG (KEIN EVFTA)!!!

DIE ZEIT DRÄNGT! WIR BITTEN UM IHRE UNTERSTÜTZUNG, JEDE STIMME ZÄHLT! Der Ausschuss für Internationalen Handel des Europäischen Parlaments (INTA) führte am 10. Oktober 2018 eine öffentliche Anhörung zum Freihandelsabkommen zwischen der EU und Vietnam (EVFTA) durch. Als Vietnams offizieller Vertreter war Herr Tran Quoc Khanh, stellvertretender Minister für Industrie und Handel anwesend. Als wichtigste Ergebnisse dieser Anhörung kann man folgende drei Aspekte festhalten: 1. Laut Aussage von Herrn Tran Quoc Khanh hat seine Regierung die Änderungsanträge zum Arbeitsgesetzbuch der Nationalversammlung unterbreitet, die den internationalen Standards entsprechen sollen und die Bestimmungen der Internationale Arbeitsorganisation einschließen. Diese Anträge sollen voraussichtlich im November 2019 genehmigt werden. 2. In Umweltfragen bekräftigte der stellvertretende Minister, dass Vietnam sehr am Umweltschutz interessiert sei, und sagte, dass das Freihandelsabkommen zwischen EU und Vietnam (EVFTA) Vietnam dabei helfen werde, in diesem Bereich mehr zu erreichen. 3. Bei der Frage nach der Menschenrechte sagte der stellvertretende Minister, dass das Thema außerhalb des seines Fachgebiets liegt, und doch klar bekräftigte, dass Vietnam im Rahmen des WTO-Beitritts in der Frage keine Verpflichtungen eingegangen ist, weil die WTO sich nicht auf die Menschenrechtsfragen konzentriert. Wir möchten auf die Tatsache hinweisen, dass die Rahmenvereinbarung für Partnerschaftliche Zusammenarbeit zwischen EU und Vietnam (PCA) bereits am 27.06.2012 unterschrieben wurde. Für die vietnamesische Seite sind die genannten Themen seit dem bekannt. Die kommunistische Regierung Vietnams hat zu allen Themenbereichen, zur Achtung des Umweltschutzes, zur Achtung der Menschenrechte und zur Anpassung des Arbeitsstandards an die Internationalen Standards verpflichtet. Und diese Rahmenvereinbarung (PCA) soll die Basis für weitere Verhandlungen über ein Freihandelsabkommen zwischen der EU und Vietnam (EVFTA) sein! Unsere Sicht: Zu 1. Die Forderung nach der Anpassung des eigenen Arbeitsstandards an die Internationalen Standards ist in den Artikel 50 der Rahmenvereinbarung (PCA) festgehalten. Seit der Unterzeichnung der Vereinbarung bis heute sind es mehr als sechs Jahre vergangen. Es ist nichts geschehen! Und nun rechtzeitig zum Termin der Anhörung in Brüssel hat man schnell noch einige Vorschläge bzw. Änderungsanträge der Nationalversammlung eingereicht. Leider haben wir Gründe zur Annahme, dass die Anträge bis Ende 2019 nicht genehmigt werden. Und wenn doch, werden diese so angepasst sein, dass sie gar kein Wert mehr haben. Zu 2. Auch zum Thema Umweltschutz wurden in den Artikeln 29, 30 und 42 des Rahmenvertrages klare Vereinbarungen getroffen. Es hieß, dass das Interesse der kommunistischen Regierung Vietnams an dem Umweltschutz sehr groß sei. Und nun brauche man die EVFTA, d.h. mehr Einnahmen, um noch mehr für den Umweltschutz zu tun. Diese Erklärung wirkt auf die betroffene vietnamesische Bevölkerung wie ein blanker Hohn. Tatsache ist, dass das Vietnamesische Volk heute in einer verschmutzten, vergifteten und zerstörten Umwelt leben muss; 250 km Küste Mittelvietnams wurde durch FORMOSA mit ungeklärten Chemikalien verseucht; vergiftete Nahrungsmitteln sind unkontrolliert im Umlauf. Die Krebsrate in Vietnam steigt exponentiell; Die Vernichtung der Regenwälder und der Ausstoß ungefilterter Abgase der chemischen Industrien nehmen dramatische Ausmaße an. Diese Liste kann beliebig fortgesetzt werden. Zu 3. Die Verpflichtung zur Achtung der Menschenrechte wurde unmissverständlich in den Artikeln 1, 2, 10 und 35 vereinbart. Und nun stand da ein stellvertretender Minister vor dem EU-Ausschuss und behauptete, dass das Thema Menschenrecht nicht in seinem Fachgebiet liegt. Offensichtlich konnte man an die Rahmenvereinbarung gar nicht mehr erinnern. Die Tatsache ist, dass es in Vietnam so viele politische Gefangenen wie noch nie zuvor in der Geschichte des Landes gibt, die durch den friedlichen Protest auf die soziale Missstände hinweisen wollen. Tatsache ist, dass das vietnamesische Volk heute in einer Gesellschaft lebt, in der das Recht auf ein menschliches Leben von den kommunistischen Machthaber eklatant verletzt wird und in der die Menschenwürde und Menschenrechte nur noch mit Füßen getreten werden. Unsere Schlussfolgerung daher: Kein Freihandelsabkommen zwischen der EU und Vietnam (kein EVFTA) ohne die Verpflichtung zur Förderung des demokratischen Prozesses und zur Achtung der Menschenrechte in Vietnam, wie in dem Abkommen über Partnerschaft und Zusammenarbeit zwischen der EU und Vietnam (PCA) vereinbart! -------------------------------------------------------------- Bitte klicken Sie auf den Link unten, um zu unterschreiben Xin vào đường link bên dưới để ký tên https://www.openpetition.de/petition/online/kein-freihandelsabkommen-mit-der-vietnamesischen-kommunistichen-regierung?fbclid=IwAR0MQ3QlmyfRm5CVpAtts6wapHmbvyANii8K1NEceLrB8nNtWXp10Q9cwe4
......

Nước Đức đang chuyển!

Nhân Angela Merkel từ bỏ chính trường   Nước Đức là quốc gia luôn luôn phải bầu cử. Vốn là một nước với nhiều tiểu bang, ngoài cuộc bầu cử liên bang, người dân còn phải đi bầu chính phủ các tiểu bang. Dưới tiểu bang là cấp thứ ba, người dân còn phải cử ra các cấp nghị viên thành phố hay các đơn vị làng xã. Vừa qua, sau cuộc bầu cử hai tiểu bang Bayern và Hessen, vốn là hai tiểu bang quan trọng trong số 16 tiểu bang, nước Đức đi vào một trang lịch sử mới. Giai đoạn này có thể xem là một khúc ngoặt của chính trường Đức sau 1989, năm thống nhất hai miền nước Đức. Đặc trưng của khúc ngoặt này có thể nói gọn là hai chính đảng CDU và SPD, vốn được xem là hai tập hợp lớn của dân tộc Đức, bên thiên hữu, bên thiên tả, nay đã mất hết quần chúng. Theo thăm dò, đảng CDU chiếm chưa đầy 30% số phiếu và SPD, thê thảm hơn, sẽ không được quá 20% phiếu bầu. Một liên minh của hai chính đảng đó, này xưa thường được gọi là liên minh tuyệt đại đa số, nay sẽ không hơn 50% phiếu bầu. Những con số vô hồn này sẽ không cho hơn một cái nhún vai của người quan sát từ xa, nhưng đối với người trong cuộc, đây là một đảo lộn khủng khiếp. Hãy còn quá sớm để tiên liệu tương lai một nước Đức trong những năm tới đây, nhưng cũng hẳn thú vị để nhìn lại một nhân vật chính trị, Angela Merkel, một phụ nữ tài năng và hiếm có, người vừa tuyên bố sẽ thoái trào trong ngày 29.10.2018 vừa qua. Merkel là Chủ tịch của CDU trong 18 năm qua, là Thủ Tướng Đức từ 2005. Những ai đã sống tại Đức trong vài chục năm qua thường không thể tưởng tượng được vị phụ nữ này lại có thể làm Thủ Tướng Đức và Chủ tịch CDU. Theo truyền thống CDU thường được xem là cánh hữu bảo thủ, trọng giáo điều tôn giáo, thường đứng một phía với Mỹ trong mọi tranh chấp quốc tế, thiên về cánh chủ nhân các tập đoàn kinh tế, ngại người nước ngoài... Thế nhưng sau ngày thống nhất đất nước Đức năm 1989 xuất hiện một phụ nữ khả ái mà Helmut Kohl thân mật gọi là "Mädchen" (nàng thiếu nữ), tên là Angela Merkel. Frau Merkel dần trở thành Tổng thư ký của CDU và cuối cùng, không ai cưỡng nỗi, bà trở thành Chủ tịch CDU. Helmut Kohl và nàng thiếu nữ của tôi "mein Mädchen" Angela Merkel. Angela Merkel lẽ ra không bao giờ trở thành nhân vật số một của CDU vì nhiều lý do then chốt: Một, bà là người từ Đông Đức mà CDU vốn là đảng nhiều nghi ngại nhất khi nhìn qua phía Đông. Hai, bản thân bà là phụ nữ, mà xưa nay CDU là đảng của nam nhi oai vệ, càng kiêu ngạo càng tốt . Ba, bà là người theo đạo Tin lành mà CDU vốn "ưa" đạo Công giáo hơn. Bốn, bà là người chia tay với chồng năm 1981 để sống với một ông chồng khác. Truyền thống CDU/CSU vẫn "hãnh diện" nếu được một vợ một chồng, nói như Edmund Stoiber khi chọc giận Gerhard Schröder vốn lập gia đình nhiều lần. Và cuối cùng bà là người không con, vốn không phải là hình ảnh lý tưởng của CDU về truyền thống gia đình. Với năm "thiệt thòi" đó Angela Merkel vẫn đánh bại mọi đối thủ nam nhi sừng sỏ như Roland Koch hay Friedrich Merz. Tội nghiệp thay các nhân vật tầm cỡ được mệnh danh là "Grand" đó, mới đầu họ coi thường phận nữ nhi từ bên Đông, cuối cùng họ thất thế,phải tìm đường dung thân trong các tập đoàn kinh tế. Ngay từ những ngày trong năm 2000 người ta đã biết Angela Merkel không ưa quí ông trong nhóm chính trị gia Tây Đức, họ sẽ bị "đì" không thương tiếc và chỉ những ai dễ bảo như Armin Laschet hay Peter Altmayer mới có chỗ dưới trướng Merkel. Các đấng nam nhi của đảng anh em CSU tại Bayern như Stoiber hay Seehofer, họ bày binh bố trận đã nhiều, nhưng luôn luôn cay đắng chịu thua một người đàn bà bên Đông. Thế nhưng Merkel đi vào lịch sử không phải nhờ tài thao lược chống nam nhi. Merkel để lại cho hậu thế một chính sách phi thường đối với người nước ngoài, đó là chủ trương chấp nhận nhập cư vô cùng nhân đạo và rộng rãi. So với năm "thiệt thòi" nói trên, đó mới là điều khó nhất mà lẽ ra bà không thể thuyết phục được CDU, chứ đừng nói là Chủ tịch của đảng ấy. Trong khía cạnh này lẽ ra Merkel phải là đảng viên của SPD hay đảng Xanh. Friedrich Merz & Roland Koch Nhưng lịch sử dường như cần những nhân vật đặc biệt trong một thời khắc đặc biệt. Năm 2015 trước tình hình dân nhập cư bức xúc tìm vào nước Đức, Angela Merkel cho phép họ vào hàng triệu người. Người ta còn nhớ, trong một tình huống còn đang phân vân thì hình ảnh của một cậu bé vượt biên đã chết, thi hài cuộn tròn nằm trên bãi biển, được tung lên trên mọi phương tiện truyền thông, Angela Merkel tuyên bố mở cửa biên giới và quả quyết "chúng ta làm được". Người ta đoán biết thêm, trong tâm một phụ nữ quả cảm và sắt đá như bà Merkel, dường như có một nét nữ tính mềm mại và thương cảm. Thời điểm 2015 làm người quan sát như kẻ viết bài này tự hỏi, phải chăng lịch sử cố tình chờ đợi một con người như Merkel trên đỉnh cao quyền lực để mới có thể biến nước Đức bảo thủ thành một nước nhập cư. Chỉ có người của CDU đang nắm quyền mới làm được điều này và cũng chỉ Merkel trong CDU mới dám làm điều này. Y như rằng, nước Đức thay đổi một cách toàn triệt từ 2015 đến nay. Từ hai đảng phái chính CDU và SPD, nay ta đã đếm đến 6 đảng phái luôn có mặt trong các cấp chính quyền. CDU và SPD không còn chiếm đa số và khả năng liên minh của sáu đảng với nhau làm người ta rối bời trong mọi tính toán. Nước Đức đã phân hóa, nhất là phía cực hữu dân túy đang chiếm một số phiếu trên 15%. Hỏi ai là người chịu lỗi, người ta chỉ ngón tay phê phán về phía Angela Merkel. Đúng hay sai? Trong khoảng một triệu người nhập cư thì nay đã ¼ có công ăn việc làm. Người ta ít biết đến điều đó. Trong số những người đàn ông Hồi giáo đó dĩ nhiên có kẻ bất lương, ưa chém giết trộm cắp, thích ức hiếp phụ nữ. Một thanh niên Đức phạm tội thì đó là chuyện bình thường trong xã hội. Một thanh niên Hồi giáo hãm hiếp giết người thì đó là lỗi của Merkel. Seehofer, Chủ tịch CSU cho rằng, di dân là "mẹ của tất cả mọi vấn đề". Lối nói dân túy đó trở nên ăn khách trong quần chúng người Đức ngày càng khó chịu trước tội phạm của di dân Hồi giáo. Và hậu quả hiển nhiên là dân chúng sẽ bầu phiếu cho đảng chống người nước ngoài như AfD và thú vị thay, kẻ mất phiếu chính là phe hữu truyền thống như CSU hay CDU. Cuối tháng 10.2018 Angela Merkel tuyên bố sẽ không tái ứng cử Chủ tịch CDU, sẽ hoàn toàn chấm dứt nhiệm kỳ Thủ Tướng sau 2021. Có lẽ bà sẽ không giữ vững chức vụ đến ngày đó. Người vui mừng nhất khi nghe tin sẽ là các nam nhi của đảng này, trong đó Friedrich Merz vội vàng tuyên bố nhập cuộc chơi. Nhưng người dân bình thường sẽ phân vân, nước Đức sẽ đi về đâu. Năm sau giờ này có lẽ tình hình sẽ rõ. Angela Merkel ra đi đúng lúc. Bà đã làm xong công việc cần làm. Thế sự do bà tạo dựng hầu như phản lại bà, đó là điều lịch sử cũng thường lặp lại. Ngoài ra thế giới dường như muốn "xoay trục". Vũ đài chính trị toàn cầu xem ra không còn chỗ cho những con người như bà. "Hợp căn" với thời đại mới phải là những kẻ xa lạ với dân chủ và pháp quyền, thích bạo lực và dối trá, sẵn sàng chiến tranh và chia rẽ, trở lui với chủ nghĩa quốc gia và dân túy. Đã từ vài năm qua Angela Merkel phải đương đầu với Putin, Trump, Tập Cận Bình, Edogan. Sắp tới đây sẽ còn các nhà dân túy xuất hiện từ Ý, Brasil, Áo...Họ sẽ vui mừng khi bà rút lui. Angela Merkel là người điềm tĩnh, sâu sắc, biết rõ mình muốn gì và thời đại đang chuyển hướng. Bà có thể nhìn lại đời mình một cách hãnh diện, dù điều gì sẽ xảy ra. Nguyễn Tường Bách  (29.10.2018)  
......

Báo Đức: Nhà bất đồng chính kiến Việt trong tầm ngắm của chế độ

Cơ quan công tố liên bang Đức được báo động là những người Việt phê bình chế độ ở Berlin đang trong tầm ngắm của chế độ đang bị đe dọa thủ tiêu và tấn công trên mạng – hình như từ phía phản gián. Ông Lê Trung Khoa nói: „Tôi không dám vào đó vì tôi sợ là sẽ không còn trở ra nữa, như nhà báo Ả Rập Saudi ở Istanbul“ và chỉ vào cái đại sứ quán Việt Nam phía sau ông tại khu Berlin – Treptow. Ông Khoa phải vào sứ quán để gia hạn cái sổ thông hành Việt Nam của mình sắp hết hạn trong vài ngày nữa. Đây cũng chính là cái sứ quán mà Trịnh Xuân Thanh, người đã bị bắt cóc vào mùa hè 2017 tại Vườn Thú Bá Linh, đã được áp giải đến đây trước khi được phản gián Việt Nam bí mật dưa ra khỏi nước Đức.. Ông Khoa đã sống ở Đức từ năm 1993 đã tường thuật cặn kẽ và bình luận về việc bắt cóc này. Ông là người chủ trương và chủ bút của tờ báo mạng Thời Báo. Đây là tở báo do ông gầy dựng có số lượng truy cập hàng tháng đến 2,7 triệu lần từ nước Đức và Việt Nam. Tấn công trên mạng  Kể từ khi các bài báo của Lê nói và phê bình đến chính quyền độc đảng cộng sản thì tại Việt Nam người ta phải đi đường vòng mới đến được tờ báo mạng Thời Báo và tại Đức thì tờ báo này trở thành mục tiêu tấn công của tin tặc. Lê kể rằng tờ báo mạng của mình thường bị tê liệt hàng giờ không ai có thể xem được và ông đã nhiều lần khai báo với cơ quan hình sự của thành phố Berlin.  Cùng lúc thì Công tố viện liên bang cũng vào cuộc vì tình trạng an ninh trong và ngoài của nước Đức bị xâm hại – chẳng hạn qua hoạt động phản gián của nước khác. Hoạt động gián điệp chống người bất đồng chính kiến Đối với giới chuyên gia IT thì chuyện chế độ Việt Nam tiến hành các hoạt động gián điệp trên mạng không còn che dấu được nữa. Trước tiên là việc thành lập đoàn quân mạng với 10.000 nhân sự trong những năm vừa qua được mệnh danh là „lực lượng 47“ và điều này nói rõ mục tiêu muốn kiểm soát chặt chẽ mạng xã hội và xóa bỏ những lời phê bình chế độ. Người Việt tại Đức biểu tình tố cáo CSVN chà đạp nhân quyền Công ty an ninh mạng của Mỹ là FireEye gần đây đã nhận ra là một nhóm đạo tặc mạng từ Việt Nam có những hoạt động gián điệp toàn cầu chống những nhà bất đồng chính kiến. Chuyện này đã được Ben Read, người phân tích hoạt động gián điệp mạng của FireEye với rbb. Việc tấn công các trang phê bình chế độ ngày càng gia tăng. Riêng việc hai trang mạng độc lập viettan.org và baotiengdan.com bị tấn công 10 lần từ tháng 4 đến tháng 5 năm nay để người xem không vào được và đằng sau các cuộc tấn công mạng thì tên của cơ quan phản gián Việt Nam đã được đề cập đến. Chương trình đánh tiếng Việt có cài mã độc Trong thời đàn áp những tiếng nói bất đồng vào năm 2910 thì công ty Google đã kiểm nhận là có một chương trình đánh tiếng Việt có cài đặt mã độc để xâm nhập khoảng 10 ngàn máy tính điện tử nhằm tấn công các trang dân báo và trang điện tử đối nghịch chế độ. Việc điều tra các hoạt động gián điệp tấn công mạng ở nước Đức là nhiệm vụ của Tối cao pháp viện liên bang và cơ quan này có biết đến những hoạt động tấn công mạng của đặc nhiệm Việt Nam không thì một phát ngôn nhân của cơ quan này không trả lời. Đảng Xanh: „Chúng ta phải khá hơn“ Theo nhận xét của ông Konstantin von Notz (đảng Xanh), thành viên trong Ủy ban giám sát của quốc hội liên bang kiểm soát cơ quan phản gián thì đây là một khó khăn do cơ cấu đem đến, vì ở lãnh vực bảo vệ an ninh mạng thì số chuyên gia vẫn còn giới hạn. Konstantin von Notz Theo ông Notz thì „Số lượng vụ việc xảy ra đưa đến sự gia tăng năng lực bảo vệ nhiều lần hơn và chúng ta phải khá hơn trong lãnh vực này“. Ông đòi hỏi chính phủ liên bang, cũng như cơ quan bảo hiến phải có những thái độ mạnh mẽ và rõ ràng trước những hành động can thiệp bất hợp pháp trong lãnh vực bảo vệ an ninh mạng. Hình ảnh của trẻ em trên mạng Internet Sau khi Lê Trung Khoa gặp một phóng viên của đài BBC tại một nhà hàng không xa nhà ga chính Berlin thì bức hình của cuộc gặp này đã xuất hiện trên mạng. Lê cảm thấy mình bị theo dõi và luôn suy nghĩ phải đậu xe ở đâu và sẽ lối ra nào trong 3 ngõ ra từ khu chung cư nhà của ông. Ông Lê đã lập gia đình và có 2 con nhỏ. Tên và hình của con ông Lê xuất hiện trên mạng. Chuyến nghỉ hè hàng năm đã được ấn định và trả tiền trước phải hủy bỏ. Cảnh sát của Berlin đã gọi cho nhà báo Việt Nam yêu cầu trong thời gian này không rởi khỏi nước Đức và tháo gỡ cái bảng tên trên cửa chung cư nhà ông. Ông Lê cho biết là cơ quan hình sự tiểu bang đã liên hệ với ông vào đầu năm và mời ông đến một buổi nói nói chuyện về vấn đề an ninh. Lý do có buổi nói chuyện vì cảnh sát nhận được một lá thư nặc danh cảnh báo trước về một dự tính ám sát ông Lê sẽ được diễn ra như là một tai nạn và ông Lê cũng đã cho cơ quan truyền thông rbb biết chuyện này. Riêng cảnh sát không muốn phát biểu gì về việc này. Đe dọa trên mạng xã hội Facebook Ông Lê cũng đã nhận trực tiếp một đe dọa ám sát mình qua mạng xã hội Facebook. Người gửi là một người đồng hương sống ở München. Trong một tin nhắn người này đã mời ông Lê ăn tiết canh vịt. Ông Lê cho biết là kiểu nói này theo Việt Nam có nghĩa là „Tao giết mày“. Người Việt Nam đã tung lời đe dọa giết người hình như có nhiều liên hệ với chế độ. Trên Facebook có nhiều tấm hình cho thấy ông này cùng với đại sứ hiện nay là Đoàn Xuân Hưng uống bia và chơi Golf. Qua thăm dò thì nhân vật này không có phản ứng cho đến khi bài báo này được in. Chiến thuật dọa nạt Christian Mihr, điều hành tổ chức Phóng viên không biên giới, không ngạc nhiên về những chuyện này. Cho đến nay chưa có cuộc tấn công nào xảy ra cho nhà báo lưu vong Việt Nam ở Đức, tuy vậy những rủi ro có thể đến với ông Lê, gây tổn thương cơ thể vật chất vẫn được đặt nặng. Và đây cũng có thể xem như là một thí dụ đe dọa trên mạng. Ông Mihr cho biết „chúng tôi biết là những người bất đồng chính kiến với chế độ Việt Nam, đặc biệt hoạt động trên mạng Facebook bị đe dọa. Ngoài ra an ninh phản gián Việt Nam hoạt động rất tích cực ở nước ngoài. Như vậy việc ông Lê bị đe dọa cũng cùng bài bản như việc bắt cóc xảy ra năm trước. Đây là một chiến lược có hệ thống nhằm đe dọa những nhóm đối lập ở hải ngoại“ Người chủ bút của tờ báo mạng thoibao.de không phải là người Việt duy nhất tại Berlin bị đe dọa. Theo dữ kiện của cơ quan truyền thông rbb thì tại thủ đô của Đức hiện nay ít nhất còn một nhà dân báo bất đồng chính kiến người Việt khác bị đe dọa thủ tiêu. Bài của Adrian Bartocha, Torsten Mandalka và Jan Wiese, RBB Trần Văn lược dịch --------------------------- https://www.tagesschau.de/inland/vietnamesischer-geheimdienst-101.html https://www.rbb24.de/politik/beitrag/2018/10/reporter-ohne-grenzen-vietnam-pressefreiheit-journalisten.html Was macht der vietnamesische Geheimdienst in Berlin? https://www.rbb24.de/politik/beitrag/2018/10/vietnamesische-dissidenten-berlin-trung-khoa-le.html https://www.inforadio.de/programm/schema/sendungen/int/201810/30/282205.html  
......

Đức dựng nhạc kịch 'Can Đảm' về gia đình tỵ nạn Việt

Thị trấn nghèo Bleicherode, nơi diễn ra vụ trục xuất gia đình Việt Nam hồi 2004 Vào đêm 04 tháng 2/2004, cảnh sát và biên phòng Đức, dưới sự hướng dẫn của Sở Ngoại Kiều tiểu bang Thüringen, bất ngờ ập vào nhà một gia đình Việt Nam ở Bleicherode. Họ buộc anh chị Lê Đ. và Ch. cùng ba đứa con trên dưới 10 tuổi của họ phải thu xếp ngay tư trang tối thiểu để ra phi trường, vì họ bị trục xuất về Việt Nam. Chính quyền Bleicherode cho rằng gia đình này dù đã sống ở Đức 17 năm nhưng vẫn không có đủ lý do để ở lại. Trong lúc bối rối như vậy, Lê T. con trai lớn của gia đình (khi đó chừng 12 tuổi) đã rất can đảm, cố gắng viết nhanh một lá thư cầu cứu ném ra ngoài của sổ, nhờ các bạn học, những người hàng xóm Đức chuyển gấp cho cô giáo chủ nhiệm lớp, kể vắn tắt tình hình của gia đình và khẩn thiết nhờ giúp đỡ. Người dân Bleicherode đã làm gì? Từ cô giáo chủ nhiệm và hàng xóm thân thiết của gia đình Việt Nam bị trục xuất, thông tin đã được nhanh chóng lan tỏa. Những người dân có thiện chí nơi đây đã nhanh chóng phản ứng. Họ tìm đến với nhau, hình thành một tổ chức sáng kiến công dân với mục tiêu đấu tranh để đưa bằng được gia đình Việt Nam đã bị trục xuất này trở lại địa phương.   Cảnh dàn nhạc của Đức tập trước vở diễn 'Courage' tháng 9/2018 Là một vùng thuộc Đông Đức cũ, còn nghèo, nhiều người thất nghiệp, nhưng đội ngũ đấu tranh đã huy động được cả những người có khả năng như luật sư, giáo viên, chính trị gia địa phương tham gia. Hơn 70 cuộc mít tinh, tụ họp phản đối chính quyền đã diễn ra hàng tuần tại Bleicherode. Họ cho rằng việc trục xuất một gia đình người Việt Nam xin tị nạn về quê hương là vô nhân đạo bởi gia đình này đã sống ở Đức từ nhiều năm, những đứa con của gia đình này đều sinh ra ở Đức, đi học trường Đức, có quan hệ tốt với hàng xóm. Nay bị ném về một nơi mà các em không hiểu tiếng, sống như những thú hoang ở một vùng nông thôn Bắc Việt Nam thì không thể chấp nhận được. Người dân Đức vùng Bleicherode đã quyên góp tiền, hiện vật, cử người tới tận Việt Nam thăm, động viên gia đình này, cung cấp thông tin đưa Đại sứ quán Đức ở Việt Nam vào cuộc. Báo chí truyền thông Đức được đánh động, chính quyền địa phương bị gia tăng sức ép buộc phải xuống nước chấp nhận thương lượng với những người phản kháng. Một kế hoạch đưa trở lại Đức bốn mẹ con gia đình Việt Nam đã được vạch ra. Điều kiện Bleicherode đưa ra là những người dân sở tại phải lo mọi phí tổn cho vụ trục xuất gia đình, một số tiền không nhỏ gồm: tiền chi phí huy động cảnh sát, vé máy bay đi về, tiền chu cấp cho gia đình Việt Nam sinh sống sau khi được trở lại Đức miễn làm sao để không gây ra phí tổn cho ngân sách địa phương, dù là một xu. Dân chúng Bleicherode đã can đảm chấp nhận và mở ra chiến dịch quyên góp dài hơi cho tới nhiều năm về sau. Sau 22 tháng bền bỉ tranh đấu, vào ngày 06/12 năm 2005, lễ đón gia đình Việt Nam bị trục xuất được quay trở lại Bleicherode đã diễn ra hết sức cảm động. Đưa câu chuyện lên thành vở nhạc kịch Cuối năm 2006, sau khi mua ủng hộ một người bán báo vô gia cư ở thành phố Erfurt một tờ báo địa phương, tình cờ đọc được câu chuyện ở Bleicherode, nhạc sỹ Werner Haas lập tức tới Bleicherode.   Luyện tập cho vở nhạc kịch hồi tháng 9/2018 ở Bleicherode   Các nghệ sỹ Đức và Việt Nam tham gia vở diễn: đàn harp bên cạnh đàn thập lục. Nhạc trong vở diễn do ông Werner Haas soạn Trên chuyến tàu trở về nhà, ông đã bắt đầu ngay vào việc sáng tác vở nhạc kịch với tên gọi "Courage" - Can Đảm. Quyết định đầy can đảm này đã đưa ông Haas tới một công việc có khối lượng khổng lồ. Trong một thời gian cực kỳ ngắn, chỉ khoảng một năm, vừa làm giáo viên dạy nhạc để kiếm sống vừa sáng tác vở musical đồ sộ, vừa liên hệ các nơi tổ chức dàn dựng, tập dượt cho vở diễn, qui tụ chừng 200 diễn viên thuộc nhiều thể loại tham gia. Mục tiêu đặt ra là ba buổi công diễn ở thành phố Biederfeld và một buổi trình diễn tại chính thị trấn Bleicherode vào ngày 21/09/2007 với việc bước lên sân khấu tham gia trình diễn của chính các thành viên gia đình Việt Nam này cùng các người dân Đức ở Bleicherode đã can đảm đứng lên đấu tranh cho họ. Dư âm của vở nhạc kịch "Courage" đã vang khắp nước Đức. Các nhà làm luật, chính quyền Đức đã phải làm nhiều việc để thay đổi chính sách đối với người tị nạn để tránh xảy ra những việc làm vô nhân đạo tương tự.   Nhạc sỹ Werner Haas (phải) và bà Phương Hoa, người tham gia trình diễn nhạc Việt Nam trong một phần của vở Courage 'Courage' của hôm nay Nước Đức hôm nay khác nhiều so với nước Đức năm 2005, khi người dân vùng Bleicherode dang rộng tay ôm gia đình Lê D. vào lòng khi chào đón họ trở lại nước Đức. Phong trào phân biệt chủng tộc, bài ngoại, phản đối chủ trương của chính phủ giúp đỡ người tị nạn đang phát triển rộng khắp nơi. Những kẻ có đầu óc bài ngoại đã có chỗ ngồi, có tiếng nói trong quốc hội Đức. Những sự kiện chấn động nước Đức do đám tân phát xít tổ chức ở Dresden, Leipzig, Chemnitz và nhiều nơi khác nữa đã trở nên thực sự đáng lo ngại. Những người Đức can đảm, có tinh thần đấu tranh chống phát xít, chống phân biệt chủng tộc, đoàn kết với người nước ngoài lại nắm tay nhau liên tục xuống đường. Trong cộng đồng người Việt đã xuất hiện ý kiến, lời kêu gọi người Việt hãy cùng xuống đường, đấu tranh vì quyền lợi, tương lai của chính mình, gia đình mình. Sự hưởng ứng đã diễn ra rất yếu ớt. Ngoại trừ có một số ít người Việt đã có can đảm, công khai nói ra sự sợ hãi của họ khi tham gia vào các sinh hoạt chính trị, xã hội của Đức, còn thì phần lớn vẫn giữ thái độ thờ ơ, im lặng.   Biểu tình phản đối bài ngoại, phân biệt chủng tộc ở Đức sau các vụ việc ở Chemnitz Có phải nỗi sợ hãi dường như đã ngấm vào máu, không chừng sẽ trở thành một bản sắc dân tộc Việt Nam? Liệu sẽ còn nhiều mối đe doạ khác đến với người Việt Nam không chỉ ở Đức mà còn ở khắp châu Âu như gia đình Việt Nam Lê Đ. ngày nào ở Bleicherode? Người Việt 'thụ động' trước chủ nghĩa tân phát xít Liệu tinh thần "Courage" của những người dân bản địa sẽ cứ dư dả mãi mãi? Khi châu Âu có vấn đề bài ngoại ở Đức, Brexit ở Anh, các vấn đề khác ở Ba Lan, Nga, Ukraine thì tiếng nói của người Việt ở đâu? Vở nhạc kịch "Courage" nói về sự Can Đảm, lòng Quả Cảm, của những người Đức dám đấu tranh vì một gia đình người Việt. Nay các thế hệ người Việt Nam tại Đức và châu Âu nếu cứ vẫn sống khép kín, không quan tâm tới những gì đang diễn ra quanh mình, thì chúng ta có được an toàn nơi xứ người hay không? Tôi muốn kết thúc bài bằng câu hỏi như vậy cho mọi người. https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-45940054
......

Vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh: Đức phát lệnh truy nã Trung tướng Đường Minh Hưng

Nhật báo TAZ của Đức, số ra ngày thứ Ba 22.05.2018 (bản báo in) có đăng môt bài báo, đặc biệt trong đó có một chi tiết chưa từng được hé lộ, đó là Trung tướng mật vụ Đường Minh Hưng đã bị Đức ra lệnh truy nã từ đầu tháng 10 năm ngoái (2017). Bản đăng trên báo in và báo điện tử của tờ TAZ là bản rút ngắn. Tác giả đã gửi cho tờ Thoibao.de bản không rút ngắn. Sau đây là bản dịch bài báo (bản không rút ngắn) của nhật báo TAZ: „Những mâu thuẫn, trái ngược nhau trong các tuyên bố của Slovakia“ Chính phủ Slovakia đã bị cáo buộc đã giúp mật vụ Việt Nam đưa một nạn nhân bị bắt cóc ra khỏi EU. Nghi vấn khủng khiếp này đã có từ ba tuần nay. Thậm chí giờ đây chính phủ Slovakia bị tổng thống của nước này công kích. Slovakia có dính líu đến vụ bắt cóc hay không? Chính phủ Slovakia đang „lươn lẹo“ trong cuộc điều tra. Đối với ông Peter Pellegrini, Thủ tướng Slovakia, thì tất cả mọi chuyện đã được giải quyết: “Đại sứ Việt Nam tại Slovakia đã xác nhận chắc chắn rằng người bị bắt cóc ở Đức không có mặt trong phái đoàn Việt Nam rời khỏi Bratislava thủ đô Slovakia. Chỉ có các thành viên chính thức của phái đoàn Việt Nam trên máy bay“. Như vậy là đã rõ, ông Pellegrini nói, Slovakia đã không tham gia vào bất kỳ vụ bắt cóc nào. Slovakia đã không vận chuyển một người Việt Nam bị bắt cóc bằng chuyên cơ của chính phủ. Nhưng thật sự là hoàn toàn không có gì được làm sáng tỏ. Thậm chí chính phủ Việt Nam còn tuyên bố rằng không có vụ bắt cóc nào cả. Sưu tra của tờ TAZ cho thấy, ngay từ đầu phía Slovakia đã hỗ trợ nửa vời cuộc điều tra của phía Đức. Tân Bộ trưởng Bộ Nội vụ, bà Denisa Saková, người trước đây là Ngoại trưởng Slovakia, và người phát ngôn của bà, người đã có mặt tại cuộc họp vào thời điểm đó, phát biểu: „Hình như là đầu tháng giêng năm 2018 chính quyền Slovakia mới biết về vụ bắt cóc“. Nhưng theo truy tầm của tờ TAZ, chính quyền Slovakia đã biết vụ bắt cóc sớm hơn nhiều so với thời gian họ đưa ra như trên. Vào ngày 28.09.2017 Tổng Công tố viên Liên bang Đức đã gửi văn thư đến Slovakei yêu cầu trợ giúp pháp lý. Nội dung thư trình bày về „tình nghi đội đặc vụ từ Việt Nam hoạt động gián điệp ở nước ngoài do chính phủ Việt Nam giao nhiệm vụ“, và cũng đề cập đến cuộc gặp giữa đại diện chính phủ Slovakia và Việt Nam tại khách sạn Bôrik ở Bratislava thủ đô Slovakia vào ngày 26.07.2017, ba ngày sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh xảy ra. Đến ngày 04.10.2017, yêu cầu này đã được bổ sung với một lệnh bắt giam một người đàn ông Việt Nam mà có mặt trong cuộc họp nêu trên: Trung tướng mật vụ Đường Minh Hưng, người bị tình nghi chỉ huy vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Vào đầu tháng 11 năm 2017 thông qua Viện Công tố Slovakia, yêu cầu trợ giúp pháp lý của Đức được gửi đến cảnh sát Slovakia, chính xác hơn là gửi đến một bộ phận của Cơ quan Hình sự Quốc gia trực thuộc Bộ Nội vụ. Sau đó, Nhà chức trách Slovakia đã đáp ứng yêu cầu này của các nhà điều tra Đức: ngày 24.11.2017 Tòa án Slovakia ra quyết định, công bố các dữ liệu điện thoại của những người bị cáo buộc mà có mặt tại khách sạn Bôrik. Vào cuối tháng 11, cảnh sát Slovakia đã gửi thư hỏi người đứng đầu bộ phận Lễ tân của Bộ Nội vụ Slovakia, người cũng có mặt tại cuộc họp ở khách sạn Bôrik ngày 26/07/2017. Trong thư, cảnh sát không đề cập đến vụ bắt cóc, nhưng họ kiên quyết đòi hỏi bất kỳ thông tin nào liên quan đến cuộc họp này. Sau đó, người đứng đầu Lễ tân gửi một bản tường trình ngắn gọn về cuộc họp bao gồm tên họ của những người tham dự, nhưng lại ỉm đi việc sau đó một nhóm gồm 12 người Việt Nam – kể cả Trung tướng mật vụ Đường Minh Hưng, người đang bị truy nã lúc đó- rời khỏi Slovakia bằng một chuyên cơ của chính phủ nước này. Vào thời điểm đó, dường như có những hé lộ được lan truyền xa và rộng. Hiện nay ông Andrej Kiska Tổng thống Slovakia kể lại những gì ông đã nghe được vào cuối mùa hè năm ngoái: rằngmột người Việt Nam bị bắt cóc từ Đức và bị áp tải sang Slovakia; rằng một hộ chiếu giả đã được cấp cho nạn nhân và nạn nhân bay ra khỏi EU bằng một chuyên cơ của chính phủ Slovakia. “Dường như tôi không thể nào tin được rằng Bộ nội vụ của chúng tôi dính líu đến một vụ bắt cóc“, Tổng thống Kista nói. „Nó giống như một bộ phim Hollywood tồi“. Trung tướng Đường Minh Hưng có mặt trong cuộc gặp giữa Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm và Bộ trưởng Bộ nội vụ Slovakia hôm 26.7.2017 tại khách sạn Bôrik. Tổng thống Kiska, không đảng phái, người mà thường tỏ thái độ phê bình đường lối của chính phủ Slovakia, đã cáo buộc chính quyền Slovakia không tiến hành điều tra: ông ngạc nhiên, ông nói, chỉ có người Đức điều tra nghi vấn nghiêm trọng này “đáng lẽ cảnh sát và Viện Công tố của chúng tôi cũng phải điều tra“. Nhưng ông tin chắc rằng “sự thật sẽ được tìm ra, vì nếu không chúng tôi sẽ phải chịu tai tiếng rất xấu ở châu Âu“. Ngoại trưởng Miroslaw Lajčák, cũng không đảng phái, hứa sẽ làm sáng tỏ, dĩ nhiên ông chỉ quan tâm đến khía cạnh ngoại giao. “Tình hình rất nghiêm trọng. Chúng tôi nên điều tra đến tận cùng, bởi vì nếu không nó thực sự có thể có một tác động tiêu cực đến mối quan hệ của chúng tôi với Đức“.
......

Für Rupert Neudeck: Ein Denkmal aus tiefer Dankbarkeit

Hubert Wolf Troisdorf - 13.05.2018 - 17:20 Uhr Vietnamesen ehren ihren Retter. Das Denkmal haben sie gewollt und bezahlt. Mit der „Cap Anamur“ hat Neudeck 11 300 Menschen geholfen Sie hatten nur den festen Willen, ein klappriges Boot und ein vages Gerücht: dass da draußen ein großes Schiff sei, das Flüchtlinge rette. „Aber nach Gerüchten können Sie eigentlich nicht leben. Wir wollten nach Singapur, Malaysia oder auf die Philippinen“, erinnert sich Van Hong Le (58). Damals, im Juni 1980, flieht Le aus der kommunistischen Diktatur Vietnam, auf einem Boot von neun mal zwei Metern, mit 37 Menschen an Bord, „andere waren noch viel voller, mit hunderten“. Bevor sie über das Südchinesische Meer Singapur oder Malaysia erreichen, bevor sie von Piraten überfallen werden können, ertrinken, verdursten oder verhungern wie Hunderttausende andere, gerinnt das Gerücht zu einem Schiff am Horizont. Da, die „Cap Anamur“! Gerettet..... https://www.waz.de/region/rhein-und-ruhr/fuer-rupert-neudeck-ein-denkmal...   ------------------------------ Nhật báo Đức Westdeutsche Allgemeine Zeitung (WAZ) ra ngày chủ nhật 13.05.2018 lúc 17:20 đã có bài của ký giả Hubert Wolf tường thuật ngày khánh thành tượng đài tưởng niệm tiến sĩ Rupert Neudeck tại Troisdorf với tựa đề Für Rupert Neudeck: Ein Denkmal aus tiefer Dankbarkeit (Dành cho Rupert Neudeck: Đài tưởng niệm với lòng biết ơn sâu sắc)   Ngày thứ bẩy 12.05.2018 vừa rồi 600 người Việt từ khắp nơi trên nước Đức đã cùng nhau tụ tập về thành phố Troisdorf gần Bonn, cựu thủ đô CHLB Đức tham dự lễ khánh thành tượng đài tưởng niệm TS Neudeck để tỏ lòng biết ơn sâu sắc của người Việt tỵ nạn đối với vị đại ân nhân đã cứu sống gần 12.000 thuyền nhân và tạo cơ hội cho họ có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc trên một xứ sở tự do, nhân bản. Thuyền nhân người Việt đã đóng góp 61.000 Euro, gấp hai số tiền phí tổn xây cất cần thiết. Số còn lại, 30.000 Euro được trao cho bà Christel Neudeck để dùng cho một dự án có mục đích nhân đạo. Thuyền nhân Việt Nam hát hai bài quốc ca Việt- Đức, mang cờ VN Cộng Hòa, mang biễu ngữ "Cảm ơn nước Đức" và thả bóng bay với dòng chữ "Cảm ơn Dr.Neudeck“. Ông Wolfgang Schäuble (đảng CDU), đương kim Chủ tịch Quốc hội Đức cũng có mặt tại buổi lễ trọng đại này. Ông Schäuble nhắc lại việc thâu nhận người tỵ nạn Việt Nam vào năm 1980 gặp biết bao khó khăn tranh luận lúc ban đầu như vấn đề nhà tạm cư, nhận bao nhiêu người tỵ nạn. Ông nói thêm, nếu ông Neudeck còn sống, với nghĩa cử nhân đạo của ông, ông sẽ làm cho chúng ta xấu hổ vì hiện nay chúng ta lại đang tranh cãi vấn đề nhận người tỵ nạn.   Ký giả báo WAZ cũng nói chuyện với ông Lê Văn Hồng, 58 tuổi, năm 1980 đã vượt biên bằng thuyền và được tầu Cap Anamur vớt. Ông Hồng đã về thăm Việt Nam với thông hành Đức. Ông cho biết: „Việt Nam ngày nay có bộ mặt thân thiện hơn, nhưng vẫn như cũ, bạn hãy nhìn vào cuộc bắt cóc tại Berlin“  Ông Hồng nói tiếp: „ Công an có mặt ở khắp mọi nơi, cũng ở đây nữa“, ông nhìn xung quanh nhưng tất nhiên sẽ không thấy ai vì đơn giản là công an, mật vụ là những kẻ „vô hình“ không ai nhận ra được.   Xin Quý vị và ACE ở Đức đọc thêm chi tiết trong bài báo phía dưới và mở link để coi hình ảnh. https://www.waz.de/region/rhein-und-ruhr/fuer-rupert-neudeck-ein-denkmal-tiefer-aus-dankbarkeit-id214275763.html    
......

10. START-Stipendium für Schüler mit Migrationsgeschichte – nun auch in Bayern

Die START-Stiftung fördert mittels Stipendien seit 15 Jahren nahezu deutschlandweit talentierte Schüler*innen mit Migrationsgeschichte. Dieses Jahr erstmals auch in Bayern! Im Fokus steht hierbei die Potenzial- und Engagementförderung der Jugendlichen. Bewerbungen sind bis zum 15. März 2018 möglich. Wer? Talentierte Schüler*innen mit Migrationsgeschichte aller Schulformen, die… •  Selbst oder deren Mutter bzw. Vater nach Deutschland zugewandert sind; •  Im nächsten Schuljahr die 9. oder 10. Klasse besuchen und noch mindestens drei weitere Jahre zur Schule gehen werden; •  Interesse an ihrer persönlichen und schulischen Weiterentwicklung haben; •  Hohe soziale Kompetenz aufweisen und Verantwortung für sich und andere übernehmen; •  Offen, beharrlich, kritisch und echte Teamplayer sind. Was? Drei Jahre lang werden die Stipendiat*innen auf ihrem persönlichen und schulischen Weg mit ideeller und finanzieller Förderung begleitet: •  Individuelle Beratung und Unterstützung durch START-Betreuer*innen •  Halbjährliche verpflichtende Bildungsseminare, Wahlseminare zu unterschiedlichen Themen sowie regionale Bildungsangebote und Exkursionen; •  Zusätzliche Seminare und Beratungsangebote zur Gestaltung der Bildungsbiographie; Weitere Informationen und Link zur Bewerbung: https://www.start-stiftung.de/stipendium.html. Mit freundlichen Grüßen Ausländerbeirat Stadt Erlangen schrieb am 13:33 Mittwoch, 28.Februar 2018: _________________________________________ Stadt Erlangen - Bürgermeister- und Presseamt Geschäftsführung Ausländer- und Integrationsbeirat Büro für Chancengleichheit und Vielfalt/Internationale Beziehungen 91051 Erlangen ____________________________________________ Fon      +49 (0)9131 86 13 38 Fax      +49 (0)9131 86 19 91 e-mail   carolin.braun@stadt.erlangen.de Büro     Rathausplatz 1, 3. OG, Zimmer 317 web      http:\\www.erlangen.de
......

Nguồn gốc Ba Lan của bà Thủ Tướng Angela Merkel.

Nguồn gốc Ba Lan giúp gì cho Angela Merkel?     Thanh niên Đông Đức: Angela Merkel (bìa phải) cùng Joachim Sauer và một người bạn tại Bachotek, Ba Lan vào năm 1989Ảnh: BOGUMIL JEZIORSKI   Quan hệ Đức - Ba Lan tiếp tục xấu đi với chính quyền cánh hữu Ba Lan phê phán thủ tướng Angela Merkel, nói bà gây ra khủng hoảng cho EU. Phía Ba Lan cũng nói bà thủ tướng Đức chứ không phải ai khác, cần chịu trách nhiệm cho thất bại tranh cử của đảng CDU tháng 9 vừa qua. Tin mới nhất cho hay các đàm phán lập chính phủ liên minh tại Đức sau bầu cử có thể đến Giáng Sinh năm nay cũng chưa có kết quả. Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan, Mariusz Blaszczak nói rằng vì bà Merkel không nghe theo lời khuyên của các láng giềng phía Đông về "làn sóng di dân Trung Đông" nên đã gây khủng hoảng cho toàn EU. Mới đây nhất, các quan chức EU và Đức đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy Ba Lan tuyên bố đơn phương "ủng hộ Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập EU". Kế hoạch này đã bị EU tạm gác "vì lý do nhân quyền tại Thổ Nhĩ Kỳ". Nhưng dù quan hệ với Ba Lan căng thẳng, đây chỉ là chuyện chính trị quốc gia, vì về cá nhân thì bà Merkel luôn giữ tình cảm với Ba Lan.   Không chỉ sang thăm Ba Lan nhiều lần thời Đông Đức, nữ thủ tướng Đức còn có ông nội là người Ba Lan từ Poznan và bà cũng rất tự hào về di sản này. Câu chuyện về gốc Ba Lan của bà Angela Merkel đã được báo chí châu Âu nói đến từ 2013. Theo ông Stefan Kornelius, nhà báo Đức và tác giả một cuốn tiểu sử về bà Merkel, viết trên báo Anh, The Guardian rằng bà Angela Merkel hoàn toàn có thể giữ họ tên là Angela Kazmierczak. Có một phần tư dòng máu Ba Lan, bà Angela nay dùng họ người chồng đầu tiên, Ulrich Merkel (ly hôn năm 1982) nhưng từng có cả họ tên là Angela Dorothea Kasner. Sinh tại Hamburg năm 1954 và được cha mẹ đưa về Berlin vùng thuộc Đông Đức sau đó, bà có ông nội là Ludwig Kazmierczak, người Ba Lan. Ông sinh ra năm 1896 ở Poznan khi thành phố này thuộc Đức và có tên là Posen. Có mẹ là Anna Kazmierczak và cha mang họ Wojciechowski, ông Ludwig vì lý do cá nhân đã giữ họ mẹ sau khi bà lấy một người chồng khác có họ là Rychlicki. Tham gia khởi nghĩa chống Đức và sau làm cảnh sát Ba Lan, ông Ludwig Kazmierczak đã sang Berlin sinh sống sau Thế Chiến 1. Bản quyền hình ảnh AFP Ông Joachim Sauer và bà Angela Merkel ở Phủ Tổng thống Ba Lan tháng 3/2007 Tại Berlin, bố của bà Angela là Horst Kazmierczak ra đời và trong thập niên 1930 mới rút ngắn họ của mình theo cách viết tiếng Đức là Kasner. Ông Horst Kasner đổi từ đạo Công giáo truyền thống Ba Lan sang Tin Lành và thành một mục sư dòng Lutheran. Ông lấy vợ là Herlin, một giáo viên dạy tiếng Anh gốc từ Gdansk (Danzig). Thời Đông Đức, bà Angela Merkel đã từng cùng sang thăm Ba Lan và tìm lại thân nhân ở Poznan.   Sau này, bà lại đưa người chồng thứ nhì, ông Joachim Sauer sang thăm lại Ba Lan, nhưng đã ở cương vị Thủ tướng và hai người được đón tại Phủ Tổng thống Ba Lan. Là một trong số ít lãnh đạo cường quốc Phương Tây có hiểu biết cá nhân về Đông Âu - bà Merkel từng là đoàn viên cộng sản FDJ thời Đông Đức và thạo tiếng Nga - nữ thủ tướng Đức từng đóng vai trò cầu nối quan trọng với khối quốc gia hậu cộng sản.   Nhưng với các đảng phái chính ở Đông Âu ngày càng ngả sang phía hữu bài ngoại, chống Brussels, uy tín cá nhân của bà với họ cũng giảm sút đi nhiều. Cùng lúc, chính quyền Ba Lan ra các luật hạn chế tự do ngôn luận và vi phạm các quyền của thẩm phán, theo lời chỉ trích từ EU. Nhiều nhóm cánh hữu được chính phủ hỗ trợ ở Ba Lan cũng lên tiếng nhắc lại các vấn đề lịch sử và ám chỉ Berlin có thái độ "đế quốc". Gần đây nhất, bà Angela Merkel trực tiếp phê phán đảng cầm quyền Pháp luật và Công lý (PiS) ở Ba Lan: "Tôi luôn mong muốn có quan hệ tốt với Ba Lan - và vì họ là láng giềng nên tôi luôn tìm cách ưu tiên quan hệ đó - nhưng nay không thể nào câm miệng chỉ để cho yên chuyện." Bà nói thái độ của Warsaw là "đụng chạm đến nền tảng hợp tác trong EU". http://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-42194227    
......

Entführung eines vietnamesischen Staatsangehörigen in Berlin

Erklärungen des Sprechers des Auswärtigen Amts in der Bundespressekonferenz vom 02.08.2017 Entführung eines vietnamesischen Staatsangehörigen in Berlin SCHÄFER: Jetzt bin ich fast fertig; jetzt komme ich zu meinem vierten Punkt, den ich Ihnen gegenüber ansprechen möchte. Das möchte ich aber auch wirklich in aller Deutlichkeit tun. ‑ Nachdem sich im Laufe des gestrigen Tages und bereits über das Wochenende Hinweise verdichtet hatten und es jetzt keine ernsthaften Zweifel mehr über eine Beteiligung der vietnamesischen Nachrichtendienste und der Botschaft der Sozialistischen Republik Vietnam in Berlin an der Entführung eines vietnamesischen Staatsangehörigen in Berlin gibt, hat gestern der Staatssekretär im Auswärtigen Amt Markus Ederer den Botschafter der Sozialistischen Republik Vietnam ins Auswärtige Amt einbestellt. Die Entführung des vietnamesischen Staatsangehörigen Trịnh Xuân Thanh auf deutschem Boden ist ein präzedenzfallloser und eklatanter Verstoß gegen deutsches Recht und gegen das Völkerrecht. Dank der Aufmerksamkeit der deutschen Strafverfolgungsbehörden kam der Vorgang ans Licht. Inzwischen laufen dazu auch Ermittlungen bei den Berliner Strafverfolgungsbehörden. Ein derartiger Vorgang hat das Potenzial, die Beziehungen zwischen Deutschland und der Sozialistischen Republik Vietnam massiv negativ zu beeinflussen. Er ist gleichzeitig ein extremer Vertrauensbruch. Noch am Rande des G20-Gipfels haben hochrangige Vertreter der Bundesregierung auf Bitte der vietnamesischen Seite darüber gesprochen, in welcher Weise eine mögliche, von vietnamesischer Seite gewünschte Auslieferung des Mannes nach den Regeln der Rechtsstaatlichkeit geschehen könne. Dies ist von Staatssekretär Ederer gestern dem vietnamesischen Botschafter in aller Klarheit und in aller Deutlichkeit zum Ausdruck gebracht worden. Wir haben ihm auch unmissverständlich zu verstehen gegeben, dass wir verlangen, dass Herr Trịnh Xuân Thanh unverzüglich nach Deutschland zurückreisen kann, damit der vietnamesische Antrag auf Auslieferung, aber auch der Antrag auf Asyl dieses Mannes in einem rechtsstaatlichen Verfahren zu Ende geprüft werden können. Als Konsequenz aus diesem völlig inakzeptablen Vorgang werden wir den offiziellen Vertreter der vietnamesischen Nachrichtendienste an der Botschaft der Sozialistischen Republik Vietnam unverzüglich, und zwar jetzt, zur Persona non grata erklären und ihm 48 Stunden geben, Deutschland zu verlassen. Wir behalten uns vor, gegebenenfalls weitere Konsequenzen auf politischer, wirtschaftlicher sowie entwicklungspolitischer Ebene zu ziehen. Ich danke Ihnen für Ihre Aufmerksamkeit. FRAGE: Herr Dr. Schäfer, das ist ja nicht ganz mein Thema, und insofern kenne ich mich damit nicht wirklich gut aus, aber vielleicht könnten Sie das noch ein bisschen näher ausführen. Wenn es einen Asylantrag und ein Auslieferungsbegehren des Staates gibt, dann scheint das ja auch eine Vorgeschichte zu haben. Vielleicht können Sie uns noch ein bisschen weiterhelfen. SCHÄFER: Es geht in der Sache darum, dass ein Staatsangehöriger der Sozialistischen Republik Vietnam nach Deutschland gekommen ist und hier einen Asylantrag gestellt hat, der in Bearbeitung ist. Der ist noch nicht beschieden worden. Diesem Mann werden vonseiten der vietnamesischen Justiz und vonseiten der vietnamesischen Regierung ernste Straftaten zur Last gelegt. Die vietnamesische Seite wünscht die Genehmigung der Auslieferung dieses vietnamesischen Staatsangehörigen aus Deutschland nach Vietnam. Auch da sind die politischen und justiziellen Verfahren im Gang. Wir müssen davon ausgehen ‑ ja, wir sind sicher ‑, dass Stellen des vietnamesischen Staates hier in den letzten Tagen Handlungen vorgenommen haben, die sozusagen nur mit Begriffen des Strafrechts qualifiziert werden können: Menschenraub, Entführung, so etwas. Der Mann befindet sich, wie auch öffentlich bekannt ist, seit vorgestern wieder in Vietnam. Er ist also offensichtlich aus Deutschland, aus Europa, nach Vietnam zurückverbracht worden. Die Konsequenzen dieses Vorgehens der Sozialistischen Republik Vietnam habe ich Ihnen darzustellen versucht. ZUSATZFRAGE: Hat die Einbestellung des Botschafters schon stattgefunden, oder wird das Gespräch noch stattfinden? SCHÄFER: Ich hatte es bereits gesagt: Die Einbestellung hat gestern Nachmittag um 15 Uhr ‑ das hatte ich nicht gesagt ‑ stattgefunden. Dem Botschafter ist bedeutet worden, dass er bis heute Mittag um 12 Uhr, also vor 90 Minuten, Gelegenheit hatte, Stellung zu den Ausführungen zu nehmen, die Staatssekretär Ederer ihm gegenüber gemacht hat, und insbesondere unserer Forderung nachzukommen, den Mann wieder nach Deutschland zu verbringen. Beides ist ‑ sonst würde ich jetzt auch hier nicht mit Ihnen sprechen ‑ ganz offensichtlich nicht geschehen, Frau Wefers. Deshalb habe ich für die Bundesregierung, für das Auswärtige Amt und für den Außenminister diese ja sehr harsche, sehr drastische Konsequenz zu verkünden. Es ist schlicht inakzeptabel, dass ausländische Staaten auf deutschem Hoheitsgebiet unter deutscher Souveränität auf diese Art und Weise das deutsche Recht mit Füßen treten. FRAGE: Herr Schäfer, können Sie uns sagen, wo sich das abgespielt hat? Können Sie möglicherweise auch sagen, was dem Mann seitens des vietnamesischen Staats bzw. der Justiz vorgeworfen wird? Können Sie sich erinnern, ob es so etwas schon einmal gegeben hat? SCHÄFER: Ich glaube, die Örtlichkeiten helfen Ihnen jetzt nicht übermäßig weiter. Das ist ein Vorgang, der sich in Berlin abgespielt hat, in unserer Hauptstadt. Dem Mann werden, soweit wir das aus den Informationen von vietnamesische Seite wissen, Straftatbestände im Zusammenhang mit dem Verschwinden von hohen dreistelligen Dollar-Millionenbeträgen als langjähriger Chef eines staatlichen vietnamesischen Unternehmens zur Last gelegt. FRAGE: Herr Schäfer, können Sie sagen, woher Sie Ihre Informationen über den Aufenthaltsort des Betroffenen beziehen? Haben Sie Kontakt zu ihm selbst oder zu Angehörigen oder Rechtsbeiständen? SCHÄFER: Der Betroffene, der in Deutschland einen Asylantrag gestellt hat, ist gestern vor der vietnamesischen Öffentlichkeit in Haft genommen worden und hat, auch wenn ich es mir selbst nicht angeschaut habe, dem Vernehmen nach vor der vietnamesischen Öffentlichkeit gesagt, dass er sich freiwillig den vietnamesischen staatlichen Stellen gestellt habe. FRAGE: Wenn ein Auslieferungsbegehren besteht, dann müsste derjenige ja wahrscheinlich zumindest in Haft sein oder der deutsche Staat müsste der Person auf irgendeiner Weise habhaft werden können. Wie verhält sich das denn? SCHÄFER: Wenn es ein Auslieferungsersuchen für einen ausländischen Staatsangehörigen an die Bundesrepublik Deutschland gibt, dann ist Voraussetzung für die Genehmigung der Auslieferung durch die Bundesregierung eine Entscheidung des, meine ich, Oberlandesgerichts, jedenfalls außerhalb der Europäischen Union. Die zuständigen Richter entscheiden im eigenen Ermessen, ob solche Maßnahmen wie die Inhaftnahme zwecks Sicherstellung der Auslieferung erforderlich sind oder nicht. Das ist in diesem Fall, ohne dass das von der Bundesregierung zu kommentieren wäre, nicht geschehen. Es gibt eben zwei Verfahren, die nebeneinander verliefen. Das eine ist das vietnamesische Auslieferungsersuchen, und das andere ist der Asylantrag dieses Mannes. http://www.auswaertiges-amt.de/DE/_ElementeStart/Sprecher.html?nn=438318
......

Die Menschenrechtsbeauftragte Bärbel Kofler zur Verurteilung der vietnamesischen Menschenrechtsaktivistin Tran Thi Nga zu neun Jahren Haft

Zum Urteil gegen die vietnamesische Menschenrechtsaktivistin Tran Thi Nga sagte die Menschenrechtsbeauftragte der Bundesregierung, Bärbel Kofler, heute (26.07.): Die sehr harte Verurteilung von Frau Tran Thi Nga zu neun Jahren Haft durch ein Gericht in Vietnam hat mich bestürzt. Tran Thi Nga hat sich mit friedlichen Mitteln gegen Korruption und Willkür sowie für Justizopfer, Arbeiterrechte und den Umweltschutz eingesetzt. Ihr Einsatz wurde von Amnesty International anlässlich des diesjährigen Internationalen Frauentages gewürdigt. Wie im Falle von "Mother Mushroom", einer bekannten vietnamesischen Bloggerin, die vor weniger als einem Monat zu zehn Jahren Haft aufgrund ihres menschenrechtlichen Engagements verurteilt worden war, widerspricht auch dieses Urteil den von Vietnam anerkannten menschenrechtlichen Prinzipien und verstößt gegen den internationalen Pakt über bürgerliche und politische Rechte, dem Vietnam beigetreten ist. Auch die vietnamesische Verfassung schützt Meinungs- und Pressefreiheit. Die unverhältnismäßige Verurteilung steht im Widerspruch zu den rechtsstaatlichen Reformen der vietnamesischen Regierung. Zudem setzt Vietnam damit leichtsinnig seinen Ruf als reformorientierter Staat auf Modernisierungskurs aufs Spiel. Meine Gedanken sind bei der Familie von Frau Tran, für die dieses Urteil ein großes Unglück bedeutet. Hintergrund: Die Menschenrechtsaktivistin Tran Thi Nga, geboren am 28. April 1977 in der nordvietnamesischen Provinz Ha-Nam, ist vierfache Mutter (zwei Kinder sind erst vier und sieben Jahre alt). Aufgrund ihrer Tätigkeit war Frau Tran mehrmals Opfer von Attacken durch die Sicherheitskräfte. Bereits im Januar 2017 war sie festgenommen worden (ca. drei Monate nach der Festnahme der berühmten Bloggerin und Aktivistin "Mother Mushroom"). In einem ursprünglich für zwei Tage geplanten Prozess wurde sie am 25. Juli wegen "Betreibung von Propaganda gegen den Staat" zu neun Jahren Haft und zu fünf Jahren Hausarrest verurteilt. Der Ehemann von Frau Tran und ihre Verwandten durften dem Verfahren nicht beiwohnen. Internetangebot des Auswärtigen Amts: www.auswaertiges-amt.de Folgen Sie uns auf Twitter: @AuswaertigesAmt und auf Facebook: http://www.facebook.com/AuswaertigesAmt Berlin - Veröffentlicht von pressrelations http://presseservice.pressrelations.de/pressemitteilung/die-menschenrech... menschenrechtsaktivistin-tran-thi-nga-zu-neun-jahren-haft-615581.html Đặc ủy Nhân quyền Chính phủ Đức Bärbel Kofler lên tiếng về bản án đối với bà Trần Thị Nga Về bản án dành cho nhà hoạt động nhân quyền Việt Nam Trần Thị Nga, hôm qua ngày 27.7.2017, Đặc ủy Nhân quyền của Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức, Bà Bärbel Kofler, đã tuyên bố như sau: ‘‘Tôi thấy bàng hoàng trước việc bà Trần Thị Nga bị một tòa án tại Việt Nam tuyên phạt mức án rất nặng là 9 năm tù giam. Bà Nga đã sử dụng các biện pháp ôn hòa để đấu tranh chống tham nhũng và sự tùy tiện cũng như tranh đấu cho dân oan, quyền của người lao động và bảo vệ môi trường. Sự cống hiến của bà đã được tổ chức Ân xá Quốc tế tuyên dương nhân ngày Quốc tế Phụ nữ năm nay.... Xin mời quý bạn xem tiếp tại web CTM Media, bấm hình dưới đây (Xem bằng điện thoại sẽ không bị truy cản)https://chantroimoimedia.com/2017/07/29/dac-uy-nhan-quyen-chinh-phu-duc-...
......

Vietnam verweigerte Besuch bei inhaftiertem Menschenrechtler

Mit ausdrücklicher Unterstützung des Deutschen Bundestages habe ich zusammen mit meinem Bundestagskollegen Philipp Lengsfeld als Vertreter des Ausschusses für Menschenrechte und humanitäre Hilfe im Juni 2017 die Volksrepublik Vietnam besucht. Kernanliegen war die Unterstützung von Menschenrechtsaktivisten, für die wir uns u.a. im Rahmen des Programms „Parlamentarier schützen Parlamentarier“ des Deutschen Bundestags einsetzen und Solidarität üben. Mein Kollege Lengsfeld unterstützt den Rechtsanwalt Le Quoc Quan, der inzwischen aus der Haft entlassen ist, aber nach wie vor unter dem Druck der Behörden steht. Ich persönlich setze mich für den Blogger Nguyen Huu Vinh ein, der nach wie vor im Gefängnis sitzt. Im Rahmen des Besuches war es uns zwar möglich, die Haftanstalt zu besuchen, in der Nguyen Huu Vinh inhaftiert ist, was für mich von großer Bedeutung war. Im Gespräch mit der Leitung des Gefängnisses haben wir die nötige Gleichbehandlung von „regulären“ und politischen Gefangenen deutlich unterstrichen. Ein  direkter Besuch der Inhaftierten wurde von den vietnamesischen Stellen nicht genehmigt. Gespräche mit den Angehörigen der Inhaftierten waren nur in Teilen möglich. In Vietnam stehen auch die Familienangehörigen von politischen Gefangenen unter hohem Druck durch staatliche Stellen und durch sogenannte "besorgte“ oder „wütende Bürger“. In Gesprächen mit Vertretern von Glaubensgemeinschaften und  Vertretern der Zivilgesellschaft sowie durch unseren Besuch im Nonnenkloster informierten wir uns über die Menschenrechtslage in Vietnam im Allgemeinen. Hierzu gehörten Fragen zu Fällen von Folter und ungeklärten Todesfällen in Untersuchungshaft sowie die Situation nicht staatlich registrierter Glaubensgemeinschaften. Die Gespräche machten einmal mehr deutlich, wie der Gesellschaft wertvolles Engagement verloren geht, wenn die Regierung solches aus Sorge oder Angst unterdrückt. Philipp Lengsfeld und ich sind der vietnamesischen Regierung und den Behörden dankbar für die Möglichkeit des Gefängnisbesuchs und der von der Umweltkatastrophe besonders betroffenen Provinz. Gleichzeitig muss ich mein Unbehagen über die nach wie vor teils massiven Schwächen der Menschenrechtssituation in der Volksrepublik Vietnam ausdrücken. Ich bedaure es ausdrücklich, dass ich den inhaftierten Blogger Nguyen Huu Vinh nicht habe treffen dürfen. http://www.martin-patzelt.de/lokal_1_1_348_Vietnam-verweigerte-Besuch-be...
......

Cố Thủ Tướng Đức Helmut Kohl viết về sự kiện sụp đổ Bức tường Berlin

Helmut Kohl là Thủ tướng Đức từ 1982 đến 1998, một trong những người có công lớn trong sự sụp đổ của Bức tường Berlin đưa đến sự thống nhất nước Đức năm 1989. Ông Kohl vừa qua đời ngày 16/06/2017 để lại bao sự thương tiếc. TTĐQ Tôi hay tin về sự sụp đổ của Bức tường Berlin trong chuyến thăm chính thức Ba Lan cách đây mười năm. Tối ngày 09/11/1989, đoàn của tôi được Thủ tướng Tadeusz Mazowiecki mời tới bữa tiệc tại cung điện trước đây của Hoàng tử Radziwill. Trước khi tới bữa tiệc, Thư ký Văn phòng Thủ tướng, Rudolf Seiters, đã gọi từ Bonn. Ông nói với tôi rằng vị Chủ tịch của chính quyền cộng sản Đông Berlin đã bất ngờ công bố các quy định tạm thời cho phép các cá nhân công dân được đi lại. Giấy phép thăm Tây Berlin sẽ được cấp cho tất cả các những người nộp đơn ngay cả khi xin gấp. Chỉ bằng quyết định đơn giản đó, tôi biết rằng lịch sử nước Đức rồi sẽ sớm thay đổi, vì di chuyển dễ dàng tức là ai cũng có thể vượt qua Bức tường Berlin. Dù vậy thì ban đầu tôi cũng không nhìn thấy trước được những buổi lễ ăn mừng hoành tráng và vui vẻ sắp diễn ra ở Berlin. Bức tường Berlin sụp đổ năm 1989. Ảnh: The Imaginative Conservative Trong suốt sự nghiệp của mình, tôi luôn tin rằng: vào một ngày nào đó trong tương lai, nước Đức rồi sẽ lại thống nhất. Nhưng tôi chưa bao giờ dám mơ rằng cuộc hội ngộ của Đông và Tây Berlin lại xảy ra trong thời gian tôi làm Thủ tướng. Nhưng Mikhail Gorbachev, cùng chính sách cải tổ (perestroika) và công khai hóa (glasnost) của ông, đã làm cho thống nhất trở thành một khả năng thực sự. Nếu không có Gorbachev và lòng dũng cảm của ông ấy, chuỗi sự kiện trên khắp châu Âu vào mùa thu năm 1989 sẽ không bao giờ có thể xảy ra.   Nguồn: Helmut Kohl, The Fall of the Wall Revisited, Project Syndicate, 11/04/1999. Vì khi Gorbachev lên nắm quyền, ngày càng có nhiều người ở Đông Đức trở nên lạc quan hơn và không còn quá sợ hãi chế độ đàn áp của mình. Họ nhận ra rằng, sau cùng thì, tình trạng hiện tại của Đông Đức không phải là mãi mãi, và rằng có thể đạt được sự thay đổi, thứ mà nhiều nhà bất đồng chính kiến dũng cảm và những người ủng hộ quyền dân sự bị mắc kẹt đằng sau Bức tường kia đã đòi hỏi từ rất lâu. Đối với tôi, cam kết của họ chống lại sự bất công của chế độ cộng sản là một trong những chương hay nhất trong lịch sử nước Đức. Việc mở cửa biên giới Hungary vào mùa thu năm đó và việc công dân Đông Đức xin tị nạn tại các Đại sứ quán Tây Đức ở Prague và Warsaw đã làm rúng động bộ máy cai trị cộng sản và Bộ An ninh Quốc gia (Stasi)[1]. Nhưng vào đêm ngày 09/11, khi Bức tường Berlin và những vòng dây thép gai quấn quanh nó – vốn dĩ đã thất bại trong việc chia rẽ người Đức suốt nhiều thập niên – bắt đầu sụp đổ, thì sự sụp đổ của chính chế độ cộng sản cũng trở nên không thể đảo ngược. Chúng tôi đã bước vào một kỷ nguyên mới. Từ ngày đó, bánh xe của lịch sử đã quay nhanh hơn. Khi tôi trở về từ bữa tiệc tối để xem tin tức từ Berlin trên truyền hình, tôi đã quyết định cắt ngắn chuyến thăm Warsaw của mình. Thật không dễ dàng để thuyết phục những vị chủ nhà của tôi rằng, tại thời điểm lịch sử đó, vị trí của Thủ tướng Đức chỉ có thể là ở thủ đô cũ của chúng tôi, giữa đám đông đang ăn mừng. Bản năng kêu gọi tôi về nhà càng được kích động bởi những hình ảnh vào đêm hôm sau, ngày 10/11, trong một cuộc biểu tình ở phía trước Tòa thị chính Berlin. Một đám đông những người cánh tả cực đoan đã thành công khi ngăn cản những bản thánh ca Đức được hát bởi những người đang kỷ niệm sự sụp đổ của Bức tường. Tôi đã quyết tâm chỉ ra rằng những kẻ cực đoan không phải là đại diện của người dân Berlin! Ngược lại: hầu hết mọi người chỉ đơn giản đang muốn thể hiện niềm vui hân hoan. Họ khao khát thống nhất, công lý và tự do cho quê hương mình. Vậy nên tôi đã bay về Berlin, nhưng trước khi phát biểu với đám đông từ lan can Tòa Thị chính Schoeneberg, tôi đã nhận được một cuộc gọi từ Mikhail Gorbachev. Nhà lãnh đạo Liên Xô yêu cầu tôi kiểm soát sự nhiệt tình của công chúng để ngăn ngừa hỗn loạn và đổ máu. Ông đã nhận được báo cáo rằng tình hình đang ngày càng mất kiểm soát. Ông muốn biết liệu có đúng là đám đông giận dữ đã tấn công các căn cứ quân sự của Liên Xô hay không. Một nhân viên đã chuyển câu trả lời của tôi cho Gorbachev. Tôi đảm bảo rằng thông tin ông có là sai, và ông đã tin tôi. Cũng may là chúng tôi đã có dịp hiểu con người của nhau và đã tin tưởng lẫn nhau khi Gorbachev đến thăm Đức vào tháng 06/1989. Dù có những quan ngại khác nhau, ví dụ như về “vấn đề nước Đức”, nhưng đối với cả hai chúng tôi, “hòa bình” không chỉ là một từ mà là một nhu cầu cơ bản cần thiết. Sau đó, Gorbachev nói với tôi rằng ông đã nhận được thông tin sai lệch một cách có chủ ý, bởi những người phản đối cải cách, những người muốn quân đội Liên Xô ở Đông Đức can thiệp. Cho đến hôm nay, tôi vẫn cảm ơn Gorbachev vì đã chọn không nghe theo những lời kích động ấy, mà lắng nghe các lập luận của tôi. Khi phải lựa chọn hoặc để yên những xe tăng trong doanh trại hoặc đưa chúng ra đường phố, ông đã chọn hòa bình, và sau đó, với rất nhiều can đảm, chấp nhận thực tế mới mà người dân ở Đông Đức đã tạo ra. Vì tầm nhìn và lòng dũng cảm của mình, người ta có thể đặt tin tưởng vào Gorbachev. Sau ngày 09/11, quá trình ngày càng trở nên mạnh mẽ. Trong thời gian ngắn không thể tin được, chỉ có mười một tháng, nước Đức thống nhất đã trở thành thực tế. Đối với tôi, đó là một giấc mơ có thật. Nhưng tôi vẫn cảm nhận được hai nghĩa vụ mạnh mẽ cho tương lai. Nghĩa vụ thứ nhất là một cam kết có thể được mô tả đơn giản bằng hình ảnh nước Đức và châu Âu như hai mặt của cùng một đồng xu. Cái này sẽ không thể tồn tại nếu không có cái kia. Tôi cũng đã trình bày nghĩa vụ còn lại bằng cách nói về sự cần thiết của việc tạo ra “những phong cảnh nở rộ”[2] ở miền Đông nước Đức. Cả hai đều là những nhiệm vụ khổng lồ và khó khăn. Trong mười năm kể từ khi Bức tường sụp đổ, tôi tin rằng cả hai mục tiêu, dù không hoàn toàn, nhưng đều đã đạt được một cách căn bản. Nước Đức thống nhất có một cam kết mạnh mẽ đối với cả châu Âu và Liên minh Xuyên Đại Tây Dương. Đối với các bang mới của Đức, cả quá trình chuyển đổi sang nền dân chủ và một xã hội tự do, lẫn những thay đổi cơ cấu đối với nền kinh tế cộng sản cũ, đều đã thành công, mặc dù những nhiệm vụ này chắc chắn đòi hỏi năng lượng và công lao của nhiều thế hệ trước khi chúng hoàn toàn hoàn thành. Quan trọng nhất, người Đức ngày nay đã một lần nữa coi mình là người dân cùng một nước. Với sự trợ giúp của các chính sách lành mạnh, chúng tôi đã sẵn sàng trên tư cách một xã hội hiện đại để vươn lên trong tương lai. — Chú thích: [1] Bộ An ninh Quốc gia (Ministerium für Staatssicherheit, MfS), thường được biết đến là Stasi (viết tắt tiếng Đức: Staatssicherheit, nghĩa là An ninh Quốc gia), là cơ quan tình báo nội vụ và hải ngoại của Cộng hoà Dân chủ Đức (hay còn gọi là Đông Đức). Nguồn: Wikipedia [2] Vào ngày nước Đức thống nhất, Thủ tướng Helmut Kohl đã kêu gọi các công dân Cộng hoà liên bang thể hiện tình đoàn kết với đồng bào phương Đông, đồng thời cam kết sẽ tạo ra “những phong cảnh nở rộ” (blooming landscape) – ý chỉ một nền kinh tế thịnh vượng – nhằm cải thiện nhanh chóng điều kiện sống ở Đông Đức. Nguồn: German History Bản gốc: The Fall of the Wall Revisited
......

„Dân Chủ“ trong không khí mừng lễ tưng bừng

„Lễ hội Schwarzrotgold ở Hambach lôi kéo được nhiều quan khách mặc dù thời tiết thất thường" Từ con đường Schlossstrasse của làng Hambach nhìn lên tòa lâu đài Hambacher Schloß trông rất hấp dẫn. Nhưng còn hấp dẫn hơn là lễ hội „Schwarzrotgold“ vào cuối tuần qua, ngày lễ hội của con đường Schlossstrasse. Rất nhiều phó nhòm và nhà báo đã chụp được những bức hình rất đặc biệt với đại kỳ Đức quốc; những câu nói của những nhân vật nổi tiếng về đề tài: „dân chủ“ được in trên những miếng vải trắng và được treo lên cao để mọi người có thể đọc, những quầy bán hàng, những chậu hoa để ở trước cửa sổ rất đẹp và những đèn chiếu vào buổi chiều gây được sự chú ý của khách tham dự. Ảnh 3 người mẫu nổi tiếng của làng Hambach: Charlotte Dietz, Petra Henke và Konstanze Ertel, đang đứng trước tòa lâu đài Hambach,  ông Helmut Pauly người đang chụp hình. (Foto:LM) Lễ hội lần này không những chương trình rất phong phú mà thời tiết cũng rất ư là „phong phú“. Lúc khai mạc vào chiều ngày thứ sáu bài diễn văn của người trưởng làng bà Gerda Bolz trước tiệm bán rượu Johann Müller đã không lấn át được tiếng sấm sét của trận mưa rào rất lớn. Mặc dù vậy bà rất vui vì đã bán được 90 vé để đi thử rượu của nhiều tiệm rượu khác nhau. Sau khi tạnh mưa thì một số khách mới tới. Ngày thứ bảy thời tiết lý tưởng nhất, ngày chủ nhật thì lại quá nóng. Không những phong cảnh từ con đường Schlossstrasse nhìn lên tòa lâu đài Hambacher Schloß là „tuyệt đẹp“, mà còn nhiều cái „đẹp“ khác nữa. Chẳng hạn như những mảnh vải trắng với những câu rất đáng để suy nghĩ như: „ Nếu bạn không chăm lo gì cả thì tôi sẽ bỏ bạn ra đi…. Người bạn DÂN CHỦ“; hoặc những bóng đèn màu được những giá đựng rượu úp lên khi chiếu tạo nên một bầu không khí rất đặc biệt. Dọc theo đường Schlossstrasse có những ghế dài để người ta có thể ngồi nghỉ hoặc ngắm người qua lại; rất nhiều khách tham dự đến từ vùng chung quanh hai sông Rhein và Neckar, hoặc những dân làng Hambach mặc sắc phục cổ truyền nhảy múa trong các sân hoặc ngay trên đường. Trong một số sân của dân làng có bầy bán các nữ trang, thiệp, mật ong… tự làm cũng rất đặc biệt. „ Người tới coi thì nhiều lắm, nhưng người mua thì ít“, ông Jochen Heim trả lời nhà báo như thế. Ông để bán trong tiệm Café Liberté những bức hình rất đẹp ông chụp ở hãng xưởng hóa chất lớn nhất thế giới BASF hoặc ở nhà máy điện Mannheim, hoặc của những lâu đài, phong cảnh thiên nhiên…. Dĩ nhiên là có sân bán bánh và cà phê. Có vài thiếu niên dựng một cái bàn và bán bánh Pháp Crêpes. Người ta có thể vừa ăn bánh Crêpes nóng hổi mới nướng xong và ngắm những bức tranh tuyệt đẹp được vẽ theo phương pháp Aquarelle của bà Zita Gutting. Trong sân Albert thì người ta cần dùng đến óc sáng tạo. „Ở đây có cá heo. Đây là cá mà tôi thích nhất”, cô bé 7 tuổi Vivienne vừa nói vừa xếp giấy theo hình con cá heo. Cô người Nhật Misaki Yoshinaga đang chỉ cho người lớn và trẻ em cách xếp giấy các thú vật theo nghệ thuật Origami. Người ta vẫn phải còn tranh đấu cho Tự Do là điều mà gia đình ông bà Trịnh Đỗ trình bầy ở quầy thông tin về những Tù Nhân Chính Trị tại Việt Nam, song song đó có thể thưởng thức những món ăn thuần tuý Á Châu. Và ở đây người ta có thể thưởng thức nhiều thể loại nhạc khác nhau tuỳ theo sở thích của mỗi người. “ Nếu cùng hát theo thì  dễ “chịu đựng” được hơn”, một nhân viên bán thức ăn trước tòa thị sảnh nói thế, và phải “chịu đựng” nghe nhạc của “Lifestyle”. Những khách tham dự thì có thể chọn lựa xem thích nghe nhạc nào, vì có rất nhiều ban nhạc sống chơi trong các sân hoặc ngay trên đường. Annegret Ries - Minh Hoài phỏng dịch http://www.rheinpfalz.de/lokal/neustadt/artikel/demokratie-in-bester-fei...  
......

Menschenrechtsaktivist aus Vietnam zu Besuch im Bischofshaus

Franz-Xaver Dang-Xuan-Dieu (5. von rechts) mit Bischof Wiesemann (links neben Dang-Xuan-Dieu) und Mitgliedern der Freilassungsinitiative. Speyer. Im Januar 2017 wurde der zu einer langjährigen Gefängnisstrafe verurteilte vietnamesische Christ und Menschenrechtsaktivist Franz-Xaver Dang-Xuan-Dieu in seinem Heimatland aus der Haft entlassen und nach Paris abgeschoben. Sechs Jahre verbrachte der tiefgläubige Katholik, der sich für Demokratie und Menschenrechte in Vietnam engagiert, in Einzelhaft. Für seine Freilassung hatte sich auch eine von vielen Persönlichkeiten aus der Pfalz und ganz Deutschland mitgetragene Initiative eingesetzt, die von Vertretern des Bistums Speyer, darunter Weihbischof Otto Georgens und Bischof Dr. Karl-Heinz Wiesemann, unterstützt wurde. Bei einem Besuch im Bischofshaus am vergangenen Donnerstag bedankte sich Franz-Xaver Dang-Xuan-Dieu bei  für den Beistand durch die Speyerer Bistumsleitung. Initiiert hatte den Besuch der langjährige Caritasmitarbeiter und Mitglied im Katholikenrat der Diözese Speyer Ton-Vinh Trinh-Do, der 1979 als Jugendlicher aus seiner Heimat geflüchtet war und damals Aufnahme im Kloster St. Dominikus in Speyer fand. Wie Franz-Xaver Dang-Xuan-Dieu im Bischofshaus berichtete, wurde er 2011 gemeinsam mit 13 anderen jungen vietnamesischen Christen verhaftet und zu einer 13-jährigen Gefängnisstrafe verurteilt. Der Vorwurf der Justiz lautete: versuchter Umsturz des Staates. „Wir haben uns aus unserem christlichen Glauben heraus für Freiheit und Menschenrechte eingesetzt. Das haben die staatlichen Behörden als Bedrohung empfunden und das war der Grund für unsere Verhaftung“, erklärte Dang-Xuan-Dieu. Da er das Urteil nicht anerkannte und sich außerdem weigerte Gefängniskleidung zu tragen, weil er sich nicht als „Verbrecher“ betrachtete, war er im Gefängnis großen Repressalien ausgesetzt. Er protestierte gegen die Haftbedingungen und das ungerechtfertigte Urteil mit insgesamt 100 Tagen Hungerstreik während der sechs Jahre Haft. „In dieser Notlage, knapp vor dem Tod, berichtete mir ein Freund von der Kampagne für meine Freilassung und das so viele Menschen für mich beten. Das hat mir sehr viel Hoffnung und Kraft gegeben, denn man hatte mir auch verboten, Besuch von Angehörigen zu empfangen“, erzählte Dang-Xuan-Dieu. Die Abschiebung nach Paris kam für ihn überraschend. Seine Bitte: Die immer noch im Gefängnis sitzenden Glaubensschwestern und – brüder nicht zu vergessen, für sie weiterhin zu beten und für ihre Freilassung zu kämpfen. Er überreichte Bischof Wiesemann eine Liste mit Namen und Fotos inhaftierter Weggefährten. Ein weiteres Anliegen ist ihm die Unterstützung der von einer Umweltkatastrophe betroffenen Küstenbewohner in seiner Heimatdiözese Vinh. „Über 250 Kilometer Küste wurden in Mittelvietnam durch Abwässer eines Werkes des Stahlkonzerns Formosa verseucht. Die Kirche unterstützt die Opfer bei ihrem Bemühen, von dem Unternehmen eine Entschädigung zu bekommen“, so Dang-Xuan-Dieu. Die Regierung in Vietnam fördere die Ansiedlung von Industrieunternehmen vor allem aus China, die ohne Rücksicht auf die Umwelt produzierten. Dagegen wehrten sich auch viele Christen und würden deshalb bedroht. „Wir fühlen uns in großer Solidarität mit den verfolgten Christen in Vietnam verbunden“, erklärte Bischof Wiesemann, der sich von den Schilderungen Dang-Xuan-Dieus „sehr bewegt“ zeigte. Er verwies auf den Besuch von Kardinal Marx in Vietnam im vergangenen Jahr, mit dem die Verbundenheit der Kirche in Deutschland mit den Katholiken in Vietnam zum Ausdruck gebracht worden sei. Allen Unterstützern der Freilassungsinitiative dankte er für ihr Engagement. Begleitet wurde Dang-Xuan-Dieu bei seinem Besuch im Bischofshaus von Ton-Vinh Trinh-Do und dessen Ehefrau Theresia Hoa Truong sowie den Mitgliedern der Freilassungsinitiative Prof. Dr. med. Stefan Grüne von der Universität Mainz, dem ärztlichen Direktor des Krankenhauses „Zum Guten Hirten“ in Ludwigshafen, Dr. Jörg Breitmaier, Prof. Arnd Götzelmann von der Hochschule Ludwigshafen, den beiden ehemaligen Richtern am Landgericht in Neustadt Gudrun und Otmar Freiermuth sowie Sr. Johanna Gillich vom Institut St. Dominikus in Speyer. Weitere Informationen zu der Initiative: http://www.thongtinducquoc.de/node/2515 https://www.bistum-speyer.de/news/nachrichten/?no_cache=1&tx_ttnews%5Btt...
......

Cựu Tổng Thống Đức Christian Wulff ủng hộ Tù Nhân Lương Tâm Việt Nam.

  Seyer, Đức Quốc, 06.04.2017, Nhân dịp lễ kỷ niệm 500 năm CANH TÂN (REFORMATION, 1517 - 2017) hai giáo phận Tin Lành và Công Giáo tại tiểu bang RHEINLAND-PFALZ cùng với nhật báo DIE RHEINPFALZ và tuần báo Kitô giáo EVANGELISCHER KIRCHENBOTE mời cựu Tổng Thống Đức Quốc Christian Wulff đến thuyết trình tại nhà thờ chánh tòa Tin Lành Gedächtniskirche.   Dưới chủ đề „Vì Yêu Chân Lý và Công Lý“ vị cựu Tổng Thống Đức Christian Wulff  đã trình bầy những điểm căn cốt cho một xã hội phát triển lành mạnh trong thanh bình, đó là ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG, TRUNG THỰC và CAN ĐẢM.   Đa nguyên và đa đảng dựa trên nền tảng của hiến chương tôn trọng nhân phẩm sẽ tạo cơ hội cho mọi tầng lớp trong quốc gia đóng góp tài năng và sức lực của mình để mưu sinh và tổ chức xã hội sao cho tốt đẹp. Trung thực tạo sự tin tưởng giữa mọi thành phần xã hội hầu có thể cộng tác với nhau hữu hiệu. Trung thực là sức đề kháng của xã hội chống lại những hiện tượng độc tài. Tinh thần can đảm giúp con người vượt qua điều phải tránh, đó là sự sợ hãi. Vị cựu Tổng Thống nhấn mạnh rằng, nước Đức thành công vì có đa nguyên, đa đảng và đa dạng, mà trong đó có phần đóng góp của nhiều sắc tộc thí dụ như người Việt Nam. Ông Christian Wulff cũng kêu gọi tranh đấu cho những người bị đàn áp vì họ dám lên tiếng cho Chân Lý và Công Lý.   Trong buổi gặp gỡ và đối thoại với người Việt tỵ nạn cộng sản, vị cựu Tổng Thống đã sẵn sàng lên tiếng ủng hộ những TÙ NHÂN LƯƠNG TÂM VIỆT NAM. Cựu Tổng Thống Đức Quốc Christian Wulff,  hình đứng giữa Tôn - Vinh & Ngọc Hòa  
......

Die Vorstellungen von der Rettungsaktion Cap Anamur lebt für immer und ewig

Abschied von Dr. Rupert Neudeck Dr. Rupert Neudeck ist der großherzigste Mensch, der mir meinem Leben begegnet ist. “Ich melde mich“ war seine letzten Worte bei unserer Begegnung in Haus der Universität Düsseldorf am 27. August 2015, wo er seinen Vortrag “Flüchtlingsströme nach Europa – Ein Testfall für EU“ hielte. Zur Schilderung der Ursache der gegenwärtigen dramatischen Flüchtlingstragödie im Mittelmeer betonte er, dass viele afrikanischen Präsidenten einen beachtlichen Teil dazu beitragen haben. Zur Lösungsversuch appellierte er darauf leidenschaftlich, dass wir mehr Bildungsprojekts in diesen Ländern realisieren werden, so dass den Menschen direkt vor Ort mit Perspektiven verschaffen werden kann. Der Ruf nach der Verwirklichung seiner humanistischen Idee fand viel Zustimmung. Seine Rede war publikumswirksam, aber seine Aktion ist ein entschlossener Humanist, wie er für mich persönlich tat. Er ist ein wunderbarer Retter meines orientierungslosen Überlebens auf dem südchinesischen Meer. Ohne seine Rettungsaktion wäre ich nicht am Leben und hätte keine weitere Gelegenheit, in Deutschland zu integrieren. Cap Anamur ist und bleibt mein lieu de mémoire. Für die Deutschen vermittelte er der Welt ein menschenliebendes Bild von Deutschland. Seine Name Neudeck kann man in Ausland vergessen, aber seine  Vorstellungen von der Hilfsaktion bleiben unvergessen. Wenn jeder denkt und handelt wie ein “German Doctor in Cap Anamur“ tut, dann Deutschland so viel Respekt und Bewunderung verdienen kann und der Frieden der Welt zum Greifen nahe ist.      In tiefer Verbundenheit und Dankbarkeit werde ich seine Rettung, unsere Begegnung und sein Vermächtnis nie vergessen. Kim Them Do, Boatpeople, Cap Anamur VIII, Boat 2, 1980 Köln, 14.Juni 2016
......

Für vorübergehenden Schutz statt Asyl

Christian Lindner verdeutlicht, dass die dauerhafte Bleibeperspektive an die traditionelle Anwendung des Asylrechts gebunden werden muss 24.10.2015 - 11:00 FDP-Chef Christian Lindner ist überzeugt: Deutschlands aktuelle Regelungen zur Aufnahme von Flüchtlingen sind den Zuständen der Krise nicht gewachsen. Im Gastbeitrag für die "F.A.Z." plädiert er dafür, das historisch bewährte Instrument des vorübergehenden Schutzes zu nutzen. "Es ist unzureichend, den Blick wie die Bundesregierung nur auf verschärfte Abschiebung zu richten", macht Lindner klar. Die Solidarität mit Menschen in Not sei eine ethische Pflicht. Daraus könne aber keine dauerhafte Bleibeperspektive erwachsen. "Deshalb ist das Asylrecht im Grundgesetz in vielen Fällen das falsche Instrument", konstatiert er.   "Nach der Genfer Flüchtlingskonvention anerkannt, wer wegen Rasse, Religion, Nationalität, politischer Überzeugung oder Zugehörigkeit zu einer bestimmten sozialen Gruppe verfolgt ist", gibt Lindner zu bedenken. Für die große Zahl von Menschen, die vor Kriegsfolgen im Herkunftsland fliehen, passe das Asylrecht inhaltlich nicht. Für diese Lage kenne das internationale wie das deutsche Recht allerdings den vorrübergehenden humanitären Schutz. "Er wird gewährt, wenn konkrete Gefahr droht, etwa infolge eines bewaffneten Konflikts. In solchen Fällen wird nicht Asyl, sondern eine befristete Aufenthaltserlaubnis gewährt, die an die Dauer der Bedrohung gebunden ist", erläutert der Freidemokrat. Lindner erinnert: "Mit einer vergleichbaren Strategie hat unser Land auf die Balkankriege in den neunziger Jahren reagiert." Es sei höchste Zeit, die rechtlichen Voraussetzungen zu schaffen, damit die deutschen Behörden unabhängig von einem EU-Beschluss den vorübergehenden humanitären Schutz gewähren könnten. Die FDP im Landtag Nordrhein-Westfalen lege dazu jetzt einen Gesetzentwurf vor, führt Lindner aus. Lesen Sie hier den gesamten Gastbeitrag. Angesichts globaler Krisen und wachsender Mobilität hat die Bundeskanzlerin fahrlässig gehandelt. Sie hat den Eindruck erweckt, unsere Möglichkeiten zur Aufnahme von Flüchtlingen seien nur abhängig von unserem Wollen. Ihre Äußerungen wurden als Versprechen wahrgenommen, das sich an alle richtet, die ein neues Leben suchen. Weil unsere europäischen Partner Migration zumeist restriktiv handhaben, konzentriert sich der Zustrom auf Deutschland. Wir sind zu einer Projektionsfläche von Sehnsüchten geworden, die möglicherweise bitter enttäuscht werden. Denn auch wir können nicht täglich 10 000 Flüchtlinge aufnehmen. Die Zahlen müssen sinken. Es reicht nicht, auf eine europäische Lösung zu warten, um die immense Sogwirkung und die Lage insgesamt unter Kontrolle zu bringen. Natürlich muss Europa seine Außengrenzen schützen, die Flüchtlinge vor Ort in der Türkei, in Jordanien und dem Libanon unterstützen und ein einheitliches EU-Asylrecht mit fairer Lastenverteilung beschließen. Und natürlich müssen wir unsere Integrationspolitik forcieren, um bestehende Chancen zu nutzen. Aber die Krise legt auch offen, dass unsere Regelungen zur Aufnahme von Flüchtlingen nicht den Realitäten genügen. Einem Massenzustrom ist weder unsere Gesellschaft noch unser Asylrecht gewachsen. Es ist unzureichend, den Blick wie die Bundesregierung nur auf verschärfte Abschiebung zu richten. Wir müssen stattdessen international und historisch bewährte Regeln im Ausländer- und Aufenthaltsrecht nutzen. Die Solidarität mit Menschen in Not ist eine ethische Pflicht. Daraus kann aber keine dauerhafte Bleibeperspektive erwachsen. Deshalb ist das Asylrecht im Grundgesetz in vielen Fällen das falsche Instrument. Es bezieht sich nur auf die kleine Gruppe individuell politisch Verfolgter. Bei der Einreise aus einem sicheren Drittland wie Österreich ist die Anerkennung als Asylberechtigter ohnehin ausgeschlossen. Darüber hinaus wird nach der Genfer Flüchtlingskonvention anerkannt, wer wegen Rasse, Religion, Nationalität, politischer Überzeugung oder Zugehörigkeit zu einer bestimmten sozialen Gruppe verfolgt ist. Für die große Zahl von Menschen, die vor Kriegsfolgen in ihrem Land fliehen, passt das Asylrecht inhaltlich nicht. Und dort, wo es passen könnte (sogenannter „subsidiärer Schutz“), ist es zu bürokratisch ausgestaltet. Für diese Lage kennt das internationale wie das deutsche Recht allerdings den vorübergehenden humanitären Schutz. Er wird gewährt, wenn konkrete Gefahr droht, etwa infolge eines bewaffneten Konflikts. In solchen Fällen wird nicht Asyl, sondern eine befristete Aufenthaltserlaubnis gewährt, die an die Dauer der Bedrohung gebunden ist. Mit einer vergleichbaren Strategie hat unser Land auf die Balkankriege in den neunziger Jahren reagiert, um die Sogwirkung zu reduzieren und die spätere Rückführung zu erleichtern. Warum nicht auch jetzt? Das europäische Recht hat entsprechende Vorkehrungen getroffen. Voraussetzung ist, dass der Europäische Rat „das Bestehen eines Massenzustroms“ feststellt. Da in der EU eine Einigkeit bislang nicht absehbar ist, kann Deutschland dieses Instrument gegenwärtig nicht nutzen. Es ist höchste Zeit, die rechtlichen Voraussetzungen zu schaffen, damit unsere Behörden unabhängig von einem EU-Beschluss den vorübergehenden humanitären Schutz gewähren können. Die FDP im Landtag Nordrhein-Westfalen legt dazu jetzt einen Gesetzentwurf vor. Was ist dadurch gewonnen? Kriegsflüchtlinge erhalten als Gruppe mit wesentlich weniger Bürokratie einen befristeten Aufenthaltstitel und erste Integrationsmaßnahmen – unter Verzicht auf dauerhaftes Bleiberecht. Ihre Asylanträge, sollten sie dennoch gestellt werden, ruhen einstweilen. Die kleinere Gruppe politisch Verfolgter oder Flüchtlinge im Sinne der Genfer Konvention erhalten Asyl – und zwar schneller, weil die Behörden entlastet sind. Für eine Bleibeperspektive benötigt Deutschland dann darüber hinaus ein liberales Einwanderungsgesetz, das orientiert an unseren Interessen Kriterien benennt, wen wir einladen wollen, seine Zukunft dauerhaft mit uns zu gestalten. Wer sie erfüllt, kann auf die Überholspur zum Arbeitsmarkt. Kriegsflüchtlinge, die nicht in ihre Heimat zurückkehren wollen, aber die Kriterien des Einwanderungsgesetzes nicht erfüllen, werden nach Beendigung des Konflikts konsequent zurückgeführt. Dies wäre ein überfälliges Signal, dass Deutschland solidarisch ist, aber Flüchtlinge in diesem Umfang nicht dauerhaft aufnehmen kann. http://www.liberale.de/content/fuer-voruebergehenden-schutz-statt-asyl
......

Flucht und Asyl

Reform kann in Kraft treten Schnellere Asylverfahren, weniger Fehlanreize, leichtere Rückführung abgelehnter Asylbewerber, mehr Unterstützung für Länder und Kommunen, rasche Integration in den Arbeitsmarkt – das sind die wichtigsten Punkte des Gesetzespakets zur Asylpolitik. Nach dem Bundestag hat heute auch der Bundesrat zugestimmt. Die Änderungen sollen zum 1. November in Kraft treten. Gestern hatte Bundeskanzlerin Angela Merkel in ihrer Regierungserklärung um Zustimmung zu dem Gesetzespaket geworben. Menschen ohne Asylanspruch müssten das Land schneller verlassen, Schutzbedürftige bekämen dagegen effizientere Hilfe, sagte Merkel. Die Kanzlerin betonte, so wichtig die geplanten Änderungen auch seien, zur Lösung der Flüchtlingskrise reichten die Schritte nicht aus. "Dafür braucht es mehr", so Merkel. Weitere Gesetzesänderungen müssten folgen. Wichtig sei vor allem ein gesamteuropäisches Vorgehen. Die Flüchtlingskrise sei nicht nur eine "nationale Kraftanstrengung", sondern eine "historische Bewährungsprobe Europas". Die Bundesregierung geht davon aus, dass in diesem Jahr 800.000 Menschen Asyl-Anträge in Deutschland stellen. Innerhalb der Europäischen Union nimmt Deutschland heute mit großem Abstand die meisten Asylbewerber auf. Alle europäischen Staaten müssen ihrer Verantwortung gerecht werden. In Italien und Griechenland sollen rasch Aufnahmezentren für Flüchtlinge entstehen. Für die Registrierung, Unterbringung und Gesundheitsvorsorge soll es einheitliche Standards geben. Wir können die Not von Bürgerkriegen und vergleichbaren humanitären Katastrophen nicht hier in Deutschland lösen. Deshalb ist es nach wie vor notwendig, die Hilfe vor Ort zu verstärken. Wichtig ist, dass die Menschen insbesondere in Nordafrika auf eine bessere Lebensperspektive vertrauen können. Deutschland hilft dabei bilateral und gemeinsam mit den anderen EU-Staaten. Der Schwerpunkt der deutschen Flüchtlingshilfe liegt in der Hilfe vor Ort, vor allem, indem Fluchtursachen bekämpft und die Aufnahmeregionen unterstützt werden. http://www.bundesregierung.de/Content/DE/Artikel/2015/10/2015-10-15-asyl...
......

Sehr ho­her Asyl-Zu­gang im Sep­tem­ber 2015

Im September 2015 wurden beim Bundesamt für Migration und Flüchtlinge insgesamt 43.071 Asylanträge gestellt Dies bedeutet einen Anstieg von 126,2 Prozent gegenüber dem Vorjahresmonat September 2014. Entschieden hat das Bundesamt im September 2015 über die Anträge von 22.983 Personen. Dies bedeutet einen Anstieg von 166,8 Prozent gegenüber dem Vorjahresmonat September 2014 (8.615 Entscheidungen). 8.690 Personen erhielten die Rechtsstellung eines Flüchtlings nach der Genfer Flüchtlingskonvention (37,8 Prozent aller Asylentscheidungen). Zudem erhielten 262 Personen (1,1 Prozent) subsidiären Schutz im Sinne der EU-Richtlinie 2011/95/EU. Bei 154 Personen (0,7 Prozent) wurden Abschiebungsverbote nach § 60 Absatz 5 oder Absatz 7 Satz 1 des Aufenthaltsgesetzes festgestellt. Die Zahl der tatsächlichen Einreisen von Asylsuchenden nach Deutschland lag im September 2015 deutlich höher, da die formale Asylantragstellung teilweise erst zeitlich verzögert möglich ist. So sind im EASY-System im Monat September 2015 bundesweit etwa 164.000 Zugänge von Asylsuchenden registriert worden. Von Januar bis September 2015 waren es insgesamt ca. 577.000. Das EASY-System ist eine IT-Anwendung zur Erstverteilung der Asylbegehrenden auf die Bundesländer. Bei den EASY-Zahlen sind Fehl- und Doppelerfassungen wegen fehlender erkennungsdienstlicher Behandlung und fehlender Erfassung der persönlichen Daten nicht ausgeschlossen. http://www.bmi.bund.de/SharedDocs/Pressemitteilungen/DE/2015/10/asylantr...
......

Pages