Suy nghĩ về việc kiến tạo sức mạnh dân tộc để dân chủ hóa đất nước

(Từ hiện tượng Nguyễn Đắc Kiên và Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do) Vừa mới xuất hiện, Nguyễn Đắc Kiên có thể được xem như một hiện tượng. Bài viết ngắn gọn của anh thẳng như một mũi lao phóng trúng đích. Rõ ràng, chính xác, cương quyết, không ai có thể hiểu lầm hay diễn giải khác. Nó cũng thể hiện phẩm chất của một con người sáng suốt, rạch ròi, dũng cảm, biết và dám phản kháng. Bài viết như đúc kết ước mong, khát vọng của rất nhiều người mà từ trước đến nay chưa ai có thể diễn đạt rõ ràng hơn. Đây là thế mạnh của một người trẻ tuổi, dù anh đã 30, không còn trẻ lắm. Lịch sử Việt Nam nếu kể từ truyền thuyết Thánh Gióng “lên ba chưa biết nói biết cười” trở thành dũng sĩ phá giặc, đến Trần Quốc Toản 16 tuổi “bóp nát quả cam lúc nào không biết”, cho đến các chàng trai, cô gái 18-20 các giai đoạn sau này, không ít người đã làm những chuyện “kinh thiên động địa” ngay từ khi còn rất trẻ. Tuy nhiên nhìn vào phong trào vận động dân chủ hóa đất nước hiện nay mà phần lớn những người tham gia đều ở độ tuổi trung niên, sắp già hay thậm chí rất già thì Nguyễn Đắc Kiên vẫn còn khá trẻ. Và ở độ tuổi này anh đã có sự chín chắn cần thiết khi tung ra một ngón đòn ngoạn mục cùng với những cách ứng xử, quan điểm được bộc lộ tiếp theo sau đó. Đề nghị của anh về việc bỏ cụm từ “sát cánh bên nhà báo Nguyễn Đắc Kiên” trong Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do là một sự tế nhị, khiêm tốn và khôn ngoan. Các ý kiến tiếp theo trong lá thư ngỏ và bài viết của anh về tha thứ và hòa giải, phản động, chưa kể những gì thể hiện trong tập thơ “Những số không vòng trắng” với cách cảm nhận đau đớn về dân tộc và phận người của một tâm hồn thi sĩ, cho thấy anh đã dành nhiều thời gian suy niệm về những vấn đề lớn của đất nước. Hầu như ngay lập tức sau khi bài viết của anh được tung ra, một số blogger trẻ đã hình thành Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do, dùng ngay chính nội dung bài viết của anh để tập hợp những người ủng hộ. Trong thời gian vài ngày đã có vài ngàn người hưởng ứng. Bản thân tôi cũng đã ký tên vào Lời Tuyên Bố. Có thể nó sẽ theo kịp hoặc vượt qua con số hưởng ứng cũng rất nhanh chóng đối với Kiến nghị sửa đổi hiến pháp 1992 (gọi tắt là Kiến Nghị 72 vì có 72 người ký đầu tiên) cũng mới được tung ra không lâu do các trí thức, văn nghệ sĩ và cựu quan chức chủ xướng. Lời Tuyên Bố có nội dung mạnh mẽ hơn, người ký vào có thể “gặp nguy hiểm” nhiều hơn, vì nó công khai bác bỏ toàn bộ nền tảng của chế độ chính trị hiện hành và tốc độ gia tăng của số người hưởng ứng cho thấy một khía cạnh mới của tình hình. Ấy là sự chán ngán và thất vọng cùng cực đối với chế độ toàn trị lâu nay và thái độ dứt khoát muốn thay đổi từ cơ bản, gốc rễ. Điều này là một bằng chứng hiển nhiên, một sự mô tả bằng giấy trắng mực đen không ai có thể chối bỏ. Đây là một hiện tượng bất ngờ, xuất hiện ngay sau ý kiến của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi nói về việc góp ý sửa đổi Hiến pháp. Sự hớ hênh hay hoảng hốt (?!) của Tổng bí thư, cùng với sự chỉ đạo tuyên truyền rập khuôn cho toàn hệ thống, là cái cớ, cơ hội ngàn vàng cho sự phản ứng bùng phát. Có thể về sau, khi lịch sử trải qua nhiều đổi thay, người ta sẽ phải nghiền ngẫm trở lại “cú đột phá” này. Nó không giống cách mạng màu, cách mạng nhung hay cách mạng hoa hồng, hoa lài… mà nó là “đặc thù Việt Nam”. Còn quá sớm để nói đến những gì tiếp theo nhưng nhất định sự việc này sẽ trở thành một dấu mốc. Quan điểm của Nguyễn Đắc Kiên và những người ủng hộ có thể xem là tiên phong nhất trong các quan điểm về vấn đề dân chủ hóa đất nước, nhưng chắc chắn chỉ lực lượng này không thể làm nên sự thay đổi mà cần phải có sức mạnh của toàn dân tộc. Bởi so với các chế độ độc tài toàn trị đã có ở các nước trên thế giới, dù là quân chủ, quân phiệt, phát xít, phân biệt chủng tộc hay cộng sản, thì có lẽ chưa có chế độ toàn trị nào khôn ngoan đáo để và thích ứng nhanh nhạy như chế độ cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, dân tộc Việt Nam đã trải qua hai cuộc chiến tranh, với tâm lý cầu sinh, cầu an, cam phận, nếu không nói là khiếp nhược và tâm lý hưởng thụ, đã làm cho phong trào dân chủ hóa đất nước gặp vô vàn khó khăn sau gần bốn thập niên từ khi đất nước thống nhất. Muốn thay đổi chế độ toàn trị này nhất định phải có sức mạnh tiên tiến và tổng hợp của toàn dân tộc, bao gồm tất cả mọi lực lượng, bất kể quá khứ như thế nào, trong hay ngoài nước, nhất là trong nước, phải có sự đoàn kết và thống nhất về mục tiêu chung trước mắt và lâu dài. Một số lực lượng lâu nay đã từng bước lộ diện: trí thức, văn nghệ sĩ, blogger, sinh viên, đảng viên, nông dân (đặc biệt là dân oan), công nhân, các tôn giáo… Trong từng thành phần mới chỉ có một bộ phận nhỏ tiên phong nhưng cũng đã bộc lộ những khác biệt về quan điểm và bị chia cắt nên chưa tạo nên sức mạnh. Đặc biệt đối với các đảng viên, họ phải hứng chịu nhiều lời phê phán: nào hưởng thụ đầy đủ mọi quyền lợi rồi, bây giờ về hưu mới nói; nào bản chất cộng sản không thể nào thay đổi, làm gì có người cộng sản chân chính… Có thể những phê phán này đúng trong một chừng mực nào đó nhưng không phải vì thế mà không thấy được vai trò rất tích cực của các đảng viên này trong cuộc đại đoàn kết trên tiến trình dân chủ hóa. Có “người cộng sản chân chính” hay không chỉ là một cách nói, một vấn đề ngôn từ dù có phân tích chi ly đến cùng. Nếu trong thực tế có những người như thế (do người khác nói hay họ tự nhận), nghĩa là có một số phẩm chất tốt, dù hiểu theo nghĩa phẩm chất con người hay phẩm chất cộng sản, và họ đóng góp cho công cuộc chuyển hóa đất nước thì cớ sao lại không hoan nghênh? Chưa kể ngay đối với những người cộng sản không phải là “cộng sản chân chính” cũng phải có phương cách hóa giải, nếu không, 4 triệu đảng viên cộng sản và hàng chục triệu người liên quan, gắn bó với họ sẽ ở đâu trong tiến trình này? Đặt họ vào vị trí đối địch trong một cuộc nội chiến và khi thắng lợi sẽ tiêu diệt, bỏ tù, hay buộc họ vượt biên… để lại lặp lại cái vòng lẩn quẩn của dân tộc trong mấy chục năm qua?! Chỉ mường tượng ra như vậy để thấy rằng không thể cực đoan một chiều. Cũng không nên dồn ai vào chân tường bằng thuần lý thuyết, rằng anh phải trả thẻ đảng, phải ăn năn hối hận, phải từ bỏ mọi bổng lộc đang được hưởng mới xứng đáng đứng vào hàng ngũ dân chủ (!). Cần quan niệm như thế nào để đừng làm yếu đi thế lực của dân tộc và tăng thêm sức mạnh cho quyền lực độc tài, khi quyền lực này còn viện tới cả “cái sổ hưu” để củng cố lực lượng. Vả lại ngay đối với những người phê phán, ở trong nước có ai đã và đang không dính líu ít nhiều đến guồng máy toàn trị vì guồng máy này đang bao trùm toàn xã hội? Cho nên tôi rất tán đồng việc Nguyễn Đắc Kiên nói về tha thứ và hòa giải. Theo tôi, trước đó còn cần có sự bao dung, không cực đoan, khắc nghiệt hay hận thù. Bao dung trong quan điểm về những vấn đề lịch sử, bao dung khi xử lý những vấn đề hiện tại và tương lai, bao dung với con người đã từng có lỗi lầm. Tiến trình dân chủ hóa đất nước không cho phép độc quyền chân lý. Hô hào đa nguyên thì đừng bao giờ nói theo kiểu “ai không theo ta là sai lầm, chống ta”. Về những sự kiện lịch sử đã kết thúc mà vẫn còn tranh cãi, bất đồng, làm sao trong tiến trình mò mẫm tìm đường lại có thể độc quyền chân lý hay kích bác nhau?! Lời Tuyên Bố Công Dân Tự Do phủ định việc sửa chữa Hiến pháp nhưng không phải vì thế mà đối nghịch với Kiến nghị 72 về góp ý sửa đổi Hiến pháp hay các loại ý kiến tìm đường khác. Mỗi cách làm có tác dụng riêng, tập hợp lực lượng riêng và góp phần nâng cao dân trí, đóng góp vào chuyển động chung gây sức ép lên chế độ toàn trị, ngoại trừ những hình thức giả mà mục đích là để củng cố chứ không phải chuyển hóa chế độ này. Cũng như không nên chỉ lớn tiếng chê trách thanh niên sinh viên hiện nay là ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, vô trách nhiệm đối với vận nước. Có thể có tình hình này so với các thế hệ dấn thân trước đây, nhưng thanh niên chính là sản phẩm của xã hội, của chế độ, của truyền thống, của nền giáo dục, trong đó có trách nhiệm của những người đi trước. Thế hệ nào cũng có những anh hùng, những người đi tiên phong và thế hệ trẻ hiện nay cũng đã có những người như thế xuất hiện. Cuộc dấn thân hôm nay là sự đồng hành của nhiều thế hệ, thế hệ trẻ hiện nay và những thế hệ dấn thân trước đây còn tồn tại, cùng thức tỉnh và hỗ trợ nhau bằng thế mạnh riêng của mình, trong một giai đoạn đầy khó khăn gai góc. Các phẩm chất yêu nước, trong sáng, nồng nhiệt, phản kháng, khao khát tự do dân chủ và hòa bình là phẩm chất tinh hoa của nhiều thế hệ cần được khôi phục và phát huy hơn bao giờ hết để kiến tạo sức mạnh mới của dân tộc trên con đường dân chủ hóa đất nước. Đà Lạt 3/3/2013 T.D.B.C.
......

LỜI TUYÊN BỐ của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT VIỆN TĂNG THỐNG Thanh Minh Thiền viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, Saigon -------------------------------------------------------------------------------------   Phật lịch 2556                                                                                                 Số 01 /TT/VTT LỜI TUYÊN BỐ của Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất : Dân chủ là nền tảng phát triển kinh tế, đem lại no cơm ấm áo, hạnh phúc và tự do cho toàn dân Ngày 21 tháng 2 năm 2001, nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), tôi đã công bố “Lời Kêu gọi cho Dân chủ Việt Nam” nhân chuẩn bị kỷ niệm Quốc tổ Hùng Vương lần thứ 4880 và năm Thế giới đón chào thiên niên kỷ thứ III.Kèm theo Lời kêu gọi là Sách lược 8 điểm cứu nguy đất nước. Thời gian đầu thiên niên kỷ ấy, tôi đã nhận thức một thảm nạn kéo dài trên đất nước ta vì dung dưỡng ba sự trạng: “Một chính quyền tự thị, bất chấp ý kiến của người khác, đưa tới xu thế độc đảng chuyên quyền ; “Một chính quyền ly khai dân, bất chấp những đòi hỏi thiết tha cho nhân quyền và dân quyền, đưa tới chế độ độc tài ác liệt ; “Một chính quyền lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt, mà hậu quả đẩy dân vào tròng ách nô lệ tinh thần và vật chất, làm suy thoái đạo đức và suy liệt quốc gia”. Sang Tết Ất Dậu 2005, tôi lại viết “Thư Chúc Xuân kính gửi quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Ðồng bào trong và ngoài nước”, nhấn mạnh rằng: “Nhà nước Việt Nam không nên sợ hãi. Chỉ sợ mình không có chính nghĩa, không thật sự có tâm huyết với dân tộc thôi. Chứ sợ gì mất quyền. Ðừng sợ có tự do, dân chủ là mình mất quyền. Không đâu. Người dân bây giờ tinh tường lắm. Ai có công, ai thật sự vì dân, vì nước, người ta biết. Hãy xem gương các Ðảng cộng sản ở các nước Ðông Âu cũ bây giờ đều chấp nhận đa đảng. Thế mà ở Ba Lan, Tiệp Khắc, v.v... dân chúng vẫn có người bỏ phiếu cho đảng Cộng sản, thì có mất gì đâu. Miễn là mọi đảng phái khác cũng được quyền tham dự để cho dân có cơ sở so sánh, lựa chọn, các đảng phái có cơ sở tranh đua phục vụ tổ quốc. Ðừng sợ nhiều đảng loạn quyền. Chỉ sợ dân trí bị kìm hãm trong chủ nghĩa ngu dân thôi. Mà đã ngu dân, thì một đảng cũng sinh loạn. Bối cảnh nước ta ngày nay, theo tôi, không cần có vài chục đảng mới thiết lập được dân chủ. Chỉ cần một đảng tả khuynh, một đảng hữu khuynh, một đảng trung hòa đại diện cho các dòng suy nghĩ chính lưu. (…) Nhưng trái lại, phải có nhiều xã hội công dân tự do xuất hiện với mọi quyền con người cơ bản, ắt việc nước sẽ hanh thông, quốc gia sẽ thịnh trị. Ðiều kiện tiên quyết muốn được như vậy là phải có tự do, dân chủ thật sự để mỗi người và mọi thành phần xã hội được bình đẳng tham gia việc nước. Không sung sướng gì bằng, không hạnh phúc gì bằng, khi những người làm chính trị được chính người dân tin tưởng giao quyền cho. “Ðời sống nhân dân các nước dân chủ ở Bắc Âu là mô thức khá hoàn hảo về sự an lạc và tự do của người dân mà chúng ta có thể học hỏi, nghiên cứu, dung hóa, áp dụng vào bối cảnh Việt Nam. “Phải có dân chủ đa nguyên thì mới giải quyết mọi vấn nạn bế tắc từ ba mươi năm qua trên đất nước. Pháp nạn của Giáo hội chúng tôi cũng tùy thuộc công cuộc dân chủ hóa này để được giải trừ. Nó là giải pháp thay thế, mà muôn dân trông đợi. “Thử trầm tỉnh nghĩ xem, có phải là đảo chính bằng lá phiếu dân chủ vẫn hơn là những cuộc đảo chính bằng bạo loạn ? “Sống trong cảnh huống ngày nay, người có lòng dạ và ưu tư đều bị đẩy vào tâm trạng chờ tức nước vỡ bờ. Thế thì sao không chọn con đường nhân nghĩa của truyền thống cha ông để nước chở thuyền thay vì nước lật thuyền ? “Chẳng nên nghĩ rằng hễ có công an cho đông, nhà tù cho nhiều, và quân đội hùng mạnh là sẽ giữ được quyền bính mãi mãi. Chỗ dựa vững chắc nhất của một chế độ chính trị là lòng dân”. Gần hai tháng qua, Giáo hội chúng tôi vui mừng thấy giới sĩ phu đất nước, giới trẻ, giới công dân mạng đã gạt phăng sợ hãi bấy lâu, đứng lên nói bằng lời, bằng bài viết, bằng kiến nghị, bằng cả xuống đường đòi hỏi dân chủ hóa đất nước. Điển hình là “Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp”viết ngày 19.1.2013 đăng trên Mạng Bauxite Việt Nam với 72 chữ ký đợt đầu mà đa số là những công thần chế độ, tính đến hôm nay, ngày 5.3.2013, đã tăng thành 6611 chữ ký ; và “Lời tuyên bố của các Công dân Tự do” gợi ý từ bài viết của Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên, công bố ngày 28.2.2013 trên Mạng DânLàmBáo với 5 yêu sách : Bỏ điều 4 trên Hiến pháp và tổ chức Hội nghị Lập hiến / Ủng hộ đa nguyên đa đảng / Đòi hỏi một nhà nước tam quyền phân lập / Phi chính trị hóa quân đội / và Quyền tự do ngôn luận của người công dân ; tính đến hôm nay, ngày 5.3.2013, đã lên tới 4200 chữ ký hậu thuẫn. Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi ngỏ lời tán thán sự can đảm và cấp thời của hai văn kiện nói trên, đại biểu qua trên mười nghìn chữ ký, đang rửa sạch dư luận xấu của những nền chính trị gian tà củng cố đặc quyền đặc lợi cho bè nhóm, đồng thời lấy trách nhiệm người công dân biểu tỏ hành động chính trị thân dân và hộ quốc. Tôi cất lời kêu gọi các nhà lãnh đạo Cộng sản ở Hà Nội hãy tôn trọng quyền dân và quyền sống để cho mọi tầng lớp nhân dân được tự do và toàn quyền phát biểu nhằm xây dựng và phát triển đất nước, mà không bị sự lạm quyền phi pháp của những điều luật gọi là “an ninh quốc gia” kết án, giam tù, như đã cấm cố những người Việt thương nước yêu nòi mà Nhà nước đã sai lầm kết án trong nhiều năm qua. Tôi xin ghi lại sau đây sách lược Tám Điểm dân chủ hóa Việt Nam mà tôi đề xuất trong Lời Kêu Gọi Cho Dân Chủ Việt Nam công bố ngày 21.2.2001, để góp thêm ý kiến với đồng bào các giới trong cuộc trao đổi cho tiến trình dân chủ. Đương nhiên một số vấn đề trong sách lược Tám Điểm này theo với thời gian cần thêm, bớt, bổ sung. Song đại thể vẫn là những điều cơ bản cho việc xây dựng dân chủ: “Sách lược 8 điểm cứu nguy đất nước : “1. Xây dựng một xã hội khoan dung, an lạc, đa nguyên, bình đẳng, không chủ chiến gây thù, điều hành bằng thể chế dân chủ đa đảng ; “2. Xóa bỏ mọi cơ chế phản dân chủ như lý lịch, hộ khẩu, công an khu vực. Bầu lại một Quốc hội thực sự đại diện quốc dân, dưới quyền giám sát của Liên Hiệp Quốc, với sự tự do bầu cử của toàn dân, và tham gia ứng cử của mọi cá nhân, đảng phái thuộc mọi khuynh hướng ngoài đảng Cộng sản. Thiết lập một Nhà nuớc tam quyền phân lập, một Nhà nước pháp quyền theo tinh thần bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị ; “3. Ðóng cửa vĩnh viễn các Trại tập trung cải tạo. Trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức, bị giam giữ tại miền Bắc sau Hiệp định Genève năm 1954, tại miền Nam sau năm 1975. Thỉnh mời các nhân tài, chuyên viên trong số tù nhân này tham gia kiến quốc. Ðồng lúc thỉnh mời giới chuyên gia kỹ thuật, trí thức, học giả, mọi cá nhân, đoàn thể ở hải ngoại, vượt biển ra đi sau năm 1975, đem các kinh nghiệm và học thuật thu thái ở các nước tiên tiến về xây dựng quê hương. Hủy bỏ các đạo luật hay nghị định có tính khủng bố trên lĩnh vực tôn giáo và quản chế hành chính ; “4 .Bảo đảm quyền tư hữu ; bảo đảm quyền tự do kinh doanh ; bảo đảm quyền tự do nghiệp đoàn. Ban hành chính sách khẩn trương giúp đỡ công nghiệp hóa canh tác và nâng cao đời sống nông dân, là tiềm lực của đại khối dân tộc. Chấm dứt nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Vì nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” đã lỗi thời và bất lực hình thành một giải pháp cho nhân sinh sau 74 năm thí nghiệm của Nhà nước Liên bang Xô Viết, một nhà nước thù địch với quảng đại nhân dân nên đã bị xóa bỏ đầu thập niên 90. Xây dựng nền kinh tế thị trường phù hợp với xã hội Việt Nam và phát huy theo đường hướng của nền kinh tế tri thức và kinh tế sinh thái. Liên hệ với công cuộc toàn-cầu-hóa theo xu thế văn minh của nhân loại để phát triển kỹ thuật, bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới, chống lại các thách thức nghiêm trọng của khuynh hướng toàn-cầu-hóa nô lệ do giới tài phiệt liên lục địa chủ súy. Tận lực xóa bỏ hố ngăn cách giàu nghèo đang tha hóa con người và phân liệt xã hội nuớc ta ; “5. Bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Tách lìa chính trị khỏi quân đội và các cơ quan công an, mật vụ. Giải giới binh sĩ xuống mức quốc phòng bình thường theo tiêu chuẩn các quốc gia ở thời bình, để chia sớt ngân quỹ quốc phòng thái quá cho ngân quỹ giáo dục và ngân quỹ y tế quốc dân. Về giáo dục, cấp tốc đào tạo nhân tài và chuyên gia phục hưng xứ sở, đào luyện một thế hệ trẻ chuyển tiếp đang bị mai một, vì thế hệ lãnh đạo già thì miệt mài chủ chiến, gây thù theo chủ trương vọng ngọai đấu-tranh-giai-cấp làm phân hóa và tê liệt cộng đồng dân tộc, thế hệ đang lên thì bị cuốn hút theo chủ nghĩa kim tiền vì sinh kế bức bách. Về y tế, giải quyết ưu tiên nạn thiếu nhi suy dinh dưỡng và biện pháp phòng bệnh ở nông thôn ; “6. Bài trừ văn hóa ngoại lai đồi trụy hoặc các ý thức hệ phi dân tộc làm xáo trộn tình nghĩa và đạo lý Việt Nam. Phát huy nền văn hóa truyền thống Việt trong tinh thần khai phóng, sáng tạo và dung hóa với mọi nền văn minh nhân loại. Ðề cao ba giá trị tinh thần Nhân, Trí, Dũng của tổ tiên. Thực hiện công bằng xã hội, nam nữ bình quyền, bình đẳng tôn giáo, tôn trọng quyền tự trị và đặc thù văn hóa của các dân tộc ít người cư ngụ trên lãnh thổ nước ta. Bảo vệ quyền lợi ngoại kiều sinh sống làm ăn ở Việt Nam theo luật định và tinh thần hỗ tương quốc tế. Bảo đảm quyền lợi và nhân phẩm của người Việt sống ở hải ngoại ; “7. Tôn trọng lãnh thổ các nước láng giềng. Chủ trương hòa thân, đối thoại và cộng tác bình đẳng với các nước lân bang trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, tôn giáo, xã hội. Chung sức bảo vệ hòa bình, an ninh và thịnh vượng tại các quốc gia Ðông Nam Á. Chung sức với các quốc gia trong vùng phát huy tính nhân văn Ðông phương, như một Ðạo tràng, hầu ngăn chận các Thị trường biến người lao động thành nô công, hàng hóa ; “8. Thể hiện tinh thần hòa hiếu truyền thống và sách lược tâm công trong chính sách ngoại giao với mọi quốc gia trên thế giới, để tạo thế đối thoại, cộng tác, tương trợ, đôi bên cùng có lợi nhưng không đánh mất quốc thể và chủ quyền quốc gia. Bằng phương lược này, tạo cơ hội và điều kiện đẩy nhanh công cuộc phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp song song với thăng tiến xã hội, hầu kịp bước theo xu thế văn minh, tiên tiến, cường thịnh tại các quốc gia dân chủ, giàu mạnh trong thế giới vào đầu thế kỷ XXI”. Vào thời điểm tôi công bố “Lời Kêu gọi Cho Dân chủ Việt Nam” tháng 2 năm 2001, rồi “Thư Chúc Xuân kính gửi quí vị Nhân sĩ, Trí thức, Văn Nghệ sĩ, và Ðồng bào trong và ngoài nước” Tết Ất Dậu 2005, những tiếng nói và hoạt động cho dân chủ còn thưa thớt, khó khăn, bị trấn áp khốc liệt tại Việt Nam. Mặc dù khi tôi gửi Lời Kêu gọi Cho Dân chủ Việt Nam đã được đồng bào trong và ngoài nước hưởng ứng thông qua ba trăm tám nghìn hai mươi bảy (308.027) chữ ký, và khi Cơ sở Quê Mẹ - Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam công bố tại Ủy hội Nhân quyền LHQ trong khóa họp lần thứ 57 ở Genève tháng 4 năm 2001 đã có hàng trăm nhân sĩ, trí thức quốc tế với gần 40 vị Dân biểu, Thượng Nghị sĩ Hoa Kỳ ký tên hậu thuẫn. Trong tình hình quốc tế thuận lợi ngày nay, cùng tư thế mới gạt phăng sợ hãi của thế hệ Trẻ Việt Nam và sĩ phu đất nước, tôi hy vọng và cầu chúc cho “Kiến nghị sửa đổi Hiến pháp” và “Lời tuyên bố của các Công dân Tự do” nói trên sẽ được toàn dân hậu thuẫn đưa tới việc thực hiện như một giải pháp đổi thay tối hậu cho quê hương như một bửu bối linh diệu. Kính xin chư liệt vị và đồng bào các giới trong và ngoài nước hãy ra tay chặn ngăn các nẻo dữ, dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, đánh lên hồi trống đại hùng khai mở Ðường Lành trong năm còn mới này. Ðường Lành ấy là con đường dân chủ đa nguyên đưa tới sự ổn định, phát triển, và an lạc. An lạc cho quần chúng chỉ có ý nghĩa đích thực khi bảo đảm được quyền độc lập và tự chủ quốc gia, cùng những quyền tự do, dân chủ căn bản để toàn dân được chia sẻ, sống chung với cộng đồng thế giới hòa hài trong cảnh bách gia tranh minh, thay vì tự biệt lập nơi xó góc nhất gia cô minh. Đồng thời làm sống dậy tinh thần bất khuất chống xâm lăng đã được nuôi dưỡng hào hùng từ cuộc kháng chiến vệ quốc đầu tiên của Hai Bà Trưng. Phật lịch 2556 - Thanh Minh Thiền viện Saigon ngày 5.3.2013 Đệ ngũ Tăng Thống, GHPGVNTN (ấn ký) Sa môn Thích Quảng Ðộ
......

Tổ chức Ân xá Quốc Tế gặp 2 nhà hoạt động cho Dân chủ và Nhân quyền

Ngày 27 tháng 2 vừa qua, đaị diện của Tổ chức Ân xá Quốc tế và các viên chức của Toà đại sứ Hoa kỳ tại Hà Nội đã có cuôc gặp gỡ đặc biệt với 2 nhà hoạt động cho Nhân quyền Dân chủ đối lập là luật sư Nguyễn văn Đài và bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Tại khách sạn Metropol Hà Nội, ngày 27/2 vừa qua đã diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phó giám đốc điều hành Tổ chức Ân xá Quốc tế : ông Frank Jannuzi, Tham tán chính trị của Đại sứ quán Hoa kỳ Mark Lambert, Viên chức chính trị Michael Orona cùng với 1 thông dịch viên của đaị sứ quán Hoa kỳ. Phía Việt Nam có đại diện cho những người hoạt động nhân quyền và dân chủ đối lập là luật sư Nguyễn văn Đài và Bác sĩ Phạm Hồng Sơn. Cuộc gặp gỡ đặc biệt kéo dài khoảng 1 giờ đồng hồ và không có sự hiện diện của công an Việt Nam theo sự yêu cầu của ông Frank Jannuzi.   Mở rộng đối thoại về Nhân quyền với Việt Nam Tường An : Thưa luật sư Nguyễn văn Đài, xin luật sư có thể cho biết mục đích của cuộc gặp gỡ này và những điểm chính nào đã được đề cập tới trong cuộc trao đổi này không ạ. ? Ls Nguyễn văn Đài : Trước tiên thì ông Frank Jannuzi giới thiệu về vị trí của ông và mục đích chuyến đi của ông đến Việt Nam để làm gì ? Ông nói : mục đích chuyến đi là để ông thiết lập và mở rộng kênh đối thoại về Nhân quyền từ các Tổ chức bảo vệ Nhân quyền Quốc tế cũng như là cùng với chính phủ Hoa kỳ đối với Việt Nam và sau đó thì ông có buổi làm việc với cơ quan chính phủ Việt Nam và trong đó thì ông cũng sẽ gặp đại diện của các Tổ chức Tôn giáo cũng như những người hoạt động Nhân quyền và Dân chủ đối lập ở tại Việt Nam. Trong nội dung đề cập của tôi và bác sĩ Phạm Hồng Sơn đề cập thì có rất nhiều nội dung. Có một số nội dung thì không thể công bố với họ được, nhưng mà có một số nội dung mà tôi có thể công bố như là : chúng tôi nhấn mạnh đến vai trò của việc cải thiện Nhân quyền Việt Nam đối với quan hệ Việt Nam và Hoa kỳ. Thứ hai là khi Việt Nam có Tự do Dân chủ thì không chỉ đem lại lợi ích cho 90 triệu dân Việt Nam mà còn đem lại lợi ích cho quan hệ Việt Nam và Hoa kỳ cũng như là đem lại Hoà bình, ổn định và Thịnh vượng chung cho khu vựa Châu Á Thái Bình Dương. Và trong phần kết thúc của tôi thì tôi nhấn mạnh đến 5 vấn đề là Ngài Frank Jannuzi cùng Tổ chức Ân xá Quốc tế vá các cơ quan của Quốc hội cũng như là chính phủ Hoa kỳ cần phải nổ lực vận động chính phủ Việt Nam để thực hiện các công việc như sau : thứ nhất là trả tự do cho tất cả những tù nhân chính trị và tôn giáo đang bị giam giữ , thứ hai là chấm dứt quản chế đối với những người đã mãn án tù, thứ ba là chấm dứt sách nhiễu đối với các bloggers và những nhà hoạt động Nhân quyền và Dân chủ đối lập, thứ tư là chấm dứt hạn chế đi lại trong nước cũng như ra nước ngoài của các bloggers cũng như những nhà hoạt động Nhân quyền và Dân chủ đối lập và điều cuối cùng mà cũng là điều mà chúng tôi trong nước đang nổ lực đấu tranh là cho phép người dân Việt Nam thành lập báo chí tư nhân và thành lập các tổ chức chính trị ngoài đảng Công sản. Tường An : Về phía Tổ chức Ân xá Quốc Tế họ đề cập những gì ? Trong tương lai, Tổ chức Ân xá Quốc Tế có hứa hẹn sẽ làm gì cụ thể hơn để cải thiện vấn để Nhân quyền tại Việt Nam ? Ls Nguyễn văn Đài : Ông Frank Jannuri ghi chép rất là đầy đủ tất cả những đề nghị của chúng tôi , ông hứa là sẽ nổ lực làm việc với các cơ quan Quốc hội cũng như là chính phủ Hoa kỳ để thực hiện việc vận động chính phủ Việt Nam cải thiện tình trạng Nhân quyền, tôn trọng những quyền con người cơ bản đã được hiến pháp Việt Nam ghi nhận cũng như là Việt Nam đã tham gia ký kết vào những quyền dân sự và chính trị. Đoàn chụp chung với ông Markus Loning (Photo courtesy Nguyen Van Dai) Thiện chí từ phía Việt Nam ? Tường An : Đây không những là lần đầu tiên của Tổ chức Ân xá Quốc tế mà còn là lần đầu tiên của Tổ chức bảo vệ Nhân quyền được phép tới thăm Việt Nam và cũng như được phép làm việc riêng rẽ với các nhân vật đấu tranh độc lập ở trong nước. Theo luật sư, nhà cầm quyền Việt Nam có đánh giá thế nào về sự can thiệp của Tổ chức Ân xá Quốc Tế đến các vấn đề Việt Nam ? Ls Nguyễn văn Đài: Lần đầu tiên chính phủ Việt Nam đã lựa chọn và mời Ngài Frank Jannuzi tới thăm Việt Nam bởi vì họ cũng biết rằng Ngài Frank Jannuzi trước đây cũng đã từng làm trợ lý cho Phó Tổng thống Mỹ là Joe Biden khi ông còn là Thượng Nghị Sĩ. Khi ông Joe Biden là Phó Tổng thống thì ông tiếp tục làm trợ lý cho Thượng Nghị Sĩ John Kerry. Và bây giờ ông John Kerry là Ngoại trưởng Hoa kỳ và trong tương lai có thể ông cũng sẽ là trợ lý Ngoại trưởng. Ông Frank Jannuzi còn có những mối quan hệ rất tốt với Thượng nghị sĩ John McCain và rất nhiều các quan chức trong chính phủ cũng như Quốc hội Hoa Kỳ cho nên Việt Nam cố gắng làm hài lòng những gì mà ông Frank Jannuzi yêu cầu để hy vọng rằng ông có tác động đến chính sách ngoại giao của Mỹ đối với Việt Nam trong thời gian tới. Tường An : Trong báo cáo thường niên mang tên “Tình trạng Thế giới năm 2012” của tổ chức Ân xá Quốc tế về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam có nói: Việt Nam vẫn tiếp tục cấm đoán nghiêm ngặt quyền tự do bày tỏ quan điểm của công dân và vẫn đàn áp mạnh tay những người bất đồng chính kiến. Luật sư chia sẻ thế nào về nhận xét này ? Ls Nguyễn văn Đài : Những ghi nhận của Tổ chức Ân xá Quốc Tế về tình trạng Nhân quyền Việt Nam là rất chính xác và trong các cuộc gặp của ông Frank Jannuzi với chính phủ Việt Nam thì ông cũng yêu cầu Việt Nam phải tôn trọng quyền Tự do Ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập hội và quyền biểu tình. Phía chính phủ Việt Nam thì rất là hoan nghênh điều đó và họ cũng sẵn sàng chấp nhận đối thoại với chính phủ Hoa kỳ nói riêng và các tổ chức Nhân quyền Quốc tế về mọi vấn đề kể cả vấn đề nhậy cảm nhất như là Nhân quyền, tự do Tôn giáo và vấn đề tranh chấp đất đai. Tường An :Tháng giêng năm 2012 vừa qua, sau cuộc gặp gỡ với 4 Thượng Nghĩ Sĩ Hoa Kỳ, luật sư đã gặp khó khăn về phía công an, cụ thể là luật sư đã bị công an đe dọa là sẽ đặt chốt gát trước nhà ông. Còn lần này thì sao ? Ls Nguyễn văn Đài : Đây là lần đầu tiên chính phủ Việt Nam mà đại diện là bộ công an đã chấp thuận cho tôi là một người mới ra tù, đang chịu án quản chế được phép làm việc với đại diện của một tổ chức bảo vệ Quốc tế một cách riêng biệt . Chúng ta cũng ghi nhận thiện chí của đại diện bộ công an bởi vì trước đó, vào ngày thứ bảy, thì đại diện của cơ quan an ninh có đến gặp tôi và thông báo là họ cho phép và hiện nay họ cũng mong muốn được xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn với Mỹ cho nên là trong buổi làm việc thì cũng nói những gì thật hợp lý cho Việt Nam cũng như mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa kỳ. Tường An : luật sư có thể rút ra được kết luận gì từ sự thay đổi này ? Ls Nguyễn văn Đài : Cái sự thay đổi này nó phải đến từ 2 phía. Trong suốt thời gian vừa qua, từ khi Việt Nam đưa bản Hiến pháp ra để lấy ý khiến người dân thì sức ép đòi thay đổi điều 4 Hiến pháp, đa nguyên đa đảng từ khắp mọi tầng lớp người dân rất là mạnh mẽ, đó là sức ép từ trong nước. Còn khi mà Việt Nam liên tục vi phạm Nhân quyền sau khi họ gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế, vào thời điểm này, họ cũng bắt đầu nhận những trái đắng trong quan hệ của họ đối với cộng đồng Quốc tế nói chung cũng như là chính phủ Hoa kỳ nói riêng. Cho nên là lúc này cũng là thời điểm Việt Nam chuẩn bị phải được xem xét lại về vấn đề Nhân quyền tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc vào tháng 6 tới đây, cho nên là Việt Nam cố gắng cải thiện những hình ảnh rất là xấu của họ về vấn đề Nhân quyền, cho nên đây là một nổ lực của họ. Tường An : Sau cuộc phỏng vấn này thì luật sư có lời nhắn nhủ gì đến thính giả nghe đài không ạ ? Ls Nguyễn văn Đài : Cũng nhân dịp được trả lời phỏng vấn của đài Á châu Tự do thì tôi cũng kêu gọi khán thính giả của đài Á châu Tự do ở trong nước hãy tham gia ký vào các kiến nghị của các Nhân sĩ trí thức, các cựu quan chức gửi lên Quốc hội bởi vì chúng ta chỉ còn 1 tháng nữa là kết thúc việc này. Cho nên là bằng chữ ký của mình chúng ta sẽ làm thay đổi đất nước thay vì xuống đưởng biểu tình hay làm những việc rất nguy hiểm thì chúng ta chỉ cần đặt chữ ký như vậy thì đất nước chúng ta sẽ có cơ hội được thay đổi. Tự do Dân chủ sẽ sớm đến với mọi người dân Việt Nam . Luật sư Nguyễn văn Đài là sáng lập viên của Ủy ban Nhân quyền Việt Nam năm 2006. Ông được giải Hellman-Hammett năm 2007. Ông cũng là giám đốc Công ty Dịch thuật và Tư vấn Việt Luật; đồng thời là Trưởng Văn phòng Luật sư Thiên Ân. Ông và luật sư Lê thị Công Nhân bị bắt ngày 6/3/2007 khi đang giảng dạy về Nhân quyền cho sinh viên tại văn phòng luật sư Thiên Ân, ông bị kết án 4 năm tù và 4 năm quản chế. Được trả tự do ngày 6/3/2011, ngay khi ra khỏi tù, trả lời báo chí, ông vẫn khẳng định việc ông làm là không vi phạm pháp luật và kiên định với con đường đã chọn là cổ xúy cho Dân chủ, xây dựng một chế độ mới tiến bộ hơn, văn minh hơn, đem lại lợi ích cho đất nước, cho dân tộc. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/ai-meet-2-vn-activ-03052013072013.html
......

Thông báo về trường hợp một nữ thanh niên đề nghị được ra khỏi Đảng

Lời giới thiệu của ĐHLV: Tôi vừa nhận được một lá đơn của một đảng viên dự bị tên là Nguyễn Ngọc Diễm Phượng về việc đề nghị được ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam. Xét thấy nội dung lá đơn không chỉ đề cập đến việc cá nhân của chị Phượng mà còn có mục đích sâu xa cảnh tỉnh giới chức là đảng viên của Đảng cầm quyền hiện nay đối với các vấn đề xã hội-chính trị. Được sự cho phép của tác giả, tôi xin được đăng toàn văn lá đơn này để cộng đồng mạng được tỏ tường vấn đề mà chị Phượng muốn trình bày. Quyết định kết nạp đảng viên của chị Phượng không đưa lên mạng nhằm tránh phiền phức cho những người và tổ chức liên quan sau sự việc này. Được biết chị Phượng là người thứ 219 kí tên ủng hộ việc KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 Biểu thị sự tự do. Ảnh được sự đồng ý của tác giả ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐƠN ĐỀ NGHỊ ĐƯỢC RA KHỎI ĐẢNG Kính gửi : Đảng bộ XXX, Chi bộ XXX Tôi tên : Nguyễn Ngọc Diễm Phượng ; sinh ngày 16.10.1982 Quê quán : xã Bình Chánh huyện Bình Chánh, TP.HCM Nơi công tác : Ủy ban nhân dân XXX Ngày kết nạp Đảng : + Dự bị : 18.08.2012 ; + Chính thức : Nơi kết nạp : Chi bộ XXX Trước khi trở thành đảng viên của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCS), tôi được tổ chức quan tâm giáo dục và bồi dưỡng về tư tưởng chính trị và tôi cũng tự nhận thức được rằng ĐCSVN là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chăm lo đời sống vật chất tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, lấy dân làm gốc. Đảng Cộng Sản Việt Nam là 1 tổ chức chặt chẽ, thống nhất giữa ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thương yêu, đoàn kết với nhau. Cương lĩnh chính trị và đường lối cách mạng đều phù hợp với yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng, thực tế hiện nay, qua các sự việc diễn ra ngoài xã hội làm tôi phải suy nghĩ và nhận thấy rằng ĐCSVN hiện nay không còn thể hiện đúng giá trị và bản chất của mình nữa. Đảng ngày mất đi sự tín nhiệm của nhân dân, Đảng chưa phát huy hết quyền làm chủ của nhân dân, quyền lợi chính đáng của nhân dân chưa được Đảng bảo về và tôn trọng. Điển hình như quyền được phát biểu chính kiến của mình, quyền được cung cấp thông tin (đặc biệt là các thông tin trái chiều) đều bị hạn chế. Kể cả việc biểu tình chống Trung Quốc xâm chiếm, thể hiện tinh thần yêu nước cũng bị cho là làm trái pháp luật và bị hạn chế. Đảng chưa thể hiện hết vai trò lãnh đạo của mình, lời nói và hành động của Đảng chưa nhất quán với nhau, sự yếu kém trong quản lý gây ra biết bao hậu quả cho nhân dân gánh chịu, tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt, đời sống nhân dân chưa được nâng cao (đặc biệt là các dân tộc miền núi), các công trình dự án ngày càng xuống cấp trầm trọng. Trong nội bộ Đảng lại có sự tranh giành quyền lực với nhau, và những vấn đề khác đang diễn ra ngoài xã hội khiến tôi phải nghi ngờ và phân vân về con đường cách mạng và lý tưởng của Đảng. Đó là nhận định khách quan của tôi về xã hội. Còn về tổ chức, 06 tháng là đảng viên dự bị của Đảng Cộng Sản Việt Nam, với tình hình hiện nay, tôi cảm thấy rằng tôi không còn nhiệt huyết, cũng như lý tưởng để phấn đấu trở thành đảng viên chính thức của Đảng Cộng Sản vì: 1- Khi được đứng vào hàng ngũ của Đảng, tôi nghĩ tôi sẽ có nhiều cơ hội để đóng góp nhiều hơn cho Đảng, cho nhân dân, góp phần xây dựng Đảng trong sạch và vững mạnh hơn, thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Nhưng đến nay, tôi cũng chỉ làm tròn nhiệm vụ tối thiểu của 1 đảng viên là sinh hoạt và đóng Đảng phí đầy đủ. Chưa đóng góp được gì nhiều và vẫn chưa thể hiện hết vai trò của 1 đảng viên đối với nhân dân. 2- Sau sự việc đánh giá cán bộ đảng viên theo Nghị quyết TW4, và đánh giá chất lượng đảng viên hàng năm, tôi nhận thấy hầu như việc đánh giá chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ, theo khuôn mẫu định sẵn. Hầu như cán bộ đảng viên chỉ đánh giá 1 cách chung chúng, công tác phê và tự phê diễn ra xuề xòa, sợ mất lòng nhau. Tôi cho rằng đó cũng chính là căn nguyên giảm tính chiến đấu trong Đảng, góp phần cho những đảng viên thoái hóa, biến chất len lỏi tới những vị trí trung, cao cấp của Đảng và Nhà nước, gây xói mòn niềm tin trậm trọng trong nhân dân. 3- Lý do cuối cùng để tôi quyết định viết đơn ra khỏi Đảng chỉ vì tôi muốn thể hiện tấm lòng yêu nước của mình, yêu đồng bào của mình. Tôi đã có những lời bình luận trên mạng xã hội đối với 1 trường hợp của thể liên quan đến việc lên tiếng bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước như nhiều thành viên của cộng đồng mạng. Tuy những lời bình đó có khó nghe nhưng đó cũng là những suy nghĩ thành tâm của 1 người Việt Nam nhỏ bé lo âu đến vận mệnh dân tộc, cốt yêu cũng muốn Đảng tốt hơn, đảng viên bớt tha hóa hơn. Tôi chưa từng nghĩ những lời bình đó sẽ tạo điều kiện thêm cho thế lực thù định chống phá Đảng, chống phá Nhà nước. Khi có quần chúng báo cáo về sự việc của tôi, đáng lẽ tổ chức Đảng ở cơ sở phải tìm hiểu và xem xét thấu đáo. Thế nhưng tổ chức đã không lưu tâm, còn qui chụp cho tôi mất quan điểm chính trị, tư tưởng không vững vàng, tạo điều kiện cho thế lực thù địch dòm ngó. Do đó, để không làm ảnh hưởng và làm mất uy tín của Đảng, cũng như làm tổn thương danh dự của 1 người Việt yêu nước Việt, tôi tự nguyện làm đơn đề nghị được ra khỏi Đảng. Tôi cũng xin thành thật cám ơn tổ chức và những đảng viên đã giới thiệu tôi vào Đảng trong thời gian qua đã quan tâm, giáo dục và tạo điều kiện cho tôi được trở thành đảng viên của Đảng Cộng Sản trong thời gian rất ngắn. Đồng thời, thông qua đơn đề nghị này, tôi thành tâm mong mỏi tổ chức Đảng ở cơ sở nói riêng và các đảng viên trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung hãy xem như 1 lời chia sẻ chân tình của tôi đối với Đảng, đối với những vấn đề xã hội. Chúng ta hãy đặt mình vào vị trí của người dân bình thường nhất, của những người không đảng phái để thấu hiểu, từ đó có những cách hành xử vị tha, nhân bản hơn đối với người khác quan điểm vì họ cũng là đồng bào, là anh em cùng chung sống trên đất mẹ Việt Nam. Rất mong Chi bộ và Đảng bộ xem xét đơn đề nghị của tôi./. XXX, ngày 04 tháng 3 năm 2013 Người làm đơn NGUYỄN NGỌC DIỄM PHƯỢNG http://donghailongvuong.wordpress.com/2013/03/04/thong-bao-ve-truong-hop-mot-nu-thanh-nien-de-nghi-duoc-ra-khoi-dang/
......

BÁO ĐỘNG! BÁO ĐỘNG! LŨ THÚ PHÁT CUỒNG! ĐỒNG BÀO CẨN THẬN

Kể từ ngày Đảng trưởng nổ phát súng lệnh xử lý những ai góp ý mà lại trái với những gì đảng của họ muốn góp, nghĩa là vi phạm vào những “tử huyệt” của đảng họ thì đồng đảng phải lập tức nổ súng tấn công vào bất cứ ai. Một vài thằng trẻ con nhãi nhép, vô học lưu manh bỗng được mỗi tháng vài chục triệu theo lương giáo sư, tiến sỹ, đại tá, trung, thiếu tướng... vênh váo chửi các bậc tiền bối chúng là đồ “phản động, cần phải xử lý cả đến đời con, cháu” họ! Nguyễn sinh Hùng còn hỗn láo tuyên bố thẳng với nhóm 72 nhân sỹ trí thức: ”Đã lợi dụng góp ý kiến để chống phá đảng (của nó): Góp ý sai với yêu cầu của bọn nó muốn là “tô son trát phấn cho cái đảng “thối hoăng, lúc nhúc những sâu bọ thoái hóa”...là phạm pháp!? Và như một đàn thú dữ được chủ mở cửa chuồng, các loại hùm, beo, hổ sói nhao nhao lên tiếng gầm gừ như muốn xé xác tất cả những ai quyết phen này nói lên SỰ THẬT: Cái đảng mà các anh khoác lên tấm bia “Cộng Sản” đầy tội lỗi mà cả thế giới nguyền rủa đã bị các anh mang ra đánh đĩ với thiên hạ nên mắc đủ thứ bệnh tim la cù đinh thiên pháo HIV giai đoạn cuối rồi! Hãy lo mà cuốn gói mang theo những gì kiếm chác được ở cái đất Việt này về Tầu cho sớm đi! Nhưng vì…chưa có lệnh, bọn dốt nát nhất, hèn hạ nhất, tham lam và ác độc nhất trong các triều đại của lịch sử Viêt vẫn không chịu thua. Chúng đang vênh váo vỗ ngực hô lớn: ĐẢNG CHÚNG TAO CÔNG LAO NHƯ TRỜI BỂ Đà ĐẺ RA CÁI NƯỚC VIỆT NAM NÀY NÊN TAO PHẢI CẦM QUYỀN–QUÂN ĐỘI –CÔNG AN CŨNG DO CHÚNG TAO THÀNH LẬP NÊN. TUÂN LỆNH BẮN AI, GIẾT AI, ĐẦU HÀNG AI... ĐỀU PHẢI THEO LỆNH CỦA CHÚNG TAO LÀ ĐIỀU TẤT NHIÊN CẤM BÀN CÃI! Kẻ nào nói ngược lại hay khác đi đều là …phản động tuốt! Bất cứ ai, dù là bậc cha ông, tiền bối chúng, đều có thể là mục tiêu cho bọn chúng nhai sống nuốt tươi khi có lệnh!   Đã đến lúc: ĐỒNG BÀO HÃY ĐỨNG LÊN! AI CÓ GẬY DÙNG GẬY! AI CÓ DAO DÙNG DAO! CÓ GẠCH ĐÁ DÙNG GẠCH ĐÁ CHỐNG LẠI KHI BỌN CHÚNG RA TAY KHỦNG BỐ ĐỒNG BÀO! Hãy đọc vài lời chúng tuyên bố sau phát súng lệnh ra tay xử lý của Đầu Đảng NGUYỄN TRỌNG GIẦU tức PHÚ TRỌNG! (chứ chúng đâu có trọng Nghèo!) TRÍCH NHỮNG LỜI DỌA NẠT CÔNG KHAI TRÊN MẠNG CỦA BỌN CHÓ ĐIÊN Đảng cảnh cáo việc góp ý Hiến pháp (BBC, thứ tư, 27 tháng 2, 2013). – Video (từ phút thứ 8): Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng cảnh cáo việc “lợi dụng” việc lấy ý kiến sửa đổi hiến pháp. “Lợi dụng việc lấy ý kiến góp ý hiến pháp để tuyên truyền, vận động nhân dân chống lại đảng, chống lại chính quyền… phải kiên quyết đấu tranh và ngăn chặn. Thứ hai, pháp luật quy định, nghị quyết quốc hội quy định, bản lấy ý kiến là bản của Ủy ban Dự thảo Hiến pháp công bố, trên cơ sở tiếp thu ý kiến thảo luận của QH, thực ra là chúng ta cũng đã trình bày trong các cơ quan của Trung ương, của đảng, đã được QH nhất trí, tổ chức lấy ý kiến, thì đó là cái bản duy nhất. Tự tổ chức lấy ý kiến khác của anh là không được. Đó là cách làm không đúng quy định, tôi chưa nói là vi phạm pháp luật-!!?? Một tên tay sai hung hăn khát máu khác thì viết trên Anhbasam: “Đảng và chính quyền đã có cở sở tiêu diệt và đánh dập đầu mấy con “rắn chiêu hồi” như tên Nguyễn Đình Lộc, Nguyễn Quang A, Chu Hảo, Tương Lai, Lê Hiếu Đằng, Nguyễn Trung v.v….Những con “rắn chiêu hồi” vì kèn cựa, bất mãn, trâu buộc ghét trâu ăn, khi giao việc cho thì làm như cứt, khi mất chức thì phản bội chiêu hồi...Bọn “ăn cháo đái bát” phải bị trừng trị nghiêm khắc để làm gương:- Cấm không cho xuất ngoại.- Tìm chứng cứ, thậm chí là tạo chứng cứ để bắt, đưa vào tù.- Không cho con cái lũ chó này ngóc đầu dậy.- Cắt các mối quan hệ thu nhập.- Làm cho chúng lúc nào cũng căng thẳng mệt mỏi.- Cắt các mối liên hệ với bên ngoài. Để khi chúng hối hận thì cho quay về với lương thiện, với tư cách một người dân bình thương…” Những cái tên như Nguyễn đình Lộc, Chu Hảo, Tương Lai, Nguyễn quang A, Nguyễn Trung… mà chúng còn đe dọa “đánh dập đầu”, ”không cho con cái lũ chó này ngóc đầu dậy” thì thấy càng rõ: Cái thời điểm mà bọn chủ chúng nuôi để đem ra xử dụng lũ chó sói mặt người này đã bắt đầu. Hãy kịp thời phổ biến tất cả những lời đe dọa này cho toàn thế giới biết và yêu cầu góp sức ngăn chặn!!! ĐỒNG BÀO HÃY CẢNH GIÁC!!! NS. Tô Hải
......

Chợ 'bán thần Chết' ở Sài Gòn

Nhiều vụ ngộ độc thực phẩm ở TP.HCM được điều tra làm rõ, đã truy ra xuất xứ từ chợ... Kim Biên, số 37, Vạn Tường. Q.5, TP.HCM. Nhiều vụ án mạng dã man, đau lòng xảy ra không chỉ ở TP.HCM, truy tìm nguồn gốc vũ khí cháy nổ, cũng xuất xứ từ chợ... Kim Biên! Vụ nổ khủng khiếp vào đêm 24/2/2013 tại con hẻm số 384, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (phường 8, Q.3, TP.HCM) cướp đi mạng sống của 11 người, kết quả điều tra ban đầu cho thấy, số thuốc nổ gây ra thảm họa tang tóc trên cũng xuất xứ từ chợ... Kim Biên. Không phải tới tai họa lần này cái tên chợ Kim Biên mới được nhắc đến. Mấy ngày qua báo chí dồn dập đăng tải chi tiết về vụ nổ từ nhà ông Phương "khói lửa" khiến cả gia đình thiệt mạng và nhiều hàng xóm vô tội bị liên lụy. Ít ai biết rằng, trong số nạn nhân có một vị đại tá công an khá nổi tiếng đã từng vào sinh ra tử, tung hoành dọc ngang trong chiến tranh và thế giới tội phạm, tưởng rằng mạng của ông lớn lắm, chỉ có trời mới có thể "kêu" ông về thế giới bên kia! Ngờ đâu, tai họa từ nhà Phương "khói lửa" đã đoạt mạng sống của ông cùng đứa cháu gái. Ông phải "ra đi" một cách tức tưởi không kịp một lời trăn trối vào ngay rạng sáng rằm tháng Giêng năm Quý Tỵ. Ngôi chợ bán "thần chết" Chợ Kim Biên hình thành từ những năm 60 thế kỷ trước, thuộc Q.5. Ông Nguyễn Văn Cường, quản lý ngành hàng chợ cho biết: Ban đầu là chợ tự phát, mua bán đô la và hàng hóa quân tiếp vụ phục vụ chiến tranh của vợ con sĩ quan và lính chế độ cũ.. Sau ngày giải phóng, chợ Kim Biên hoạt động theo mô hình HTX mua bán lương thực, vật liệu xây dựng, ăn uống. Do HTX làm ăn không hiệu quả, từ năm 1984, chợ chuyển sang cho tiểu thương thuê sạp,  buôn bán nhiều mặt hàng gia dụng. Nhưng nổi tiếng (và cũng tai tiếng nhất)  là các mặt hàng "hóa chất thực phẩm", "hóa chất công nghiệp". Và từ đây, chợ Kim Biên đã hình thành mạng lưới cung ứng nhiều mặt hàng độc hại, nguy hiểm vượt tầm kiểm soát của cơ quan chức năng. Nếu như các sạp trong chợ còn chút e dè, nhìn ngắm khách hàng hỏi mua "hàng độc" để thử kiểm tra thì các cửa hàng vệ tinh bên ngoài hoàn toàn thoải mái. Cách đây không lâu ở Bình Phước, một tỉnh miền đông Nam Bộ, xảy ra một vụ đặt mìn tự chế trước nhà công an thị xã. Qua điều tra đã tìm ra thủ phạm vì thù oán cá nhân. Hung thủ đã tìm mua thuốc nổ ở chợ Kim Biên về chế thành mìn gài vào nhà công an để trả thù. Tại Bình Dương, nhiều vụ gài mìn trả thù gây thiệt hại nhân mạng và tài sản đã ghi nhận nguồn gốc vũ khí mua từ chợ Kim Biên. Tại TP.HCM, những vụ thanh toán bằng  mìn tự tạo gây nổ, rất nhiều vụ chất gây nổ có xuất xứ "mua từ chợ Kim Biên"! Mẫu số chung của nhiều vụ sát nhân bằng vũ khí gây nổ là chúng có nguồn gốc từ ngôi chợ này! Tuy nhiên, cơ quan điều tra rất khó tìm ra kẻ bán vì đường dây rối rắm như mắc cửi ở đây. Nhất là khu chợ vệ tinh xung quanh. Khách hàng "có nhu cầu" sẽ được đáp ứng nếu chịu khó săn lùng vài ngày. Nếu có người quen giới thiệu, mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Trong vai một người hành chủ trại khai thác vàng, phóng viên đã dễ dàng tiếp cận hàng xyanua đủ loại, của Trung Quốc và của Nhật với giá khá mềm từ 120.000 đồng/kg tới 260.000 đồng/kg! Trên trang web nổi tiếng bán hàng qua mạng, tên chợ Kim Biên được xuất hiện liên tục. Nhiều comment hỏi mua chất xyanua để "giải quyết" công việc, được trả lời tỉnh bơ: Hãy ra chợ Kim Biên, chỉ cần đem theo tiền thì thứ gì cũng có! Thậm chí, một khách hàng ẩn danh còn hỏi cách pha chế hóa chất công nghiệp để gây nổ thì được tận tình chỉ dẫn với ghi chú rợn người: Tính giết người à? Chợ "chất độc" Một đại biểu Hội đồng nhân dân TP.HCM đã gọi chợ Kim Biên như vậy khi bàn đến hàng loạt vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra triền miên. Tại chợ Kim Biên, hằng hà sa số các loại phụ gia độc hại mà ở các nước khác người bán sẽ bị tống vào tù ngay lập tức, bày bán công khai hoặc chào hàng không chút nào lén lút. Các loại hóa chất "giết người" như phẩm màu, hàn the, formol, hương liệu... bày bán tràn lan. Chỉ riêng "hương liệu" đã là một thế giới khủng khiếp. Chai hương liệu 100 ml của Trung Quốc giá chỉ 15.000 đồng - 20.000 đồng pha ra được 20 lít "cà phê". Rất nhiều chủ quán cà phê ở Sài Gòn là "khách hàng" của chợ Kim Biên. Một chủ quán thú nhận: "Bán vậy mới có lời. Chứ bán cà phê thiệt lấy gì mà ăn. Ở đâu cũng vậy thôi. Chỗ thân quen, tôi khuyên chú... đừng uống cà phê nữa!". Còn bán hủ tiếu, phở, bánh canh... thì đây, đủ hết. Một gói "hương liệu" bò cho vào nồi nước sôi là có ngay thùng nước lèo thơm mùi thịt bò. Đố vị khách nào phát hiện tô phở thơm lừng trước mặt có dùng hương liệu. Có những món không được phổ thông cho lắm như thịt chó, thịt chồn thì cũng có hương liệu chó, hương liệu chồn. Nói chung, đủ hết! Còn hương liệu dùng cho vào nước thành các loại si rô, tẩm trái cây cóc, ổi, xoài cũng phong phú không kém với nhiều sắc màu sặc sỡ không thua bức tranh nào. Ghé qua một gánh xôi bình dân ven đường, nhìn những gói xôi rực rỡ sắc màu bắt mắt, mấy ai để ý và đặc câu hỏi những sắc màu này từ đâu ra. Thế giới hương liệu còn cung cấp cho cả những món hàng thịt thêm màu tươi, lâu bị hư, phở dai hơn, thịt nướng bắt mắt hơn. Các quán nhận bình dân thì có hương liệu chuối hột, hương liệu Minh Mạng thang cung cấp cho. Cần một nhúm nhỏ bỏ vào chai nước lạnh, lắc lắc vài cái là xong. Khách cứ ừng ừng zô zô mà chẳng biết là đang uống thuốc độc! Điều đáng nói là những thứ "giết người" đang bị cấm, lên án gay gắt đó vẫn công khai, ngang nhiên bán buôn như không hề biết luật pháp, quy định cấm. Bao giờ "xử lý"? Ông Từ Minh Thiện, đại biểu Hội đồng nhân dân TP.HCM đã nhiều lần đặt vấn đề về ngôi chợ tội lỗi mang tên Kim Biên. Ông nói: "Hóa chất độc hại, thậm chí chất gây nổ mua bán dễ dàng công khai như vậy thì việc quản lý Nhà nước ở đâu?" Trả lời câu hỏi này không dễ. Chính Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến đã đi thị sát và đề xuất nhiều biện pháp chấn chỉnh, xử lý. Song đến nay vẫn "ngày một phát triển". Các cơ quan chức năng của TP.HCM tỏ ra đau đầu khi hỏi tới ngôi chợ này. Câu trả lời rất giống nhau là "Khó lắm". Thực ra, TP.HCM đã có kế hoạch di dời ngôi chợ này ra ngoại thành như chợ đầu mối trái cây, thực phẩm. Song vấn đề ở đây không phải là di dời mà là quản lý. Ông Từ Minh Thiện nói: "Nếu đưa ra ngoại thành mà vẫn mua bán hóa chất công nghiệp, thực phẩm độc hại như hiện nay thì chẳng có hiệu quả gì?". Vì vậy, câu trả lời còn bỏ ngõ. Trở lại vụ cháy nổ xảy ra mấy ngày qua ở căn nhà của ông Phương khói lửa thuê, gây ra thảm họa cho 11 người, cái tên chợ Kim Biên đang khiến mọi người bức xúc, giận dữ. Ngoài chuyện phải xiết lại quản lý chất cháy nổ ở khu dân cư, thì quản lý nguồn cung cấp ở đầu mối như chợ Kim Biên là chuyện phải làm. Lớn hơn nữa là không chỉ là chất cháy nổ được xem như "tử thần", mà còn là hằng hà sa số chất độc giết người hàng ngày hàng giờ trên khắp nẻo đường, ngõ ngách... Duy Chiến    
......

Ông nguyễn Phú Trọng rất hàm hồ

Chương trình truyền hình tối 25 tháng 02 vừa qua đã phát đi những ý kiến sau đây của ông Nguyễn Phú Trọng: “Các đồng chí phải lãnh đạo cái việc góp ý kiến sửa đổi dự thảo hiến pháp. Cái này quan trọng lắm đấy.Vừa rồi đã có các luồng ý kiến thì cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chứ gì nữa. Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Muốn ‘tam quyền phân lập’ không? Hả? Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy!  Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng nữa. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa, chỉ ở đâu nữa nào? Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể… thì nó là cái gì?! Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này”.   Vừa nghe xong, như một phản xạ vô điều kiện, tôi bỗng buột miệng: “Trời ơi, cái cậu này ăn nói hàm hồ quá nhỉ!”. Sao lại có thể quy chụp những người yêu cầu xóa bỏ điều 4 Hiến pháp, yêu cầu đa nguyên đa đảng, yêu cầu “tam quyền phân lập”; những người tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể …” là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”. Nguyễn Phú Trọng có biết những ai đã và đang tích cực tham gia những hoạt động trên không? Đó là cụ Nguyễn Trọng Vĩnh 96 tuổi – nguyên Bí thư tỉnh ủy Thanh hóa, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, nhà văn kỳ cựu khả kính Nguyên Ngọc, Bộ trưởng, ủy viên TW Đảng Nguyễn Đình Lộc, cố vấn Thủ tướng Nguyễn Trung, phó chủ tịch Quốc hội, giáo sư tiến sỹ Phan Đình Diệu, giáo sư-thứ trưởng Chu Hảo, tiến sỹ-thứ trưởng Trần Nhơn, luật gia – phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội Trần Quốc Thuận, luật gia – phó chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc Lê Hiếu Đằng , viện trưởng- giáo sưTương Lai, viện trưởng-tiến sỹ Nguyễn Quang A ….   Trong số đó, về tuổi tác: có người bậc cha chú, có người bậc đàn anh của ông; về trình độ: bậc thầy của ông; về quá trình cách mạng: bậc tiền bối so với ông.Vậy mà Nguyễn Phú Trọng dám thóa mạ họ là những kẻ suy thoái mọi mặt. Dưới con mắt Nguyễn Phú Trọng, họ là những kẻ không còn tư tưởng chính trị đúng đắn, lối sống suy đồi, đạo đức kém cỏi …. Thật là nghênh ngang, trâng tráo, và hỗn xược.   Không có tự do trưng cầu dân ý để có thể nói tuyệt đại đa số nhưng chắc chắn nhiều người Việt Nam đồng tình với các vị nêu trên. Bản kiến nghị của 72 vị ký tên gần đây chỉ trong vài ngày đã lấy được hàng ngàn chữ ký. Nếu công khai trên mọi phương tiện thông tấn báo chí thì rất có thể sẽ có sự biểu đồng tình của hàng triệu người.   Vậy là ông Nguyễn Phú Trọng không những xấc xược với bề trên mà còn thất lễ với cả bộ phận lớn dân tôc! Không kinh qua chiến trường, không được thực tế cuộc sống nhào luyện, vận may cứ thế thổi ông lên tận mây nên ông dễ dàng chơi vơi xa rời thực tế, không còn cảm nhận được hơi thở của nhân dân (tôi từng gọi ông là cậu ấm hiện đại). Có người vì nể cái bằng giáo sư-tiến sỹ của ông nhưng những người từng “lều chõng” thì thừa biết rằng nếu được Đảng giới thiệu sang Liên Xô lúc ấy để bảo vê cái luận án “Bảo vệ Đảng” thì nó “khó khăn” đến mức nào? Chưa đỗ lớp mười cũng có thể bảo vệ được một luận văn như thế.   Ông hãnh tiến, ông quá sung sướng, vậy mà, sao ông nỡ chỉ thị đuổi việc nhà báo Nguyễn Đắc Kiên khỏi báo Gia đình&Xã hội! (Ngày 28/12/2012, chính ông chỉ thị giao nhiệm vụ cho lực lượng công an và quân đội phải “ngăn chặn những hành vi lợi dụng dân chủ việc lấy ý kiến nhân dân để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước”. Hôm 25/2/2013, tại Vĩnh Phú, chính ông lại ra lệnh “Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này”. ). Thật là dã man, độc ác. Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên không có lỗi gì. Qua bài viết “Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng”, thấy anh là người có tài, có tâm và rất khảng khái, trung thực. Một bạn đọc với nick Sinh Viên Cũ của thôn Danlambao đã viết về anh: “Anh không ở trong làng báo nô lệ, nhưng anh mãi mãi ở trong lòng những người dân chân chính, anh là người dám dũng cảm nói lên sự thật, dũng cảm đứng thẳng lưng, anh đã nghe lời mẹ dặn, anh là Phùng Quán thứ 2 của dân tộc này.” Tác giả Trần Quốc Việt thì cho rằng“anh Nguyễn Đắc Kiên đã cứu danh dự chung cho các nhà báo Việt Nam dưới chế độ toàn trị dù cái giá anh trả là bị đuổi việc, là tương lai bấp bênh đang chờ anh và gia đình.” .   Tôi yêu cầu ông Nguyễn Phú Trọng: 1 – Chỉ thị báo Gia đình&Xã hội thu hồi ngay quyết định đuổi việc nhà báo Nguyễn Đắc Kiên. 2 – Xin lỗi toàn Đảng, toàn dân về lời phát biểu hàm hồ tỏ sự khinh thị, dọa nạt, trấn áp đồng bào. Tôi kêu gọi: 1 – Hãy cùng lên tiếng phản đối và phân tích rõ sự suy thoái về nhận thức, tư tưởng, tư cách, đạo đức của ông Nguyễn Phú Trọng. 2 -  Hãy vận động các nhà báo trong và ngoài nước cùng Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới hỗ trợ nhà báo Nguyễn Đắc Kiên về cả tinh thần và vật chất Hà Nội ngày 27 tháng 02 năm 2013 © Nguyễn Thanh Giang Số nhà 6 Tập thể Địa Vật lý Máy bayTrung Văn – Từ Liêm – Hà NộiMobi:  0984 724 165 nguồn: http://www.danchimviet.info/archives/73489/ong-nguyen-phu-trong-rat-ham-ho/2013/02#sthash.Zsui2IZU.dpuf
......

Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do (Erklärung der freien Bürger)

Chúng tôi, những người khởi đầu ký tên sau đây, kêu gọi những công dân khác cùng với chúng tôi đồng tuyên bố. Wir, die Unterzeichner, appellieren an alle Bürgerinnen und Bürger, sich unserem Aufruf anzuschließen 1. Chúng tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà chúng tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới thực sự là ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành. Wir wollen nicht nur Artikel  4 der Verfassung abschaffen, sondern im Rahmen eines Nationalen Kongresses eine neue Verfassung erarbeiten, die den Willen des Volkes wieder spiegelt und nicht den der kommunistischen Partei, wie es in der jetzigen Verfassung noch ist. 2. Chúng tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước. Wir unterstützen ein pluralistisches Mehrparteiensystem und alle politische Parteien, die im fairen Wettbewerb für die Entwicklung der Freiheit und des Friedens sowie zum Wohl des Volkes arbeiten. Keine Partei hat das Recht, die Nation zu kontrollieren und zu tyrannisieren.   3. Chúng tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc. Wir unterstützen nicht nur ein demokratisches System, in dem die Unabhängigkeit der Exekutive, der Legislative und der Judikative gewahrt wird, sondern auch eine Regierung, die ihre Macht dezentralisiert, in dem sie die Behörden auf der lokalen Ebene  stärkt und die vom Staat geförderten Konsortien sowie alle Staatsbetriebe, die das Staatsbudget missbrauchen, Korruption fördern, das Vertrauen des Volkes zerstören und die Einheit der Nation vernichten, abschafft. 4. Chúng tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào. Wir unterstützen ein Militär, das unparteiisch und ohne Parteizugehörigkeit ist. Das Militär soll das Volk und das Land schützen, die nationale Souveränität verteidigen und keiner Partei dienen. 5. Chúng tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Chúng tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản ban cho, nên đảng cộng sản không có quyền tước đoạt hay phán xét nó. Vì thế, chúng tôi có thể xem những lời phán xét nào nếu có hướng đến chúng tôi là một sự phỉ báng chúng tôi. Và chúng tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại. Wir nehmen uns das Recht, das Obengenannte zu deklarieren und zu sagen, dass alle vietnamesischen Mitbürger das gleiche Recht haben. Wir erklären, dass wir unser fundamentales Menschenrecht ausüben, das das Recht auf Meinungs- und Redefreiheit beinhaltet. Diese sind natürliche Rechte, die jedem Menschen inhärent sind. Das vietnamesische Volk anerkennt und respektiert diese universalen Rechte. Diese Rechte wurden uns nicht von der kommunistischen Partei erteilt. Die kommunistische Partei hat nicht das Recht, sie uns weg zunehmen oder uns daran zu hindern, sie in Anspruch zu nehmen,. Wir erachten jedes Urteil oder jede Anschuldigung gegen uns als einen Akt der Diffamierung. Wir glauben, dass jeder, der diese Menschenrechte ablehnt auch gegen das nationale Interesse und die menschliche Zivilisation ist. Wir reichen uns die Hände und verwandeln diese Deklaration der freien Bürgerinnen und Bürger in ein untrennbares Band, das Millionen von vietnamesischen Herzen verbindet. Erheben wir unsere Stimmen in dem wir unsere Namen in der folgenden email  eintragen tuyenbocongdantudo@gmail.com (Bản Đức ngữ do: „Forum Vietnam 21“ chuyển dịch) ****************** Danh sách những người ký tên:      1. Blogger Nguyễn Hoàng Vi, Sài Gòn 2. Phạm Thanh Nghiên, Hải Phòng 3. Blogger Mẹ Nấm - Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nha Trang 4. Blogger Gió Lang Thang - Trịnh Anh Tuấn, Đak Lak 5. Blogger Hành Nhân - Vũ Sỹ Hoàng, Sài Gòn 6. Blogger Binh Nhì - Nguyễn Tiến Nam, Yên Bái 7. Ts Hà Sĩ Phu, Đà Lạt 8. Bs Nguyễn Đan Quế, Sài Gòn 9. Linh Mục Giuse Đinh Hữu Thoại - Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn 10. Blogger Trịnh Kim Tiến, Sài Gòn 11. Blogger Paulo Thành Nguyễn - Nguyễn Hồ Nhật Thành , Sài Gòn 12. Blogger Nguyễn Chí Tuyến, Hà Nội 13. Nhà thơ Bùi Chát, Sài Gòn 14. Blogger Huỳnh Công Thuận, Sài Gòn 15. Nhà thơ Phan Bá Thọ, Sài Gòn 16. Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, Sài Gòn 17. Blogger Phạm Bá Hải - Human Right Defender, Sài Gòn 18. Doanh nhân Lê Quốc Quyết, Sài Gòn 19. Hoàng Dũng - Phong trào Con Đường Việt Nam, Sài Gòn 20. Blogger Lê Thiện Nhân, Hà Nội 21. Đặng Sinh - Phóng viên tự do, Sài Gòn 22. Facebooker Lê Công Vinh, Vũng Tàu 23. Facebooker Võ Trường Thiện, Nha Trang 24. Sinh viên Nguyễn Vũ Hiệp, Hà Nội 25. Facebooker Lâm Mạnh Di, Vũng Tàu 26. Blogger SeaFree - Phạm Văn Hải, Nha Trang 27. Blogger Bùi Thị Minh Hằng, Vũng Tàu 28. Facebooker Miu Mạnh Mẽ - Nguyễn Nữ Phương Dung - Sinh viên, Sài Gòn 29. Facebooker Văn Ngọc Trà - Mai Văn Tuất, Sài Gòn 30. Sinh viên Nguyễn Thành Tiến, Hải Phòng 31. Nhiếp ảnh gia Lê Hải, Đà Nẵng 32. Nhà thơ Đỗ Trung Quân, Sài Gòn 33. Facebooker Trầm Tử - Lê Khánh Duy, Buôn Hồ, Đăk Lăk 34. Blogger Huỳnh Thục Vy, Buôn Hồ, Đăk Lăk 35. Facebooker Kaiz Az - Trần Xuân Huyền, Nghệ An 36. Facebooker Sao Biển - Đặng Ngọc Sao, Hà Tĩnh 37. Facebooker Michael Ngo - Ngô Tuấn, Sài Gòn 38. Facebooker Dung Dang - Đặng Huy Dung, Sài Gòn 39. Nhà thơ Phan Đắc Lữ, Sài Gòn 40. Facebooker Yêu Nước Việt - Châu Văn Thi, Sài Gòn 41. Facebooker Tran Hien - Trần Hiền, Sài Gòn 42. Blogger / Nhạc sỹ Tô Hải, Sài Gòn 43. Lê Thăng Long - Phong trào Con đường Việt Nam, Sài Gòn 44. Nhà báo Hồ Trung Tú, Đà Nẵng 45. Trần Khuê, người sáng lập Đảng Dân Chủ Thế Kỷ XXI, Sài Gòn 46. Blogger Phạm Văn Điệp, Sầm sơn - Thanh Hóa 47. Blogger Nguyễn Lân Thắng - Kỹ sư Xây Dựng, Hà Nội 48. Blogger Uyên Vũ, Sài Gòn 49. Facebooker Huỳnh Thái Học, Nha Trang 50. Blogger Khoai Lang - Nguyễn Tấn Dung, Lộc Thủy - Lệ Thủy, Quảng Bình 51. Cựu phóng viên Hoàng Thanh Trúc, Đà Lạt 52. Facebooker Hiếu NTH - Nguyễn Trung Hiếu, Sài Gòn 53. Phạm Phương Nam - Kỹ sư xây dựng, Đà Nẵng 54. Trần Tiến Đức - Nhà báo, đạo diễn truyền hình (đã nghỉ hưu), Hà Nội 55. Ngô Kim Hoa - Nhà báo tự do, Sài Gòn 56. Lương Văn Bình - Sinh viên Đại học Luật, Hà Nội. 57. Nguyễn Văn Ý - Sinh viên năm 2, Trường ĐH Đà Lạt 58. Nguyễn Tiến Dũng - kinh doanh, Vinh, Nghệ An 59. Nguyễn Hoàng Long, Saigon 60. Nguyễn Trúc Sơn, Hiệp Hoà, Đức Hoà, Long An 61. Nguyễn Đức Phổ - Nông dân, F. Đông Hưng Thuận, Q. 12 Sài Gòn 62. Facebooker Bahung Vo - Võ Bá Hùng, Sài Gòn 63. Đào Tấn Phần, giáo viên THPT Trần Quốc Tuấn, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên 64. Nguyễn Trường Sơn - Sinh viên, Bắc Ninh 65. Trịnh Hoàng Thanh, Z176, Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội 66. Đặng Vũ Lượng, Hà Nội 67. Facebooker Nguyễn Tiến Hưng, Biên Hoà 68. Blogger Aduku - Nguyễn Văn Dũng, Việt Trì - Phú Thọ 69. Blogger Nguyễn Việt Hùng , Hà Nội 70. Facebooker Anton Lê, Lê Thanh Tùng, Sài Gòn 71. Facebooker Lê Văn Tuynh, Phan Thiết, Bình Thuận 72. Kiến trúc sư Đào Tăng Lực, Sài Gòn 73. Nguyễn Minh Chính, Hà Nội 74. Nguyễn Đức Giang, Hà Nội 75. Kỹ sư Doãn Kiều Anh, Sài Gòn 76. Phạm Tiến Quốc, Sài Gòn 77. Nguyễn Công Thanh, Sài Gòn 78. Facebooker Vũ Ngọc Thắng, Hải Phòng 79. Dương Hoài Châu, Sài Gòn 80. Mục sư Nguyễn Trung Tôn, Thanh Hóa 81. Kỹ sư Nguyễn Văn Phúc, Bình Định 82. Ngô Văn Hòa, Đà Nẵng 83. Nguyễn Thị Kim Hoa, Đà Nẵng 84. Kỹ sư Trần Quang Hưng, Sài Gòn 85. Nguyễn Hữu Sơn, Cần Thơ 86. Kỹ sư Nguyễn Dương, Sài Gòn 87. Blogger Nguyễn Ngọc Già, 88. Facebooker Canh Le, Lê Cảnh, Sài Gòn 89. Facebooker Từ Anh Tú, Bắc Giang 90. Nguyễn Hùng Cường, Hà Nội 91. Facebooker Bùi Chí Tâm, Quảng Ngãi 92. Nguyễn Hùng Anh, Sài Gòn 93. Facebooker Kbebui - Bùi Duy Diễn, Bình Định 94. Họa sĩ Nguyễn Hùng Sơn, Hà Nội 95. Nguyễn Bắc Truyển - cựu tù nhân lương tâm, Sài Gòn. 96. Đặng Hữu Ngọc, Long Khánh, Đồng Nai. 97. Nguyễn Thanh Trúc - tín đồ PGHH, Chợ Mới, An Giang 98. Nguyễn Văn Bông - tín đồ PGHH, Lấp Vò, Đồng Tháp. 99. Võ Thị Hồng, Sa-đéc, Đồng Tháp 100. Trần Văn Đức, - cựu tù nhân chính trị, Xuân Lộc, Đồng Nai 101. Huỳnh Trí Đức - tín đồ PGHH, Phú Tân, An Giang. 102. Nguyễn Ngọc Phương - cựu tù nhân chính trị, Nam Vang, Campuchia 103. Kỹ sư Hồ Văn Tích, Sài Gòn 104. Nguyễn Tiến Tuyền, Hà Nội 105. Blogger Lê Dũng, Hà Nội 106. Facebooker Nghiêm Việt Anh, Hà Nội 107. Sinh viên Cao Văn Khánh, Lai Châu 108. Blogger Trần Bùi Trung, Vũng Tàu 109. Trần Văn Tuấn - Chủ tịch UBND xã An Thạch, Tuy An, Phú Yên 110. Trần Xuân Sơn, Hà Nội 111. Kỹ sư Vi Nhân Nghĩa, Quảng Ninh 112. Nguyễn Xuân Liên - Giám đốc bảo tàng Chiến tranh Ngoài trời, Vực Quành, Đồng Hới, Quảng Bình 113. Nguyễn Hùng Cường, Sài Gòn 114. Nguyễn Đức Cang, Sài Gòn 115. Phan Văn Phong, Hà Nội 116. Lê Gia Khánh, Hà Nội 117. Phùng Thị Châm, Hà Nội 118. Trần Thúy Nga, Hà Nội 119. Trần Dân, Đà Nẵng 120. Lê Xuân Quang, Sài Gòn 121. Hồ Đức Thanh, Hà Nội 122. Trần Văn Nam, Hải Dương 123. Nguyễn Tiến Phong, Sài Gòn 124. Phan Trọng Khang, Tây Hồ, Hà Nội 125. Facebooker Đoàn Khôi Nguyên, Đà Nẵng 126. Đỗ Văn Đông, Nam Định 127. Linh mục Phê-rô Nguyễn Hữu Giải, Tổng giáo phận Huế, Khối 8406 128. Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh, Khối 8406 129. Kiến trúc sư Đoàn Trần Trung, Hà Nội 130. Facebooker Jiraiya Saima - Vũ Quang Huy, Sài Gòn 131. Kỹ sư Dương Văn Minh, Biên Hòa, Đồng Nai 132. Lê Đức Huy - Học sinh, Hà Nội 133. Trương Minh Đức - Nhà báo tự do, Bình Dương 134. Nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh, Đà Lạt 135. Huỳnh Nhật Hải - cựu đảng viên, Đà Lạt 136. Huỳnh Nhật Tấn - cựu đảng viên, Đà Lạt 137. Sinh viên Nguyễn Quý Hiếu, Bắc Ninh 138. Trần Quốc Hùng, Sài Gòn 139. Hoàng Đức Trọng, Sài Gòn 140. Dương Sanh - Nhà giáo nghỉ hưu, Vạn Ninh, Khánh Hòa 141. Facebooker Trần Lý Phước Lợi, Bà Rịa – Vũng Tàu 142. Biện Xuân Bộ, Bắc Ninh 143. Trương Đình Tôn, Sài Gòn 144. Lê Hồng Quang, Hà Nội 145. Bùi Tiến Hưng, Long Biên, Hà Nội 146. Kỹ sư Nguyễn Hữu Trung, Hà Nội 147. Nguyễn Văn Sĩ, Bảo Lộc 148. Kỹ sư Nguyễn Phương Anh, Hà Nội 149. Kỹ sư Nguyễn Trung Lĩnh, Hà Nội 150. Lê Hồng Thủy - Giảng viên ĐH, Quận Tân Bình - Sài Gòn 151. Phạm Lê Hà Ly - Học sinh Trung học, Quận Tân Bình - Sài Gòn 152. Facebooker Doxu Nguyen - Nguyễn Thành Trung, Bình Dương 153. Nguyễn Dương Thành, Hà Nội 154. Bác Sỹ Trịnh Ngọc Tiến, Hà Nội 155. Hoàng Cường, Quận Ba Đình - Hà Nội 156. Facebooker Nguyễn Công Chính, Tân Bình - Sài Gòn 157. Facebooker Khổng Hy Thiêm -Kỹ sư điện, Cam Lâm, Khánh Hòa 158. Blogger Hoa Xương Rồng - Trần Khánh Dương, Phường Bình Trưng Tây Q2, Sài Gòn 159. Trần Khôi Nguyễn, Kỳ Hợp, Kỳ Anh, Hà Tĩnh 160. Phạm Trung Kiên, Tây Hồ, Hà Nội 161. Phạm Văn Biên, Hải Dương 162. Trần Hoài Nam, Bến Tre 163. Facebooker Lê Tường Vi, Tân Bình, Sài Gòn 164. Đinh Văn Nam, Hà Tĩnh 165. Trần Minh Tân, Research Scientist II ở Georgia, US 166. Lê Trọng Nghi - Kỹ Sư Điện Tử, Boston, Massachusetts, USA 167. Nguyễn Quang Minh, San Diego, CA - USA 168. Nguyễn Quốc Nam, Paris -FRANCE 169. Đinh Nhật Uy - Kỹ Sư CNTT, Long An 170. Đinh Văn Chuộn - Thợ Điện 7/7, Long An 171. Nguyễn Thị Kim Liên - Nội trợ, Long An 172. Hà Sĩ Phú - Tài Xế, Long An 173. Nguyễn Hồng Thái - IT, Long An 174. Hồ Trung Vĩnh - NV Ngân Hàng, Long An 175. Hoa Thanh Nguyen, New Oleans, Louisiana, USA 176. Nguyễn Quốc Hùng, Kiểm toán viên, Denmark 177. Nguyễn Huế, Fort Worth, Texas USA 178. Lê Văn Tám, Toronto, Canada 179. Dạ Thảo Phương, Hà Nội, Việt Nam 180. Facebooker AnhhùngChưanổidanh - Trương Xuân Trường, Thái Bình 181. Nguyễn Hoàng Hùng, 17a Leeds St, Footscray Victoria 3011 Australia 182. Nguyễn Lương Thịnh - Chuyên viên tư vấn đầu tư, Bình Thạnh, Sài Gòn 183. Bùi Quang Trung - Kĩ sư xây dựng, 3 Charles Péguy 77500 Chelles France 184. Nguyễn Quang, Houston, Texas, USA 185. Bác sĩ Nguyễn Thường Kính, 44 Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội 186. Nguyễn Văn Hùng, Philadelphia, PA, USA 187. Blogger Quỳnh Trâm Việt Nam, Bình Dương 188. Terry Lee, Sydney, Australia 189. Đỗ Đình Thọ - Làm nghề tự do, Koblenz, Germany 190. Huỳnh Hà Hoàng, 3401 Belair rd, Baltimore, Maryland 21213, USA 191. Nguyễn Hoàng Việt - Kinh doanh, Tân Bình, Sài Gòn 192. Phạm Ngọc Minh - Kiến trúc sư, Hành nghề tự do, Hà Nội 193. Trần Viết Dung, Kỹ sư, Fairfeld, Úc 194. Trần Viết Phúc, Sinh viên, Fairfield, Úc 195. Nguyễn Duy An, Sài Gòn 196. Facebooker Gatre Caolanh - Võ Thanh Hùng, Họa sĩ làm nghề tự do, Sài Gòn 197. Ngô Thị Hồng Lâm - Nghiên cứu lịch sử đảng (đã nghỉ hưu), Phường Rạch Dừa, Vũng Tàu. 198. Facebooker Hoangbui - Vũ Huy Hoàng - Kỹ sư, Tân Bình, Sài Gòn 199. Blogger Nguyễn Văn Thạnh - Kỹ sư, Đà Nẵng 200. Lê Thị Hồng Hạnh, Hà Nội 201. Lâm Thị Ngọc - Giáo viên THPT, Huyện Ngọc Lặc, Tỉnh Thanh Hóa 202. Blogger Nguyễn Công Huân - trang web Dân Luận, Aalborg, Đan Mạch 203. Hồ Trung Thạnh - Thợ điện, Ia grai, Gia Lai 204. Gs. Lưu Trung Khảo, Newport Beach, California, USA 205. Đinh Trí Nhật Huy, Sài Gòn 206. Vũ Quang Thông - Công nhân, Gia tân1, Thống nhất, Đồng Nai. 207. Blogger Mai Đây Hòa Bình - Nguyễn Huỳnh Mai, Quận 10, Sài Gòn 208. Nguyễn Thái Hùng - Kỹ sư, Vinh, Nghệ An 209. Facebooker Bee - Nguyễn Anh Nguyên, Sài Gòn 210. Blogger Dã Quỳ - Nguyễn Kim Du Hạ, Houston, Texas, Hoa Kỳ 211. Nguyễn Văn Nhiên, Nashville, Tennessee, USA 212. Nguyên Cao Sơn, Cầu Giấy, Hà Nội 213. Nguyễn Đông Phương - cựu cán bộ biên tập sách văn hóa, bộ VHTTDL, Hà Nội 214. Nguyễn Duy Hòa, Sài Gòn 215. La Kim Thi, Nashville, Tennessee, USA 216. Đinh Vạn Vĩnh Phát, Cử nhân CNTT, Sài Gòn 217. Vũ Mạnh Hùng – Nguyên giảng viên khoa Quản trị kinh doanh trường Cao Đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thương Mại Hà Nội. Hiện là cán bộ quản lý khu nội trú của trường, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Hà Nội. 218. Hoàng Văn Trung, Yên Ninh, Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội 219. Trương Minh Đức, Warsaw, BaLan 220. Blogger Ký Tế - Nguyễn Phúc Bảo Long, Huế 221. Uông Minh Phương, Sài Gòn 222. Bác sỹ Trần Công Thắng, Kristiansand, Na Uy 223. Nguyễn Thanh Hải, Québec, Canada 224. Vương Quốc Tuấn - Kỹ sư công nghệ thông tin, Bình Quới, P27, Bình Thạnh, Sài Gòn 225. Nguyễn Duy Hòa, Sài Gòn 226. Võ Quốc Đạt - Tài xế, Cần Thơ 227. Mai Phúc Anh - Nhạc công, Cần Thơ 228. Trần Trung Nghĩa - Giáo viên, Cần Thơ 229. Lê Hoàng Phúc - thợ vẽ, Cần Thơ 230. Vũ Huy, Toronto, Canada 231. Trương Đông Sơn, 5245 East Main Street, Stockton, CA 95215, USA 232. Hoàng Văn Khởi, Hà Nội 233. Long Nguyen - Accenture, Consulting, Germany 234. Trương Tấn Phát, Kinh doanh, Melbourne, Australia 235. Họa sĩ Bùi Lộc, Munich, Germany 236. Phạm Hùng Vỹ - Doanh nhân, Sài Gòn 237. Hồ Tấn Vinh, Melbourne, Úc 238. Hồ Hồng Diễm, An Hải, Lý Sơn, Quảng Ngãi. 239. Tăng Trọng Thức, Sài Gòn 240. Đỗ Như Phương - Phiên dịch, Budapest, Hungary 241. Lò Đình Vũ, thôn Lâm Nghĩa, xã Phi Tô, huyện Lâm Hà , tỉnh Lâm Đồng 242. Blogger YTDCVN - Dovan, Nam Úc Australia 243. Nguyễn Văn Dũng - Du học sinh tại Nhật, Tokyo, Japan 244. Trần Thị Hiền Chi - Học sinh cấp 3, Hà Nội 245. Phạm Ðức Dũng - Kỹ Sư, Euless Texas, USA 246. Trần Văn Toàn - Sinh viên, Đà Nẵng 247. Nguyễn Thế Anh - Sinh viên, Hà Nội. 248. Lê Như, Sydney - Australia 249. Bùi Minh Thắng, Quảng Ngãi 250. Facebooker Võ Lâm Viễn, Đà Nẵng 251. Peter Pham, 1460 Contra Costa, Pleasant Hill, CA 94523, USA 252. Nguyễn Hữu Đức, Mount Pleasant ,Texas, USA 253. Nguyễn Ngọc Anh - Cử nhân Công nghệ thông tin, Quảng Nam 254. Nguyễn Vinh Hiển, Portland, Oregon USA 255. Phạm Hoàn Vũ - Doanh nhân, Sài Gòn 256. Blogger Đỗ Minh Tuyến, Bangkok, Thái Lan 257. Nguyễn Minh Châu - Thợ mộc, Sài Gòn 258. Trầm Minh, Paris, Pháp 259. Cao Thị Nhung, Sài Gòn 260. Phùng Thị Ly, Sài Gòn 261. Phạm Hac Tùng; 2 Broad St West Fotscray Vic 3012 Australia 262. Lâm Phước Đông, Boston, Massachusetts USA 263. Cao Minh Đức, Loeningen, Germany 264. Nguyễn Thị Diễn, Loeningen, Germany 265. Nguyễn Tấn Tài - Sinh viên, Boston, Massachusetts, USA 266. Ts Trần Diệu Chân, Sacramento, California, USA 267. Trần Nhân Tâm, München, Bayern, Germany 268. Trần Xuân Chính - Kỹ sư, Garden Grove, California, USAUSA 269. Nhà thơ Trúc-Ty, Facebook: Truc Ty, Đồng Nai 270. Linh Mục Peter Nguyễn Văn Hùng, Đài Loan 271. Lê Trần Vinh - Kỹ sư Công nghệ sinh học, Facebook Vinh Lê Trần, Hà Nội 272. Đặng Đình Tấn Trương - FB Trái Tim Băng Giá, Sinh Viên Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên, Sài Gòn 273. Trần Ngọc Thành, Thành phố Warszawa, CH Balan 274. Trần Mạnh Thắng - Kỹ sư vi tính, Hildesheim, Đức 275. Nguyễn Thị Thu Liên - Chủ tiệm cắt tóc, Hildesheim, Đức 276. BS Đinh Xuân Dũng - Cựu Dân Biểu Việt Nam Cộng Hòa, San Jose, CA, USA 277. Nguyễn Tuấn, San Jose, California, USA 278. Oanh Nguyen - Orange County, California, USA 279. Luật sư Vũ Đức Khanh, Ottawa, Canada 280. Nguyễn Hồ Nguyễn - Công dân, Sài Gòn 281. Nguyễn Quốc Bảo - Sinh Viên, Quảng Ngãi 282. Sơn Nguyễn, Grand Prairie, hạt Tarrant, Tiểu bang Texas, USA 283. Nguyễn Ngọc Hùng, Boston, Massachusetts, USA 284. Ts Nguyễn Quang A, Hà Nội 285. Vũ Thư Hiên - Nhà văn, Paris, Pháp 286. Bác sĩ Nguyễn Trọng Việt, Los Angeles, California, USA 287. Vũ Thế Phan - Chuyên viên vi tính, viết báo tự do, Paris, Pháp 288. Blogger Nguyễn Chí Phương, Hà Nội 289. Facebooker Hư Vô - Đào Trang Loan, Hà Nội 290. Nguyễn Gia Kiểng - Hoạt động dân chủ và nhân quyền, Paris, Pháp 291. Nguyễn Chí Hiếu - Kiến trúc sư, Facebook: Heonardo Hieu, Phú Nhuận, Sài Gòn 292. Trần Phong, Ing. Robert Dunz Str. 1/2, 2640 Gloggnitz, Austria 293. Trang Trầm, Fort Smith, Arkansas, USA 294. Facebooker Nguyễn Văn Thanh, Yên Thế, Bắc Giang 295. Hoàng Triết - Phong Trào Con Đường Việt Nam, San Jose, California, USA 296. Lê Công Minh, Norristown, PA, USA 297. Blogger Vọng Ngày Xanh - Đỗ Văn, Villers La Ville, 1495, Belgique. 298. Nhat Vo, Toronto, Canada 299. Anh Le - Kỹ sư CNTT, Boston, Massachusetts, USA 300. Lê Quốc Anh - Sinh viên, Lâm Đồng 301. Nghiêm Sĩ Cường - Kinh doanh, cử nhân, Quan Thổ 1, Tôn Đức Thắng, Hà Nội. 302. Vinh Hoang, Brampton, ON, Canada 303. Lê Đ. Quang - Doanh nhân, Seattle, Washington, USA 304. Phạm Duy Thọ, Sinh viên, Thanh Hóa - Ms-Ph.D Student, Sungkyunkwan University, Suwon, 440-746, Korea 305. Nguyễn Xuân Việt, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh 306. Mike Nguyen - Engineer, Westminster, California, USA 307. Vũ Chí Dũng - Kỹ sư cơ khí, Hà Nội 308. Le Mai Linh - Thi Sĩ, Nhà Văn, Pittsburgh, Pennsylvania, USA 309. Nguyễn Kim Tuấn, Sài Gòn 310. Tin Nguyen - Công nhân, CH- 4665 Oftringen Switzerland 311. Nguyen Thi Bao Hue, Viet Tri 312. Hà Hữu Dũng, Regensburg, Bayern, Đức Quốc 313. Hoàng Quế Trân, Vancouver, Canada 314. Nhà thơ Huyền Lâm, Lawrenceville, Georgia, USA 315. Nguyễn Hòa - Cao học hành chánh, 1703 24 th Ave, Oakland , CA 94601, USA 316. Nguyễn Xuân Bảo - Sinh viên trường Kokusaiyohokeizaisenmon, Saitama, Nhật Bản 317. Chinh Dung Ho - IT, Fountain Valley, California, USATai Nguyen, Bern, Switzerland 318. Trần Văn Terry - Công nhân, Irvine, CA USA 319. Nguyễn Thành An - Mechanical Engineer, Covington, Georgia 30014, USA 320. Nguyễn Sỹ Tuấn - Hoạ sỹ, Sài Gòn 321. Nguyen Minh Quang, Austin, Texas, USA 322. Văn Công Quang, 10882 Cedar St, Stanton, California, 90680, USA 323. Tan Le, 3 Westcombe Pk, W. Henrietta, NY 14586, USA 324. Trần Lê Vân, Calgary-Alberta, Canada 325. Nguyễn Nam Quan, Austin, Texas, USA 326. Phụng Hoàng Tuyết Victoria, Australia 327. Tống Ngọc Phan An - Dược sĩ, Temple, Texas, USA 328. Đỗ Minh Tiến, Bergen- Norway 329. Khuyen Do, South Dakota, USA 330. Nguyễn Võ Thanh Hùng - Cử nhân Vi Tính, Dortmund, Germany 331. Hoàng Sơn Long, San Jose, California, USA 332. Phạm Đức Hoài, quận Ba Đình, Hà Nội 333. Nguyễn Trung Hải - Buôn bán, Praha, Czech 334. Nguyễn Quỳnh Anh, Ban Mê Thuột 335. Peter Le, Glen Waverey, Vic 3150, Australia 336. Facebooker Lạc Việt, Santa Ana, California, Hoa Kỳ 337. Blogger Hồ Gươm - Trần Minh Trường, BTV Dân Luận, Nürnberg, Germany 338. Lại Hải Hà, Hà Nội 339. Ls Đoàn Thanh Liêm, Costa Mesa, California, USA 340. Nguyễn Chính Kết - Thành viên Ban Điều hành Khối 8406, Houston, Texas, USA 341. Lê Nguyên Long, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội 342. Đinh Thị Thanh Dung, 6 Carnation Crescent, Sittingbourne, Kent, England 343. Blogger Nguyễn Hùng, Sydney Australia 344. Nguyễn Quang Duy - nhà báo, Melbourne, Úc Đại Lợi 345 Bùi Tín - Nhà báo tự do, Paris, Pháp 346. Blogger Truyền Tấn - Raymond Trần Tiếng, San Diego, California 347. Kiều Việt Hùng, Thiên Tôn, Hoa lư, Ninh Bình 348. Anh-Thy Huynh, MS, OD - Bác sĩ Nhãn khoa, San Jose, California, USA 349. Ngô Duy Quyền - Kỹ sư cơ khí, Khu tập thể Phương Mai, Ngõ 4, phố Phương Mai, Hà Nội 350. Lê Thị Công Nhân - Luật sư, Khu tập thể Phương Mai, Ngõ 4, phố Phương Mai, Hà Nội 351. Nguyễn Anh Tâm - Giám đốc công trình, project manager, Canada 352. Phạm Văn Thành - Cụu tù chính trị A20 VN / Lưu vong, Paris, Pháp 353. Lê Tấn Tài, Montréal, Canada 354. Lê Tấn Phú, Montréal, Canada 355. Nguyen Dung Khanh, Sacramento, California, USA 356. Nguyễn Đức Long, Regensburg, CHLB Đức 357. Nguyễn Hồng Lĩnh, Orange County, California, USA 358. Tôn Văn Niên, 100 West 1st Street, Los Angeles, California, USA 359. Hong Nguyen, University of Florida, Florida, USA 360. Nguyễn Quang Tuyến, San Francisco, California, USA 361. Vũ Khánh Thành, cựu Nghị Viên thành Phố Hackney London (2002 -2006), Giám Đốc hội An Việt tại Vương Quốc Anh. 362. Nguyển Lân, Houston, Texas USA 363. Nguyễn Đình Hà - Cử nhân luật, Hà Nội 364. Lâm Trọng Hiếu, San Jose, California, USA 365. Huỳnh Hùng, 4333 Old Meadow Clay NY 1404, USA 366. Facebooker Duymacat Pham - Phạm Đăng Nghi, Programmer, Seattle, Washington, USA 367. Ben Phan, Ontario, Canada 368. Hien Nguyen, Houston, Texas, USA 369. Ngô Cao Chi - Kỹ sư điện (BSEE), nguyên giáo viên cấp 3 môn Lí tại VN, Florida, Hoa Kỳ. 370. Vũ Đình Kh - Nhà văn, Vancouver, BC, Canada 371. Facebooker Đặng Tiến Quân - Facebook: Dang Tien Quan, Vũng Tàu 372. Nguyễn Thị Mỹ, Hawaii, USA 373. Trần Văn Thuật, Hawaii USA 374. Blogger David Thiên Ngọc, Chicago, Illinois, USA 375. Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Sẵng, Arizona, Hoa Kỳ 376. Lý Trung Tín - Chủ Nhiệm Tạp Chí Dân Văn, Postfach, Bochum, Germany 377. Trần Đức, Nhân viên Vi tính, Paris, Pháp Quốc 378. Dinh Vu, Garden Grove, California, USA 379. Phạm Quang Tuấn, Lakeside, Garden Grove, California, USA 380. Blogger Chấn Minh, Rockville, Maryland, USA 381. Nguyễn Sơn Nam - Tiến sỹ kinh tế, Sacramento, California, USA 382. Van Do, Fremont, California USA 383. Nguyễn Ngọc Trác, San Jose, California, USA 384. Huỳnh Dũng - Công nhân, 29 Bayberry NY, USA 385. Khoa Trần, Tiến Sĩ Hóa Học, Calgary, AB, Canada 386. Jimmy Phạm, Houston, Texas, 77077, USA 387. Dang Heidi, 7987 Leary Way, Redmond, Washington 98052, USA 388. Đàm Quang Minh, Chung cư Phú Thọ, Quận 11, Sài Gòn 389. Trương Ngọc Thu, Anaheim, California, USA 390. Dương Thị Minh Hồng, Regensburg, CHLB Đức 391. Nghiêm Hữu Hùng, Albany, California 94706, USA 392. Richard Lam, Chicago, Illinois, USA 393. Lê Vũ Anh Quốc Kỹ sư cơ khí, San Jose, California, USA 394. Thuấn Trần - Công nhân xưởng in, Aalborg, Đan Mạch 395. Trần Xuân Chương, Belmore, NSW 2192 Australia 396. Lê Bình Minh, Q. Long Biên, Hà Nội 397. Bs Nguyễn Kính, Asthabula, Ohio, USA 398. Đỗ Long - Hưu trí, Philadelphia, PA, USA 399. Mya Hoang, Santa Monica, California, USA 400. Nguyễn Nam Việt, Kansas City, KS 66111, USA 401. Blogger Tran-Square1, Charles Town, WV, USA 402. Nguyễn Quốc Tuấn - Engineer, Palm Bay, Florida, USA 403. Mike Nguyễn - Engineering Manager, Grand River, Novi, Michigan 48375, USA 404. Nguyễn Hữu Phước, San Jose, California, USA 405. Nguyễn Minh Khang - Nhân viên vi tính, Sài Gòn 406. Nguyễn Duy Khoi San Jose, USANguyễn Thị Yến San Jose, California, USA 407. Nguyễn Duy Kiên San Jose, California, USA 408. Nguyễn Thục Sa San Jose, California, USA 409. Nguyễn Anh Trúc San Jose, California, USA 410. Phạm Minh Tuấn - Nhân viên văn phòng, Phường Hội Phú, Pleiku, Gia Lai 411. Nguyễn Văn Quang, Erfurt CHLB Đức 412. Blogger Lee Tiến Huy - Kế toán, San Diego, California, USA 413. Nguyễn Công Đức - Kỹ sư điện tử, Irving, Texas, USA 414. Nguyễn Anh Vinh - Kỹ Sư Điện Toán, Fort Collins, Colorado, USA 415. Facebooker Minhhieubui - Bùi Minh Hiếu, Sài Gòn 416. Michael Trần - Electrical Engineering, Bronx, New York, USA 417. Van Luan Dang, Eislingen, Tây Đức 418. Trần Tiến Hưng - Kinh doanh, Plzen, Cộng hòa Czech 419. Lương Lê Thị Lương, Kinh doanh, Plzen, Cộng hòa Czech 420. Trần Ngọc Vân - Lập trình viên Microsoft, Plzen, Cộng hòa Czech 421. Trần Thu Trang - Bác sỹ nhi khoa, Praha, Cộng hòa Czech 422. Vaclav Trần - Học sinh, Plzen, Cộng hòa Czech 423. Trần Phúc Châu, Thanh Xuân, Hà Nội. 424. Nguyễn Hiêm, Bronx, New York USA 425. Thomas Nguyen - Contractor, Sacramento, CA, USA 426. Nguyễn Công Sơn - Du học Sinh, Helsinki, Phần Lan 427. Trần Thanh Trác - Kinh doanh, Sài Gòn 428. Ngô Lê Bảo Anh - Kế toán, Sài Gòn 429. Nguyễn Văn Bửu, Pasadena, Texas, USA 430. Ts Lê Văn Điền, Kraków, phố ul, Józefińska 7/3, Balan 431. Peter Nguyen - Private Detective, Atlanta Georgia, USA 432. Huỳnh Văn Tuấn, Cần Thơ 433. Kevin Nguyễn, San Antonio, Texas, USA 434. Nguyễn Thanh Quan - Nội trợ, Quận 3, Sài Gòn 435. Cuong Pham, San Diego, CA 92115, USA 436. Đỗ Thanh Long - Sửa xe, Bến Vân Đồn P. 5 Quận 4, Sài Gòn 437. Nguyễn Thăng Long - Làm nấu bếp, Birnauer.18,80809, Munich, CHLB Đức 438. Đoàn Dũng - Chuyên viên Địa ốc, San Diego , California, USA 439. Nguyễn Anh Vinh - Kỹ Sư Điện Toán, Fort Collins, Colorado, USA 440. Lê Đoàn Thể, Ngõ 252 phố Minh Khai, Hà Nội 441. Bloger William Trương, Houston, Texas, USA 442. Bùi Thị Hiền - Accountant, New York, USA 443. Thinh Lam, Ecchappe Ln, Louisville, Ky 40118, USA 444. Lương Tất Đạt - FB blogger, Pittsburg, CA 94565, USA 445. Trần Đức Minh, 2713 N 115th Dr, AZ 85392, USA 446. Trịnh Vân Hạc, Clichy, Pháp Quốc 447. Lan Pham - Tài Chánh kế toán, Lawrence, MA 01843, USA 448. Tiến Văn Miếu - Họa sĩ Nguyễn Văn Tiến, Hà Nội + Sài Gòn 449. Võ Minh Tâm, Boise, ID, USA 450. Facebooker Trần Xuân Bách - Nhân viên văn phòng, biên dịch viên, Quận Đống Đa, Hà Nội. 451. Phạm Trung Vinh - Facebooker Anh Sau Kien Giang, California, USA 452. Nguyễn Ngọc Bảo - Kỹ sư, Paris, France 453. Thanh Lan Đặng, Anaheim, California, USA 454. Vũ Vân Sơn - Nguyên hội trưởng Hội người Việt Nam Berlin & Brandenburg, Germany 455. Nguyen Vu - Programmer Analyst, Atlanta, Georgia, USA 456. Canh Pham, Sydney, Australia 457. Nguyễn Hữu Dõng - Hưu trí, Koeln, Germany 458. Nguyễn Tuấn Anh - Blogger Triệu Bàn Tay, Tây Ninh 459. Bùi Lý Sơn, Lý Sơn, Quảng Ngãi. 460. Phạm Toàn Thắng, Kmentova 85/II, Jindřichův Hradec, CH Czech 461. Lê Cường - Webmaster Tự Do Ngôn Luận - Khối 8406, San Jose, California, USA 462. Facebooker Trương Đường, Praha, Cộng Hòa Czech 463. Thomas Tran, Pasadena, California, USA 464. Đinh Nguyen, Houston, Texas, USA 465. Đặng Văn Ngọc, Calgary, AB Canada 466. Trần Nguyệt Nga - Nhân viên Văn phòng, Cà Mau 467. Hưng Lê - cựu giáo viên THPT 1979, Hộ Phòng, Minh Hải 468. Phan Quang Sự, Forest Hill, Vic 3131, Australia 469. Phạm Minh Khang - Sinh viên, Sài Gòn 470. Đinh Nguyễn Thanh Hùng, Sài Gòn 471. Vũ Anh - Cử nhân Luật, Hà Nội 472. Nguyễn Thị Thanh Hoa - Giáo viên, Sài Gòn 473. Huỳnh Công Can - Sinh Viên, Sài Gòn 474. Nhà thơ Thu Lan - Facebook / Thu Lan Nguyen, Tuscaloosa, Alabama, USA 475. Nguyễn Quế Hương, Kỹ sư Xây dựng, Sài Gòn 476. Hung Phan, Dallas, Texas, USA 477. Vo Tru, Virginia Beach, VA USA 478. Ha Nguyen - Mechanical Engineer, Houston, TX 77082, USA 479. Do Long, Philadelphia, PA, USA 480. Vu Huy - B.S of Health Science, University of Western Canada, Toronto Canada 481. Hương Trần - Bác sĩ, New York, USA 482. Hanh Nguyen, Springfield, Virgina, USA 483. Trần Văn Long, Huyện Bù Đăng, Tỉnh Bình Phước 484. Nguyễn Văn Hiến - Về hưu, Melbourne, Australia 485. Tô Quang Vinh, Hà Nội 486. Chi Nguyen - GGUSD, Garden Grove, California, USA 487. Hồ Đắc Tâm, Anaheim, California, USA 488. Tuan Ha, Washington DC, USA 489. Nguyễn Toàn Thắng, Miếu Hai Xã, Dư Hàng, Lê Chân, Hải Phòng 490. Le Phu Hung - Machinist, Toronto, Ont, Canada 491. Trần Thúc Lân - Họa sĩ, Paris, Pháp quốc 492. Lan Trần, Paris, Pháp quốc 493. Peter Việt Nguyễn, New Orleans, Lousiana, USA 494. Nguyễn Thị Hoa, New Orleans, Lousiana, USA 495. Nguyễn Độc-Lập, New Orleans, Lousiana, USA 496. Nguyễn Tự-Do, New Orleans, Lousiana, USA 497. Nguyễn Nhân-Quyền, New Orleans, Lousiana, USA 498. Nguyễn Ngọc Hạnh, New Orleans, Lousiana, USA 499. John Nguyen, Old Bridge, NJ 08857, USA 500. Sơn Hoàng, Sydney, Australia 501. Blogger Nguyễn Chí Đức, Hà Nội 502. Nguyễn Thị Thanh Bình - Nhà văn / nhà thơ, Washington D.C, USA 503. Huỳnh Văn Quân, Seattle WA, 98146, USA 504. Huỳnh Cảnh Luân, Paris, Pháp 505. Nguyễn Bích Thủy, Melbourne, Australia 506. Nguyễn Bích Loan, Melbourne, Australia 507. Huỳnh Thanh Tuấn, Melbourne, Australia 508. Trần Ngoc Hảo, Melbourne, Australia 509. Nguyễn Ngọc Diễm, Melbourne, Australia 510. Lisa Nguyễn, Melbourne, Australia 511. Ken Le, Melbourne, Australia 512. Kevin Le, Melbourne, Australia 513. Nguyễn Bích Vân, Melbourne, Australia 514. vNguyễn Văn Vinh, Regina, Canada 515. Lê Đinh Hồng - Kế toán, 2481E 28th, Vancouver B.C, Canada 516. Lê Thị Nhàn - Nội trợ, 2481E 28th, Vancouver B.C, Canada 517. Huỳnh Văn An, Quận 1, Sài Gòn 518. Lê Thị Xuân, Quận 1, Sài Gòn 519. Huỳnh Văn Lạc, Quận 3, Sài Gòn 520. Huỳnh Văn Lành, Thủ Đức 521. Huỳnh Thị Mỹ Anh, Thủ Đức 522. Ts Nguyễn T. A. Hiệp Hòa - Giám đốc, Pasadena, California, USA 523. Nguyễn Thị Minh Phước - Social worker và cô giáo dạy học, Orlando, Florida USA. 524. Vĩnh Liêm - Poet, Washington DC, USA 525. Trần Trung, Roxbury, New Jersey, USA 526. Đặng Văn Nam, Orange County, California, USA 527. Trần Văn Huấn - Công nhân, Sài gòn 528. Bui Thuy Hoa, Maple, Vaughan, Ontario, Canada 529. Ha Thanh, Maple, Vaughan, Ontario, Canada 530. Nguyễn Trần Huân, Atlanta, GA, USA 531. Phạm Hoàng Sơn, Kemp Forest, Houston Texas 77080, USA 532. Nguyễn Ngọc, Camden, NSW, Australia 533. Nguyễn Kim, Camden, NSW, Australia 534. Nguyễn Công, Camden, NSW, Australia 535. Denver Nguyen - Realtor, Garden Grove, California, USA 536. Đoàn Công Nghị - công dân tự do, Nha Trang 537. Phi Vũ - Công nhân, Orange County, California, USA 538. Huỳnh Kim Ngọc, Louisville, Kentucky, USA 539. Hon Do - Kỹ sư cơ khí, Mont Albert North, Victoria 3129, Australia. 540. Lan Pham, San Jose, California, USA 541. Phạm Tường Lân - Software Engineer, Toronto, Canada 542. Hồ Tấn Vinh, Melbourne, Australia 543. Trương Minh Tịnh - Thương gia, 32 Stoddart Rd., Prospect 2148, Australia 544. Nguyễn thị Thanh Vân, Paris, Pháp quốc545. Minh Trình Nguyễn - Cựu chiến binh, nguyên Cán bộ nghiên cứu Viện Mác-Lênin Hà Nội, Emser Str.27, 56076, Koblenz, Germany 546. Tô Đỗ Khắc Huy - Software Engineer, 5755 Andover Way, Tucker, GA, USA 547. Nguyễn Thị Bích Hằng, Emser Str.27 - 56076, Koblenz, Germany 548. Lưu Quốc Chiêu, 18246 Blythe St. Reseda, CA 91335, USA 549. Nguyễn T. Mỹ Linh - Sinh viên, 13830 Hoover street, Westminster, CA 92683, USA 550. Nguyễn Bá Phúc - Ks Thủy lợi, Cần Thơ 551. Cai Trong Phung - Kế toán, TAS Taxation & Accounting Solutions, Sydney, Australia 552. Nguyễn Ngọc Sơn - Cựu tù nhân chính trị, Atlanta, Georgia, USA 553. Dinh Vu, Houston, Texas, USA 554. Nguyễn Hữu Phước - Công nhân, Etten-Leur, Hòa Lan. 555. Trương Thị Tường Anh - Nội trợ, Etten-Leur, Hòa Lan. 556. Nguyễn Phước Anh Quang - Học sinh, Etten-Leur, Hòa Lan. 557. Nguyễn Vân Anh - Học sinh, Etten-Leur, Hòa Lan. 558. Tyler Tiến Lê, Alabama, USA 559. Anna Kim Nguyễn, Alabama, USA 560. Facebooker Nguyễn-Việt Phúc-Lộc, Bern, Switzerland 561. Tha Nhân - Trần Chương Lương, Westminster, California, USA 562. Phương Duy, Melbourne, Australia 563. Nguyễn Christine, Tempe City, California, USA 564. Tiểu Ngọc Nguyễn - Victoria - Australia 565. Đăng Cao Hoàng - Kỹ sư dầu khí, về hưu, Fairfax Station, Virginia, USA 566. Đặng Sơn Minh, Seattle, WA - USA 567. Hoài Duy Phương, Charlotte, NC, USA 568. Lý Thường - Công Nhân, Perth, Australia 569. Nguyen Hien Quan, Alberta, Canada 570. Nguyễn Thái Trúc, San Diego, CA, USA 571. Jo Vu - Broker, 12288 Westheimer Rd Ste 390, Houston, TX 77077, USA 572. Lê Lão Trượng - Công dân, Sài Gòn 573. Nguyễn Xuân Thọ - Kỹ sư truyền thông, 50933 Köln, CHLB Đức 574. Lê Minh - Stormwater Engineer, Sydney, Úc 575. Trương Thế Minh, 17522 57th Ave. W. Lynnwood, WA 98037, USA 576. Nguyễn Thanh Phong - Thợ hàn, Québec, Canada 577. Nguyễn Xuân Long, Đại học Michigan, USA 578. Đặng Hoàng Phúc, Melbourne Australia 579. Lý Thy Dân - Hưu trí, Fairfax, Virginia, USA 580. Lê Hồng Phong, 6 O'Briens Road, Figtree NSW 2525 581. Nguyễn Mạnh Cường, Praha, Cộng hòa Czech 582. Phùng Mai - Voice Engineer, Victoria Australia 583. Nguyễn An, Florida, USA 584. Tj Nguyễn Houston, Texas 77072, USA 585. Tan Nguyen, Manchester, New Hampshire, USA 586. Nguyễn Viết Lý, San Jose, California, USA 587. Nguyễn Phương Đằng - Kỹ Sư, Adelaide, Úc Đại Lợi. 588. Vũ Quốc Hùng - Kỹ sư Hạt Nhân Cty Areva GmbH, Erlangen, CHLB Đức 589. Nguyễn Chiêu Anh, San Jose, California, USA 590. Blogger Pham Hanh - Quảng Nam 591. Phan Lê Vũ, Queensland, Australia 592. Phan Quang Nhi, Nguyễn Trải, Cần Thơ 593. Nguyễn Giao, San Diego, California, USA 594. Huynh Loi, Medford, MA, 02155, USA 595. Nguyễn Van Xoang - Doanh nhân, Leipzig, CHLB Đức 596. Thi Chanh Do, Atlanta, GA, USA 597. Hoàng Văn Dũng, Hải phòng 598. Long Điền - Nhà văn, Tampa, Florida, USA 599. Nguyễn Tiến Luận, Long Khánh, Đồng Nai 600. Nguyễn Hòa Bình, B3 Tập thể Thanh Xuân Bắc, Hà Nội601. Blogger Osin, Nhà báo Huy Đức, Sài Gòn 602. Bác sĩ Lê Đình Phương - Blogger, Sài Gòn 603. Cao Minh Đạo - Công Dân, Sài Gòn 604. Facebooker Tiến Văn Miếu - họa sĩ Nguyễn Văn Tiến, Sài Gòn 605. Phan Thanh Minh, Quảng Nam 606. Phạm Văn Trội, Hà Nội 607. Bùi Phi Hùng - Facebook phi.hung.92 - Cán bộ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội 608. Võ Thanh Ân - Kỹ sư Tin Học, Xã Phước Mỹ Trung, Mỏ Cày Bắc, Bến Tre. 609. Đào Minh Châu - Cơ quan Hợp tác Phát triển Thuỵ Sỹ tại VN, 44B Lý Thường Kiệt, Hà Nội 610. NguyễnThanh Hải - Kỹ sư, Huế 611. Nguyễn Thị Quỳnh Như, Biên Hoà, Đồng Nai 612. Trần Đại Sơn, Kỹ sư CNTT, Nghệ An 613. Lê Thanh Trường - Phóng viên, Đà Nẵng 614. Trần Văn Công - kỹ sư, Hải Dương, hiện đang làm việc tại Cầu giấy, Hà Nội 615. Trần Nam Thiên - Doanh nhân, Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Sài Gòn 616. Nguyễn Xuân Tùng, Cát Bi, Hải An, Hải Phòng 617. Lê Văn Ái - Cử Nhân Kinh tế, Tân Thới nhất, Q12, Sài Gòn 618. Hoàng Việt Đăng, Hà Tĩnh 619. Nguyễn Văn Mẫn - Nhân viên văn phòng, Sài Gòn 620. Nguyễn Văn Lý - Cử nhân Sư phạm Tin học, Hà Tĩnh. 621. Bùi Ngọc Mai - Thợ sửa xe, Duy Tân, P.15, PN, Sài Gòn 622. Lê Đoàn Thể, Ngõ 250 Minh Khai, Hà Nội 623. Nguyễn Việt Anh, Kyoto, Nhật Bản 624. Nguyễn Anh Quân, Manila, Philippine 625. Trần Hiệp, Boston, Massachusetts, USA 626. Lê Dũng, Sugar Land, Texas, USA 627. Trần Trinh, Sugar Land, Texas, USA 628. Võ Phú - Kỹ Sư, Louisiana, USA 629. Tina Phạm,Huntington Beach,CA, USA 630. Nguyễn Quốc Trung và 4 thành viên gia đình, Công nhân hãng chep pallet, Melbourne, Australia 631. Bobby Nguyen, Garden Grove City, California, USAUSA 632. Henry Hien Pham - Sr. Telecommunication Engineer, Dallas, Texas, USA 633. Trịnh Bích Thủy - Kỹ sư môi trường, Saint Cloud, Pháp 634. Trịnh Trung Hiếu - Kỹ sư thống Kê, Clichy, Pháp 635. Trịnh Anh Dũng Phap, Clichy, Pháp 636. Nguyễn Thị Hà Quyên, Ottawa, Ontario, Canada 637. Hoàng Tuấn, Allentown, PA, USA 638. Nguyễn Thị Nhật Tân, Slidell, Louisiana, USA 639. Nguyễn Thiện Thanh, Fountain Valley, California, USA 640. Nguyễn Minh Quang, 1221 Delta ave, Burnaby, BC, Canada 641. Mã Thành Long, Rosmead, California, USA 642. Đỗ Văn Phúc, Nhà văn, cựu Tù nhân Chính trị, Austin, Texas, USA 643. Ngô Khoa Bá, Houston, Texas, USA 644. Vũ Lưu Linh, Montreal, Canada 645. Vũ Hùng - Kỹ sư điện, Melbourne, Victoria, Australia 646. Nguyễn Hữu Việt, Slidell, Louisiana, USA 647. Trần Tuấn, Vancouver, Canada 648. Andy Vu, San Diego, CA 92126, USA 649. Dương Tràng, Los Angeles, CA 90017, USA 650. Nguyễn Văn Hường - Công dân tự do, Connecticut, USA 651. Hòang Văn Sơn - nhân viên chuyển phát thư bưu điện, Canley Vale NSW 2166, Australia 652. Nguyễn Anh - Cựu sĩ quan QLVNCH, Charlotte NC, USA 653. Hùng Nguyễn - blogger and facebooker, Sydney, Australia 654. Trương Kim - Care worker, 17 Scott Avenue, ST Albans VIC 3021, Australia 655. Ngô Thuỳ Linh - Công dân, San Jose, CA , USA 656. Nguyễn Hùng Phi, South Australia, Australia 657. Hạnh Đào, Cincinnati USA 658. Phạm Thu - công dân Việt Nam tự do, Fairfield, NSW Australia 659. Facebooker Lữ Thứ, blog www.vietwebradio.net, Washington DC, Hoa Kỳ 660. Nguyen Hoa, 5412 Queensberry Ave, Springfield, VA 22151, USA 661. Vu Quach, Melbourne, Australia 662. Trương Việt Hoàng - Kỹ sư, Anaheim, California, USA 663. Tuấn Trương, University of Texas, Austin, TX, USA 664. Lê Viết Hà- Kỹ sư điện, Đà Nẵng 665. Võ Kim Lộc - Facebook: Louis Vo, Quảng Nam 666. Bach Long Giang, Hà Nội 667. Hà Nguyễn Bình - Chuyên viên kỹ thuật, Toronto, Canada. 668. Lê Thế Bình Phương, Ottawa, Ontario, Canada 669. Trần Thị Xuyến, Ottawa, Ontario, Canada 670. Therese Do, Ottawa, Ontario, Canada 671. Lê Thế Quốc Việt, Ottawa, Ontario, Canada 672. Lê Thế Quốc Nam, Ottawa, Ontario, Canada 673. Lê Phương Thảo Trần, Ottawa, Ontario, Canada 674. Lộc Phạm, Melbourne, Australia 675. Bích Thủy Trần, Melbourne, Australia 676. Nhật Thảo Phạm, Melbourne, Australia 677. Khôi Nguyên Phạm , Melbourne, Australia 678. Minh Khôi Phạm, Melbourne, Australia 679. Nguyễn Quang Bân, Tampa City, Florida, Hoa kỳ 680. Steve Phan, Houston, TX 77064, USA 681. Phạm Văn Hải, Alberta, Canada 682. Nguyễn Đức Hạnh - Kỹ sư điện, Hà nội 683. Huỳnh Tấn - Cựu học sinh Quốc Gia Nghĩa Tử Saigon, Sài Gòn 684. Nguyễn Thành Trung, Biên hòa 685. Trần Quốc Hải - Tiến sĩ, Ngõ 36 Đào Tấn, Hà Nội 686. Blogger Lê Anh Hùng, Hà Nội 687. Đinh Tấn Lực, Blogger, Pờ Y, Sài Gòn 688. Blogger Trịnh Hùng - CPA, Melbourne, Australia 689. Hoàng Sơn, Thái Bình 690. Trần Thị Kiều Liên, Sài gòn 691. Nguyễn Thị Thu Trang, Montreal, Canada 692. Nguyễn Ngọc Thương, nông dân bần cùng mạt hạng - Facebook Giuse Nguyễn Ngọc Thương, Thôn Phước Thọ, Xã Tân Phước, Thị xã La Gi, Tỉnh Bình Thuận 693. Đinh Hạ Hùng - Công Dân, Sài Gòn 694. Nguyễn Minh Mẫn, Misissauga, Ontario, Canada 695. Nguyễn Thị Nguyệt Nga, Misissauga, Ontario, Canada 696. Phạm Hồng Hải, Cô Bắc, P. Cô Giang, Q1, Sài Gòn 697. Huỳnh Đan Châu, Houston, Texas, USA 698. Huỳnh Nam Khoa, Houston, Texas, USA 699. Huỳnh Ngọc Phước, Houston, Texas, USA 700. Facebooker Chuan Vu - Vũ đình Chuẩn, Sài Gòn 701. Nguyễn Tường Thụy - Blogger, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội 702. Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Khối 8406, Sài Gòn 703. Lư Thị Thu Trang, Khối 8406, Sài Gòn 704. Lư Thị Thu Duyên, Khối 8406, Boston, MA, USA 705. Ca sỹ Nguyệt Ánh, tuần báo Phố Nhỏ, Virginia, USA 706. Đào Trường Phúc, tuần báo Phố Nhỏ, Virginia, USA 707. Trương Sĩ Lương, tạp chí Thế Giới Mới, Texas, USA 708. Huỳnh Lương Thiện, tuần báo Mõ San Francisco, California, USA 709. Phạm Thành - Nhà báo (nghỉ hưu), blogger blog Bà đầm xòe, Hà Nội 710. Blogger Le Nguyen - cộng tác viên Danlambao, Vĩnh Long 711. Lê Đình Lượng - Công dân tự do, Hợp Thành, Yên Thành, Nghệ An 712. Hoàng Minh Hiếu, Sài Gòn 713. Nguyễn Hữu Trường, Bình Dương 714. Lê Hoàng Tân - Kỹ sư điện - Facebook Lehoangtan, Đường 11, P.11, Q. Gò Vấp, Sài Gòn 715. Bùi Quang Thắng - Thạc sỹ QTKD, Hà Nội 716. Nguyễn Thị Từ Nhơn, Bình Thạnh, Sài Gòn 717. Đỗ Khánh Duy An, Sài Gòn 718. Mai Huy Thăng, Ba Đình, Hà Nội 719. Trần Thanh Trúc (FACEBOOK: Trần Thanh Trúc), Bà Rịa-Vũng Tàu 720. Đoàn Tuấn, Hải Phòng 721. Phạm Thị Lâm - Cán bộ hưu trí, Cầu Giấy Hà Nội 722. Trương Ngọc Chương - Nhà báo, Nguyễn Tư Giản, TP Đà Nẵng 723. Trương Đăng - Kỹ sư, Sài Gòn 724. Lê Thanh Tùng, Facebook: Lê Thanh Tùng, Thị trấn Phổ Yên, H. Phổ Yên Thái Nguyên 725. Nguyễn Thànhh Long, Sài Gòn 726. Nguyễn Dương - Giáo viên hưu trí, Đồng Nai 727. Hoàng Quốc Bảo - Điện công nghiệp, Thanh Đa, Bình Thạnh, Sài Gòn 728. Lê Trọng Hoàng Dương, Phường Trần Phú, Hà Tĩnh 729. Vũ Thanh Bình, Quận Gò Vấp, Sài GònNguyễn Hải An, Đà Nẵng 730. Nguyễn Văn Tiến, Ba Đình, Hà Nội 731. Trần Hoàng Yến, Sài Gòn 732. Hoàng Bá Phước, Hà Đông 733. Nguyễn Trí Dũng - Dịch thuật tự do, Hà Nội 734. Hà Chí Hải - Bán hàng tự do, Tập thể Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội. 735. Hồ Văn Tích - Kỹ Sư, Sài Gòn 736. Phan Phúc Hưng - Dược sĩ, Phường Thạnh Lộc, Quận 12, Sài Gòn 737. Châu Quang Dũng, Sài Gòn 738. Nguyễn Mạnh Hùng - Kiến trúc sư, Hà Nội 739. Nguyễn Đang Lập, Kỹ sư Kinh tế, Bà Rịa Vũng Tàu 740. Vũ Tuấn Anh - Facebooker: haccolong, Quận 12, Sài Gòn 741. Lê Văn Thưởng, Đà Nẵng 742. Nguyễn Huy Dũng - Dân thường, Phước Thành, phường 11, TP Vũng Tàu. 743. Ngô Đức Hoàng - Sinh viên, Đà Nẵng 744. Ngô Đức Hào - Học sinh, Đà Nẵng 745. Lý Đông Hoàng, Tây Hồ, Hà NộiNội 746. Nguyễn Văn Vinh - Hưu trí, ngõ 144 Quan Nhân, Thanh Xuân, Hà Nội 747. Trần Thị Huyền Anh, Ba Đình, Hà Nội 748. Nguyễn Thanh Xuân - Kỹ Sư Vi Tính, Kỳ Đồng P9 - Q3, Sài Gòn 749. Hoàng Nguyên Bảo - Facebook: baohoangvn, Sài Gòn 750. Anh Bảo - Facebook Bảo Demo, Cần Thơ 751. Bùi Đợi, Quảng Ngãi 752. Lê Đức Bình, Quận 1, Sài Gòn 753. Hồ Phước Đại, Q. Bình Thạnh, Sài Gòn 754. Võ Linh Đan, Sài Gòn 755. Nguyễn Ngọc Hiếu, Pleiku-Gialai 756. Trần Thị Thuý Vân - Sinh Viên cao học ở trường ĐH Sungkyunkwan, khu vực Suwon, Hàn Quốc 757. Vu Huy - Sinh viên University of Houston tại Houston, Texa, USA 758. Lê Ngọc Năng, Boston, Massachusetts, USA 759. Nguyễn Chiêu Anh, San José, California, USA 760. Dinh Van Toan, San Francisco, California, USA 761. Dương Thanh Phong - Nhà thơ, Lake Forest city, CA 92630, USA 762. Phạm Thị Nho, Lake Forest city, CA 92630, USA 763. Bùi Thị Cát Vân, Victoria, Australia 764. Henry Hoàng, Sunnyvale, California, USA 765. Doanh Chau - Equity Investment Manager, FB: Doanh Chau, W. Covina, California, USA 766. Vinh Lê, Calgary, Alberta, Canada 767. Tam Mavroudis - Facebooker, Marin, USA 768. Kiến trúc sư Đào Đông Nhựt, Florida, USA 769. Hoàng Nguyên, San Pablo, CA 94806, USA 770. Phan Ngọc Huề, San Jose, California, USA 771. Diệp Thanh Lan - Engineer, San Diego, California, USAUSA 772. Ts. Ngô Anh Văn, Đại Học Nam California, 954 S. Carondelet St. #10 Los Angles, CA, USA 773. Nguyễn Thái - Chuyên viên điện toán, 820 Pinto Dr, San Jose, California, USA 774. Khai Dang, Montreal, Canada 775. Phạm Minh Hoa, 22862 Larkin Street, Lake Forest, California, USA 776. Nguyễn Đăng Vũ - Kỹ sư Cơ Khí, Anaheim, California, USA. 777. Sy Nguyen, sStudent, Garden Grove 92844, CA, USA 778. Too Bryan Nguyen, 1777 Timber Creek Rd., Flower Mound TX 75028, USA 779. Nguyễn Thị Thanh Vân - Cán bộ Tài chính, Hợp đồng, Phái đoàn Liên minh Châu Âu tại Việt Nam 780. Timothy Le - IT engineer in Silicon Valley of California, USA. 781. Mai Phuong Tran, Vancouver, Canada 782. Danny Le, Worcester, MA, USA 783. Thanh Quang, Westminster, California, USA 784. Nguyễn Liên, Philadelphia, PA, USA 785. Nguyễn Lơi, Sydney, Australia 786. Phạm Tấn Vũ, Kentucky, USA 787. Lê Việt Quốc - Chuyên viên tin học, Hawaii, USA 788. Lê Thuận, Annandale, VA, USA 789. Nhan Luu, Florida, USA 790. Lê An Hảo Calgar, Alberta, Canada 791. Vương Chu - Công chức, Sydney, Australia 792. Mai Cau San Jose CA, USA 793. Tran Sen, San Jose, CA, USA 794. Mai Duc, Lincoln, NE, USA 795. Ha Hai, Lincoln. NE, USA 796. Ha Su, Lincoln, NE, USA 797. Nguyen Hanh, Lincoln, NE, USA 798. Ha Son, Lincoln, NE, USA 799. Ha Huan, Lincoln, NE, USA 800. Patrick Vũ Hùng, Midway City California, USA 801. Agnes Loan Vu, Midway City California, USA 802. Hà Công Hồng - Nha Sĩ, Sydney, Australia 803. Lynn Loan Nguyen, Santa Ana California, USA 804. Eric Ha Vu, Corona California, USA 805. Theresa Huong Vu, San Ana California, USA 806. Therese Huyen Vu, Fountain Valley California, USA 807. John Luan Bui, Midway City California, USA 808. Sean Hung Tran, Midway City California, USA 809. Goretty Nguyen, Fountain Valley California, USA 810. Nguyễn Thanh Vân, Toronto, Canada 811. Hoàng Kim Ngân, Los Angeles, California, USA 812. Đinh Thị Ngọc Tuyết, Kentucky, USA 813. Vinh An Vu - Công nhân, Sydney, NSW, Australia 814. Bùi Bình, PE, N. Carolina, USA 815. Hoàng Diệu, Melbourne, Australia 816. Hy Nguyen, Saint Paul, Minnesota, USA 817. Huỳnh Anh, Sài Gòn 818. Nguyễn Mai - Nguyên giáo viên trường PTDL Nguyễn Siêu-Hà Nội, Worcester, MA 01602, USA 819. Tạ Thị Mai Trâm, Houston TX, USA 820. Nguyễn Thị Thanh Hương - Cựu thuyền nhân ThaiLan, Sài Gòn 821. Phan Thị Duong Thi, 9414 Lerin Lane, Sugar Land, TX 77498 822. Alpha Linh - Kỹ Sư Điện Tử, Chicago IL, USA 823. Huỳnh Nguyên Phúc - Công nhân, Baltimore, Maryland, USA 824. Don Nguyen, San Francisco, California, USA 825. Facebooker Nguyễn Quang Duy, Sài Gòn 826. Van Nguyễn, Melbourne, Vic, Australia 827. Thi Nguyễn, Melbourne, Vic, Australia 828. Lợi Nguyễn, Springvale, Melbourne, Australia 829. Xuyến Ngô, Sydney, NSW, Australia 830. Lý Nhơn, Công nhân, 11771 Shetland, Garden Grove, CA, USA 831. Huỳnh Bá Nhẫn, 3030 Trethewey, Abostford, BC, Canada 832. Phi Trương Lê - Công nhân, Cecil Hills, Australia 833. Cao Thị Thanh Hương, Melbourne, Australia 834. Nguyễn Tiến Cường - Thương gia, Houston, Texas, USA 835. Huỳnh Thị Bích Hiền - Sinh viên Luật, Houston, Texas, USA 836. Ken Hoang - Kỹ sư vi tính, Phoenix, Arizona, USA 837. Pham Minh Tung, Melbourne, Australia 838. Đào Quang - CFISD, Houston, Texas, USAUSA 839. Liêu Huỳnh - Hưu trí, New York, USA 840. Johny Nguyen, Seattle WA 98026, USA 841. Đặng Văn Hưng, 33 Winthrop Dr Winthrop 6150, West Australia 842. Thận Nhiên, Nhà thơ, Freelance writer, Allen, TX, USA 843. Hoàng Ngọc Diêu - Sydney/Australia - Nha Trang / Việt Nam 844. Vũ Quốc Ngữ, Hà Nội 845. Nguyễn Ngọc Thùy Linh - Sinh viên Luật, Blogger, Thủ Đức, Sài Gòn 846. Nguyễn Ngọc Phong - cựu giáo viên, Đà Lạt 847. Ngô Minh Danh - Chuyên viên công nghệ thông tin, Đồng Nai 848. Nguyễn Đình Trung, Sài Gòn 849. Cao Thị Hải Hiền, Sài Gòn 850. Cao Bá Nhật - Nhân viên quản lý, Sài Gòn 851. Trần Văn Nghiệp - Quản trị Mạng, Quận 2, Sài Gòn 852. Vũ Hội, Như Xuân, Thanh Hóa 853. Y Thoạt - Knul - Bangkok - Thailand 854. Dr Nguyễn Thị Lan – Blogger, California, USA 855. Long Nguyen, Fountain Valley, CA92708, USA 856. Anthony Nguyễn Đức Duy, Vermont, Australia 857. Phan Ngọc Huề, San Jose, California, USA 858. Ký giả Hùng Sơn, San Jose, California, USA 859. Linh mục Phê-rô Nguyễn Văn Khải – Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Roma, Italy 860. Họa sỹ Chiêu Anh Hải, Cựu TNXP Chiến trường Tây Nam 1979, Facebook Ruoi Trau, Sài Gòn 861. Raymond C Vu, Melbourne, Australia 862. Đỗ Chiến Thắng, Hà Nội 863. Bửu Nguyễn, Darwin, Australia 864. Nga Phạm, Darwin, Australia 865. Mai Văn Hải, Quận 7, Sài Gòn 866. Hung Nguyen, Fort Mill, South Carolina, USA 867. Minh Tran Tracy Nguyen, Fort Mill, South Carolina, USA 868. Michelle Tran, Fort Mill, South Carolina, USA 869. Kevin Tran, Fort Mill, South Carolina, USA 870. Bryan Tran, Fort Mill, South Carolina, USA 871. Kỹ sư Phạm Văn Tiến, Hải Phòng 872. Phạm Tuấn, California, USA 873. Ngô Quang Khải, xã Xuân Kiên, Xuân Trường, Nam Định 874. Nguyễn Văn Dương, Hà Nội 875. Nguyễn Văn Triển, Escondido, California 92025, USA 876. Trần Đạt, San Jose, USA 877. Trần Phong Vũ, California , USA 878. Trần Thị Phước, California, USA 879. Lê Thị Bé Tư, Hồng Ngự, Đồng Tháp 880. Nguyễn Ngọc Hưng, Nam Định 881. Phạm Thị Ngọc Tuyền, Cần Thơ 882. Cuong Nguyen, Santana CA 92703, USA 883. Trieu Ca, Perth, Australia 884. Nguyễn Thế Hùng, Brisbane, Queensland, Australia 885. Nhà văn Nguyễn Nguyên An, Huế 886. Trần Côn Giang, Minnesota, USA 887. Vũ Trần, Kế toán, Nam Định 888. Lý Quốc Tuấn, Franfurt, Germany 889. Nguyễn Xuân Thông, San Diego, California, USA 890. Đinh Thị Việt Nữ, San Diego, California, USA 891. Nguyễn Thị Xuân Khang, San Diego, California, USA 892. Kiến trúc sư Nguyễn Quốc Thiều, Thái Lan 893. Nguyễn Mạnh Hùng, Hà Nội 894. Trần Văn Thường, Bà Rịa, Vũng Tàu 895. Nguyễn Văn Trí, Oceanside, California, USA 896. Ngô Điều, Cựu đảng viên, Hà Nội 897. Trần Thiên Bình, Sài Gòn 898. Lê Sinh Mẫn, Facebook Lê Sinh Mẫn, Sài Gòn 899. Facebooker Huỳnh Quốc Huy, Aarhus, Đan Mạch 900. Lê Văn Chương, Cần Thơ 901. Trần Xuân Tự, Cán bộ Hội nông dân xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh 902. Nguyễn Văn Thọ, nguyên thôn trưởng Kỳ Anh, Hà Tĩnh 903. Đào Văn Thông, Hà Nội 904. Nguyễn Mai Hương, Hà Nội 905. Vũ Thúy Lan, Facebook ThuyLan Vu, Canberra, Australia 906. Trần Quang, San Diego, California, USA 907. Đặng Thế Hải, Hà Nội 908. Họa sĩ Phùng Chí Kiên, Hai Bà Trưng, Hà Nội 909. Trần Kim Long, Elk Grove, California, USA 910. Trần Đức Tường, Irvine, California, USA 911. Phạm Thanh Hiền, Biên Hòa, Đồng Nai 912. Lê Hùng Dũng, Na Belidle 17 Praha 5, Cộng hòa Séc 913. Kỹ sư Vũ Ngọc Anh, Hà Nội 914. Thuy Nguyen, Westminster, California, USA 915. Lê Thị Thanh Ngọc, Tân Phú, Quận 7, Sài Gòn 916. Võ Tấn, Tân Sơn, Ninh Thuận 917. Nguyễn Anh Việt, Lafayette, Los Angeles, USA 918. Nguyễn Tammy, Lafayette, Los Angeles, USA 919. Nguyễn Quang Hà, Lafayette, Los Angeles, USA 920. Lê Thị Xuân Chi, Lafayette, Los Angeles, USA 921. Nguyễn Mỹ Linh, Lafayette, Los Angeles, USA 922. Nguyễn Mỹ An, Lafayette, Los Angeles, USA 923. Nguyễn Mỹ Tiên, Lafayette, Los Angeles, USA 924. Nguyễn Thiên Kim, Lafayette, Los Angeles, USA 925. Nguyễn Luân, Lafayette, Los Angeles, USA 926. Nguyễn Phú, Melbourne, Australia 927. Đặng Văn Lượng, Nam Định 928. Nguyễn Quốc Huy, Facebook Huy Nguyen, Sài Gòn 929. Linh mục Nguyễn Hùng Cường, Đài Loan 930. Nguyễn Thái An, Facebook Nguyễn Thái An, Sài Gòn 931. Kỹ sư Trần Đình Tuấn, Olso, Na Uy 932. Nhiếp ảnh gia Cao Xuân Vinh, Quận 11, Sài Gòn 933. Hồ Thị Hòa, Sài Gòn 934. Nguyễn Thị Ngân, Thanh Hóa 935. Blogger Việt Hoàng, Doanh nhân, Nga 936. Đỗ Vân Anh, Giáo viên, Hà Nội 937. Nguyễn Hoàng Vũ, Nghiên cứu viên Viện Vật lý Hà Nôi, Tây Hồ, Hà Nội 938. Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội 939. Nghi Le Duc, Sinh viên trường Paris- Est, Paris, Pháp 940. Đoàn Thanh Tùng, Liege, Bỉ 941. Phạm Văn Hoàn, Sinh viên, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa 942. Sùng Hữu Anh Túc, Facebook Airies Mahalo, Lào Cai 943. Kỹ sư Trần Văn Thao, Sài Gòn 944. Đậu Văn Bảy, Bình Dương 945. Dang Nguyen, Orange County, California, USA 946. Kỹ sư Lưu Hà Sĩ Tâm, Quỳnh Phụ, Thái Bình 947. Hồ Trung Nguyễn, Brisbane, Australia 948. Rita Huynh, Fletcher St., Chicago, USA 949. Nguyễn Thiện Quang, Chuyên viên thiết kế nội thất, WA, USA 950. Stephen Nguyễn Thế Phan, Boxhill, Australia 951. Phạm Bảo Hoàng, San Bernardino, California, USA 952. Nguyễn Thanh Quang, Houston, Texas, USA 953. Nguyễn Như Ngọc Lâm, Gò Vấp, Sài Gòn 954. Camelias Tran, New South Wave, Australia 955. Nguyễn Thị Liên, Washington, USA 956. Tăng Khắc Tân, Port Coquitlam, BC, Canada 957. Trần Tuấn, Colorado, USA 958. Đặng Tuấn Kiệt, San Diego, California, USA 959. Bùi Thị Ngọc, Sài Gòn 960. Phạm Trung Dũng, Westminster, California, USA 961. Ngo Thanh, Richmond BC, Canada 962. Nguyễn Văn Hải, Paris, Pháp 963. Bùi Anh Tuấn, Hàng Vôi, Hà Nội 964. Sandy Vo, Vancouver, Canada 965. Vo Quan, Vancouver, Canada 966. Kỹ sư Phạm Tất Đồng, Phú Nhuận, Sài Gòn 967. Nguyễn Anh Tài, Sài Gòn 968. Nguyễn Thị Minh Tâm, Leipzig, Đức 969. Bùi Minh Vũ, Thuận An, Bình Dương 970. Nguyễn Huy Đức, Hương Khê, Hà Tĩnh 971. Hoàng Anh Vũ, Quận 3, Sài Gòn 972. Lê Trọng Kế, Gailes, Queensland, Australia 973. Lê Thị Lan, Gailes, Queensland, Australia 974. Nguyễn Anh Hùng, Hà Nội 975. Tony Nguyen, Milpitas, CA 95035, USA 976. Nguyễn Kim, Brusseles, Bỉ 977. Huỳnh Xuân Thiệp, Nhà giáo hưu trí, Ngô Mây, Phù Cát, Bình Định 978. Facebooker Hà Hồng Sơn, Sài Gòn 979. Truong Tung-Son, San Jose, California, USA 980. Dr. Nguyễn Thị Lan, blogger, Anaheim, California, USA 981. Nguyễn Việt Đức, Antioch, California, USA 982. Đoàn Hòa, Jihlava, Cộng Hòa Czech 983. Lê Bá Thuần, Melbourne, Victoria, Australia 984. Minh Tiên Võ, Melbourne, Victoria, Australia 985. Nguyễn Viên, Nam Định 986. Kỹ sư Trần Anh Vương, Tuy Phước, Bình Định 987. Nguyễn Quang Nhàn, Đà Lạt 988. Trần Tuấn Tú, Giảng viên Khoa Môi trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Sài Gòn 989. Kiến trúc sư Võ Nguyên Thạch, Nhà Bè, Sài Gòn 990. Vũ Hoàng Tùng, Hamburg, Đức 991. Phạm Hữu Uyển, Praha 5, CH Czech 992. Kỹ sư Lê Trọng Kiên, Sài Gòn 993. Lưu Thị Hoàng Phượng, Nha Trang, Khánh Hòa 994. Đặng Tiến Dũng, Hordaland, Na Uy 995. Nguyễn Quang Ngọc, Hà Nội 996. Nguyễn Ngọc Tâm, Nghi Lộc, Nghệ An 997. Vinh Mai, Melbourne, Australia 998. Nguyễn Hồ Ái Thanh, Sài Gòn 999. Nguyễn Duy Thanh, Facebook Annie Thanh, Sài Gòn1000. Bác sĩ Thạch Nguyễn, Trưởng khoa Tim mạch BV St Mary, Hobart, Indiana, Hoa Kỳ - GS thỉnh giảng ĐH Y khoa Nam Kinh, Trung Quốc - Giáo sư Danh dự Đại học Y Hà Nội.   Danh sách sẽ được tiếp tục cập nhật. Đã có trên 1000 người ký tên Theo ý kiến của anh Nguyễn Đắc Kiên: "Cụm từ “sát cánh bên nhà báo Nguyễn Đắc Kiên”, khiến tôi ngại ngùng khi ký vào bản “Tuyên bố Công dân Tự do”. Tôi sẽ gửi thư đề nghị các bạn khởi xướng bỏ cụm từ đó đi, để tôi được ký tên mình, cùng với hàng nghìn, triệu đồng bào. Tôi nghĩ rằng, mỗi người chúng ta không sát cánh cùng anh Kiên hay bất cứ người nào khác, chúng ta ký tên vì chính chúng ta, vì tổ tiên ngàn đời, vì con cháu tương lai. Vì thế tôi kêu gọi tất cả, không phân biệt trong hay ngoài nước, còn hay không còn quốc tịch Việt Nam, miễn là mang trong mình dòng máu Việt, ký tên vào bản tuyên bố công dân này.", nhóm khởi xướng xin phép quý vị đã ký cũng như sẽ ký vào bản tuyên bố, được đổi câu mở đầu: Chúng tôi, những người khởi đầu ký tên sau đây, sát cánh bên Nhà báo Nguyễn Đắc Kiên và kêu gọi những công dân khác cùng với chúng tôi đồng tuyên bố... thành:
......

Bất tuân - Điểm khởi đầu của mọi cuộc cách mạng mềm!

Cho đến hôm nay rất nhiều người đã nghĩ đến một cuộc cách mạng mềm ở Việt Nam. Cách mạng tất yếu sẽ xảy ra, điều đó không cần bàn cãi. Nhưng nó phải bắt đầu từ đâu và người ta sẽ vận hành cuộc cách mạng ấy như thế nào, lại là điều khó mà hình dung ra được. "Mahatma Gandhi - "ông tổ" của phương pháp bất tuân" Nếu như ta chịu khó tìm tòi từ những cuốn sách viết về kỹ năng và chiến thuật chiến lược đấu tranh ôn hoà như cuốn "Từ Độc Tài Đến Dân Chủ" của tác giả Gene Sharp, hay tích cực theo dõi và thu thập thông tin từ những cuộc cách mạng Dân Chủ ở Đông Âu và Bắc Phi, thì sẽ thấy điểm chung của tất cả các cuộc cách mạng mềm là chúng đều được khởi đầu bằng việc bất tuân. Vậy bất tuân là gì?   Bất kể một nhà nước nào, chính thể nào, muốn tồn tại và bền vững được đều phải nhờ vào sự tuân phục của dân chúng. Sự tuân phục của người dân chính là sức mạnh của nhà nước và của kẻ nắm quyền. Cụ thể nhân dân cung cấp nguồn tài chính nuôi dưỡng chính quyền bằng tiền thuế do họ đóng góp. Nhân dân cung cấp lương thực thực phẩm do họ làm ra. Quan trọng nhất đó là họ cung cấp binh sĩ cho quân đội để bảo vệ tổ quốc, đồng nghĩa với bảo vệ chính quyền, vì một khi nước mất thì kẻ cầm quyền cũng tiêu vong. Tuân phục chính là hành động chấp hành và làm theo một cách tự giác tất cả các mệnh lệnh, chủ trương, đường lối, kế hoạch về mọi mặt do kẻ cầm quyền khuyến khích hoặc yêu cầu nhân dân thực hiện thông qua các văn bản pháp luật và hành chính, thậm chí là ngay cả lệnh miệng như đối với trường hợp Việt Nam nhiều năm qua. Ví dụ như nghĩa vụ đóng thuế, nghĩa vụ quân sự, và thực hiện vô vàn những chủ trương phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội khác do chính quyền chỉ đạo. Vậy có thể suy ra, bất tuân chính là hành động làm trái với mong muốn của kẻ nắm quyền. Ngay lập tức có vấn đề ở đây, đó chính là hành vi vi phạm pháp luật. Giả sử như người dân chống đóng thuế thì đương nhên là họ đã vi phạm pháp lệnh về thuế, từ chối nhập ngũ thì đương nhiên vi phạm luật nghĩa vụ quân sự, không chấp hành luật giao thông thì sẽ vi phạm luật giao thông vv... Nhưng nếu không làm trái với mong muốn của kẻ nắm quyền thì không còn là việc bất tuân nữa. Cũng ngay lập tức đã có câu trả lời, đó là cách bất tuân thế nào cho đúng. Một người viện những lý do chính đáng để trì hoãn đóng thuế hay đòi giảm thuế cũng đã bao hàm sự bất tuân. Một người giả bệnh để không đi họp tổ dân phố cũng là hành vi bất tuân. Thậm chí ngay cả việc từ chối nhận phần thưởng như đối với trường hợp nghệ sĩ Kim Chi vừa qua cũng là hành động bất tuân. Nhưng những hành vi đó không ai có thể quy kết cấu thành tội phạm. Vậy vấn đề ở đây là cách người ta bất tuân ra sao mà thôi... Gần đây ở Việt Nam có việc 72 nhân sĩ trí thức trong nước ra kiến nghị góp ý sửa đổi hiến pháp, đến nay đã có hơn 5 ngàn chữ ký hưởng ứng. Đây là hành động bất tuân, tại sao lại nói như vậy? Nếu tuân phục theo mong muốn của nhà cầm quyền CSVN thì mọi kiến nghị sửa đổi hiến pháp phải theo hướng dẫn của quốc hội, tức là chỉ được góp ý những điều khoản mà chính quyền đưa ra. Nhưng nhóm 72 nhân sĩ đã "làm quá" tức là đòi sửa đổi cả những điều khoản "không trong danh mục" như Điều 4 chẳng hạn... Tất nhiên, mặc dù nhà cầm quyền CSVN rất khó chịu với việc kiến nghị sửa đổi hiến pháp, nhưng họ cũng chẳng thể quy đó là hành động vi phạm pháp luật. Về phía những người khởi xướng, họ cũng không tham vọng là ý kiến của họ được chấp nhận mà có lẽ đơn giản là họ chỉ cần gióng lên hồi chuông nhằm thức tỉnh công luận trong đại chúng và vạch mặt ĐCSVN mà thôi. Như vậy việc bất tuân rõ ràng là phải có trí tuệ chứ không thể không tính toán trước sau. Nhưng lại một điều nữa được đặt ra, liệu những người phản kháng có nên ngồi chờ những cơ hội như việc sửa đổi hiến pháp hay khai thác Bô Xít trước đây để mà "ra tay" hay không? Tất nhiên là không! Vậy thì ngoài việc họ cần nắm bắt cơ hội để "nhờ gió bẻ măng" như cơ hội nhà cầm quyền kêu gọi "góp ý sửa đổi hiến pháp", họ cần phải tạo ra lý cớ để mà bất tuân. Kinh nghiệm tại Nam Phi và Đông Âu trước đây cho thấy, chỉ cần âm thầm tẩy chay mua một loại hàng hoá nào đó, tẩy chay một khu mua sắm nào đó, hay thậm chí là mọi người chỉ cần đi chậm lại trong khi tham gia giao thông vv.., là đã thành công trong việc bất tuân. Vậy những người bất tuân phải làm những điều mà pháp luật không cấm để tự bảo vệ mình. Nhưng tiếp tục nảy sinh ra một điều nữa, đó là câu hỏi: Liệu một người hay một vài người bất tuân thì sẽ đi đến đâu? Chẳng có gì xảy ra cả! Nhưng nếu như với số đông hàng ngàn, hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn hoặc hơn thì sẽ thấy hiệu quả của việc bất tuân ngay lập tức. Khi một khâu nào đó của guồng máy xã hội bị chậm lại hay bị tắc nghẽn, nhà cầm quyền sẽ buộc phải quan tâm. Khi họ không đủ căn cứ để quy kết vi phạm thì chắc chắn họ sẽ phải xuống nước xem xét. Đúng lúc này những người bất tuân mới đưa ra yêu sách của mình... Như vậy rõ ràng bất tuân chỉ có thể có hiệu lực khi có số đông tham gia. Mà một khi số đông muốn hành động nhịp nhàng, đúng thời điểm, đủ thời lượng, liều lượng thì lẽ dĩ nhiên phải có tổ chức chỉ đạo. Trong việc bất tuân và cấp độ cao hơn, không thể và không bao giờ được phép thiếu khâu tổ chức, sự thật là đấu tranh là phải có tổ chức. Ở Việt Nam hiện nay đang thiếu điều này vì nhiều lý do, nhưng lý do cụ thể nhất, đó chính là bị đàn áp ngay từ trong trứng nước, vì ĐCSVN đang độc quyền chính trị. Vậy có phương cách bất tuân nào khả dĩ vừa không công khai tổ chức lại vừa đạt được hiệu quả hay không? Trong cái khó luôn ló cái khôn. Ví dụ những cuộc biểu tình chống Trung Quốc diễn ra năm 2011 dường như không ai xuất hiện công khai tổ chức, nhưng những người bất tuân vẫn tổ chức thành công nhiều cuộc biểu tình tại Hà Nội. Kinh nghiệm cho thấy, sử dụng mạng Internet như là công cụ liên lạc để kết nối giao thông với nhau là hợp lý nhất cho đến lúc này. Tất nhiên cơ hội để phát động một đợt bất tuân bất kỳ lại buộc phải chờ vào những biến động thời sự xã hội. Và đối với những người không có điều kiện tiếp xúc Internet thì quả là khó khăn! Để giải quyết khâu này lại là trách nhiệm nặng nề của bộ máy các tổ chức, đảng phải chính quy của người Việt ở nước ngoài đã hoạt động đấu tranh ôn hoà lâu năm. Từ những tín hiệu như việc kiến nghị sửa đổi hiến pháp hiện nay, hay trước đó là các cuộc biểu tình bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa, sự bất tuân đã đánh dấu một bước đi quan trọng trong tiến trình dân chủ hoá đất nước Việt Nam. Tuy nó mới chỉ là những tín hiệu, nhưng đã và đang làm cho nhà cầm quyền CSVN đau đầu loay hoay chống đỡ. Và tuy con đường tự do dân chủ còn đang ở phía trước, nhưng nó đang được khởi động đúng theo quy luật của các cuộc cách mạng mềm trên thế giới, mở màn bằng những hành động bất tuân. http://danchutudovn.blogspot.de/2013/02/bat-tuan-iem-khoi-au-cua-moi-cuoc-cach.html            
......

Xã hội dân sự ở Việt Nam: Một bức tranh lệch lạc và dang dở

Hầu hết các tài liệu viết về xã hội dân sự ở Việt Nam, chủ yếu bằng tiếng Anh đều nhấn mạnh: Xã hội dân sự chỉ mới manh nha tại Việt Nam từ giữa thập niên 1980, khi chính phủ và đảng cầm quyền công bố chính sách đổi mới. Thật ra, không phải. Theo tôi, đó chỉ là một cái nhìn phi lịch sử và đầy thiên kiến chính trị: Một cách vô tình hay cố ý, người ta hư vô hoá sự tồn tại của một nửa nước tương đối tự do trong thời kỳ 1954-75.   Từ những góc nhìn khác nhau, người ta có thể phê phán chế độ Việt Nam Cộng Hòa về nhiều điểm, từ chính trị đến quân sự, từ kinh tế đến xã hội. Tuy nhiên, có một điều không thể phủ nhận được: ở miền Nam, từ 1954 đến 1975, xã hội dân sự được phát triển một cách mạnh mẽ. Số lượng các tổ chức (chính thức và không chính thức) có tính chất tự nguyện, phi lợi nhuận, độc lập với nhà nước, của những người có cùng sở thích hoặc lý tưởng chung, nhiều vô cùng. Không những nhiều mà còn đa dạng. Hầu như ở lãnh vực nào cũng có. Có những tổ chức có gốc gác từ ngoại quốc như: Hội Hồng Thập Tự (bây giờ gọi là Hội Chữ Thập Đỏ) hay Hướng Đạo. Có những tổ chức liên quốc gia như Hội Việt – Mỹ hay Hội Việt – Pháp, Việt – Đức. Các tôn giáo, ngoài một tổ chức thống nhất chung, còn có nhiều tổ chức nhỏ, như Công giáo thì có Phong trào Thiếu nhi Thánh thể, Hùng Tâm Dũng Chí và Thanh niên Sinh Công; Phật giáo thì, ngoài Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, có Hội Phật Học Việt Nam, Gia đình Phật tử, Thanh niên Phật tử… Địa phương nào cũng có các Hội đồng hương, Hội tương trợ hoặc Hội tương tế. Với người già thì có các Hội cao niên; với người trẻ thì, ngoài Hướng Đạo, còn có các tổ chức như Đoàn Thanh niên Thiện chí, Du Ca, Đoàn Văn nghệ Thanh niên Tiên Rồng, Đoàn văn nghệ Thanh niên Học sinh (còn có tên là Phong trào Nguồn sống), Thanh niên Phụng sự Xã hội, Đoàn Công tác Xã hội Sinh viên Học sinh. Ở các đại học đều có Hội Sinh viên; ở Sài Gòn và Huế còn có Tổng hội Sinh viên. Trong lãnh vực văn hóa cũng có rất nhiều tổ chức dân sự như: Cơ quan Khảo cứu Văn hóa Kỹ thuật Việt Nam, Tổng hội Khổng học Việt Nam, Tổng hội Việt Nam cổ học, Hội Việt Nam Văn hóa Á châu, Hội Giáo dục Bình dân Việt Nam… Về báo chí, có Nghiệp đoàn Ký giả Nam Việt, Hội Ái hữu Ký giả Việt Nam, Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam…Về văn học thì có Trung tâm Văn bút và vô số các thi văn đoàn ở mọi nơi. Một số tạp chí lớn hoạt động như một nhóm với một số cây bút chính làm hạt nhân, từ đó, chúng ta có nhóm Văn hóa Ngày nay, nhóm Sáng Tạo, nhóm Quan Điểm. Về mỹ thuật, ngoài Nghiệp đoàn Hội họa Việt Nam, còn có Hội hoạ sĩ trẻ. Về âm nhạc thì lại càng phong phú. Một số tổ chức trên có thể nhận được sự tài trợ của chính quyền, nhưng ngay cả trong trường hợp ấy, họ cũng có tự do để hoạt động một cách độc lập, theo quy chế tự quản. Ngoài ra, còn có vô số tổ chức được thành lập chỉ với mục đích chống chính quyền như Ủy ban Cải thiện Chế độ Lao tù (của Linh mục Chân Tín), Phong trào Phụ nữ đòi Quyền sống (của Ngô Bá Thành), Ủy ban Tranh đấu cho Tự do Báo chí và Xuất bản (của Nguyễn Văn Bình), Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi Người lao động (của Phan Khắc Từ), Lực lượng Hoà hợp Hòa giải Dân tộc (của Vũ Văn Mẫu), v.v. Không những ở miền Nam thời 1954-75, ngay cả trước đó nữa, từ đầu thế kỷ 20, dưới thời Pháp thuộc, xã hội dân sự cũng đã phát triển khá mạnh mẽ. Ngoài các tổ chức chính trị chống Pháp, một cách công khai hay bí mật, còn có vô số các tổ chức xã hội, văn hóa, giáo dục rải rác khắp nơi, đặc biệt tại các thành phố lớn như Sài Gòn, Hà Nội và Huế. Nông dân thì lập các Nông hội; học sinh sinh viên thì lập các Học hội; phụ nữ cũng lập các Hội phụ nữ dưới nhiều danh xưng khác nhau; phần lớn các tổ chức Phật giáo hoạt động sau này đều có tiền thân từ trước năm 1945: Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học (1930), Hội An Nam Phật học (1932), Hội Phật giáo Bắc kỳ (1934)… Về phương diện văn hóa, nổi bật nhất là Đông Kinh nghĩa thục (1907), Hội Khai trí Tiến Đức (1919-45), nhóm Tự Lực văn đoàn (nhóm này cũng tổ chức Phong trào Ánh sáng nhắm vào các hoạt động xã hội), và Hội Truyền bá Quốc ngữ (1938-45, do Nguyễn Văn Tố làm Hội trưởng). Nếu đi ngược thời gian, trước thế kỷ 20, dưới thời phong kiến, chúng ta cũng có thể bắt gặp một hình thức phôi thai của các tổ chức xã hội dân sự. Ở các trường học vốn có chút tính chất thương mại (để nuôi sống các thầy đồ) nhưng nhiều hơn, tính chất văn hóa, nơi thầy trò và các đồng môn gặp gỡ và trao đổi với nhau về các chuyện học thuật, văn chương cũng như thế sự. Ở các tao đàn (trừ Tao Đàn Nhị thập bát tú vốn có tính quan phương do vua Lê Thánh Tông thành lập và làm Đô nguyên súy) như Chiêu Anh các của Mạc Thiên Tứ, Tùng Vân xã (còn được gọi là Mặc Vân thi xã) của Tùng Thiện vương. Vân vân. Trong cuốn Civil Society in China (1), Timothy Brook phác họa sự phát triển của xã hội dân sự - qua các tổ chức có tính chất tự trị - ở Trung Quốc qua hai thời kỳ, từ thế kỷ 16 đến năm 1911 (thời nhà Thanh) và từ 1911-1949 (thời Cộng Hòa) như sau: Các tổ chức tự trị ở Trung Quốc Nguyên tắc Từ thế kỷ 16 đến 1911 Từ 1911-1949 1. Theo địa phương (locality) Làng xã Hội đồng hương Hội đồng làng, khu phố Hội đồng hương 2. Theo nghề nghiệp (occupation) Phường hội Hội kinh đoanh, hội nghề nghiệp, nghiệp đoàn 3. Theo sở thích (fellowship) Các hội đạo Tổ chức tôn giáo, nhà thờ Tổ chức từ thiện Tổ chức từ thiện, phát triển xã hội Nhóm văn nghệ Hội kịch nghệ, đoàn âm nhạc, câu lạc bộ sách, câu lạc bộ thể thao, hội phụ nữ, đoàn thanh niên Trường học Trường tư, đại học, hội sinh viên, hội cựu học sinh, hội nghiên cứu 4. Theo lý tưởng chung (common cause)   Đảng phái chính trị, các nhóm vận động chính sách Mô hình trên có thể gợi ý cho chúng ta trong việc tìm hiểu về sự hiện diện của xã hội dân sự tại Việt Nam trước thế kỷ 20 vì dù sao, ngày trước, giữa Việt Nam và Trung Quốc, vẫn có rất nhiều điểm tương đồng. Ở Việt Nam ngày xưa, chắc chắn cũng có mầm mống của các tổ chức tự trị theo ba nguyên tắc đầu được Brook đề cập: theo địa phương, nghề nghiệp và sở thích. Tuy nhiên, đây là những vấn đề lớn, cần nhiều tài liệu hơn trước khi đi đến bất cứ kết luận nào. Ở đây, với cái nhìn thoáng qua như trên, chúng ta có thể thấy được một số điểm: Thứ nhất, xã hội dân sự đã manh nha ở Việt Nam từ trước thế kỷ 20. Thứ hai, từ đầu thế kỷ 20 trở đi, nó đã thực sự hình thành và phát triển. Thứ ba, ở miền Nam, trong giai đoạn từ 1954 đến 1975, nó nở rộ. Thứ tư, chỉ ở miền Bắc, từ sau 1954 và ở cả nước, sau năm 1975, xã hội dân sự mới bị triệt tiêu. Ở đây lại nảy ra hai vấn đề: Thứ nhất, xã hội dân sự dưới thời Pháp thuộc cũng như ở miền Nam có đóng vai trò gì đáng kể trong quá trình dân chủ hóa xã hội hay không? Thứ hai, tại sao đảng Cộng sản lại cấm đoán xã hội dân sự? Để trả lời một cách thuyết phục cho câu hỏi thứ nhất, cần có những công trình nghiên cứu công phu và công tâm. Cho đến bây giờ, chúng ta vẫn chưa có. Đành chờ. Với vấn đề thứ hai, câu trả lời tương đối dễ: Đó là chính sách. Chính sách ấy gắn liền với các quan điểm quan trọng trong chủ nghĩa Mác, được Karl Marx đề cập và được Antonio Gramsci, một nhà Mác-xít lỗi lạc ở đầu thế kỷ 20, khai triển, từ đó, được áp dụng rộng rãi trong tất cả các chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Cho đến ngày các chế độ ấy bị sụp đổ. Chú thích: 1. Timothy Brook & B. Michael Frolic (1997), Civil Society in China, New York: M.E. Sharpe, tr. 25.   Blog / Nguyễn Hưng Quốc  
......

BÓNG TỐI NÀO ?

Những ngày này ở Việt Nam hầu như ai mở lời chào hỏi hay bắt đầu làm việc gì cũng thường rào đón trước bằng câu “Đầu xuân năm mới …” rồi mới nói điều gì gì đó. Riết rồi thành quen! Nhiều người nhất là những người trẻ tuổi hơn, những người nghèo hơn hoặc nhân viên cấp dưới còn có thêm điệu bộ khúm núm, lưng khom khom, mặt mũi cười giả lả, hai tay ra cái điệu hơi xoắn quẩy một tí, xuýt xuýt xoa xoa vào nhau để luôn sẵn sàng bắt tay người khác mà họ đã có chủ ý muốn bắt từ trước. Để ý điều này từ bé, thấy quá nhiều người làm vậy, ban đầu thấy hình dáng điệu bộ ấy chẳng có gì là đẹp đẽ, trông còn hèn hèn đúng kiểu xu nịnh, nghĩ đây đúng là dáng dấp tiểu nhân, cứ y như trông phim, kịch Tàu và cả Việt, khi miêu tả kẻ tiểu nhân nịnh bợ thì cái điệu bộ, dáng vẻ ấy đã trở thành hình mẫu mang tính ước lệ. Ấy vậy mà phần lớn nhiều người lại cho rằng cái điệu ấy, cái cung cách ấy là thể hiện sự khiêm tốn, khiêm nhường, lễ độ, lễ phép của con người. Vì thế mà thi nhau học, dạy, và bắt chước ngay từ khi còn nhỏ.  Đã bao giờ người ta đặt câu hỏi nếu đó là điều hay thì tại sao chỉ có một bên trong giao tế phải làm vậy. Có phải tận sâu trong lòng người dân Việt Nam từ xa xưa đến giờ vốn chẳng thích sự bình đẳng hay thậm chí cũng không có khái niệm bình đẳng. Nên đôi khi đây đó, lúc này lúc kia xuất hiện vài ông vua tỏ ý bình đẳng cũng được ghi lại trong sử sách nhưng rồi cũng thành thiểu số tuyệt đối khi mà phần lớn quan lại và cả dân thường đều không truyền bá thực hành được cái phong cách và lề lối tốt đẹp ấy. Phải chăng vì họ không thích và cũng chẳng mấy quan tâm?  Cái cung cách khúm núm xun xoe ấy làm sao mà tốt đẹp cho được khi nó mang đến một cảm giác thấp kém hơn, mất cân xứng hơn khi người ta nhìn vào, và bản thân người có điệu bộ ấy cũng mất đi phần nào sự tự tin và độc lập của mình! Nếu quan sát hành vi và thái độ giao tiếp của người phương Tây sẽ thấy một điều hoàn toàn khác. Họ vẫn có sự khiêm nhường, lễ độ, lễ phép thậm chí là quá lịch sự là đằng khác, nhưng tuyệt nhiên cực kỳ hiếm khi người ta có thái độ tự hạ thấp mình một cách xấu xí và thô thiển như người Việt khi giao tiếp như vậy.  Điều đặc biệt là thái độ giao tiếp đáng xấu hổ này của người Việt lại phổ biến nhất và thể hiện đặc sắc nhất trong giới quan chức cán bộ với nhau, và trong tầng lớp … nông dân ở nông thôn !? Nhưng không có gì phải ngạc nhiên khi nhớ lại lịch sử dân tộc Việt Nam sau năm 1954, khi đoàn quân cách mạng từ chiến khu Việt Bắc tràn về thủ đô Hà Nội và công cuộc Cải cách Ruộng đất lên tới đỉnh điểm thành công chói lọi thì ôi thôi tất cả những điều tốt đẹp nhỏ nhoi trong văn hóa ứng xử của người Việt từ những dấu ấn phong kiến cho đến những nét ứng xử mới du nhập từ phương Tây (chủ yếu là từ nước Pháp thực dân) đều tan biến hoàn toàn. Thay vào đó là những điều xấu xí, và thậm chí là xấu xa trong tính cách vốn đã thâm căn cố đế mọc rễ trong lòng người Việt được lên ngôi tôn vinh chói lọi. Những tính cách này 99% là cách sống của người nông dân tùy tiện và nông cạn chỉ thấy cái lợi trước mắt, + lề lối ấu trĩ ngạo mạn của tầng lớp được coi là khoa bảng của giới Nho học mà chủ yếu là hủ Nho. Nói theo Phan Chu Trinh là “cái phần người dốt nát trong nước thì chiếm 80 phần trong một trăm. Còn cái gọi là người thượng lưu, trung lưu chẳng qua là bọn bát cổ (khoa bảng) đã chiếm hai phần ba. Thật, chẳng biết cái Nho học là gì mà cũng nhắm mắt lại chê càn cái văn minh (vu cho) là mọi rợ.”  Thảo nào Phan Chu Trinh thất bại !  Tôi rùng mình khi đọc những dòng chữ này trong bài Quân trị chủ nghĩa và Dân trị chủ nghĩa của ông luận về thế nào là quân chủ, thế nào là dân chủ mà ông đã đọc ở Hội Thanh niên Sài gòn cuối năm 1925 sau khi ông từ Pháp trở về Việt nam và khởi xướng, chủ trương một cuộc cách mạng dân chủ bất bạo động bằng cách nâng cao dân trí và xây dựng một thể chế dân chủ Pháp trị. Cảm giác rùng mình đó đến từ niềm thích thú của một người đã lâu nay vẫn thấy quá nhiều và quá rõ những nét tính cách xấu xí và xấu xa của người Việt nhưng vì tài hèn sức mọn, tuổi đời ít, trải nghiệm sống đơn điệu nên cũng hèn mà không nói ra nổi. Nay được thấy một người đã dám nói ra điều ấy trước hàng ngàn người, nói một cách công khai mạnh mẽ đầy tự tin, thì trong lòng cảm thấy thú vị và đồng cảm vô cùng !  Nếu Phan Chu Trinh sống lại vào thời này ông sẽ thất bại một lần nữa !  Tại sao ư ? Câu trả lời thật đơn giản. Vì người Việt Nam vẫn vậy. Thậm chí mức độ tồi tệ còn nặng nề hơn gấp bội. Cái bản tính vừa tự ti về sự dốt nát của mình nhưng lại cũng rất sỹ diện, kiêu ngạo, nhất định, dứt khoát không bao giờ thừa nhận là mình dốt, mình kèm.  Đây là hai mặt tất yếu trong tính cách con người dốt nát vậy. Cái này bổ sung cho cái nọ. Cái nọ nuôi dưỡng cho cái này. Tử huyệt của người Việt có lẽ đã được đào khoét qua hàng mấy ngàn năm văn hiến (thì ít) và hủ hóa (thì nhiều) dưới sự cai trị của hàng trăm triều đại với hàng chục dòng họ gia tộc vương quyền. Thời đại phong kiến dài dằng dặc ấy đã để lại cho chúng ta niềm tự hào thì ít, đã thế lại còn nhỏ. Nhưng cái tính cách xấu của người Việt thì lại ngày càng lớn như cái hố khổng lồ, đen ngòm mà ai cũng được khuyến khích cứ nhắm mắt mà nhảy tõm vào đó để nghe các âm vang nịnh bợ thấp kém nhất, đáng hổ thẹn nhất cứ lặp lại mãi, rằng họ là “anh hùng của thế kỷ, lương tâm của thời đại”.  Trong lịch sử, sự thẳng thắn, ngay thẳng, chính trực, khẳng khái của người Việt đều dẫn đến hậu quả thê thảm kinh hoàng, là tuyệt đại đa số hậu quả của những người chọn phong cách sống và làm việc này. Thử điểm lại sử sách có mấy trường hợp mà người sống ngay thẳng chính trực lại được vinh danh và ưu đãi bởi giới vua quan, và thậm chí ngay trong dân chúng thì tình hình cũng chẳng hề tươi sáng hơn cho những người sống ngay thẳng. Đến nỗi có cả một thành ngữ rất phổ biến và có lẽ cũng là thành ngữ nổi tiếng nhất, tiêu biểu nhất cho tính cách người Việt, là “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.” Thành  ngữ này không chỉ đơn thuần là đúc kết một lề, thói nào đó của con người mà nó được thành lập theo cú pháp là một câu cầu khiến, dạy bảo xúi bẩy người ta làm theo.  Thật đáng sợ, lẽ ra phải là nói thật, nói đúng, nói một cách nhân từ vì lý do nhân đạo ..v..v.. thì lại thành “nói cho vừa lòng”. Vậy vừa lòng là thế nào? Là lấy lòng, được lòng người nghe. Mà người nghe thì thích nghe cái gì? Người nghe thì thích nghe bất kỳ điều gì, trừ cái điều chê trách họ, rằng họ đã không đúng, đã sai, đã lầm, đã ác độc, đã tham lam, đã ngu dại ..v..v..  Đó cũng chính là con đường làm cách mạng của đảng Cộng sản Việt nam. Nói những điều mà tuyệt đại đa số người dân Việt nam thích nghe, bằng những bài, những chiêu trò tuyên truyền với tần suất phát hành khủng bố áp đảo tuyệt đối. Biến tuyên truyền thành một cuộc chiến thật sự đánh vào tâm hồn, tình cảm và ý thức của con người khiến con người ta mê muội, lẫn lộn sai thành đúng, cái cần tránh thì cứ đâm đầu vào,  cái không được làm thành cái nên làm, phải làm với phương châm binh pháp Tôn Tử bất chấp tất cả để đạt hiệu quả. Cộng sản đã lấp đầy cái hố tự ti, trống rỗng của người dân Việt bằng những niềm tự hào (nguồn gốc bần cố nông) và giấc mơ quái đản và hão huyền (làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu). Trong niềm tự hào và giấc mơ đó từng góc tối nhất trong tâm hồn và văn hóa người Việt đều được đem ra khoe khoang, thi thố và tôn vinh với những chiến lợi phẩm cụ thể để đổi đời gọi là “chia quả thực”. Nỗi ghê sợ và tởm lợm của tên gọi này quả là tương xứng với cách thức mà những người cộng sản và cả những người đi theo họ đã làm để có được “quả thực” mà chia.  Lẽ ra Phan Chu Trinh phải nói rằng người dân Việt Nam cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, cái gì cũng đẹp, cái gì cũng giỏi. Nếu cuộc đời, xã hội hay đất nước có điều gì đó còn đau khổ không vừa ý thì tất cả đều là do bị áp bức, bị bóc lột, bị cướp mà ra. Cách tiếp cận của cộng sản thật đắc địa. Họ đã thành công vì đánh trúng vào tâm lý ưa xu nịnh, đố kỵ, thù ghét sự thẳng thắn, ưa ăn vạ, ưa đổ vạ cho người  khác của người Việt. Trên mảnh đất tối tăm ấy của tâm hồn người Việt, chủ nghĩa cộng sản đã sinh sôi nảy nở tốt tươi biết bao với những thành tựu vu khống, giết chóc, phá phách, tàn hại chất cao như núi. Hậu quả kinh khủng nhất của cộng sản gây ra cho Việt nam là làm cho người dân Việt nam vong bản, mất gốc vì đi theo và tôn thờ một thứ chủ nghĩa ngoại lai, một tư tưởng bạo lực chuyên chính và thù địch. Những nét tính cách đơn sơ, hồn nhiên, đáng mến ít ỏi của người Việt đâu cả rồi?  Ngay cả những người dân chủ đã từng đi theo cộng sản đến giờ vẫn tiếp tục cho rằng cộng sản có cái sai, có cái đúng. Nhiều người cho rằng cộng sản gần như hoàn toàn sai lầm, độc ác tuyệt đối. Ấy thế, nhưng cái phần của họ tham gia trong ấy vẫn là đúng, vẫn là đáng kể đến, vẫn có cái gì đó có thể biện minh. Danh hiệu vẫn khoe ra, thành tích vẫn tự hào. Đến giờ ở Việt Nam có lẽ chỉ có một mình ông nhạc sỹ già Tô Hải dám tự nhận là mình đã sai toàn diện, đã hèn toàn cục. Cả sự nghiệp của mình ông cũng vứt bỏ, thậm chí là tự phỉ nhổ, vì tuy (phần lớn) nó đã được tạo nên bằng những cảm xúc có thật trong lòng nhưng là trên nền tảng bị kẻ khác dối đảo, và rồi mình cũng đi lừa dối người khác. Nên suy cho cùng đấy cũng chỉ là đống rác rưởi. Tổng kết sự nghiệp cả cuộc đời mình ông chỉ thừa nhận một tác phẩm duy nhất là nhạc phẩm Nụ cười Sơn cước.  Tôi hiểu cảm xúc và suy nghĩ của ông khi vứt bỏ tất cả những thứ còn lại. Sự can đảm của ông là phi thường và tôi nghiêng mình trước điều ấy. Bởi vì những thứ mà ông vứt bỏ cũng là công sức lao động, là mồ hôi tim óc của ông cố gắng để phục tùng đảng cộng sản, chiều theo bóng tối hèn nhát, dối trá và những ham hố đáng khinh trong tâm hồn mình. Cuối đời, ông đã may mắn nhận được ơn cứu độ là sự giác ngộ và can đảm vứt bỏ chính mình, không phải là tất cả bản thân mà là tất cả những gì đáng hổ thẹn của bản thân để ngẩng cao đầu trong miền mênh mông vô cùng của niềm vui sướng được giải thoát khỏi những xiềng xích nặng nề, xấu xa mà chính mình đã tạo nên cho cuộc đời mình. Điều này chỉ có ông và những người như ông mới hiểu hết được mà thôi.  Suy cho cùng, ta cũng nên cá cược chút ít với cuộc đời!  Tôi rất thích hai câu châm ngôn “Trên đời, chẳng có gì như ý mình (hoàn toàn)” và “Nếu cái gì mình cũng đúng mà đời mình lại như thế này àh !?”. Ngay trong gia đình và bạn bè của tôi cũng có nhiều người có nỗi niềm đau khổ, buồn bã. Nhưng mặc kệ tất cả, đau khổ cứ đau khổ, u sầu cứ u sầu, đố có khi nào thấy họ có thái độ ăn năn về những tội lỗi của họ. Một thái độ nhẹ nhàng, hài hước thừa nhận mình đã sai lầm chuyện gì đó nhỏ nhoi còn là điều hiếm hoi đến lạ lùng. Một chút ngượng ngùng, xấu hổ vì mình đã sai trái ngớ ngẩn điều gì đó cũng hiếm khi được thể hiện. Ai đó nói rằng người Việt nam là như vậy. Tất nhiên đó là một cách nói và họ có quyền nói như thế, tôi không hề phản đối thậm chí còn bảo vệ họ nói ra điều đó theo cách nói vo như thế. Không sao cả nếu bạn không phải vậy, đúng không ?! Nếu chọn cách nói chính xác thì người Việt nam vốn là một dân nhược tiểu, có những tính tốt và nhiều tính xấu. Cái tốt thì cũng chẳng tốt hơn ai. Cái hay thì cũng chẳng hay hơn ai. Nhưng cái xấu thì lại xấu hơn người. Xấu đặc sắc, xấu tràn lan, xấu thâm căn cố đế. Bởi vì nếu cái gì người Việt cũng tốt, cũng hay, cũng đẹp mà nước Việt nam mình lại thế này àh ?!  Đấy, lại dựng ngược lên rồi!  Tôi biết nhiều độc giả đang dựng ngược lên vì khó chịu thậm chí là nổi giận. Không sao! Mục đích của tôi là chọc giận người đọc vì đối với tôi biết nổi giận cũng là một phẩm giá, một tính cách tốt đẹp của con người, miễn là nổi giận đúng việc, đúng nguyên cớ!  Gần đây có bài viết của ông giáo sư nổi tiếng Joel Brinkley của trường đại học danh tiếng hàng đầu thế giới Stanford-Hoa Kỳ, tạo nên phong trào ném đá lớn chưa từng thấy của người Việt trên khắp thế giới. Báo chí trong nước đăng tin rầm rộ vụ ném đá tơi tả này. Tôi, LTCN, đến thời điểm viết bài này, hoàn toàn ủng hộ, cùng phe, đồng tình ..v..v.. (thích dùng từ nào cũng được) với ông giáo sư Joel Brinkley. -          Trước hết là tôi hoàn toàn ủng hộ phần ông ta nói về thói ẩm thực đặc trưng của người Việt là quá thích ăn thịt và ăn tất cả các loại thịt có thể ăn được, với quan điểm rõ ràng đây là một thói ăn uống xấu, không đẹp, man rợ, ô nhiễm môi trường, độc hại, trưởng giả và ngu ngốc (ví dụ như ăn mà không biết lợi ích thế nào, ăn vì sỹ diện, ăn để khoe lắm tiền, ăn để thể hiện khác người, hơn người …) -          Thứ hai tôi hoàn toàn ủng hộ và khâm phục sự thông minh và can đảm của ông giáo sư Brinkley khi ông thừa nhận sai lầm và tuyên bố sửa chữa phần nội dung liên hệ thói quen ăn uống với tính hung hăng của người Việt. -          Thứ ba, ngay cả khi ông Joel Brinkley không thừa nhận sai lầm và cũng không sửa chữa gì thì tôi vẫn ủng hộ và thậm chí là bảo vệ quyền của ông ta được nói ra điều mà ông ta suy nghĩ một cách công khai như vậy. Vì suy cho cùng đây không phải là một hành động vu khống, mà chính xác nó là một nhận định, một quan điểm cá nhân mà thôi. Vấn đề trở nên phức tạp vì ông ta là người nổi tiếng và tờ báo cũng nổi tiếng, nhưng không vì thế mà quên đi rằng cá nhân ông ta hoàn toàn có quyền nói lên quan điểm của riêng mình cách thoải mái và được an toàn. (Báo Tuổi trẻ, Chủ nhật 17.02.2013, page 19 bài Giáo sư Mỹ xin lỗi về bài viết sai sót về Việt Nam) Đọc những bài, những còm (comment) ném đá ông này thấy buồn cười quá! Ô hay, mình không thế thì thôi chứ. Nào ai có quyền bắt một người phải ngồi đếm có mấy người trong bao nhiêu người đã làm gì như thế nào thì mới được phép có phát biểu quan điểm, suy nghĩ. Chính vì cách suy nghĩ chỉ thấy cái lợi trước mắt, không có và cố ý không chịu tư duy logic thống nhất nên người Việt nam luôn rơi vào những cái bẫy do mình tự tạo ra.  Thế giới chống mắt lên mà nhìn người Việt nam nhé ! Dù nghèo, dù đói, dù xấu, dù ô nhiễm, dù oan ức ngút trời nhưng đố ai dám động vào những tính xấu của người Việt. Người nước ngoài nói xấu bị ném đá tơi bời đã rõ, người Việt mà nêu lên cái xấu của người Việt thì còn được nếm đòn kinh hồn táng đởm hơn. Vì cùng là người Việt, là đồng bào, đồng hương nên sẽ có thêm cái tiết mục “phản động, phản bội dân tộc, Việt gian, sính ngoại, ngửi đít tây ..v..v..” Tóm lại là một vụ ném đá tập thể tưng bừng. Bất chấp tất cả, ờ đấy, tao nợ như chúa Chổm, con dân tao nghèo mạt hạng, đến giờ bữa cơm chỉ mong được ăn bát cơm trắng có thêm miếng thịt mỡ bằng ngón tay út, thanh niên nước tao nhìn đểu cũng đủ đâm nhau chết tươi, chồng giận vợ sẵn sàng đổ xăng thiêu con cháy đùng đùng như pháo hoa ngày Tết, tham nhũng thành quốc nạn mà không một ai chịu trách nhiệm hết, nhưng tao vẫn luôn luôn đúng bởi vì tao có súng, nhớ chưa?!  Quả thật là hoàn toàn nhờ vào bạo lực và dối trá mà đảng cộng sản độc tài cai trị dân Việt nam cho đến tận bây giờ. Nhưng cũng phải đau đớn mà thừa nhận rằng bạo lực và dối trá của cộng sản đã được người Việt nam tiếp nhận một cách không thể nói là không hào hứng vì nó đánh trúng và làm đầy những bóng tối trống rỗng trong tâm hồn người Việt. Trong đó, nơi tối nhất chính là tính cách tuy bé mà lại ưa xu nịnh và thích được xu nịnh của người Việt, thể hiện ở sự căm thù tính thẳng thắn trong khi lại rất công khai trắng trợn thể hiện tính hung hăng côn đồ tàn ác.  Quả vậy, người Việt nam từ cổ chí kim luôn nổi tiếng ở những cơ hội hòa bình, ngưng bắn, đình chiến bị đánh mất, bị vứt bỏ, bị nhổ toẹt và ở những cuộc chiến tranh thắng lợi, hơn là ở những công cuộc kiến tạo hòa bình và hòa giải. Dù nói thế nào đi chăng nữa thì số lượng các cuộc chiến tranh và thời gian chiến tranh ở Việt nam là quá nhiều so với chiều dài lịch sử, dân số và tầm vóc lãnh thổ. Và đặc biệt là người Việt lại luôn tự hào vì chiến tranh, dù đó là chiến tranh gì. Đến nỗi lịch sử Việt nam bị đánh đồng luôn với lịch sử các cuộc chiến tranh Việt nam. Đến nỗi những thành tựu văn hóa, nghệ thuật, khoa học phục vụ nhân sinh còn lại với thời gian của người Việt thì phải nghĩ mãi mới ra được. Vậy thì có gì phải dựng ngược lên với ông giáo sư Joel Brinkley này!? Chính thái độ đó của người Việt chúng ta biết đâu lại mang đến niềm vui thầm kín nào đó cho ông ta. Vì rõ ràng chúng ta đang thể hiện một sự hung hăng ghê ghớm đối với một sự kiện chả có gì to tát. Chỉ tổ góp phần chứng minh rằng ông ta, dù sao và ở một mức độ nào đấy, đã đúng mà thôi.  Xin quý độc giả hãy search trên Internet “ăn, mua, bán, thịt thú rừng, Việt nam” ngay bây giờ. Tôi tin chắc quý vị sẽ hạ hỏa và bớt đi ý định ném đá ông Joel và tôi vì bài viết này.  Ôi, người Việt nam! Ôi, Chùa Hương! Ôi, thịt! Hà Nội, 20.02.2013 tức 11 tháng Giêng năm Quý Tỵ Lê Thị Công Nhân http://viet-luan.com/220213/Bongtoinao.html
......

Vài lời với TBT ĐCS VN Nguyễn Phú Trọng

Chương trình Thời sự VTV1, 19h, ngày 25/2 đưa phát biểu tại Vĩnh Phúc của TBT ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng như sau: “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến cũng có thể quy vào được là suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức … Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có những quan điểm như thế, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!”(*) Bằng tất cả sự tôn trọng với người đang đứng đầu một đảng chính trị của VN, tôi xin nói với ông Nguyễn Phú Trọng vài lời như sau: Đầu tiên, cần phải xác định, ông đang nói với ai? Nếu ông nói với nhân dân cả nước thì xin khẳng định luôn là ông không có tư cách. Ông là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước. Nếu ông và các đồng chí của ông muốn giữ Điều 4, muốn giữ vai trò lãnh đạo, muốn chính trị hóa quân đội, không muốn đa đảng, không muốn tam quyền phân lập, thì đó chỉ là ý muốn của riêng ông và ĐCS của ông. Ông không thể quy kết rằng đó là ý muốn của nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải nhấn mạnh rằng, những ý muốn trên chỉ nên xem là của riêng ông TBT Trọng, chưa chắc đã là tâm nguyện của toàn bộ đảng viên cộng sản hiện nay. Tiếp theo, xin đi vào nội dung, ông nói suy thoái về đạo đức. Tôi muốn hỏi ông, đạo đức của ông đang muốn nói là đạo đức nào? Đạo đức làm người? Đạo đức công dân? Đạo đức dân tộc VN? … Tôi tạm đoán là ông đang muốn nói đến đạo đức người cộng sản của các ông. Vậy, các ông cho rằng chỉ có đạo đức cộng sản của các ông là đạo đức đích thực? Thế ra, cha ông tổ tiên chúng ta, khi chưa có chủ nghĩa cộng sản vô đạo đức hết à? Thế ra, những người không theo đảng cộng sản trên thế giới là vô đạo đức hết à? Tiếp theo, xin đi vào nội dung suy thoái chính trị, tư tưởng. Tôi muốn hỏi ông, chính trị, tư tưởng ông đang muốn nói là chính trị, tư tưởng nào? Có phải chính trị, tư tưởng của đảng cộng sản? Vậy ra chỉ có đảng cộng sản của các ông là duy nhất đúng à? Cá nhân tôi cho rằng, không một người có lương tri bình thường nào thừa nhận như thế. Cùng lắm ông chỉ có thể nói với các đảng viên cộng sản như vậy, nhưng ngay cả với các đảng viên cộng sản, ông cũng không thể quy kết tội suy thoái cho họ. Nếu không tin, ông thử đọc lại Cương lĩnh chính trị và Điều lệ đảng các ông ban hành xem. Không có điều nào nói xóa bỏ Điều 4 là suy thoái, muốn đa nguyên về chính trị là suy thoái, muốn phi chính trị hóa quân đội là suy thoái, chỉ có tham ô, tham nhũng…  đi ngược lại lợi ích của nhân dân là suy thoái. Ông đương kim tổng bí thư ĐCS VN thử đọc lại và nghĩ lại chỗ này xem. Bây giờ, tôi trân trọng tuyên bố những điều tôi muốn: 1- Tôi không chỉ muốn bỏ Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành, mà tôi muốn tổ chức một Hội nghị lập hiến, lập một Hiến pháp mới để Hiến pháp đó thực sự thể hiện ý chí của toàn dân Việt Nam, không phải là ý chí của đảng cộng sản như Hiến pháp hiện hành. 2- Tôi ủng hộ đa nguyên, đa đảng, ủng hộ các đảng cạnh tranh lành mạnh vì tự do, dân chủ, vì hòa bình, tiến bộ của dân tộc Việt Nam, không một đảng nào, lấy bất cứ tư cách gì để thao túng, toàn trị đất nước. 3- Tôi không chỉ ủng hộ xây dựng một chính thể tam quyền phân lập mà còn muốn một chính thể phân quyền theo chiều dọc, tức là tăng tính tự trị cho các địa phương, xây dựng chính quyền địa phương mạnh, xóa bỏ các tập đoàn quốc gia, các đoàn thể quốc gia tiêu tốn ngân sách, tham nhũng của cải của nhân dân, phá hoại niềm tin, ý chí và tinh thần đoàn kết dân tộc. 4- Tôi ủng hộ phi chính trị hóa quân đội. Quân đội là để bảo vệ nhân dân, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ cương vực, lãnh thổ không phải bảo vệ bất cứ một đảng phái nào. 5- Tôi khẳng định mình có quyền tuyên bố như trên và tất cả những người Việt Nam khác đều có quyền tuyên bố như thế. Tôi khẳng định, mình đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng; quyền này mỗi người sinh ra đã tự nhiên có, nó được nhân dân Việt Nam thừa nhận và tôn trọng; quyền này không phải do đảng cộng sản của các ông ban cho, nên các ông cũng không có quyền tức đoạt hay phán xét nó. Vì thế, tôi có thể xem những lời phán xét trên của ông, nếu có hướng đến tôi là một sự phỉ báng cá nhân. Và tôi cho rằng, những người nào chống lại các quyền trên là phản động, là đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, dân tộc, đi ngược lại xu hướng tiến bộ của nhân loại. —–  http://anhbasam.wordpress.com/2013/02/26/vai-loi-voi-tbt-dcs-vn-nguyen-phu-trong/
......

Quyền Cơ Bản Trong Vương Quốc Dân Chủ Hàng Đầu Thế Giới

Đan Mạch là một vương quốc, tức có Vua. Với tổng số dân non 5 triệu rưỡi chỉ chừng 1/16 Việt Nam, nhưng GDP gấp gần 3 lần Việt Nam; tính ra 1 người Đan Mạch làm bằng 43 người Việt Nam cộng lại. Được xếp thứ hạng dân chủ cao thứ 5 thế giới, nhưng thiết chế nhà nước họ không thuộc mô hình dân chủ mà là quân chủ “đặc biệt“. Vai trò nhà Vua vừa mang tính biểu tượng tinh thần như Thái Lan, “thiêng liêng bất khả xâm phạm“ (điều §13 Hiến pháp 1953), vừa thực quyền nắm cả lập pháp “cùng với Quốc hội“, lẫn trọn “ hành pháp“, được quy định tại điều §3. Nhưng khác Vua trong chế độ phong kiến ở chỗ:   1- “Toà án thực hiện quyền tư pháp độc lập (điều §3 câu 3) nghĩa là Vua không thể ra lệnh cho Toà, mà còn phải thừa nhận án quyết; 2- Quốc hội gồm Vua và tới 12 Đảng phái đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia, bình đẳng ý kiến với vua chứ không phải dưới quyền vua; 3- “Các bộ trưởng phải tự chịu trách nhiệm trong công việc điều hành của chính phủ“, (điều §13, câu 2) thường do Liên minh các đảng phái thắng cử nắm, do dân bầu chứ không phải Vua ban, nên không thể lấy uy hoặc đổ trách nhiệm cho Vua, 4- Đặc biệt, Vua không đứng trên Hiến pháp như trong chế độ phong kiến mà “phải tuyên thệ không được vi phạm Hiến pháp“ (điều §8). Vậy quyền cơ bản được Hiến pháp họ đưa ra những thước đo chuẩn mực quy tắc xử sự chặt chẽ như thế nào để chế tài được nhà Vua, bộ máy nhà nước, các đảng phái, bảo đảm cho dân họ đúng chủ nhân đất nước, chứ không phải Vua, nhà nước hay đảng phái ?   1. Quyền cơ bản Như đa số các quốc gia, điều §71 điểm (1) Hiến pháp Đan Mạch quy định quyền “tự do cá nhân“ là “bất khả xâm phạm“. Tuy nhiên để quyền đó không bị quyền lực nhà nước xâm hại, hiến định trên được kèm theo chế tài trách nhiệm nhà nước: “Không một công dân nào vì lý do chính trị hay tôn giáo, hay nguồn gốc xuất thân, có thể bị tước quyền tự do dưới bất kỳ hình thức nào“. Khi hạn chế quyền tự do đó, nhà nước cũng phải tuân thủ quy phạm, thước đo, chuẩn mực, được hiến định ở điểm (2): “Chỉ có thể tước quyền tự do theo một đạo luật“. Và ngay cả khi ban hành đạo luật cũng không có nghĩa Vua, quốc hội được quyền tùy ý, đạo luật đó phải tuân theo quy tắc xử sự: 1- “(3) Ai bị bắt giữ, trong vòng 24 tiếng phải giao cho chánh án câu lưu quyết định. Nếu không thể thả bổng họ, chánh án phải nhanh như có thể trong vòng 3 ngày, ra án trát có nêu lý do, quyết định tiếp tục tạm giam giữ hay cho tại ngoại với điều kiện nộp tiền thế chân ở mức nào và dạng nào“. 2- “(4) Đương sự được quyền lập tức chống lại án trát bắt giữ lên toà cao hơn“. 2. Quyền nơi ở Về quyền nơi ở, khác Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ở ta (DTHP) chỉ nêu quyền tự nhiên đó của công dân, Hiến pháp họ, điều §72 chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm “nơi ở bất khả xâm phạm“. Khi xảy ra tình huống phải hạn chế quyền đó, như “lục soát, thu giữ đồ đạc, tìm kiếm thư từ văn bản, khám xét các bí mật giao dịch bưu điện, điên thoại thư tín“, chỉ được phép “khi có lệnh toà án, nhưng cũng chỉ trong trường hợp không có văn bản lập pháp nào cấm lệnh đó“. 3. Quyền sở hữu Quyền sở hữu vừa là quyền cơ bản, vừa là nền tảng tồn tại của nền kinh tế thị trường vốn theo đuổi mục đích lợi nhuận, còn nếu không người ta chẳng theo đuổi lợi nhuận làm gì, một khi có tiền mà không thể sở hữu tài sản. Vì vậy điều §73, điểm (1) Hiến pháp họ hiến định “Quyền sở hữu là bất khả xâm phạm“. Để bảo đảm quyền đó, nhà nước bị chế tài “không một ai có thể bị ép buộc phải nộp tài sản“, ngoại trừ tình huống “lợi ích cộng đồng đòi hỏi“, nhưng phải tuân thủ điều kiện: 1- “phải thông qua một văn bản lập pháp“ nghĩa là áp dụng cho mọi đối tượng do đạo luật đó điểu chỉnh chứ không phải cho một số con người cụ thể, nói cách khác công bằng đối với mọi người trong cộng đồng. 2- “phải bồi thường hoàn toàn“. 4. Quyền sở hữu đất đai Trong lúc ở ta đất đai vẫn hiến định sở hữu toàn dân, do nhà nước nắm giữ – nguyên lý bất di bất dịch của nền kinh tế quản lý tập trung nhằm mục đích hoàn thành kế hoạch nhà nước, phân biệt với bản chất nền kinh tế thị trường theo đuổi mục đích lợi nhuận. Ở họ nhà nước bị chế tài bảo đảm quyền sở hữu đất đai rất ngặt nghèo thậm chí hậu hoạ có thể giải tán quốc hội, được hiến định tại điểm (2) “Trong trường hợp một dự luật quốc hữu hoá đất đai nào đó được thông qua, trong vòng 3 ngày, Quốc hội chỉ cần ít nhất 1/3 số phiếu đồng thuận, có quyền đòi nhà Vua phải tạm ngừng ký lệnh ban hành cho tới khi một cuộc bầu cử Quốc hội mới được thực hiện để thông qua dự thảo mới“. Khi tranh chấp xảy ra do quốc hữu hoá, nhà nước phải tuân thủ quy tắc xử sự tại điểm (3) “Mọi vấn đề liên quan tới tính chất pháp lý của qúa trình quốc hữu hoá cũng như trị giá bồi thường, có thể được giải quyết thông qua toà án. Kiểm tra giá trị bồi thường có thể thông qua 1 đạo luật giao cho toà án phán quyết“không hề liên quan tới Vua hay cơ quan hành chính, hành pháp, bởi những đối tượng này chính là một bên trong tranh chấp. Ở ta tranh chấp đất đai sở dĩ bùng nổ kỷ lục, trước hết do thiếu những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự chế tài trách nhiệm nhà nước lẽ ra phải được hiến định, để thu hồi đất như ở họ không bị phụ thuộc vào động cơ và nhận thức của cơ quan hay người hành xử, lại giao cho nhà nước toàn quyền hành xử; nghĩa là đặt số phận tài sản đất đai do người dân sở hữu (dù sở hữu quyền sử dụng) vào tay nhà nước; nay vẫn được DTHP giữ nguyên tại điều 58, điểm 3: “Nhà nước thu hồi đất… có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế – xã hội“. Luật thu hồi là do nhà nước định, thu hồi có thực sự vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án hay không và vì ở mức độ nào đều do nhà nước quyết định, chứ không phải chủ sở hữu. Quyền sở hữu của người dân lại do nhà nước tự định đoạt như vậy không đúng với khái niệm sở hữu hiểu theo nghĩa phổ quát trên thế giới, chỉ hữu danh vô thực. Một khi nhà nước được trao quyền lực thu hồi đất đai, mà không bị chế tài trách nhiệm bằng những quy phạm bảo đảm đúng nội hàm quyền sở hữu cho người dân, thì tranh chấp đất đai vẫn luôn tiềm ẩn bùng nổ, đẩy người dân với nhà nước thành 2 bên chiến tuyến, rốt cuộc chỉ quan tham đắc lợi trên sự bần cùng khốn khó của nạn nhân. 5. Quyền lao động và an sinh Hiến định về quyền lao động và an sinh, DTHP ở ta cũng chỉ nêu chung chung, không hề có chuẩn mực thước đo nào chế tài trách nhiệm nhà nước, ở Hiến pháp họ, điều §75 điểm (1) quy định: “Bảo đảm cho bất kỳ công dân nào có khả năng lao động đều có thể làm việc trang trải đủ cuộc sống tối thiểu“. “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ, với điều kiện họ phải thực hiện các trách nhiệm do một đạo luật quy định“. Như vậy quyền lao động và an sinh không còn dừng lại ở quyền tự nhiên như ăn uống, thức ngủ, xin cho, yêu ghét, vốn do người dân tự lo lấy dù ở nhà nước, thời đại nào, đưa vào hiến pháp hay không, mà trở thành quyền cơ bản – loại quyền, nhà nước bị chế tài phải bảo đảm theo đúng những chuẩn mực thước đo đã hiến định, không thể làm khác. 6. Quyền học tập Tương tự, về quyền học tập, điều §76 hiến pháp nước họ quy định: “Tất cả trẻ em ở lứa tuổi đi học, nhà nước phải đảm bảo miễn học phí tại trường công lập. Cha mẹ hoặc người giám hộ phải tự lo cho chúng tới các trường học theo chuẩn công lập, nhưng không có trách nhiệm buộc chúng phải học trường công lập“. Nghĩa là Hiến pháp họ vừa chế tài được trách nhiệm nhà nước bảo đảm chắc chắn quyền cơ bản học tập cho bất kỳ trẻ em nào, vừa bảo đảm quyền cha mẹ tự do chọn nơi học tập cho con cái họ, nhà nước không được phép can thiệp vì con họ đẻ ra chứ không phải nhà nước đẻ ra. 7. Quyền tự do ngôn luận Quyền tự do ngôn luận được họ hiến định trực tiếp trách nhiệm nhà nước tại điều §77: “Kiểm duyệt hay sử dụng bất cứ biện pháp nào ngăn cấm đều không bao giờ được phép“. “Ai không bị toà án cấm đều có quyền thể hiện công khai mọi suy nghĩ của mình dưới dạng ngôn ngữ hình ảnh và chữ viết“. Như vậy hạn chế quyền tự do ngôn luận chỉ được thực hiện nếu trực tiếp gây thiệt hại bị khiếu kiện và trong trường hợp đó hoàn toàn do toà án phán quyết, chứ không phải Vua hay cơ quan lập pháp, hành pháp, thấy đụng tới mình là cấm. Nói cách khác hạn chế quyền tự do ngôn luận cũng tương tự như quyền cầm dụng cụ, gậy gộc, động thủ chân tay; nhà nước không được phép kiểm soát thân thể để xem có gậy gộc hay chân tay hung bạo hay không (kiểm duyệt) và càng không thể cấm khi họ chưa có hành vi gây thiệt hại, và nếu có chăng nữa cũng phải do toà phán xét. Quyền biểu tình của người Đan Mạch   8. Quyền tự do tụ tập biểu tình lập hội Do xưa nay không được thực thi đầy đủ trong các nước xã hội chủ nghĩa, ngoại trừ nhà nước đứng ra tổ chức, nên quyền tự do tụ tập, biểu tình, lập hội ở ta còn mơ hồ, thậm chí có Đại biểu Quốc hội còn miệt thị là “ô nhục“ ngay trên nghị trường mà ở các nước hiện đại chắc chắn phải từ chức, nhưng ở tuyệt đại bộ phận quốc gia trên thế giới là sinh hoạt thường nhật hiển nhiên giống như quyền ăn ở đi lại làm việc… Về quyền lập hội, Hiến pháp họ, điều §78 quy định thước đo chuẩn mực giới hạn quyền này và chế tài trách nhiệm nhà nước rất chặt chẽ, người dân khó có thể làm sai và nhà nước không thể tự quyền: “(1) Công dân có quyền không cần xin phép trước, thành lập hội đoàn theo những mục đích mà luật pháp không cấm“. “(2) Những hội đoàn sử dụng bạo lực hoặc tìm cách đạt tới tư tưởng khác bằng con đường bạo lực, kích động bạo lực hoặc những biện pháp hình sự tương tự sẽ bị toà ra án trát giải tán“, tức hội đoàn được coi như con người chỉ bị cấm khi có hành vi phạm pháp chứ không thể cấm đẻ ra nó. “(3) Không hội đoàn nào có thể bị chính phủ giải tán. Có thể tạm thời cấm nhưng ngay lập tức phải đệ đơn ra toà đòi giải tán“. “(4) Cáo buộc đòi giải tán các hội đoàn chính trị có thể được xét xử tại toà án tối cao“. “(5) Thủ tục pháp lý giải tán hội đoàn được quyết định bởi một đạo luật“. Cũng chặt chẽ như điều §78, quyền biểu tình được hiến định tại điều §79: “Công dân có quyền không cần giấy phép cấp trước, tụ tập biểu tình không có vũ khí. Cảnh sát có quyền tham dự các cuộc tụ tập biểu tình đó. Tụ tập biểu tình ngoài trời có thể bị cấm, nếu có khả năng thực tế gây mất an toàn xã hội“. Chế tài trách nhiệm nhà nước đối với quyền biểu tình được hiến định tại điều §80: “Các cuộc đụng độ khi biểu tình, nếu không bị tấn công, các lực lượng giữ gìn an ninh được trang bị vũ khí chỉ được quyền can thiệp sau 3 lần đòi giải tán với nhân danh nhà Vua và công lý“. Chế độ nào cũng vậy, dù quân chủ hay dân chủ, thần quyền hay đảng quyền, quyền lực cũng được trao cho bộ máy nhà nước thực thi. Bộ máy đó không phải siêu tự nhiên từ trên trời rơi xuống toàn tâm toàn ý vì dân mà cũng chỉ do một bộ phận từ nhân dân đảm đương với mục đích mưu sinh, hiếm ai tránh khỏi tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố đời thường. Hiến pháp vì vậy chỉ có giá trị sử dụng, một khi nó đưa ra được những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự đủ sức chế tài trách nhiệm nhà nước – tức bộ phận người dân được trao quyền lực, phải bảo đảm quyền cơ bản cho mọi người dân chứ không phải chỉ cho chính họ, nếu không hiến pháp chỉ có giá trị trên văn bản! (Đã được biên tập đăng trên Tia Sáng) NSP. Nguồn: boxitvn.blogspot  
......

Bọn bành trướng Bắc Kinh xuyên tạc & kỷ niệm ngày xâm lược 6 tỉnh Biên giới của Việt Nam

Đôi lời: Có lẽ đây là cái tát, là câu trả lời rõ nhất, vạch mặt những kẻ vẫn tìm mọi lý lẽ để biện minh rằng phải giữ hòa bình ổn định, tình “hữu hảo”, “16 chữ vàng, 4 tốt” hòng lấp liếm cho ý đồ rắp tâm bán nước, làm tay sai cho Trung Cộng qua hành động đàn áp, ngăn cấm những người yêu nước khi họ tự tổ chức lễ tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ Việt Nam đã hy sinh trong Chiến tranh Biên giới 1979 chống quân Trung Quốc xâm lược, cũng như những quyết định ngấm ngầm bịt miệng, tự bịt miệng báo chí không được đưa tin, bài mỗi khi tới ngày 17-2 hàng năm. Bài 1: Phượng Hoàng NGÀY 17.2.1979 NỔ SÚNG MỞ MÀN CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 17.2.2013 Nguồn:  Nhân Dân Nhật báo (của Trung Quốc) Ngày 17.2.1979, theo lệnh của Quân ủy trung ương, Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã buộc phải phát động cuộc chiến phản kích tự vệ với quân xâm lược Việt Nam ở vùng biên giới Quảng Tây, Vân Nam. Sau khi tập đoàn Lê Duẩn lên cầm quyền, xuất phát từ dã tâm xâm lược của chủ nghĩa bá quyền, theo sự xúi giục và hỗ trợ của những kẻ khác, đã bội phản tín nghĩa, điên cuồng xua đuổi, cướp đoạt, bức hại Hoa kiều ở Việt Nam và người Việt Nam là người Hoa, liên tục tiến hành các hành động xâm phạm và khiêu khích vũ trang, đồng thời đưa quân đi xâm chiếm thủ đô Campuchia, gây nguy hại và phá hoại nghiêm trọng nền hiện đại hóa của nước ta và an ninh biên giới. Trước tình hình không thể chịu đựng thêm được nữa, chính phủ Trung Quốc quyết định tiến hành cuộc chiến đấu phản kích tự vệ, bảo vệ biên giới. Cuộc chiến phản kích tự vệ bắt đầu từ 17.2 đến ngày 16.3 thì kết thúc, bộ đội biên phòng của ta đã khống chế được 3 tỉnh Lạng Sơn, Cao bằng, Lào Cai và 17 huyện thị, làm 4 sư đoàn và 10 trung đoàn chính quy thiệt hại nặng nề, tiêu diệt 3, 7 vạn quân Việt Nam, tịch thu rất nhiều trang bị vũ khí và vật tư tác chiến, cho kẻ xâm lược Việt Nam một bài học và sự trừng phạt nặng nề. Ảnh : Trong cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, các chiến sĩ đang ký tên trên lá cờ đỏ có dán dòng chữ “Tổ quốc trong chúng ta” tự làm —- Bài 2: hxcy1965.blog.163.com KHẮP NƠI TRONG CẢ NƯỚC TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 34 NĂM THẮNG LỢI CUỘC CHIẾN PHẢN KÍCH TỰ VỆ ĐỐI VỚI VIỆT NAM 20.2.2013 Ngày mồng 8 tháng Giêng [âm] tức ngày 17.2.2013 lại trúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 34 cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam, khắp nơi trong cả nước tổ chức các hoạt động kỷ niệm 34 năm thắng lợi cuộc chiến phản kích tự vệ đối với Việt Nam. Đại diện cựu chiến binh tham chiến tham gia vào hoạt động đã nói chuyện ôn lại lịch sử trận tác chiến với Việt Nam, tổng kết ý nghĩa của trận tác chiến với Việt Nam, lắng nghe hoài niệm của các cựu chiến binh may mắn sống sót về những chiến hữu đã hi sinh, kể lại tình cảnh chiến đấu nơi chiến trường cùng các chiến hữu anh hùng liệt sĩ, bày tỏ lòng yêu nước của các cựu chiến binh tham chiến, ca ngợi những chiến tích to lớn của các anh hùng liệt sĩ, đả thẳng vào hiện tượng xấu lãng quên các anh hùng của xã hội ngày nay, kêu gọi xã hội tăng cường giáo dục lòng yêu nước, yêu quý các anh hùng, tôn trọng các anh hùng, không quên lịch sử, luôn nhớ các anh hùng liệt sĩ! * Xem thêm hình ảnh tại link: http://anhbasam.wordpress.com/2013/02/22/1631-bon-banh-truong-bac-kinh-x...
......

Cá không nghe muối cá ươn

Đọc bài Bài toán bauxite sai tày hoày (tại đây) mà cười ra nước mắt: “Nhà máy alumin Tân Rai sắp đi vào hoạt động chính thức, mà Tập đoàn than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) vẫn chưa lên được phương án tối ưu cho con đường vận chuyển bauxite, trong khi hiệu quả kinh tế gần như là không có.” Ông Nguyễn Thành Sơn, giám đốc ban Quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng cho biết:“Giá thành alumin xuất xưởng tại Tân Rai nếu đạt 100% công suất cũng phải xấp xỉ 375 USD/tấn… chủ yếu dành cho xuất khẩu sang Trung Quốc, Malaysia. Nhưng do giá xuất khẩu theo đàm phán chỉ đạt 340 USD/tấn nên dù xuất khẩu vẫn lỗ.” Bà Phạm Chi Lan đã chi ra sự tào lao của dự án này: “Vinacomin đã không trung thực trong bài toán kinh tế bằng cách gạt một số hạng mục đầu tư ra ngoài để khẳng định, nếu làm sẽ có lãi. Nhưng lúc bắt tay vào triển khai, Vinacomin lại đòi hỏi nhà nước phải đầu tư vào cơ sở hạ tầng đường sá để vận chuyển sản phẩm ra cảng phục vụ xuất khẩu. Đó là cách tính toán rất “cùn” trong kinh doanh, bởi khi đầu tư dự án, nhà đầu tư phải tính cả chi phí vận chuyển chứ không thể bỏ ra ngoài như Vinacomin.Chưa nói xuất khẩu sản phẩm của dự án lại phụ thuộc vào một thị trường, thì hiệu quả kinh tế cũng rất bấp bênh. Tóm lại, dự án không thể đem lại hiệu quả kinh tế…” Tóm lại như cảng Kê Gà thì dự án Bauxite ở Tân Rai cũng cần phải đình chỉ ngay, càng đâm lao theo lao càng lún sâu vào nợ nần không thể thoát ra được. Một dự án gây bất bình trong dân chúng, chẳng ai thèm nghe. Đại tướng hai lần gửi thư can gián, chẳng ai thèm nghe. Kiến nghị của 2746 nhân sĩ trí thức (tại đây) yêu cầu đình chỉ dự án này, cũng chẳng ai thèm nghe. Thậm chí các trí thức đã lập ra một trang mạng Bauxite Việt Nam chuyên đề phản đối về dự án này, cũng chẳng ai thèm nghe. Đã không nghe lại còn vu cho nó là trang mạng phản động của ” bọn cơ hội”. Bây giờ đã trắng mắt ra chưa? Câu hỏi đặt ra là: Ai chịu trách nhiệm về dự án này? Tập đoàn than – khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) thì rõ rồi. Thế còn Chính phủ thì sao? Quốc hội thì sao? Ai đỡ đầu cho dự án này đều phải chịu trách nhiệm, trước hết người đứng đầu Chính phủ đó là thủ tướng. Tới đây nhất định Thủ tướng phải giải trình vấn đề này trước Quốc hội. Tất nhiên Thủ tướng sẽ nhận trách nhiệm về Bauxite Tây Nguyên, không nhận không xong với dân chúng. Nhưng cũng như Vinashin, tất nhiên Thủ tướng cũng sẽ nói:”Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai”. Rứa đo rứa đo Có khi mô Thủ tướng ân hận về việc giải thể Ban nghiên cứu và Tổ Nghiên cứu về kinh tế đối ngoại của Thủ tướng không hè?  Chắc không! Vậy nên có câu ca rằng: Cá không nghe muối cá ươn/ Thủ tướng không nghe trí thức  trăm đường Thủ tướng hư. Rứa đo rứa đo. NQL http://quechoa.vn/2013/02/21/ca-khong-nghe-muoi-ca-uon/#more-33014
......

Tưởng niệm người chết để nhắc nhở người sống và sống sao cho nhân bản với nhau trong tương lai

Nguyễn Chí Đức - Bỗng nhiên tôi chạnh lòng nghĩ đến những người yêu nước của các đảng phái quốc gia thời kỳ chống Pháp bị Cộng Sản dẫn dụ và cuối cùng bị thủ tiêu chẳng qua do muốn độc bá, độc quyền yêu nước. Tôi cũng suy tư tới những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Nói chung cùng là người Việt trong sâu thẳm ai chẳng có tình yêu gia đình, gắn bó với quê hương, tình tự dân tộc. Có ai muốn bỏ mạng, mất một phần máu xương nơi chiến trường nhưng rồi cuối cùng do thua trận mà bị tuyên truyền là ngụy, con cháu bị ghi lý lịch đen tới ba đời đâu cơ chứ? Tàn dư phong kiến vẫn được áp dụng trong chế độ Cộng Sản. Vậy phải chăng chế độ hiện nay là một chế độ phong kiến trá hình trong khi lúc nào cũng ra rả tuyên truyền về cách mạng, về dân chủ?... *****  Dạo trước ở cty tôi có hay nói chuyện phiếm với một anh đồng nghiệp là công an chuyển ngạch về các vấn đề xã hội. Có lần tôi nói với anh này rằng chuyện tôn vinh ngày thương binh liệt sỹ 27-7 của chế độ Cộng Sản chủ yếu để giáo dục cho thanh niên, các sỹ quan quân đội đang cắm chốt tại biên giới, hải đảo chắc tay súng, vững ý chí chiến đấu bảo vệ tổ quốc mà thôi. Chứ còn đối với những người đã mất họ chẳng bao giờ mong và nghĩ đến một ngày nào đó được vinh danh ở các tượng đài, nghĩa trang liệt sĩ. Những người ngã xuống vì tiếng gọi non sông, tình yêu quê hương đất nước mà nhập ngũ hay xung phong khi có lệnh tổng động viên chứ không phải vì chủ thuyết nào mỹ miều hay bả danh lợi gì đó. Tuy nhiên đạo lý tốt đẹp của người Việt nhằm tôn vinh những người vị quốc vong thân trong môi trường Cộng Sản cũng bị méo mó, bị toan tính nhằm mục đích chính trị cho các thành phần lãnh đạo hơn là cho đại cuộc của quốc gia-dân tộc.  Chẳng nói đâu xa, những năm gần đây chính quyền Cộng Sản có chiều hướng chỉ ca ngợi, tôn vinh những người trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Pháp trong khi đối với những thương binh, liệt sĩ chống Tàu trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc rất hiếm khi được phổ biến qua các phương tiện thông tin đại chúng và sách giao khoa dạy cho con trẻ. Nếu chẳng đặng đừng phải đề cập thì họ không dám nhắc đến 2 từ “Trung Quốc”.    Còn đối với người sống ở miền Nam hay Hải ngoại thì thực tế hiện nay phân nửa là những người có liên quan dù ít hay nhiều đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì chính quyền Cộng Sản ca ngợi thái quá về tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, đại thắng mùa xuân 1975 khiến cho cuộc chiến tranh này vẫn tiếp tục gây ra dư luận cho đến ngày hôm nay. Tôi cho rằng họ cố tình gây chia rẽ khiến cho bên thua trận bị tổn thương nhưng bên thắng trận cũng không lấy làm vẻ vang và tự hào gì khi sự thật đã được bạch hóa nhan nhản trên Internet. Ở đây tôi nhấn mạnh là thua trận và thắng trận, chứ còn về đường lối chính trị theo xu hướng thế giới có khi phải nói ngược lại: bên thua trận thì thắng chung cuộc, còn bên thắng trận thì thua chung cuộc. Những người yêu nước đặt vòng hoa tưởng niệm tại tượng đài vua Quang Trung. Ảnh : JB Nguyễn Hữu Vinh Hôm nay tại Hà Nội, tôi có may mắn hòa cùng mọi người đứng trước tượng đài vua Quang Trung tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc trước Trung Quốc xâm lược. Nguyên nhân phải đến đây vì lực lượng bảo vệ của quân đội tại đài tưởng niệm liệt sĩ trên đường Bắc Sơn gây khó dễ khiến cho buổi dâng hoa, thắp hương không được diễn ra. Có ý kiến kéo nhau ra Gò Đống Đa để thành kính mong hồn thiêng sông núi, vua Quang Trung, các vị anh hùng dân tộc phù hộ độ trì nhằm bảo vệ đất nước thoát khỏi sự ác hiểm của ngoại bang cũng như nội thù.   Bỗng nhiên tôi chạnh lòng nghĩ đến những người yêu nước của các đảng phái quốc gia thời kỳ chống Pháp bị Cộng Sản dẫn dụ và cuối cùng bị thủ tiêu chẳng qua do muốn độc bá, độc quyền yêu nước. Tôi cũng suy tư tới những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Nói chung cùng là người Việt trong sâu thẳm ai chẳng có tình yêu gia đình, gắn bó với quê hương, tình tự dân tộc. Có ai muốn bỏ mạng, mất một phần máu xương nơi chiến trường nhưng rồi cuối cùng do thua trận mà bị tuyên truyền là ngụy, con cháu bị ghi lý lịch đen tới ba đời đâu cơ chứ? Tàn dư phong kiến vẫn được áp dụng trong chế độ Cộng Sản. Vậy phải chăng chế độ hiện nay là một chế độ phong kiến trá hình trong khi lúc nào cũng ra rả tuyên truyền về cách mạng, về dân chủ?    Tôi cũng liên tưởng đến cuộc nội chiến giữa nhà Tây Sơn – nhà Nguyễn, trớ trêu làm sao ông Tổ gần (nhánh đi vào Nghệ An) của tôi hận Tây Sơn đến mức ghi hẳn vào gia phả. Có lẽ bối cảnh thời đó loạn lạc khiến cho các anh tài khắp các vùng miền nổi lên tập hợp lực lượng và chuyện người thắng, kẻ thua là lẽ dĩ nhiên. Nhưng rõ ràng ở bối cảnh bây giờ, lí trí bình thường nhất cũng hiểu Quang Trung là anh hùng dân tộc có công đánh đuổi quân Thanh xâm lược. Ngược lại mới vài năm gần đây khi chưa từ bỏ ĐCSVN, tôi vẫn đủ lý trí để phân tích không phải cứ cái gì Cộng Sản tuyên truyền là giặc, là phản nước hại dân có nghĩa là đúng mà có khi phải hiểu ngược lại chẳng qua muốn độc bá nên họ có ý đồ bôi nhọ người ta.    Thực ra bài viết này tôi muốn gửi gắm cho những vị lãnh đạo Cộng Sản đang cầm quyền hơn là bạn đọc thường quan tâm đến các vấn đề chính trị vì tôi cam đoan là họ thừa hiểu lịch sử, thừa hiểu mọi vấn đề hơn tôi do họ từng là người trong cuộc có điều kiện tiếp cận thông tin. Nhưng theo xu thế thời đại họ không thể ham hố quyền lực mãi được. Càng rắp tâm có ý định đó, càng dùng công an để đàn áp dân lành, bịt miệng những tiếng nói tự do thì chế độ Cộng Sản càng mất dần đi những tình cảm còn sót lại của những người dân đen vốn không bị những áp bức bất công gây nên, còn phần lớn xã hội thì ai ai cũng chán nản lắm rồi. Hơn nữa, những người là cựu chiến binh, lão thành Cộng Sản chân chính cũng không thể ôm khư khư, hoài niệm về quá khứ trong khi xã hội thì đã thay đổi khác xa với thời của họ dấn thân. Đó là những người có lương tri, nhân phẩm của người Việt. Họ chẳng dại gì làm bình phong cho các ông lãnh đạo dùng người này, người kia có uy tín để trấn an dư luận. Theo suy nghĩ của tôi thì họ thay vì có danh là nhân sĩ, trí thức của chế độ chỉ có tiếng vang nhất thời do Cộng Sản ca tụng mà phải là Nhân sĩ-Trí thức dấn thân của dân tộc thì tiếng thơm muôn thở và được các tầng lớp nhân dân kính trọng.    Chúng ta tưởng niệm cho người chết dù là anh hùng liệt sĩ, bỏ mạng nơi biển cả đi tìm tự do, oan hồn tức tưởi trong Cải Cách Ruộng Đất... nhưng chính là nhắc nhở cho người sống để mà yêu thương, để mà hàn gắn, để mà tha thứ cho nhau. Vì xét chung cuộc chúng ta không đủ mạnh về tư tưởng, đủ tự lực-tự cường và đủ yêu thương lẫn nhau khiến cho các nước lớn chi phối và áp đặt. Từ đó dẫn đến việc chúng ta bị chia rẽ theo bên này hoặc bên kia, cuối cùng là chém giết lẫn nhau và hệ lụy đó còn kéo dài cho đến ngày hôm nay. http://donghailongvuong.wordpress.com/2013/02/17/tuong-niem-nguoi-chet-de-nhac-nho-nguoi-song/
......

Chủ tịch Trương Tấn Sang khẳng định hệ thống chính trị của chúng ta ” Không dám nói lên sự thật”

“Sự thật sẽ giải thoát anh em” (Lời Kinh Thánh) Trên báo Sài Gòn giải phóng online ngày 13-02-2013, trong bài : “Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Vũ khí của chúng ta là dám nói lên sự thật” có đoạn viết như sau: “Khi nghe bà Phan Thị Tươi giới thiệu chồng mình – ông Hoàng Thái Lai, đã nghỉ hưu nhiều năm nay, hiện là Bí thư Chi bộ khu phố 2, phường Thảo Điền (quận 2), Chủ tịch nước hỏi: “Đồng chí có gửi gắm gì không?”. “Tôi mong mỗi cán bộ lãnh đạo hãy làm đúng những gì đã nói”. “Đúng, làm đúng những gì đã nói đang là thách thức rất lớn đối với chúng ta hiện nay” – Chủ tịch nước chia sẻ. “Sau khi lắng nghe những phát biểu nói lên kỳ vọng của các thành viên trong gia đình GS-TS Phan Thị Tươi, Chủ tịch nước nói: “Từ trước đến nay, chúng ta có “cái bệnh” rất lớn là không dám nói lên sự thật. Hôm nay nghe đồng chí bí thư chi bộ khu phố nói, tôi thấy đấy là sự thật, một sự thật ở ngay trong dân. Chắc chắn người dân đã gửi gắm rất nhiều vào đồng chí bí thư, nên hôm nay tôi mới nghe được gửi gắm của dân mong muốn mỗi cán bộ, đảng viên phải làm đúng những gì đã nói. Đây là tiếng nói của lòng dân, Đảng hiểu dân nói mới là thước đo niềm tin chính xác nhất. Nhiều cán bộ không muốn nghe sự thật và không dũng cảm nói lên sự thật là vì lợi ích…” ( hết trích – chữ in đậm do TMH nhấn mạnh). Có lẽ, từ ngày Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) nhảy ra cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim ngày 19-8-1945, chưa từng có một vị lãnh tụ nào dũng cảm đứng ra nói với toàn thể đồng bào trong ngoài nước về CÁI BỆNH RẤT LỚN của những người cộng sản là CĂN BỆNH DỐI TRÁ (tức: “ không dám nói lên sự thật”) như ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong dịp tết Quý Tị này như vừa dẫn: “CHÚNG TA CÓ “CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT” Xin xem định nghĩa đại từ CHÚNG TA trong từ điển: “Chúng ta: Bản thân mình cùng với người đối thoại: Chúng ta đi đâu bây giờ, vì tương lai con em chúng ta” (Đại từ điển tiếng Việt –NXB Văn hóa – Thông tin- 1999, trang 400) Như vậy, hàm nghĩa từ CHÚNG TA nơi câu nói của chủ tịch nước Trương Tấn Sang bao gồm chính ông và vợ chồng người đảng viên ông đến thăm, nói rộng ra là chính chủ tịch nước và tất cả mọi người Việt Nam đọc báo đều cùng mắc cái  bệnh rất lớn là bệnh dối trá này. Nhưng đa số nhân dân đâu có cơ hội để mắc bệnh này, vì họ, tức nhân dân, tức người dân thường, tức tư nhân không có quyền ngôn luận, tức không có quyền ra báo. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam, người tự xưng là đày tớ của nhân dân mới có quyền phát ngôn trên 700 tờ báo nói, báo viết, báo hình mà thôi. Cho nên từ “chúng ta” trong nội hàm của câu nói trứ danh này của ông Trương Tấn Sang chính là nhằm nói rằng: hệ thống cầm quyền, hệ thống chính trị tức Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang mắc CÁI BỆNH RẤT LỚN LÀ KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT. Mà không dám nói lên sự thật chính là “cái bệnh rất lớn” là nói dối vậy. Nếu câu nói này (chúng ta có cái bệnh rất lớn là không dám nói lên sự thật) phát ra từ một người bất đồng chính kiến thì chắc sẽ bị công an bắt giam vì điều 88: tuyên truyền nói xấu chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhưng khi câu nói RẤT CHÍNH XÁC này phát ra từ miệng vị chủ tịch nước Trương Tấn Sang lại là một vấn đề không nhỏ, không phải nói để chơi. Đó là nhận thức quan trọng nhất mà một lãnh tụ Đảng Cộng sản Việt Nam – ông Trương Tấn Sang – đã dũng cảm nói lên sự thật rất đáng buồn rằng: hệ thống cầm quyền của những người cộng sản là một hệ thống thiếu trung thực, lấy sự dối trá làm bản chất. Ai ai trong thế kỷ thứ 21 này cũng đều biết chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản của C.Marx và F. Engel bắt nguồn từ chủ nghĩa xã hội không tưởng của các nhà triết học tiền Mác-xít: Saint Simon, Charles Fourier, Robert Owen… là những hệ thống xã hội không tưởng, ảo tưởng, không có thật, bịa đặt… Một xã hội xã hội chủ nghĩa tiến tới thiên đường cộng sản là một xã hội phi lý, phi nhân – nơi chỉ có cái thiện mà không có cái ác, chỉ có cái tốt mà không có cái xấu, chỉ có cái thật mà không có cái giả, tức là một xã hội phi biện chứng. Trong xã hội giả tưởng đó, người ta sống theo nguyên tắc vô cùng phi lý: làm theo năng lực (có  hạn) hưởng theo nhu cầu (vô hạn). Trong xã hội bịa đặt phi biện chứng đó, nhà nước bị triệt tiêu, biên giới Việt Nam và Trung Hoa bị xóa bỏ (tất nhiên Việt Nam sẽ thành quận huyện của Tàu, đó là xã hội cộng sản hay sao?). Ở Cái xã hội bịa đặt khủng khiếp có tên là xã hội chủ nghĩa, xã hội cộng sản ấy, quyền tư hữu bị xóa sổ, cá nhân bị xóa sổ, nhân tính bị xóa sổ, gia đình bị xóa sổ, quốc gia bị xóa sổ, tôn giáo bị xóa sổ, cái riêng bị xóa sổ, đất nước bị xóa sổ, dân tộc bị xóa sổ… Liên Xô sau 74 năm đi tìm cái xã hội chủ nghĩa không tưởng mà tìm mãi không thấy, chỉ thấy cả đất nước rộng bằng một phần sáu địa cầu biến thành trại tập trung với máu và nước mắt, với gần 100 triệu người bị giết hại vì lý thuyết đấu tranh giai cấp duy ác Mác – Lê…  Nay Liên Xô đã quay lại con đường tư bản chủ nghĩa để đi cùng đường với nhân loại… Trung Quốc đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội dã man từ năm 1978 để xây dựng xã hội theo mô hình tư bản, mô hình thị trường; nhưng vẫn mạo danh xã hội chủ nghĩa để đỡ bẽ mặt vì Trần Độc Tú, Cù Thu Bạch, Mao Trạch Đông đã sai lầm vô hạn khi áp dụng chủ thuyết duy ác Mác-Lê vào Trung Quốc. Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc cuối năm 2012 đã không còn nhắc đến Mác-Lê-Mao… Đảng Cộng sản Pháp trong đợt đại hội cách đây mấy ngày, đã good bye cờ búa liềm là cờ của nước Liên Xô trước đây… Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo từ năm 1986 đã chôn chủ nghĩa xã hội để xây dựng chế độ tư bản nhưng vẫn còn giữ cái đuôi dối trá rất vô nghĩa là “ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA”… Mùa tết năm nay, qua lời thú nhận của chủ tịch nước Trương Tấn Sang về hê thống xã hội cộng sản của ông và các ông vốn là một hệ thống dối trá “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT” chính là cuộc thay đổi tư duy đáng trân trọng của giới lãnh đạo Việt Nam… Khi cả thế giới đều biết chủ nghĩa xã hội kiểu quốc tế ba của Mác-Lê là một chủ nghĩa ảo, một học thuyết bịa đặt , dối trá từng giết hại hàng trăm triệu người trên thế giới thì khi đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta lại phải mang cả khối dối trá trên mình, liệu có trung thực, có đúng đắn hay không: “CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM”. Chủ nghĩa xã hội = sự không có thật, chẳng lẽ quốc hiệu của ta lại ra thế này ư: CỘNG HÒA KHÔNG CÓ THẬT VIỆT NAM”? Từ sự nhận thức trên mang tính cách mạng của chủ tịch nước Trương Tấn Sang, chúng tôi hy vọng Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ nhanh chóng từ bỏ những khái niệm dối trá, chủ nghĩa dối trá để trở về cùng đường với dân tộc và nhân loại. Chúng tôi xin trích hai đoạn ngắn trong bài viết của mình năm 2010: “Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” (là tham luận của TMH trong đại hội nhà văn Việt Nam, nhưng không được phép đọc, đã post lên mạng trước đại hội) làm phần kết của bài viết này: “Nếu Đảng Cộng sản và nhà nước Việt Nam thử một lần hợp tác với đất nước, với dân tộc Việt Nam mở HỘI NGHỊ DIÊN HỒNG CHỐNG GIẶC NÓI DỐI để tìm ra con đường cứu nguy dân tộc đang trên đà suy vong, thì công này của quý vị rất lớn. Ông cha chúng ta đã đánh thắng giặc Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh… để bảo tồn đất nước. Tất cả các thứ giặc trên cộng lại cũng không ghê gớm bằng giặc nói dối đang tàn phá Tổ quốc ta, giống nòi ta. Lần này, nếu nhân dân ta không vùng lên đáng tan BỌN GIẶC CÓ TÊN LÀ DỐI TRÁ, chắc chắn đất nước ta sẽ bị kẻ thù phương Bắc nuốt chửng, như mấy nghìn năm trước chúng đã nuốt toàn bộ các dân tộc Bách Việt từng định cư lâu dài phía nam sông Dương Tử…. ….Một kẻ nói dối, một dân tộc nói dối “lộng giả thành chân”, là một kẻ, một dân tộc không có tự do, không có độc lập, không có dân chủ, không có chân lý và lẽ phải… Khi một kẻ, một dân tộc phải núp vào sự dối trá để tồn tại, kẻ đó, dân tộc đó là một kẻ yếu, một dân tộc yếu đang trên đường suy vong. Chỉ có kẻ mạnh, kẻ tự tin, kẻ có liêm sỉ, có đạo đức mới không sợ sự thật, dù là sự thật đau đớn nhất, khủng khiếp nhất mà thôi”. Từ nhận thức rằng hệ thống chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam là một hệ thống “KHÔNG DÁM NÓI LÊN SỰ THẬT”, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đi một bước cách mạng đột phá, đưa Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp cận dần sự thật để dám từ bỏ cái chủ nghĩa dối trá là chủ nghĩa xã hội. Chúng tôi xin chép lại lời của đại văn hào Pháp V. Hugo để tặng ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, những người đã dám dũng cảm cứu nguy dân tộc bằng cách chôn chủ nghĩa xã hội từ năm 1976 (chủ nghĩa Marx thực chất là một chủ thuyết về kinh tế) để xây dựng kinh tế thị trường- kinh tế tư bản : “CÁCH MẠNG LÀ CUỘC TRỞ VỀ TỪ CÁI GIẢ ĐẾN CÁI THẬT”. Sài Gòn 15-02-2013 Trần Mạnh Hảo http://quechoa.vn/2013/02/15/chu-tich-truong-tan-sang-khang-dinh-he-thon...
......

Đừng lấy dối trá làm lẽ sống

Con đường của chúng ta là không tự nguyện ủng hộ bất kì sự dối trá nào. Khi chúng ta đã biết bản chất của hư ngụy ở đâu, thì chúng ta mỗi người sẽ biết cách nhìn ra đâu là dối, đâu là thật. Con đường của chúng ta là tránh xa chỗ thối nát. Nếu chúng ta đừng ghép đống xương tàn và lớp vảy khô của ý thức hệ lại với nhau, nếu chúng ta đừng mất công vá lại mớ giẻ rách, thì chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy là sự dối trá sẽ hóa ra bất lực và tiêu ma nhanh chóng. Lúc đó, cái gì cần lột trần mới thực phơi ra trước cả và thiên hạ… ***** Đã có thời thậm chí rỉ tai nhau chúng ta cũng không dám! Bây giờ thì chúng ta viết và đọc sách báo chui, và thỉnh thoảng có tới Khoa Học Viện hút thuốc gặp nhau thì cũng thành thật mà phàn nàn với nhau rằng: Chúng đang giở trò gì đây? Chúng còn xỏ mũi ta tới đâu nữa? Quê hương vừa nghèo vừa điêu tàn mà chúng cứ huyênh hoang khoe nhau những thành tựu trên vũ trụ. Chúng ôm mấy cái chế độ cai trị lạc hậu và dã man, rồi thổi cho lửa nội chiến bùng lên. Chúng rút ruột để nuôi Mao Trạch Đông một cách vô tội vạ – rồi tống cổ chúng ta ra chiến trường đánh nhau với hắn, mà chúng ta phải đi. Trốn sao cho thoát? Chúng thích đưa ai ra tòa thì đưa, chúng nhốt người tỉnh táo vào nhà thương điên – chúng nó luôn giở những trò đó, còn chúng ta thì bất lực. Mọi thứ sắp rớt xuống đáy cùng. Tinh thần chúng ta đã chết hết, còn thân xác chúng ta và cả con cái chúng ta nữa, cũng sắp bị ném vào lửa cháy rụi. Thế mà chúng ta vẫn bình chân như vại, cứ nhếch mép cười một cách tiểu nhân, và lưỡi không bị ngọng mà vẫn lúng búng trong miệng. Nhưng chúng ta biết làm gì mà ngăn nó cho được? Hay là chúng ta không đủ sức? Chúng ta bị tước đoạt nhân tính một cách tàn bạo tới mức chỉ vì miếng cơm manh áo qua ngày thôi mà chúng ta sẵn sàng vứt bỏ mọi nguyên tắc và linh hồn của mình, mọi nỗ lực của tiền nhân và mọi cơ hội của hậu thế – miễn sao đừng đụng tới sự tồn tại mong manh của mình là được. Chúng ta không có khí phách, không có tự trọng, không có nhiệt tình. Vũ khí hạch tâm, thế chiến thứ ba chúng ta không sợ. Chúng ta đã nấp kĩ trong hang rồi. Chúng ta chỉ sợ làm người công dân có dũng khí. Chúng ta sợ lạc đàn, sợ đi một mình không có cơm ăn, không có khí đốt, không có hộ khẩu thành phố. [i] Chúng ta bị nhồi sọ chính trị, bị người ta tiêm cho cái ý nghĩ phải an thân đã, rồi sau sẽ tốt đẹp hết. Chúng ta không thoát khỏi được hoàn cảnh và điều kiện xã hội của mình. Cuộc sống hàng ngày quyết định ý thức. Chúng ta thì có liên quan gì tới mấy việc đó? Và có thật là chúng ta không thay đổi được gì không? Được chứ, được tất cả là đàng khác. Nhưng chúng ta dối lòng mình để an thân. Đừng trách bọn chúng, có trách thì trách chúng ta đi. Có người vặn hỏi: thì ông muốn nghĩ gì mà chẳng được. Chúng đã dém miệng chúng ta. Có ai chịu nghe chúng ta, có ai thèm đoái hoài chúng ta. Làm sao mà bắt chúng nghe chúng ta nói được? Không thể nào thay đổi được não trạng của chúng. Tất nhiên là có thể đầu phiếu để loại bọn chúng, nhưng mà đất nước này làm gì có tuyển cử. Ở phương Tây người ta có bãi công và biểu tình phản đối, còn chúng ta thì bị đàn áp thẳng tay, có những cảnh mới nghĩ tới đã thấy rùng mình: ai dám thình lình bỏ việc mà xuống đường? Song le, những con đường chết chóc mà dân tộc Nga đã mò mẫm trong đau khổ suốt thế kỉ qua không phải dành cho chúng ta, mà quả thật chúng ta không cần đi lại những con đường như vậy. Bây giờ búa liềm đã làm xong việc, hạt giống gieo xuống đã nảy mầm, chúng ta có thể thấy là những kẻ còn trẻ tuổi mà cuồng vọng, cho là có thể dùng khủng bố, cách mạng đẫm máu và nội chiến để mang lại bình đẳng và hạnh phúc cho đất nước chúng ta, chính họ là những kẻ lạc lối. Thế đủ rồi, xin cảm ơn các vị giác ngộ cách mạng tiên phong! Bây giờ chúng ta mới biết phương pháp xú uế tất sinh kết quả xú uế. Hãy để cho tay của chúng tôi trong sạch. Cái vòng trói buộc này đã đóng chặt rồi sao? Không còn lối thoát? Và chúng ta chỉ còn một đường duy nhất thôi, là khoanh tay đợi? Đợi cho tới khi có biến? Chừng nào mỗi ngày chúng ta đều thừa nhận, ca ngợi, và nuôi dưỡng – chứ không tự mình chém phăng đi một điều không ai không thấy, là sự dối trá – thì đừng mong có chuyện gì xảy ra. Bạo động len lỏi vào cuộc sống an bình, cái mặt nó toát ra vẻ ngạo mạn, y như đang khoác một ngọn cờ và hô to: “Bạo động đây. Tránh ra, nhường đường cho tao, không tao nghiến nát tụi bay.” Nhưng mà bạo động mau già. Rồi nó mất hết tự tín, và để giữ cho cái mặt ra vẻ khả kính nó rước thằng dối tra về làm đồng minh – vì không phải ngày nào nó cũng thò bàn tay thô bạo của nó ra được, mà thò ra được cũng bất tất chụp hết mọi người. Nó chỉ cần chúng ta ngoan ngoãn phục tùng dối trá và hàng ngày thực hành dối trá – đây chính là yếu huyệt của mọi sự trung thành. Cái chìa khóa đơn giản nhất và dễ làm nhất mở ra cánh cửa tự do, tự do mà bấy lâu nay chúng ta lãng quên, là: mỗi người cùng tẩy chay dối trá. Mặc dù dối trá che giấu tất cả, mặc dù dối trá phủ lấy tất cả, nhưng tôi tuyệt không nhúng tay. Làm vậy tức là mở một lối thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn hoang tưởng do chúng ta khoanh tay đứng nhìn mà ra. Cách đó vừa dễ làm nhất vừa tiêu diệt dối trá mau nhất. Vì rũ bỏ dối trá, tức là cắt đứt đường sống của nó. Dối trá giống như bệnh dịch, chỉ có thể sống bám vào một sinh vật.   Chúng ta không cần phải ám thị mình. Chúng ta chưa đủ già dặn để tiến vào các quảng trường mà gào lên sự thật hay biểu hiện tư tưởng của mình. Chưa tới lúc phải làm thế. Nguy hiểm nữa. Chỉ cần điều gì mình không nghĩ thì chúng ta từ chối đừng nói là được. Đó là con đường của chúng ta, con đường dễ nhất ai cũng làm được, con đường đã chiếu cố sự hèn nhát thâm căn cố đế của chúng ta. Nó dễ hơn phương pháp công dân bất phục tùng của Gandhi xiển dương – dễ tới mức viết những lời này còn nguy hiểm hơn. Con đường của chúng ta là không tự nguyện ủng hộ bất kì sự dối trá nào. Khi chúng ta đã biết bản chất của hư ngụy ở đâu, thì chúng ta mỗi người sẽ biết cách nhìn ra đâu là dối, đâu là thật. Con đường của chúng ta là tránh xa chỗ thối nát. Nếu chúng ta đừng ghép đống xương tàn và lớp vảy khô của ý thức hệ lại với nhau, nếu chúng ta đừng mất công vá lại mớ giẻ rách, thì chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy là sự dối trá sẽ hóa ra bất lực và tiêu ma nhanh chóng. Lúc đó, cái gì cần lột trần mới thực phơi ra trước cả và thiên hạ. Vì thế, dù có dè dặt, mỗi chúng ta hãy lựa cho mình: hoặc là, cam tâm làm nô lệ cho hư ngụy – tất nhiên chúng ta nuôi dưỡng con cái mình trong tinh thần dối trá không phải vì đó là bản tính của chúng ta, mà chẳng qua là để kiếm ăn nuôi gia đình – hoặc là rũ sạch mọi sự dối trá làm một người lương thiện xứng đáng được con cái và người đồng thời kính trọng. Và từ đó trở đi chúng ta sẽ: • Bằng mọi cách không viết, kí, hay in một lời nào chúng ta cho là bóp méo sự thật; • Không nói những lời như thế, dù là nói chuyện riêng hay nói trước đông người, tự ý mình hay theo ý người khác, dù làm công tác cỗ vũ, dạy học, giáo dục hay đóng trò trên sân khấu; • Không mô tả, cổ vũ, hay truyền đi một ý tưởng nào chúng ta thấy rõ ràng là sai hay bóp méo sự thật, dù bằng hội hoạ, điêu khắc, nhiếp ảnh, khoa học kỹ thuật hay âm nhạc; • Không trích lời người khác nói hoặc viết mà không đặt lời trích vào ngữ cảnh, để lấy lòng ai đó, hay để lót đường cho mình, hay để thành công trong công việc nếu mình không hoàn toàn đồng ý với ý tưởng trích dẫn, hoặc nếu ý trích dẫn đó không phản ánh chân thực bản chất vấn đề; • Không để cho mình bị ép phải dự những cuộc biểu dương hay hội họp nào trái với sở thích hay ý nguyện mình, không cầm hoặc giương lên những tiêu ngữ hay biểu ngữ nào mình không hoàn toàn chấp nhận; • Không giơ tay biểu đồng tình cho một đề xuất mà ta không thành thật tán đồng, không bầu cho người mình cho không xứng đáng hay đáng ngờ về tài năng, dù bầu công khai hay bí mật; • Không để cho mình bị lôi tới những cuộc họp mà mình đoán người ta sẽ bức mình thảo luận hoặc bóp méo một vấn đề; • Lập tức bước ra khỏi những cuộc họp, hội nghị, thuyết trình, biểu diễn, chiếu phim nếu nghe thấy diễn giả nói láo, rêu rao những rác rưởi ý thức hệ, hoặc những lời tuyên truyền lố bịch; • Không đóng góp hoặc mua những báo chí bóp méo thông tin hoặc giấu giếm những sự thật hiển nhiên. Tất nhiên là chúng ta chưa liệt kê hết mọi biến thái hư ngụy cần phải liệt kê. Nhưng người nào thanh luyện mình sẽ nhờ lương tâm trong sạch mà phân biệt được chân ngụy. Những người chọn con đường này ban đầu cuộc sống sẽ rất thay đổi. Có người bị mất việc. Những người trẻ muốn sống chân thật, thì những việc như thế này sẽ làm cho đời thanh xuân của họ ra phức tạp, vì khóa học bắt buộc nào cũng nhét toàn dối trá, không thể không chọn lọc. Nhưng không có lối đi nào dễ dãi hơn cho người muốn làm người lương thiện. Ngày nào chúng ta cũng có người phải đối diện ít nhất là một trong những tình huống trên, cho dù là trong những ngành khoa học kĩ thuật vô thưởng vô phạt dễ tìm được chỗ nương náu nhất. Hoặc là chân thật, hoặc là hư ngụy: một đường đi tới tự do tinh thần, một đường đi tới nô lệ tinh thần. Còn những kẻ không đủ dũng khí bảo vệ linh hồn mình– các người chớ vin vào mấy quan điểm ‘tiến bộ’ của mình mà kiêu ngạo, chớ huyênh hoang mình là hàn lâm học sĩ, là nghệ sĩ nhân dân, là yếu nhân có nhiều công trạng, hay là đại tướng – các người hãy tự nói với mình: Mình thà ở lại đàn làm một thằng hèn. Sao cũng được, miễn no bụng ấm lưng thì thôi. Lối phản kháng này tuy nhu nhược nhất trong mọi lối phản kháng cũng không phải là dễ. Tất nhiên là dễ hơn tự thiêu hay tuyệt thực: lửa sẽ không dìm thân anh, mắt anh không bị nung cho nổ ra, và gia đình anh sẽ không lúc nào thiếu cơm ăn nước uống. Một dân tộc vĩ đại ở châu Âu, dân Tiệp Khắc, họ bị chúng ta phản bội và lừa dối, chẳng là họ đã cho chúng ta thấy nếu trong lồng ngực có một trái tim cao thượng thì tấm ngực mỏng manh kia có thể đứng lên chống lại xe thiết giáp đấy sao? [ii] Anh bảo làm thế không dễ? Nhưng trong mọi cách thì cách đó là dễ nhất. Cách đó có thể nguy tới tánh mạng, nhưng muốn cứu linh hồn thì không còn cách nào khác. Phải, con đường đó không phải là con đường dễ đi. Nhưng mà có nhiều người, rất nhiều nữa là khác, năm này qua năm nọ đã theo đuổi lí tưởng ấy, chỉ vì họ lấy chân thật làm lẽ sống. Cho nên anh không phải là người đầu tiên chọn đi đường này, anh chỉ gia nhập dòng người đã dấn thân vào đó. Nếu chúng ta nâng đỡ nhau và sát cánh nhau thì con đường này sẽ dễ đi và ngắn bớt lại. Nếu chúng ta đông tới hàng ngàn người thì bọn chúng sẽ không làm gì được chúng ta. Nếu chúng ta lên tới hàng vạn người thì đất nước này sẽ khoác bộ mặt mới đến mức chúng ta không còn nhận ra nữa. Nếu chúng ta khiếp nhược quá, thì đừng trách người ta đàn áp mình mãi. Chính chúng ta đang tự mình đàn áp mình đấy. Lúc đó thì hãy khom lưng xuống nữa, hãy rên xiết nữa, và đợi tới ngày những người anh em của chúng ta, các nhà sinh học, tìm ra cách đọc được tư tưởng của chúng ta, một thứ tư tưởng vô giá trị và tuyệt vọng. Và nếu thậm chí đã chọn con đường yên thân mà chúng ta vẫn rơi vào chỗ cùng khốn, thì chúng ta đúng là đồ bỏ đi, không còn cách gì cứu vớt được. Lúc đó, chúng ta đáng dành cho những lời khinh bỉ này của Pushkin: “Đồ súc sinh thì làm gì có tự do. Muôn đời di sản của nó chỉ là ách nặng và roi vọt.” Aleksandr Solzhenitsyn   Người dịch: Thái Phục Nhĩ Chú thích: [i] Nguyên văn là hộ khẩu Moscow [ii] Mùa xuân năm 1968 dân Tiệp Khắc đứng lên đòi tự do, muốn li khai khỏi Liên Bang Soviet. Nhà cầm quyền Liên Bang Soviet cho thiết giáp vào Prague nghiến nát người biểu tình. Theo: danlambaovn.blogspot.com http://danlambaovn.blogspot.com/2013/01/ung-lay-doi-tra-lam-le-song.html#more
......

Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979

Những hành vi bị nhiều người cho là hung hãn của Trung Quốc trong vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông có thể dẫn tới chiến tranh. Đó là nhận định của một số các nhà quan sát khi họ nhìn lại cuộc chiến tranh cách nay hơn 30 năm giữa hai lân bang theo chủ nghĩa Cộng Sản có mối quan hệ khắng khít, thường được mô tả là “môi hở răng lạnh”. Những đòi hỏi chủ quyền chồng chéo nhau ở Biển Đông có nhiều tài nguyên thiên nhiên tiếp tục gây căng thẳng cho các mối quan hệ giữa Trung Quốc và một số các nước láng giềng của họ ở Á châu, trong đó có Việt Nam. Những vụ tranh chấp như vậy giữa Trung Quốc và Việt Nam đã diễn ra trong nhiều thế kỷ. Nhưng đến cuối thập niên 1970, sự hiềm khích giữa đôi bên đã bùng lên thành một cuộc xung đột vũ trang có nhiều chết chóc, với cuộc chiến tranh thường được gọi là cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979. Trung Quốc đã dùng yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa làm một trong các lý do để xâm lăng Việt Nam, tuy cuộc chiến tranh đó diễn ra sau một loạt những vụ đụng độ ở biên giới hai nước và những hành động quyết liệt của Việt Nam ở Campuchia. Tại Campuchia lúc đó, chế độ Khmer Đỏ tàn bạo đã phát động một chiến dịch khủng bố trên cả nước. Chiến dịch diệt chủng này rốt cuộc đã gây tử vong cho hơn 2 triệu người. Khmer Đỏ có được sự hậu thuẫn của Trung Quốc nhưng bị Liên Sô phản đối. Việt Nam có được sự hỗ trợ của cả Trung Quốc lẫn Liên Sô trong cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ, nhưng dần dần tránh xa Trung Quốc trong những năm giữa thập niên 1970 và nghiêng hẳn về phía Liên Sô. Việt Nam tiến quân sang Campuchia cuối năm 1978 và nhanh chóng lật đổ chế độ Khmer Đỏ. Ông Lý Tiểu Binh, Khoa trưởng Phân khoa Sử Địa của Đại học miền Trung Oaklahoma, cho biết lãnh tụ Trung Quốc lúc đó là ông Đặng Tiểu Bình đã tức giận trước hành động của Hà Nội và quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học”. Giáo sư Lý: "Vì ảnh hưởng ngày càng tăng của Việt Nam trong khu vực, cộng với việc xâm lăng Campuchia và sự hợp tác với Liên Sô, nên ông Đặng Tiểu Bình và Trung Quốc e rằng Việt Nam có thể bành trướng thế lực của mình tới những khu vực khác, kể cả Biển Nam Trung Hoa." Trung Quốc cũng tố cáo Việt Nam bách hại Hoa Kiều và lên tiếng chống đối việc Việt Nam chiếm đóng những hòn đảo của quần đảo Trường Sa. Đầu năm 1979, ông Đặng Tiểu Bình đi thăm Hoa Kỳ và bày tỏ sự bất mãn đối với Việt Nam. Ông nói với các giới chức ở Washington rằng “những đưa trẻ không nghe lời cần phải đánh đòn.” Lính Trung Quốc bắt đầu tràn qua biên giới Việt Nam hồi tháng hai năm 1979. Phía Việt Nam gọi đây là cuộc chiến “chống bá quyền Trung Quốc” trong lúc Bắc Kinh gọi cuộc xung đột vũ trang này là “Cuộc phản kích tự vệ chống lại Việt Nam.” Giáo sư Lý Tiểu Binh nói rằng Trung Quốc muốn mô tả cuộc chiến này là một cuộc chiến tự vệ. Giáo sư Lý: "Trung Quốc muốn biện minh cho hành động của mình. Họ muốn mọi người tin rằng cuộc chiến tranh này có tính chất phản ứng tự vệ để đáp lại chính sách hung hãn của Việt Nam." Tiến sĩ Lý Tiểu Binh cho biết ông Đặng Tiểu Bình muốn dùng cuộc chiến tranh với Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của quân đội Trung Quốc. Giáo sư Lý: "Có vấn đề giữa hàng ngũ lãnh đạo mới của ông Đặng Tiểu Bình và quân đội. Quân đội than phiền là họ không được lợi lộc gì trong các nỗ lực cải cách. Họ nói rằng trong lúc tiến hành cải cách họ đã không nhận được các nguồn lực để phát triển. Thậm chí họ còn cho rằng họ là nạn nhân của phong trào cải cách." Ông Lý Tiểu Binh nói rằng ông Đặng Tiểu Bình đã để cho quân đội có được một cơ hội để chứng tỏ khả năng và cho phép họ tự soạn thảo kế hoạch xâm lăng Việt Nam. Tuy nhiên, cuộc xâm lăng đó lại nêu bật sự yếu kém của quân đội Trung Quốc. Họ chỉ tiến được vào lãnh thổ Việt Nam khoảng 8 kilo mét, tuy đã gây thiệt hại nặng cho một số thành phố ở biên giới. Đà tiến của những toán quân Trung Quốc đã bị khựng lại khi gặp phải sự kháng cự kịch liệt của phía Việt Nam, những người đã tận dụng được các kỹ năng đánh du kích mà họ đã trui luyện trong cuộc chiến tranh với Hoa Kỳ. Trung Quốc đã gánh chịu tổn thất nhân mạng rất lớn và phải rút về nước sau 29 ngày. Giáo sư Lý: "Đó là một thảm họa nhục nhã đối với quân đội. Thương vong ở mức cao, không theo đúng kế hoạch, thông tin liên lạc tồi tệ, tính toán sai lầm, vân vân …" Về mặt công khai, cả hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Nhưng phía Trung Quốc biết rõ là quân đội của họ có nhiều khiếm khuyết. Không lâu sau đó, Bắc Kinh đã thực hiện một chương trình để hiện đại hóa quân đội của mình. Giáo sư Lý: "Quân đội nhận ra rằng họ đã bị lỗi thời. Tinh thần chiến đấu binh sĩ rất thấp. Các hệ thống của Liên Sô không hoạt động có hiệu quả. Khi đó họ còn dùng các loại khí tài của Liên Sô. Vì vậy cho nên họ đã sẵn sàng chấp nhận đề nghị cải cách quân đội. Giáo sư Lý Tiểu Binh cho rằng qua cuộc chiến năm 1979 Trung Quốc lại một lần nữa chứng tỏ với các nước láng giềng là họ sẵn sàng sử dụng vũ lực để giải quyết những vụ tranh chấp lãnh thổ. Nhiều năm sau khi chiến tranh chấm dứt, những vụ đụng độ ở biên giới Việt-Trung vẫn tiếp diễn và quan hệ song phương tiếp tục bị căng thẳng. Mãi cho đến năm 1986, với bối cảnh của sự thay đổi hàng ngũ lãnh đạo ở Bắc Kinh và Hà Nội và các phong trào cải cách ở Nga, Trung Quốc và Việt Nam đã đồng ý gác qua một bên những vụ tranh chấp để tập trung nỗ lực vào công cuộc phát triển hòa bình. Công cuộc phát triển đó giờ đây đã bị đe dọa bởi những hành động có tính chất kịch liệt của Trung Quốc để chống lại điều mà họ cho là những mối đe dọa đối với lãnh thổ của họ ở Biển Đông. Các nhà quan sát cho rằng những hành vi gây nhiều sóng gió có thể làm cho Trung Quốc rơi vào một cuộc xung đột với các nước láng giềng cũng có yêu sách chủ quyền ở vùng biển rất quan trọng cho hoạt động thương mại của cả thế giới này.   http://www.voatiengviet.com/content/nhin-lai-cuoc-chien-viet-trung-nam-1979/1521720.html  
......

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề. Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược - Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết. Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy? Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15... hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện. Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN. Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt - Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua. Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ? Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới. Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 - Ảnh: Tư liệuTù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được. Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”. Thứ hai, trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước. Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm. Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: "Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh". Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh. Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ? Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia. http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx  
......

Bắc Kinh: Đường rút an toàn của CSVN?

Từ hai năm qua, đặc biệt là từ sau Hội nghị 6 của Trung ương đảng CSVN vào tháng 10 năm 2012, lãnh đạo CSVN ở vào hai thế khó xử: Thứ nhất là không dám đưa ra bất cứ biện pháp kỷ luật nào đối với những cán bộ lãnh đạo bị đánh giá là “suy thoái đạo đức” sau khi có kết quả ‘phê và tự phê’ để ngăn chận tình trạng tham ô nhũng lạm. Đặc biệt là Bộ chính trị đã không kỷ luật được ông Nguyễn Tấn Dũng (mà còn che giấu gọi là đồng chí x) vì sợ tạo ra những cuộc “đấu đá” ngầm giữa phe ông Dũng với phe kình chống. Điều này đã được ông Nguyễn Phú Trọng nói xa gần trong cuộc tiếp xúc với cử tri ở Hà Nội hôm mồng 1 tháng 12, 2012 rằng: “kỷ luật mà không tính kỹ thì lại rối, mai kia là ân oán, thù oán, đối phó, thành phe phái, rối nội bộ….” Thứ hai là không dám thỏa mãn những đòi hỏi tôn trọng nhân quyền của Hoa Kỳ để đổi lấy việc mua vũ khí chiến lược hầu tăng cường phòng thủ trước sự hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, vì vẫn mang nặng tư duy của thời Chiến Tranh Lạnh: coi Hoa Kỳ là thù địch và sợ Hoa Kỳ thúc đẩy diễn biến hòa bình làm sụp đổ đảng từ bên trong. Điều này đã được ông Phùng Quang Thanh viết trong Tạp chí quốc phòng số tháng 12/2012 rằng: “thế lực thù địch (ám chỉ Hoa Kỳ) tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá bằng chiến lược ‘Diễn biến hòa bình’ sử dụng các chiêu bài ‘dân chủ’, ‘nhân quyền’, ‘dân tộc’, ‘tôn giáo’, thúc đẩy ‘tự diễn biến’, ‘tự chuyển hóa’, hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta; khi có cơ hội, chúng sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược.” Nỗi ám ảnh “diễn biến hòa bình” bỗng chốc trở nên nguy kịch hơn khi hiện tượng “tự diễn biến” xuất hiện ngày một nhiều với hàng loạt những phê phán, chỉ trích đảng nặng nề, thẳng thừng ngay từ những đảng viên kỳ cựu. Nhất là hiện tượng kêu gọi đảng “lột xác”, chấp nhận đa nguyên, đa đảng xảy ra dồn dập... khi đảng cho mở “hộp giun” hiến pháp. Mọi kế sách của CSVN, do đó, đã không nhằm giải quyết các vấn nạn trầm trọng của đất nước như kinh tế suy thoái, xã hội bất ổn, dân tình ta thán, nguy cơ xâm lược của phương Bắc, mà ưu tiên bảo vệ chế độ và chống “diễn biến hòa bình”. Ông Phùng Quang Thanh đã khẳng định rằng: Nhiệm vụ hàng đầu của CSVN trong thời gian tới là “chủ động đấu tranh làm thất bại chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch”, rồi sau đó mới là “các hành động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc.” Quan điểm nói trên của ông Phùng Quang Thanh đã phản ảnh rất rõ những suy nghĩ của 14 ủy viên Bộ chính trị đảng CSVN trong tình hình hiện nay: để giữ chặt quyền lực độc tôn, CSVN không thể tách rời khỏi mối liên hệ với Bắc Kinh. Quan điểm này đã giải thích lý do vì sao CSVN đã để cho một số cán bộ cao cấp như ông Nguyễn Thế Kỷ (Phó trưởng ban tuyên giáo), Đại tá Trần Đăng Thanh (Viện nghiên cứu chiến lược Bộ quốc phòng), Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh (Thứ trưởng Bộ quốc phòng) công khai đề cập về “công ơn” và “đối xử hòa bình” với nước láng giềng Trung Quốc. Vừa qua, Thủ tướng Abe của Nhật Bản đã chọn Việt Nam là quốc gia đầu tiên ghé thăm trong chuyến công du ba nước Thái Lan, Nam Dương và Việt Nam sau khi được tái tín nhiệm chức Thủ tướng vào cuối năm 2012. Ông Abe chọn đến Việt Nam vào lúc này không gì khác hơn là muốn vận động Hà Nội “liên minh” với Nhật Bản và Phi Luật Tân để chống lại các hiểm họa bành trướng của Trung Quốc trên biển Đông, đe dọa đường vận chuyển dầu thô và hàng hóa của Nhật Bản. Cộng sản Việt Nam đón tiếp ông Abe như một nghĩa cử “cảm ơn” về khoản viện trợ ODA dồi dào mà chính quyền đảng Tự Do Dân Chủ của ông Abe đã bỏ ra cho CSVN trong 20 năm vừa qua, hơn là đáp ứng các yêu cầu chống Trung Quốc của Nhật. Dù mang ơn giúp đỡ của Nhật Bản nhưng CSVN khó có thể quay lưng với Trung Quốc vào lúc này. CSVN không dám chống lại Trung Quốc không chỉ vì hai đảng và hai nước cùng nằm trong hệ thống xã hội chủ nghĩa hay vì đang phải dựa vào đầu tư và tiền vay mượn từ Trung Quốc để cứu nguy nền kinh tế, mà còn một nguyên nhân quan trọng khác, phát sinh từ khoảng một năm nay, khi dấu hiệu “tự sụp đổ trong nội bộ” đang trở thành mối đe dọa nguy hiểm. Hàng loạt những thất bại về kế hoạch xây dựng các tập đoàn kinh tế để phát triển thành quốc gia công nghiệp hiện đại vào năm 2020 và những bất ổn xảy ra liên tục ở các huyện nông thôn về chính sách đất đai, đã khiến cho lãnh đạo CSVN thấy rõ là niềm tin của đảng viên vào họ không còn nữa. Ông Hữu Thọ từng là cựu Tổng biên tập báo Nhân Dân đã nói lên thực trạng này bằng nỗi ưu tư đầu năm 2013 rằng: “quan hệ giữa người Đảng viên bình thường và người lãnh đạo đang có xu hướng gia tăng khoảng cách, không còn được như thời chúng ta là những người đồng chí với nhau chung một chiến hào.” Trong bối cảnh đó, nội bộ đảng CSVN hiện chia làm hai xu hướng: Xu hướng thứ nhất là thành phần cán bộ giàu có tìm cách đưa con cái và gia đình đi ra nước ngoài dưới dạng du học hay làm ăn để qua đó tẩu tán tài sản nếu một mai ‘diễn biến hòa bình’ thật sự xảy ra. Theo số liệu của Ngân hàng nhà nước CSVN cho biết là hàng năm hiện có khoảng hơn 2 tỷ Mỹ Kim chuyển ra nước ngoài dưới dạng chuyển ngân tiền học, chưa kể hàng tỷ Mỹ Kim khác chuyển dưới dạng không chính thức. Xu hướng thứ hai là thành phần cán bộ đảng viên còn chút ràng buộc về lý tưởng cộng sản tìm cách vận động thành phần lãnh đạo chấp nhận một số thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội mà cụ thể là giảm bớt sự độc quyền của đảng, chấp nhận một hình thái đa nguyên về chính trị hầu tránh cho đảng không bị tan rã toàn diện trong bối cảnh xảy ra ‘diễn biến hòa bình’. Cả hai xu hướng nói trên đều đẩy lãnh đạo CSVN - đặc biệt là 200 ủy viên Trung ương đảng khóa VII hiện nay – rơi vào tình thế rất khó xử. Họ khó có thể lùi bước chấp nhận đa đảng vì đó là con đường dẫn đến tự sát như ông Nguyễn Minh Triết đã từng nói. Họ cũng không thể đưa con cháu và chuyển tài sản sang các nước Âu Mỹ như những cán bộ bình thường vì có ngày sẽ bị các nước này phong tỏa trắng tay như đã từng làm đối với thành phần quân phiệt Miến. Lãnh đạo CSVN chỉ còn phương cách duy nhất là tung ra những biện pháp thay đổi vá víu như hô hào góp ý cải sửa hiến pháp 1992 hay thổi phồng việc đưa Nguyễn Bá Thanh ra nắm ban nội chính trung ương chống tham nhũng…. để câu giờ. Trong khi đó họ cố chịu nhục, cúi đầu phục vụ các đòi hỏi của Bắc Kinh để khi đảng bị thoái trào thì dẫn vợ con và gia đình vượt biên giới sang tỵ nạn Trung Quốc. Con đường Bắc Kinh là giải pháp tự cứu của lãnh đạo CSVN khi có biến động. Điều đáng tiếc cho lãnh đạo CSVN là đã mù quáng không nhìn ra những thay đổi tất yếu của lịch sử nhân loại và tiếp tục nhắm mắt tin vào đàn anh Trung Quốc. Xã hội Trung Quốc hiện cũng có rất nhiều mầm mống mâu thuẫn chực chờ bùng nổ không thua gì ở Việt Nam từ kinh tế, xã hội, giáo dục, môi trường… Chính Trung Quốc đang phải trực diện với những đột biến chính trị có thể xảy ra bất cứ lúc nào, do đó không phải là nơi “an toàn” để dung thân cho thành phần đã và đang lãnh đạo đảng CSVN.
......

Cuộc Chiến Trong Yên Lặng

Trái với bề nổi có vẻ ổn định của thể chế chính trị và một sự "cân bằng lập lờ" của nền kinh tế trong giai đoạn hiện tại, Việt Nam vẫn chất chứa những kho thuốc nổ đang được lên giây, định giờ, chờ nổ. -Những cuộc đấu tranh công khai của các nhân sỹ, trí thức, kiến nghị sửa đổi Hiến pháp 1992. -Những cuộc bút chiến "tóe tâm huyết" của các Blogger, những nhân sỹ trí thức mà trong số đó, không hiếm những "hậu duệ, tự chối bỏ nguồn gốc đỏ" của mình, không quản an nguy, cho bản thân cũng như gia đình, để đòi hỏi những "thuộc quyền được mặc định" bởi tạo hóa, cho cả tiền đồ Dân Tộc. Những cuộc đấu tranh "sống mái" của những nông dân vấn vành tang trắng trên đầu để đòi hỏi sự công bằng, minh bạch trong vấn đề sở hữu đất đai trên những cánh đồng Dương Nội, Văn Giang, Vụ Bản mù mịt khói lửa và cả tiếng súng hoa cải Tiên Lãng của gia đình họ Đoàn   Những cuộc "trải chiếu, trải lều", "trải nổi thống khổ" trong các vườn hoa Mai Xuân Thưởng, Lý Tự Trọng, trước Văn phòng Quốc Hội phố Ngô Thì Nhậm, Trụ sở Mặt trận Tổ Quốc phổ Tràng Thi, của Dân oan mất đất. Sát cánh với những cuộc đấu tranh trên, một cuộc chiến không tuyên bố, tuy âm thầm lặng lẽ nhưng không kém phần khốc liệt, trí tuệ  giữa những suối nguồn nhỏ nhoi cho đến dòng sông cuộn sóng của lòng dân với con thuyền ngạo mạn của "lớp người cộng sản" đi ngược con sóng tất yếu của dòng chẩy lịch sử Dân tộc đổ về biển lớn của tiến trình tiến hóa nhân loại. Đó là cuộc chiến đã được quy ước từ thưở hái lượm, theo thuyết tiến hóa Darwin, cuộc chiến để bảo vệ thành quả lao động của "chân và tay", của thiên nhiên và con người, của "máu và nước mắt", của "bạo lực cường quyền" và sự "thông thái dân gian".  Đó chính là cuộc chiến làm đau đầu những nhà "Max, ít - Lênin, ít -  Mao, tí -  Đặng, nhiều", trong nền"Kinh tế thị trường định hướng XHCN" hiện nay. Một bài toán phương trình "ý đảng, lòng dân" ẩn số "X", không có nghiệm cho sự tồn vong của kinh tế thị trường nửa mùa. Đó chính là tình trạng dân Việt Nam hiện tại coi trọng những thứ như: 1-Vàng, một thứ vô tổ quốc. 2-USD, quốc tịch Mỹ, 3-Tiền mặt VNĐ. Trong một nền kinh tế mà chỉ số tín nhiệm của người dân đối với các chính sách vĩ mô của nhà nước, đi ngược với chỉ số "lạc quan nhăn nhở" của Việt Nam, về dưới không, mà trong hai năm gần đây, tỷ giá song phương giữa USD và VNĐ hầu như không thay đổi. Mặc dù trong tương quan giá trị song phương giữa USD/VND, hiện đồng nội tệ đã bị đánh giá cao vượt so với thức tế 24%. Thế nhưng tỷ giá song phương này, vẫn xoay quanh trục 1USD/ 20.820-20828 VNĐ, nếu tính từ đợt điều chỉnh cuối cùng của NHNN 24/12/2012, vẫn nằm trong biên độ cho phép của NHNN 20.825-21036Đ/USD, là một điều quái dị?, mặc cho những"tư vấn phá giá VNĐ một cách giảm sốc 4%/năm" của các chuyên gia kinh tế - tiền tệ. Trong bối cảnh hiện tại, khi mà: -Những mục tiêu ngắn hạn vô vọng như trong lãnh vực chứng khoán vì thị trường cũng như thanh khoản lao dốc, đầu tư vào vàng bị NHNN ngăn cấm. -Những mục tiêu dài, hạn tuyệt vọng như Địa ốc vì đã bị đóng băng. -Chỉ một số ít ỏi, không quá 75.000 tỷ VNĐ vốn huy động được đầu tư vào trái phiếu Chính phủ. -Trong cơ cấu vốn huy động, tiền gửi bằng ngoại tệ giảm hơn 13%, trong khi đó tiền gửi bằng VNĐ tăng 36% -Tăng trưởng tín dụng có mức tăng trưởng tấp kỷ lục 7%/ năm. -Mặc dù đã có quy định của NHNN, kéo lãi xuất huy động với thời hạn 1 - dưới 12 tháng, không được vượt 8%/năm. Thế nhưng có những lúc những nơi các Ngân hàng vẫn công khai trương bảng 11,2%/năm, chưa kể "lãi xuất thập thò" lên tới 13, 14%/năm, nhưng NHNN lại có một động thái "ngó lơ", trái ngược so với thời gian không lâu trước đó. -Tổng lượng tiền huy động trong toàn hệ thống Ngân hàng ước đạt 2.900.000 tỷ đồng (lấy tròn). Tổng lượng tiền mà các Ngân Hàng huy động, vượt hơn 10 lần tăng trưởng tín dụng (3). Nếu quy đổi ra USD thì trong tổng số vốn huy động gần 145 tỷ USD, toàn hệ thống Ngân Hàng chỉ cho vay và đầu tư vào trái phiếu chính phủ chưa tới 10 tỷ USD. Dễ dàng nhận ra rằng, tất cả vốn huy động chỉ dành cho mục tiêu cứu thanh khoản của toàn hệ thống. Đối chiếu với lời xác nhận đầy "lạc quan" của Phó Thống Đốc Ngân Hàng Lê Minh Hưng trong buổi họp mặt tổng kết cuối năm 2012 với các tổ chức tín dụng trong, ngoài nước, con số được cho là sát thực tế 10 tỷ USD của cán cân vãng lai thặng dư tổng thể. Có thể nhận ra rằng, hệ thống Ngân Hàng Việt Nam đang phạm một sai lầm chết người, đe dọa đến tính ổn định của toàn hệ thống về thanh khoản do sai lầm kép ở cơ cấu thời hạn và cơ cấu đồng tiền. Hầu hết các vốn huy động được của hệ thống Ngân Hàng đều ở mức ngắn - trung hạn, không quá 12 tháng. Hiện tại trong năm 2012 toàn hệ thống đã phải chi trả lợi tức cho số tiền huy động được trừ lùi gối đầu theo kỳ hạn tín dụng, một con số không nhỏ, gần gấp đôi số thâm hụt cán cân thương mại 2010 giữa VN - TQ, gần 25 tỷ USD (lấy tròn) (5). 10 tỷ USD chỉ như muối bỏ bể. Những lời bao biên như: lo sợ cán cân trong quan hệ USD/VND của nợ công, sợ nhập khẩu lạm phát mà không dám phá giá VNĐ của NHNN, chẳng qua chỉ là che dấu sự lo ngại một cuộc khủng hoảng thanh khoản tái phát do người gửi sẽ ồ ạt rút tiền để chuyển hóa thành USD, vàng, nếu NHNN VN chỉ cần phá giá VND trong biên độ 0,5 - 1%. Vì những người có tiền, hiện nay chẳng ai dại gì chỉ nắm giữ VNĐ. Công thức để bảo toàn đồng vốn phổ biến hiện tại: 1/2 vàng - 1/2 VND hoặc 1/3 vàng (hoặc thứ tương đương như kim cương) - 1/3 USD - 1/3 VND. Số lợi tức thu được từ VND gửi trong các tổ chức tín dụng sẽ được chuyển hóa lại thành vàng, USD. Lãi xuất và biến động tỷ giá, dĩ nhiên sẽ được người gửi tiền theo dõi, tính toán sát sao một cách "thông minh dân gian". Trong giai đoạn này, các Ngân Hàng để tự cứu tính thanh khoản của mình, chỉ còn nước chạy đua tăng lãi xuất. Hiện nay các Ngân hàng liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài hầu như chỉ huy động được USD mặc dù lãi xuất cực thấp. Ngược lại hầu hết 35 Ngân hàng thương mại ngoài nhà nước cũng như 5 Ngân hàng nhà nước hầu như chỉ huy động được VNĐ. Trong cuộc chiến tiền tệ này, người dân là người "gửi tiền thông minh". Hệ thống Ngân Hàng VN, phải ngậm đắng nuốt cay, mỗi tháng phải chi ra không dưới 1,8 tỷ USD, cho người gửi tiền. Không có cách nào khác, nếu như NHNN, không muốn sụp đổ cả hệ thống. Hiện tại, NHNN VN đang lâm vào thế bị động, nếu không muốn nói đang lâm vào thế bí, trong cuộc chiến tiền tệ với người dân. Với lượng tiền huy động vượt quá mười lần tăng trưởng tín dụng để cứu thanh khoản và với lãi xuất phải trả cho người gửi đến mức không chịu đựng được, hệ thống Ngân Hàng VN nói riêng và nền Kinh tế VN, sự tồn vong của Đảng CS VN nói chung, đang trên miệng vực sâu. Đây chính là cuộc chiến giữa Bạo lực cách mạng và sự thông thái dân gian, giữa sự "giảo hoạt có tính toán" và "sự chịu đựng kiềm chế, ngắn hạn trong hiện tại và sự bất tín nhiệm vô hạn, trong tương lai". Một thể chế Chính trị không được sự ủy nhiệm đồng thuận của dân chúng sẽ chi phối nền Kinh tế của quốc gia đó ở một mức độ giới hạn, trong một giai đoạn ngắn hạn. Một hình thái kinh tế tương hợp với ý nguyện của Đất nước sẽ quyết định thể chế Chính trị tương thích, trong tương lai dài hạn. Với những kinh nghiệm đau xót trong quá khứ qua những chiến dịch "Đánh Tư sản mại bản", "Cải tạo Công thương nghiệp" X1, X2, X3, X4, X5...Người dân Việt Nam hiện nay quá đủ kinh nghiệm để bảo vệ tài sản của mình một cách thông minh nhất.+ Thử nghĩ xem. Đà Lạt 12/02/2012 (Mùng 2 Tết Đinh Tỵ) Oanh Yến Thị Phạm
......

Quân Đội, Những Người Lính Của Nhân Dân Các Anh Còn Ngủ Đến Bao Giờ ?

Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.  Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.  Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.  Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . . Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?  Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.  Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”. Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha. Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”. Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam , nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam , khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này.  Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.  Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.  Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay: “Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . .”  Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.  Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”? Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.  Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợhãi. Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.  Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó. Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây. Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.  Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân như các mợ Tầu. Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nối tiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.  Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng? Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu để cắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”? Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở. Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọ này đã bôi nhọ mặt chúng ta!” Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng? Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộchính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng? Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bị tiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước. Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.  1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.  2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt. Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình. Nếu như năm 1945, cha anh họ là các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.  Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họ là những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.  Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”. Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh. Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà“  DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ. Tại sao lại là hổ và dê? Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn. Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽ thấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phần sống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó. Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻ dựng lên công trình bauxite Tây nguyên? Bauxite ư? Trò lừa đảo! Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam , tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thế giới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?  Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họ là trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều. Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.  Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộ bây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ. . . ” Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà.Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, trụy lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.  Bác chúng em Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”. Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản. Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.  Tôi chứng minh:Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từ phương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụ đã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợ chẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.  Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻ ngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏ mặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn! Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sự chuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân. Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trở thành kẻ thù của nhân dân. Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệ ông chủ của nó? Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉ đã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và “Đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi”.  Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết. Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?  Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họkhông dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ? Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trả lời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứ hai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.  Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lên ủng hộ gia đình nạn nhân, con số lên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộ chưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.  Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thế căm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân. Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa như ông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họ cũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờ tương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ở Nga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi.  Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cả thì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ. Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗi con người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản để chủ nghĩa cuồng tín không thể đặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.  Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉ để làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (như ông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộ và các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổ dưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân. . .  Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.  Dân Việt : Ai là dân Việt? Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia? Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều? Ngoài các lý do về nhu cầu bờ biển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.  Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được. Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.Đó là một nhận định sáng suốt. Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúng ủng hộ xâm chiếm Việt Nam . Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.  Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ 21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉ làm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổ họng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.  Vì lý do nào mà bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định? Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam , phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương? Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tự nguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán? Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời. Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi để chống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.  Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam . Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “ Nam tiến”! Nam tiến, nam tiến và nam tiến! Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sự dưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.  Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta. Bây giờ, chúng ta không còn cơ hội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu? Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.  Để giữ được non sông, để có thể là người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, một chính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.   Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”.  Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình. Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉ luỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộ lông của chính nó mà thôi. Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc. Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại số phận bi thảm của An Dương Vương. Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội không đứng lên cùng với họ. Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ? Dương Thu Hương http://son-trung.blogspot.de/2013/02/duong-thu-huong-quan-oi-ngu-guc.html
......

Trí thức không thể quẩn quanh trong tháp ngà khoa học

Đáng buồn “trí thức trùm chăn” có vẻ nhiều lên, hoặc không thì cũng là “số đông im lặng”, thụ động. Nguyên nhân có cả ở tư cách “kẻ sĩ” của trí thức ngày nay yếu ớt và cả ở một xã hội dễ trùm chăn ru ngủ trí thức. Tạo Hóa cho con người ta không ai giống ai, khác nhau cả về hình dáng, tâm tính, suy nghĩ. Do vậy, trước mỗi sự kiện, hiện tượng, vấn đề có những cách nhìn nhận khác nhau, có những ý kiến khác nhau là chuyện thường, có thể nói đó là một bản tính tự nhiên. Tự nhiên mà giống nhau cả thì còn gì là tự nhiên. Và khi con người hợp thành xã hội thì lại lẽ tự nhiên là không có một vấn đề xã hội nào được đồng thuận tuyệt đối, được đồng thuận ngay từ đầu, mà luôn phải chịu sự tranh luận, xem xét, xoay ngang đảo ngược, tóm lại là phải chịu sự “phản biện” của mọi thành phần xã hội. Trí thức là thành phần xã hội có tri thức và hiểu biết, có năng lực nhận thức và xét đoán khoa học, có tính cách độc lập và tư cách phát ngôn. Hai chữ “phản biện” dùng cho trí thức là đúng lắm. Phản biện đây là theo tinh thần hoài nghi khoa học trước mọi vấn đề, là chỉ tin khi đã được thuyết phục bằng lý tính, là tranh luận bàn bạc trong không khí tự do dân chủ thực sự để cùng nhau tìm ra sự thật và chân lý. Phản biện là bác bỏ để chấp nhận, không phải là “nói ngược” cho sướng miệng, cho hả tức giận, càng không phải là để tạo cớ nổi tiếng. Phản biện đúng là một vai trò quan trọng, không thể thiếu của trí thức, cả trong lĩnh vực chuyên môn và cả trong các vấn đề xã hội. Tên gọi “trí thức trùm chăn” không phải bây giờ mới có. Nó là để chỉ một bộ phận trí thức quay lưng lại thực tại xã hội, nhắm mắt bịt tai trước những vấn đề bức xúc, cấp thiết của nhân quần, chỉ quẩn quanh trong tháp ngà khoa học, cho rằng mình chỉ cần làm tốt công việc chuyên môn là đủ, không cần dính dáng gì đến chính trị, thời sự. Loại trí thức này thường bộc lộ vào những thời điểm lịch sử có nhiều biến động lớn, trong các phong trào cách mạng xã hội sôi động, khi cần tiếng nói và hành động của tầng lớp trí thức như những phần tử tinh hoa của xã hội thúc đẩy sự vận động của đời sống theo hướng tích cực. Nhưng ngay cả vào những thời điểm quyết liệt, khủng hoảng nhất, bộ phận “trí thức trùm chăn” vẫn không phải là tiêu biểu, vẫn có nhiều trí thức dám dấn thân và xả thân cho đất nước. Thành công của cách mạng và kháng chiến ở nước ta hơn nửa thế kỷ qua là có phần đóng góp quan trọng của các trí thức dấn thân đó. Đáng buồn hiện nay “trí thức trùm chăn” như có vẻ nhiều lên, hoặc không thì cũng là “số đông im lặng”, thụ động. Nguyên nhân có cả ở tư cách “kẻ sĩ” của trí thức ngày nay yếu ớt và cả ở một xã hội dễ trùm chăn ru ngủ trí thức. Sự xuất hiện của hai từ “phản biện” không chỉ trong lời lẽ thông thường mà cả trong các văn kiện chính trị cho thấy giới trí thức, ở những đại diện dũng cảm của mình, đã không cam chịu đánh mất vai trò như đã nói trên của mình. Họ lên tiếng tại nhiều diễn đàn công khai và chính thức, họ viết các kiến nghị, các tâm thư, các yêu cầu gửi các cấp chính quyền, họ viết báo viết mạng bày tỏ ý kiến chính kiến của mình, tất cả đều căn cứ vào một điều hiến định là “tự do tư tưởng, tự do ngôn luận”. Xã hội đã quen dần và chính quyền đã chịu dần sự phản biện của trí thức. Tuy nhiên, để nói tới một phong trào phản biện sôi nổi, nghiêm túc, có người nói và người nghe, có phản và có biện, nói thẳng và nói thật, tiếp thu và trao đổi, bình đẳng và khách quan, thì quả thực những người trí thức dũng cảm vẫn đang là đơn độc. Trí thức thụ vốn tự bản chất không hèn, nhưng có một cái sợ khiến họ phải hèn, hoặc tự làm hèn. Kể ra trí thức bị hèn vì sợ thì không còn là trí thức đúng nghĩa nữa. Nhưng vậy thì đội ngũ trí thức bao năm qua xây dựng mà không đúng nghĩa là trí thức thì lỗi do đâu? Câu hỏi này tôi nghĩ cần phải được phản biện mạnh mẽ. Dịp này cả nước đang thảo luận góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, một điều tôi muốn đề xuất là: những gì đã được hiến định (như quyền biểu tình, quyền lập hội, quyền tự do tư tưởng, ngôn luận) thì phải nhanh chóng cụ thể hóa thành luật để nhà nước và nhân dân thi hành, và không ai được có quyền vi hiến. Khi đó tôi tin phản biện xã hội của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là của giới trí thức, sẽ là một công cụ đắc lực phát triển xã hội.
......

Chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng

Để kết thúc một năm cũ   Việc những người nông dân mới đây ký tên vào Lời kêu gọi do những trí thức khởi xướng và việc những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa ký tên vào văn bản do những người cộng sản soạn thảo đã làm tôi nghĩ đến điều này : chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Không ai phủ nhận được sự khác biệt giữa các cá nhân, sự khác biệt giữa các vùng miền, giữa các tầng lớp có nghề nghiệp khác nhau, có mức độ tài sản khác nhau… Nhưng liệu có thể phân biệt một cách hết sức rạch ròi giữa người miền Nam và người miền Bắc, giữa công nhân, nông dân và trí thức, giữa người trong nước và người sống ở hải ngoại ? Có thể nào vạch ra một ranh giới rõ rệt giữa những con người, có thể nào phân chia con người thành những chiến tuyến bất di bất dịch ? Có lẽ chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Thế nên những người chống cộng sẽ có một ngày ngỡ ngàng chứng kiến một nghệ sĩ cộng sản (mà nếu có sang biểu diễn ở Cali rất có thể sẽ bị họ tẩy chay) từ chối nhận bằng khen của người đứng đầu chính phủ mà bà cho là « làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân ». Nhưng Kim Chi nói là bà không chống cộng, bà chỉ chống cái xấu, cái ác, sự hủy diệt. Có lẽ những người chống cộng cũng đã không chống cộng nếu sau khi chiến tranh kết thúc họ được sống trong tình nhân ái, họ được đối xử bình đẳng, được nhìn nhận như là nạn nhân của một hoàn cảnh cụ thể chứ không phải như kẻ thù không đội trời chung, nếu họ có một cuộc sống bình an, có một cuộc sống của con người. Chúng ta cùng có những nỗi niềm, dù có thể khác nhau nhưng đều là những nỗi niềm. Các nhà văn miền Nam phải vào trại cải tạo dĩ nhiên bị tổn thương. Còn các nhà văn miền Bắc phải bị giam cầm như nhóm Nhân Văn, Hoàng Hưng, Hoàng Cầm, Dương Thu Hương, Bùi Ngọc Tấn… có bị tổn thương không ? Chúng ta đều tổn thương, với các mức độ khác nhau nhưng đều tổn thương. Sao vẫn không hết nhu cầu tiếp tục làm tổn thương nhau ? Tuổi thơ tôi từng trải qua những đêm dài bên bếp lửa mùa đông, ba tôi đọc cho chúng tôi nghe những câu thơ về miền Nam, và ông khóc. Giảng viên và sinh viên miền Bắc tìm đọc các tác giả Trần Thái Đỉnh, Lê Tôn Nghiêm, Hoàng Ngọc Biên, Nguyễn Mộng Giác, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền…với tất cả sự yêu mến chân thành của họ. Nhiều sinh viên miền Bắc ngày nay hứng thú làm các bài tập nghiên cứu về các nhà văn nhà thơ đô thị miền Nam trước 75, những nhà văn nhà thơ mà sinh viên ở không ít trường đại học miền Nam cho đến thời điểm này vẫn không được tiếp cận trong phạm vi trường đại học. Vậy sao không tin là người miền Bắc thật lòng với miền Nam ? Sao có thể gộp tất cả những người sống ở miền Bắc vào cái danh từ « người miền Bắc » đầy định kiến? Hỏi thì hỏi vậy, nhưng tôi và nhiều người khác đều hiểu cái quá khứ đau thương mà người miền Nam phải trải qua sau khi chiến tranh chấm dứt. Điều quan trọng là một bộ phận nhỏ trong xã hội, ở cả hai miền, bộ phận lãnh đạo có khả năng và trách nhiệm thực hiện quá trình hóa giải cho nỗi đau của những người dân của hai miền, cái bộ phận ấy cho đến giờ vẫn chưa có những động thái cần thiết cho sự hòa giải. Tại sao những người lãnh đạo lại phải nhìn đồng bào của mình như những kẻ thù truyền kiếp ? Tại sao không thể nhìn nhận họ như là nạn nhân của thời cuộc, không hiểu rằng họ đã chẳng có lựa chọn nào khác ? (Mà suy cho cùng, có sai không khi nói rằng tất cả, bên này hay bên kia, đều là nạn nhân của thời cuộc ? ) Tại sao không thể đối xử với họ như là đồng bào, và như là con người ? Tại sao không thể làm như Nelson Madela ? Tại sao giờ đây vẫn cứ phải tiếp tục nhìn đồng bào mình như những kẻ thù, tại sao vẫn phải luôn tìm kiếm kẻ thù, tại sao cứ phải biến mọi người thành kẻ thù, kể cả khi chiến tranh đã kết thúc? Ngày nay khắp nơi đều xảy ra cảnh bất công. Nông dân trong Nam bị cướp đất, còn nông dân ngoài Bắc thì không ư ? Còn ai là không biết tới các vụ Tiên Lãng, Văn Giang, Nam Định ? Công dân trong Nam « thắt cổ tự tử » chết trong đồn công an, còn công dân ngoài Bắc bị công an đánh chết công khai. Giờ đây còn ai không biết tới bi kịch của gia đình chị Thanh Tuyền và chị Kim Tiến ? Và càng ngày càng nhiều người phải vào tù vì các hoạt động đấu tranh cho quyền con người, cả ở miền Nam cũng như miền Bắc. Bắc hay Nam có khác gì nhau ? Những người như tôi là người ở đâu ? Sinh ra lớn lên ở miền Trung, từng làm việc ở miền Bắc và giờ đây sống ở miền Nam, tôi chẳng là người của miền nào, hay là người của cả ba miền ? Điều mà tôi biết rõ : tôi là người Việt Nam. Liệu chúng ta có thể không chỉ nhìn mình như là người của một vùng nào đó, không chỉ nhìn mình như là người của một giới nào đó, để có thể vừa nhìn thấy mình vừa nhìn thấy cả người khác, để thấy rằng chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng ? Nếu một người như André Menras Hồ Cương Quyết có thể kiêu hãnh giơ tấm chứng minh thư lên để tự xác nhận mình là người Việt Nam thì chúng ta có nên cứ giữ mãi cái ranh giới bắc nam như một vết thương không bao giờ khép miệng ? Chúng ta có nhiều thứ chung hơn là chúng ta tưởng, cho dù chúng ta ở bên nào : bên bị đạp vào mặt hay bên đạp lên mặt người khác, bên phải vào tù vì can đảm dám nói lên sự thật hay bên phải bịa ra những bản án kết tội những người vô tội. Dù chúng ta là những dư luận viên hay là những người cầm bút để phản biện thì hàng ngày có thể chúng ta vẫn đi trên cùng những con đường dưới cùng những hàng cây, thở cùng một loại không khí, uống cùng một nguồn nước, ăn cùng những thực phẩm như nhau. Con cái chúng ta có thể chơi đùa trong cùng một công viên, có thể đến cùng một trường học, có thể sẽ được dạy dỗ bởi những người thầy cất tiếng nói phản biện vì mong muốn một tương lai tốt đẹp cho học sinh sinh viên của họ. Một vài người thầy trong số đó, như Đinh Đăng Định, đã chấp nhận chịu bất công, chịu bị trừng phạt với hy vọng rằng con cái của chúng ta, con cái của chính các dư luận viên có một xã hội công bằng hơn, nhân văn hơn, có những trường học tiến bộ hơn, chất lượng hơn và không phải đi nước khác để tị nạn giáo dục. Chúng ta đón cùng một cái tết, ăn cùng một loại bánh chưng. Chúng ta có cùng một quá khứ, có cùng một nguồn cội, có cùng những nỗi đau. Dù chúng ta là kẻ gây ra nỗi đau hay là kẻ chịu đựng nỗi đau thì đó cũng là nỗi đau chung của chúng ta. Và ngày nay chúng ta cùng đối diện với những vấn nạn chung của xã hội, với cái nguy cơ chung là an ninh quốc gia bị đe dọa. Dù có tạo ra khác biệt cỡ nào về quyền lực và vật chất, khi tước đoạt tự do của toàn xã hội thì thiểu số quyền lực và giàu có cũng không có tự do đích thực, tất cả đều cùng bị đẩy vào trạng huống của những kẻ nô lệ. Dù chúng ta có đứng về phía nào, phe nào, phái nào, dù chúng ta có mạt sát nhau, gây tổn thương cho nhau, trừng phạt nhau đến mức nào, thì khi mất nước chúng ta sẽ cùng là những kẻ nô lệ. Chúng ta giống nhau hơn là chúng ta tưởng. Sài Gòn, ngày 15/1/2013Nguyễn Thị Từ Huy http://www.diendan.org/viet-nam/chung-ta-giong-nhau-hon-la-chung-ta-tuong
......

Tết của dân oan tại vườn hoa Lý Tự Trọng

Tết Quí Tị năm nay dân oan từ các tỉnh kéo về Hà Nội khiếu kiện đã giảm bớt vì một số được công an đưa lên xe chở về nguyên quán, trong lúc vườn hoa Mai Xuân Thưởng bị phong tòa và vườn hoa Lý Tự Trọng thì chỉ còn mười mấy người ở lại vì không có nhà để về. Tết lạnh lẽo nơi công viên Vào những ngày trước Tết, công an phường Thụy Khuê, khu vực có nhiều dân oan tụ họp quanh năm để khiếu kiện nhà đất, được lệnh phong tỏa vườn hoa Mai Xuân Thưởng để dân oan không thể lui tới. Tiếp đó, công an đến ngay trụ sở tiếp dân ở Hà Nội, buộc một số dân oan tỉnh Dak Nông lên xe về nguyên quán phía Nam, trong lúc một số khác được người dân ở Dương Nội, Hà Đông, cho tá túc mấy ngày Tết: Sau hôm đó bà con đã được ở nhờ một gia đình người nông dân tốt ở Dương Nội. Đấy là hôm 26 Tết. Đó là lời bà Lê Hiền Đức, người thường sát cánh hỗ trợ dân oan trong những vụ khiếu kiện nhà đất bị trưng thu với tiền đền bù không thỏa đáng: Đến 27 Tết, một công an ở Hà Đông gọi điện: “Cụ ơi cụ bảo dân phải về Dak Nông lấy giấy giới thiệu của địa phương mới được đăng ký tạm trú. Hai sáu hai bảy Tết rồi, bảo người ta về địa phương để lấy giấy giới thiệu thì thà rằng sang 26 người ta lên ô tô người ta về cho nó xong. Sau đó tôi lại báo cáo lên cấp trên và cuối cùng thì bà con báo với tôi là được tạm cho ở mấy ngày. Đấy là nhóm người Dak Nông trụ lại ở Dương Nội.Còn một số khoảng độ mười chín người dân oan Hải Phòng và một số các tỉnh khác nữa, đêm giao thừa không có chỗ nào nương tựa cả thì vẫn nằm trong lều ở vườn hoa Lý Tự Trọng. Tám giờ tối đêm 30 Tết công an phường Thụy Khuê lại ra đấy. Được biết bà con bị cướp một số quà Tết, bánh chưng rồi mứt rồi thì phong bì tiền rồi điện thoại rồi mì tôm vân vân… Đó là những thứ quà mà dân oan được người Hà Nội và một vài tổ chức hảo tâm ghé cho, trong đó phải kể đến những người tốt bụng ở Văn Giang và Dương Nội. Cảnh màn trời chiếu đất của người dân oan đêm 30 Tết. Blog Nguyentuongthuy Không phải đợi đến tối 29 chạy 30 Tết mà trước đó mấy ngày, từ 27 Tết, công an đã đến vườn hoa Lý Tự Trọng, phát cho những người ở lại mỗi người hai trăm ngàn đồng và thuyết phục họ giải tán. Bà Cúc, dân oan Thanh Hóa từ năm 2005 tới giờ, cho biết: Đêm 30 Tết họ đánh xe ra họ cho công nhân dọn vệ sinh, họ không đuổi nhưng mà cho nằm ở vỉa hè vườn hoa đến mai sớm là phải ra ngoài. Mùng Một Tết đi đến các cơ quan, còn mùng Hai thì tôi đang ngồi ở vỉa hè của vườn hoa Lý Tự Trọng. Bữa nay còn mười chín người, cũng sợ lắm, sợ họ đuổi thành đứng ngồi cũng không yên. Nhà tôi họ phá đi một nửa còn một nửa sắp rồi không còn nơi ở. Ở đây dân thương mình thì người ta cho chứ còn nhà nước thì chẳng ông cán bộ nào ra cả, chỉ có cho hai trăm mà phải ký vào bản cam kết là không được ở vườn hoa, không được đi đến nhà các ông để chúc Tết. Chúng tôi không ký vào bản cam kết mà cũng không lấy hai trăm ngàn. Bữa 30 Tết thì cái chú công an ấy ra mừng tuổi cho tôi một chục ngàn. Còn đến mùng Một là có chú đó ra mừng cho năm chục ngàn, những người khác được người chục ngàn người được hai chục. Có sao thì tôi nói vậy, nhưng mà không ăn ở được yên ổn, cứ ra ngoài trời ở chứ không được sự quan tâm của nhà nước cái gì cả. Photo by Blog Nguyentuongthuy Cũng có mặt ở vườn hoa Lý Tự Trọng cho đến sáng mùng Hai này là sư cô Đàm Bình, đi khiếu kiện hơn năm năm nay: Ngày 27 thì họ ra họ hốt đồ, ngày 28 coi như công an đến giải thích là nhân hỗ trợ hai trăm để vào nhà trọ. Tôi thì chính quyền chiếm hết chùa chiền rồi, không còn chỗ ở, tôi bảo tôi không có tài sản gì tôi cứ ở vườn hoa chứ không đi đâu cả. Thế thì bà con cũng đi sơ tán khỏi nơi ấy, đến 1 giờ  sáng bắt đầu trở về vườn hoa. Đến đêm 30 thì công an lại đến hốt đồ lúc 11 giờ đêm, bao nhiêu đồ đạt chăn màn của bà con không mang theo được thì lại dấu vào thùng rác ở công viên. Họ ra  họ dọn rác  thì họ lấy hết cả chăn màn ở cái thùng rác. Bây giờ bà con không có chiếu,người còn mảnh chăn đắp người thì không có. Người nào không nhận hai trăm đi nhà trọ là họ không cho một cái gì hết. Không được đi thăm các lãnh đạo nhà nước Vẫn theo sư cô Đàm Bình, niềm an ủi trong đêm Tết lạnh lẽo nơi công viên là năm nay có nhiều đoàn thể đi phát quà cho dân oan hơn những năm trước. Rất là đông các đoàn phát quà rồi bánh kẹo là hơn mọi năm chứ mọi năm thì không ai dám cho dân oan, họ bảo dân oan là không ai được liên quan không ai được cho. Nếu mà ai không nhận tiền hai trăm để đi vào nhà trọ hoặc về quê ăn Tết thì phải cam kết không được ở vườn hoa, không được đến nhà riêng của các cán bộ cấp cao để gây rối trật tự công cộng. Cụ Ngọc, dân oan đón giao thừa ở vườn hoa Lý Tự Trọng. Blog danoan Về vấn đề nhận hai trăm ngàn của công an đưa để vào nhà trọ hoặc đi nơi khác, một dân oan khác trong số mười chín người ở lại vườn hoa Lý Tự Trọng, bà Hải, quê ở Ninh Bình, giải thích cặn kẻ hơn: Nội dung của giấy mà công an thành phố Hà Nội đưa cho chúng tôi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc, Giấy Cam Kết … Họ Tên…Địa Chỉ, họ photo sẵn là “Tôi được Đảng và Nhà Nước quan tâm giúp đỡ để về quê ăn Tết số tiền hai trăm nghìn, và tôi xin cam kết trong dịp Tết này không có mặt ở vườn hoa, không ra vườn hoa và không đến nhà các cơ quan và lãnh đạo nhà nước. Ký tên” Tuy nhiên, theo lời bà Cúc ở Thanh Hóa, bà Hải ở Ninh Bình cũng như sư cô Đàm Bình, vì không nhận  hai trăm ngàn và không ký vào giấy cam kết, nên sang mùng Một tất cả mười chín dân oan đã từ vườn hoa Lý Tự Trọng kéo đi chúc Tết lãnh đạo: Bà con chúng tôi có đi đến nhà ông Nguyễn Phú Trọng, đến nhà ông Nguyễn Sinh Hùng, sau đó chúng tôi đến số 72 Cơ Quan Liên Hiệp Quốc ở tại Việt Nam chúng tôi ghi tên, sau đó về đến chỗ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và ông Trương Tấn Sang là chủ tịch nước. Khác với mọi năm, mọi người cho biết tiếp, năm nay dân oan đi chúc Tết lãnh đạo đã không bị công an đuổi và đều được ghi tên. Chỉ riêng tại tư dinh thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang là dân oan không được ghi tên mà thôi.   Nguồn: RFA
......

Hiến pháp, những “trò khỉ” và chuyện góp ý hay không

Năm 2013 khởi đầu bằng một sự kiện mà tới bây giờ vẫn còn rất “nóng”, đó là chuyện Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 của Đảng, công bố “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992” để công chúng góp ý. Xét về tính chất thì đây là một “sinh hoạt chính trị” do Đảng đề xướng và thực tế cho thấy là đến giờ, Đảng đã đạt được một số “thành quả nhất định” từ đợt “sinh hoạt chính trị” này. Nhiều blogger, facebooker đã nêu ý kiến, thảo luận về các góp ý cho “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992”. Trong đó, đáng chú ý nhất là “Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp” do 72 nhân sĩ, trí thức khởi xướng (ở đây, mình xin tạm gọi là “Kiến nghị 72”). Ngoài 7 đề nghị cụ thể, 72 vị nhân sĩ, trí thức khởi xuớng “Kiến nghị 72” còn giới thiệu một bản Hiến pháp do họ tự soạn thảo với 9 chương và 81 điều (1). Tính đến ngày 5 tháng 2, sau 12 đợt thu thập chữ ký, “Kiến nghị 72” có hơn 2.500 công dân thuộc đủ các vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, tuyên bố ủng hộ. Tuy nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” vẫn còn tổ chức thu thập chữ ký ủng hộ “Kiến nghị 72” nhưng hôm 4 tháng 2 vừa qua, họ đã cử 15 vị đại diện đến Văn phòng Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp, để trao “Kiến nghị 72”. Nói cách khác, nhóm khởi xướng “Kiến nghị 72” và những công dân tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đã làm xong công việc của họ, theo đúng đề nghị của Đảng. Phải chờ “hồi sau mới rõ” Đảng sẽ thực thi trách nhiệm của phía “xin góp ý” với bên đã tích cực “cho ý kiến” như thế nào. Dù chưa biết Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” và ứng xử với cả “Kiến nghị 72” lẫn những người tuyên bố ủng hộ kiến nghị ra sao, song mình vẫn thấy việc soạn thảo, tuyên bố ủng hộ, gửi “Kiến nghị 72” cho Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp là điều hết sức cần thiết. 1. Trong 68 năm ở vị trí tổ chức chính trị nắm giữ quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội tại Việt Nam (1945-2013), Đảng đã “chế tạo thành công và đưa vào sử dụng” năm bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2001 – bản sửa đổi bản 1992 và đây mới thật sự là bản Hiến pháp hiện hành). Nếu mình không lầm thì cả trong lịch sử nhân loại, lẫn pháp chế sử của loài người, Đảng CSVN là tổ chức chính trị duy nhất lập – giữ kỷ lục về “chế tạo và sử dụng Hiến pháp”. Dưới “sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt” của Đảng, “Hiến pháp” trở thành một thứ áo khoác, thường xuyên được cắt – may “cho phù hợp với tình hình và nhiệm vụ trong giai đoạn mới”, “bảo đảm vai trò lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng” tại Việt Nam. Khi “Hiến pháp” không còn nguyên nghĩa và được “chế tạo, sử dụng” như một thứ áo khoác, có lẽ không ngoa nếu gọi đó là “trò khỉ”. Riêng với Hiến pháp, Đảng đã có năm lần chơi… “trò khỉ” và hình như Đảng toan giở “trò khỉ” thêm một lần nữa. Sở dĩ mình nói như thế vì lần này, kế hoạch “sửa đổi Hiến pháp” cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một thứ “trò khỉ”. Nếu không có thời gian đọc, phân tích nhưng muốn biết “trò” này “khỉ” đến mức nào, các bạn ít theo dõi thời sự có thể tìm xem “Teo dần quyền con người trong Hiến pháp” của bác Hoàng Xuân Phú (2). Dẫu thấy và đã chỉ ra rất rõ, rất thuyết phục về “tính khỉ” trong trò khỉ mang tên “sửa đổi Hiến pháp 1992” nhưng bác Phú vẫn tham gia nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72”. Vì sao? Phải chăng cả bác Phú lẫn 71 vị còn lại trong nhóm soạn thảo, gửi “Kiến nghị 72” và hơn 2.500 công dân đã chính thức tuyên bố ủng hộ kiến nghị này đều ngây thơ và làm chuyện hết sức vô ích như bạn Kami nhận định trong bài “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” (3)? Suy nghĩ mà bạn Kami trình bày qua “Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp?” khá phổ biến nhưng theo mình, lối suy nghĩ và cách hành xử đó không đúng trong bối cảnh như hiện nay. Tên tuổi, lai lịch của từng vị trong danh sách 72 vị khởi xướng “Kiến nghị 72” cho thấy, có ráng cũng không thể xếp bất kỳ ai vào diện “ngây thơ”. Tất cả đều thuộc nhóm “dư hiểu biết và thừa kinh nghiệm” cả về Đảng lẫn hiện tình chính trị Việt Nam. Mình không tin có vị nào trong số 72 vị này tin chắc, rằng Đảng sẽ tiếp nhận “Kiến nghị 72” một cách vui vẻ, trọng thị và xem xét kiến nghị đó một cách nghiêm túc. Vậy thì tại sao họ vẫn soạn – giới thiệu – kêu gọi ủng hộ – gửi? Mình không dám võ đoán nhưng nếu mình là Đảng thì rõ ràng “Kiến nghị 72” là thứ rất khó nuốt nhưng không nuốt thì cũng giống như tự khắc họa cho “tính khỉ” của “trò khỉ”, được đặt tên là “sửa đổi Hiến pháp 1992” rõ nét hơn và thiên hạ thêm chán ghét hơn.. “Kiến nghị 72” cũng có thể sẽ tiếp tục vào sọt rác như nhiều kiến nghị khác nhưng với mình, tất cả các kiến nghị đã bị Đảng xem như rác đều có giá trị. Nó là hình thức nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng rằng, càng ngày, càng nhiều nhân sĩ, trí thức, công chúng thuộc đủ mọi vùng, miền, thành phần xã hội, tôn giáo, kể cả cán bộ, Đảng viên của Đảng, không đồng tình với những việc Đảng làm. Rằng các hình thức trấn áp không còn hiệu quả nữa. Rằng tất cả các trò bịp bợm sẽ bị vô hiệu hóa, sẽ trở thành phản tác dụng và tất nhiên, “mỡ nó” sẽ được dùng để “rán nó”… Thành ra, nếu bạn cũng muốn nhắc nhở Đảng một cách công khai và rất đường hoàng như vậy, hãy tuyên bố ủng hộ “Kiến nghị 72” bằng chữ ký của bạn. 2. Sẵn dịp Đảng mời gọi góp ý “sửa đổi Hiến pháp 1992”, mình muốn thưa riêng với các bác lãnh đạo Đảng đôi lời. Thưa các bác, trong chính trị, niềm tin là một loại “vốn đặc biệt”. Do ngu dốt, chủ quan, lại còn tham và ác, các bác đã tiêu sạch khoản “vốn đặc biệt” này. Lẽ ra nên ngừng “chơi”, các bác vẫn muốn “gỡ gạc” bằng cách bày thêm một ván bài nữa. Trong ván bài “củng cố và giữ quyền lực”, các bác không chỉ đã “cháy túi” mà thiên hạ còn tỏ tường việc các bác chuyên đánh “bạc bịp”. Trò “sửa đổi Hiến pháp 1992” do các bác bày ra giống như chuyện “lột nốt” và “đặt cược” bằng “cái quần đùi”. Nó vừa thảm hại, vừa nhiều rủi ro. Ở tình thế như hiện nay, các bác nên làm cho thiên hạ thương, đừng tiếp tục hành xử theo kiểu vừa gian, vừa láo. Các bác cũng nên thôi hoang tưởng về khả năng “Muôn năm trường trị. Nhất thống giang hồ” như Nhậm Ngã Hành trong “Tiếu ngạo giang hồ” của Kim Dung. Hãy xem “Kiến nghị 72” là một cơ hội. Bỏ qua cơ hội cuối cùng này, các bác sẽ mất luôn cái “quần đùi”, hoàn toàn trần truồng, ở không được mà về cũng chẳng còn lối. Đ.P.V. 08-02-2013 ——- Chú thích (1) Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992 (2) Teo dần quyền con người trong Hiến pháp (3) Vì sao tôi không góp ý và ký kiến nghị sửa đổi Hiến pháp? Nguồn: Đồng Phụng Việt  
......

Đến lượt thủ tướng phản công

Đến nay thì phần lớn công luận đều thừa nhận hội nghị trung ương 6 là một thất bại thảm hại của phe Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Tuy nhiên, sở dĩ có nhận định đó là vì mức chờ đợi của xã hội đã lên quá cao cùng với các tuyên bố đầy hứa hẹn trước hội nghị, chứ khó có thể xem hội nghị 6 là thắng lợi của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tuy kết quả sau cùng là xé được bản quyết định kỷ luật của Bộ Chính Trị nhưng uy tín và sĩ diện của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng bị sứt mẻ đáng kể, từ việc trở thành trò cười "đồng chí X" đối với cả nước đến việc bị coi là không xứng đáng nắm ghế trưởng ban chỉ đạo chống tham nhũng nữa, v.v. Chính vì vậy mà nhiều người chờ đợi ông Nguyễn Tấn Dũng, với quyền lực tài chính và công cụ công an còn nguyên trong tay, sẽ lập tức phục hận. Nhưng quả đúng với bản chất nhiều mưu trí của ông Dũng – mà tùy góc nhìn, có người xem là "bản lãnh", có người gọi là "hiểm độc" – ông đã tạm án binh bất động để ổn cố lại hàng ngũ dưới trướng. Ông chỉ đi đó đây thăm các đơn vị công an, sinh viên để hô hào phải có “liêm sỉ”. Trong khi đó, phe 2 ông Sang - Trọng liên tục ra tay: Từ việc chính thức chỉ định ông Nguyễn Bá Thanh, bí thư Đà Nẵng, ra Hà Nội làm Trưởng ban Nội chính Trung ương vừa tái lập; đến rình rang công bố các thành viên thuộc 3 ban của đảng gồm Ban Nội Chính, Ban Kinh Tế, Ban Chống Tham Nhũng; đến tường thuật rôm rả buổi họp Ban Chống Tham Nhũng đầu tiên do ông Nguyễn Phú Trọng chủ tọa. Hiển nhiên, với quá nhiều các ban tương tự trong quá khứ, đặc biệt là những gì vừa xảy ra ở Hội nghị 6, công luận vừa dè dặt vừa hy vọng về 3 ban lần này. Nhưng đến khi nghe ông Nguyễn Phú Trọng cất tiếng: "Tay nhúng chàm không thể chống tham nhũng" thì giới đại gia và tập thể các quan chức cấp cao đều thở phào nhẹ nhõm. Câu nói này không khác gì câu "kỷ luật sẽ tạo thù hận" của cùng tác giả vào tháng trước. Vì giới nắm tiền và nắm quyền ở thượng tầng hiện nay đều biết rõ TẤT CẢ các thành viên thuộc cả 3 ban, kể cả 3 trưởng ban, đều dính chàm không chỉ trên tay mà còn khắp người nữa. Riêng ông Dũng thì không chỉ biết mà còn có luôn con số "chàm" ai đã nhận từ ông bao nhiêu và có luôn hồ sơ "chàm" từ công an – an ninh về các vụ tham ô của thành viên khác. Tóm tắt lại, ông Dũng biết tất cả các thành viên 3 ban đều đang đeo găng tay đi họp mà thôi và vì vậy cái ban của ông Trọng chỉ là đòn hù. Có lẽ chỉ có 1 người mà ông Nguyễn Tấn Dũng quan ngại là ông Nguyễn Bá Thanh. Một phần lý do, vì ông Thanh nổi tiếng về bản tính đánh thí mạng — nghĩa là nhắm mắt ra đòn cực độc và bất chấp đối phương sẽ phản công và làm thiệt hại mình thế nào. Vụ giao tranh với tướng công an Trần Văn Thanh từ 2007 đến 2009 là một thí dụ điển hình. Và phần lý do còn lại là lời hứa đã lọt ra tới công luận, đó là lời hứa từ Bộ Chính Trị sẽ giao cái ghế thủ tướng của ông Dũng cho ông Thanh. Với bản tính và lời hứa nặng ký đó, người ta không ngạc nhiên khi từ Đà Nẵng, Bí thư thành ủy Nguyễn Bá Thanh trong những ngày chưa chính thức nhậm chức trưởng Ban Nội Chính, đã hăng hái nổ nhiều phát súng nhắm về hướng của phe nhóm thủ tướng. Hàng ngũ cán bộ và cả một vài tờ báo nhanh chóng truyền tai nhau các câu hăm dọa của ông Thanh: "Sắp tới tôi sẽ rà vô một số cái, cho hốt liền, không nói nhiều", hay "Một số ông giờ đang ngồi run", hay "Bắt liền chứ không cần phải đợi có bằng chứng chung chi gì hết." …. Tóm tắt lại, ông Thanh đã tuyên chiến lập tức: ông sẽ tỉa dần hàng ngũ quanh ông Dũng trước khi tiến vào tâm điểm chính là cá nhân thủ tướng. Rõ ràng ông Thanh dám làm điều mà ông Sang, ông Trọng rụt rè trong những tháng qua vì sợ đối phương vạch luôn bàn tay "chàm" của gia đình 2 ông. Và đó là lý do mà ông Nguyễn Tấn Dũng phải lấy quyết định chuyển sang thế phản công. Đòn phản công của ông Dũng bao gồm cả hai mặt: thủ và công. Thứ nhất về mặt thủ, ông Dũng cố hạ tối đa uy tín của Trưởng Ban Nội Chính trước khi ban này khởi động làm việc. Đó là việc xuất hiện ngày 17/1/2013 hồ sơ thanh tra và kết luận của Thanh tra Chính phủ trên báo chí, dù hồ sơ này mới đóng dấu “mật” chỉ mấy ngày trước đó. Kết luận này nói rằng thành phố Đà Nẵng mà ông Thanh vẫn đang nắm ghế bí thư thành ủy đã "gây thất thu ngân sách" hơn 3,400 tỷ đồng do định giá đất đai không chính xác hay giảm giá đất không theo quy định của nhà nước. Ngay sau đó Bộ Công an được Thủ tướng Dũng nhanh chóng và công khai giao nhiệm vụ nhập cuộc điều tra, "làm rõ dấu hiệu cố ý làm trái". Nghĩa là hăm dọa sẽ truy tố hình sự một khi "tìm thấy chứng cứ". Hai ngày sau, 19/1/2013, Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Đà Nẵng, ông Văn Hữu Chiến lập tức kêu oan về cả kết luận điều tra lẫn cách thức điều tra, bằng một văn bản dài và hàng loạt phỏng vấn với báo chí. Ông Chiến phản đối kết luận của Thanh tra Chính phủ vì "không có cơ sở"; phản đối việc "Thanh tra không chịu nghe giải trình của Thành phố"; phản đối việc "Thanh tra đưa kết luận này ra thông báo trên báo chí". Ngày 29/1/2013, văn phòng thủ tướng, qua miệng của ông Vũ Đức Đam, một lần nữa công bố giữ nguyên kết luận về sai phạm của lãnh đạo Đà Nẵng và tiếp tục tiến hành lệnh của thủ tướng cho công an điều tra để truy tố. Ông Đam còn nói: "Thủ tướng chưa nhận được ý kiến phản ánh nào… của thành phố Đà Nẵng". Cho đến nay, hầu như tất cả công luận đều xem đây là một đòn công khai của ông Nguyễn Tấn Dũng đánh vào uy tín của ông Nguyễn Bá Thanh, đặc biệt nếu so với cách hành xử đầy tính châm chước của ông Dũng đối với chính quyền Thành phố Hải Phòng ngay sau vụ tai tiếng lớn ở Tiên Lãng. Có xác suất cao trong những ngày tới, trưởng Ban Nội Chính Trung Ương sẽ phải dành một phần thời giờ để trả lời các đoàn điều tra từ bộ công an và thậm chí có thể phải ra trước tòa để trả lời về các "sai phạm" trong quá khứ tại Đà Nẵng. Và dĩ nhiên các buổi này nhiều phần sẽ được công bố thoải mái trên báo chí. Và dĩ nhiên, mọi đòn đánh nhắm vào ông Nguyễn Bá Thanh đều là lời cảnh cáo dằn mặt cho từng thành viên của cả 3 ban Nội Chính, Kinh Tế, và Chống Tham Nhũng của Bộ Chính Trị. Thứ nhì trong thế công, ngày 21/1/13, tức là chỉ 3 ngày sau khi tung ra “hồ sơ mật” nêu trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Phòng Chống Tội Phạm (Ban Chống Tội Phạm) trực thuộc Văn phòng Thủ tướng. Ban chỉ đạo này do cánh tay mặt của thủ tướng là Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đứng đầu và Bộ trưởng Công an, tướng Trần Đại Quang, giữ vai trò Phó ban thường trực. Thoạt nhìn trên lý thuyết, người ta thấy có sự tách bạch khá rõ giữa Ban Nội Chính của Trung ương Đảng và Ban Chống Tội Phạm của chính phủ. Trên giấy tờ, Ban Nội chính có nhiệm vụ tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng cho chủ trương; định hướng xử lý một số vụ việc, vụ án; thực hiện nhiệm vụ cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng. Tức là những nhiệm vụ mang tính đối phó với nội bộ đảng. Trong khi đó, cũng trên giấy tờ, nhiệm vụ của Ban Chống Tội Phạm là "phối hợp các cơ quan chức năng, các lực lượng để đấu tranh với các băng nhóm tội phạm nguy hiểm”, nghĩa là nhắm vào việc đối phó với xã hội bên ngoài. Tuy nhiên, chỉ nhìn sâu hơn một chút, người ta đã có thể thấy rõ ngay mưu trí của ông Dũng khi tạo lập Ban Chống Tội Phạm như một vũ khí tấn công mới. Trước hết, Ban Chống Tội Phạm không bị giới hạn vào một lãnh vực phạm pháp nào. Cụ thể nó được cho phép “hoạt động trên nhiều địa bàn, các vụ án nghiêm trọng, phức tạp về an ninh, kinh tế, trật tự an toàn xã hội nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội”. Đây là những thuật ngữ khá quen thuộc để cho phép loại quyền hạn không biên giới. Thế nào là "nghiêm trọng, phức tạp" hoàn toàn do văn phòng thủ tướng hay chính ban này định đoạt. Và tất cả mọi loại "sai trái" dù trong bất kỳ lãnh vực nào đều có thể qui về phạm trù mơ hồ của "an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội". Nói cách khác, Bộ Chính Trị vừa tước ghế trưởng Ban Chống Tham Nhũng khỏi tay thủ tướng, ông Dũng cho lập ngay một Ban mới với quyền hạn còn rộng hơn nữa và hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của thủ tướng. Kế đến Ban Chống Tội Phạm cũng không bị hạn chế trong phạm vi đối tượng. Nó không bị dừng lại ở cấp bộ nào, dù là địa phương hay trung ương, một khi đã tự kết luận đó là một vụ "nghiêm trọng, phức tạp". Và khi nhân danh đối phó với những kẻ phạm pháp, ban này không cần phân biệt đó là đảng viên hay dân thường. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay ở Việt Nam, chỉ những người có quyền chức mới có cơ hội và phương tiện để phạm pháp nghiêm trọng, và đặc biệt, mới có khả năng lập "băng nhóm tội phạm". Và tuyệt đại đa số những người đang nắm chức quyền đều là đảng viên trung và cao cấp. Do đó, đối tượng chính của Ban Chống Tội Phạm là thành phần đảng viên có máu mặt, y như 3 ban của Bộ Chính Trị. Về mặt bắp thịt, Ban Chống Tội Phạm của ông Dũng không kém gì Ban Chống Tham Nhũng của ông Trọng. Ban Chống Tội Phạm không những do phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cánh tay mặt của ông Dũng, cầm đầu mà còn đặt Bộ trưởng Bộ Công An Trần Đại Quang ở vị trí phó ban. Đây là yếu tố hệ trọng vì Công An là nơi đảm trách hầu hết công việc điều tra để các Ban dựa vào kết quả điều tra đó mà ra đối sách. Kinh nghiệm cho thấy, trong các vụ án chính trị cũng như kinh tế, những hồ sơ của cơ quan điều tra Bộ Công an có thể thay đổi, thêm bớt hoặc ngay cả dựng đứng, bịa đặt cho phù hợp với từng đối tượng, từng “chuyên án” đã được chỉ đạo. Với cách sắp xếp này trong Ban Chống Tội Phạm, ông Nguyễn Tấn Dũng có thể thực hiện được hai điều: (1) Có thể ngăn chận hoặc ra lệnh sửa đổi bất kỳ bản điều tra nào của công an nếu xét thấy không có lợi cho phe nhóm ông; hoặc tùy tiện tung ra công luận các bản điều tra có nhiều thiệt hại cho các đối thủ. (2) Có thể ra lệnh cho công an tấn công các đối thủ dưới dạng mở hồ sơ điều tra, khám xét nhà cửa, kiểm tra tài sản, tạm giữ, tạm giam,… Tướng CA Nguyễn Văn Hưởng Và một vũ khí trong bóng tối khác của ông Dũng cũng góp phần khiến bắp thịt của Ban Chống Tội Phạm đáng sợ hơn tất cả mọi ban khác. Đó là hệ thống riêng của cựu thượng tướng công an Nguyễn Văn Hưởng, người được xem là một hung thần theo truyền thống của trùm mật vụ Beria dưới thời Stalin trên đất Liên Xô. Công luận Việt Nam, báo chí lề trái vẫn tiếp tục ngờ vực bàn tay ông Hưởng trong những vụ đột tử, như cái chết mờ ám của ông Đào Duy Tùng năm 1994 khi đang là thường trực Bộ Chính Trị; cái chết vì ngộ độc của thứ trưởng bộ Công An Nguyễn Văn Rốp (Tư Rốp) năm 2001; cái chết bất ngờ của cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt ở Singapore; kể cả vụ ám sát hụt ông Ba Kiên Tham mưu trưởng Quân Khu 7 ở Campuchia,…. Tin tức về bàn tay trong bóng tối này đã trở nên thông thường trong dân chúng đến độ khi nghệ sĩ Kim Chi từ chối đề nghị ban khen của ông Dũng, bà nghĩ ngay đến xác suất một cái chết sắp được dàn dựng cho bà. Với vũ khí Ban Chống Tội Phạm mang thẩm quyền vô giới hạn và có cả phương tiện công khai lẫn bí mật như vậy, ông Dũng thừa sức vô hiệu hóa cả 3 ban của Bộ Chính Trị. Điều này có thể thấy ngay qua một vài phóng chiếu cụ thể. Chẳng hạn như khi Ban Nội Chính sắp sửa truy tố một nhân vật nào đó thuộc phe ông Nguyễn Tấn Dũng theo lời khai của một số nhân chứng, thì các nhân chứng trong vụ án đột nhiên mất tích hay qua đời trong thầm lặng. Ở mức thấp nhất, các nhân chứng này bỗng nhiên bị công an bắt giam khẩn cấp vì những tội danh khác và bị điều tra về nhiều loại tội khiến các lời khai của họ với Ban Nội Chính không còn đáng tin và không đáng làm cơ sở buộc tội nữa. Đây là việc làm quá dễ trong chức năng phó Ban Chống Tội Phạm kiêm Bộ trưởng Công An của tướng Trần Đại Quang. Ở mức chủ động tấn công hơn nữa, khi Ban Nội Chính sắp điều tra một vụ việc gì không có lợi cho phe ông Nguyễn Tấn Dũng, Ban Chống Tội Phạm còn có thể lập tức dùng một sai phạm nào đó ở hiện tại hay trong quá khứ, để mở màn "điều tra người điều tra" và tung ngay tin tức này ra báo chí. Và dĩ nhiên Ban Chống Tội Phạm cũng sẽ rất hiệu quả trong việc tấn công ngược vào hàng ngũ của ông Trương Tấn Sang, Nguyễn Phú Trọng để đánh trả mỗi khi Ban Nội Chính làm thiệt hại hàng ngũ dưới trướng ông Dũng. Diễn trình ăn miếng trả miếng này đã và đang liên tục xảy ra kể từ sau vụ đổ bể hệ thống ngân hàng. Thí dụ điển hình là các tấn công nhắm vào chị em bà Đặng Thị Hoàng Yến và ông Đặng Thành Tâm, những người được xem là thành viên trong hệ thống làm ăn của ông Trương Tấn Sang. *** Các đòn phép, và từ đó danh sách các "nạn nhân", sẽ gia tăng nhanh trong cuộc chiến giữa Ban Chống Tội Phạm và 3 ban của Bộ Chính Trị trong những tháng trước mặt. Nhưng giữa lúc các ban giương cờ xí lên chuẩn bị đánh nhau lớn, chẳng ai thấy có ban nào nhắc tới vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử đất nước, đó là số tiền hàng trăm tỉ mỹ kim đã thất thoát qua các tập đoàn kinh tế và tổng công ty. Núi tiền khổng lồ đó không thể tan biến mà không để lại dấu tích gì. Phải chăng chẳng ban nào dám nói tới vì số "chàm" đó đã được chia và gởi lên quá nhiều cửa ở thượng tầng? Nếu viết lại các phân tích của mình vào thời điểm giành giật "chống tội phạm - chống tham nhũng" hiện nay, hy vọng ông Nguyễn Văn An sẽ bổ túc vào cái tên mà ông đã khéo đặt cho cốt lõi của các tệ nạn và tình trạng không thể tự chữa của Đảng CSVN. Đã đến lúc gọi đó là các LỖI HỆ THỐNG CHÀM cho rõ nghĩa hơn chăng?
......

Phiếm Luận: Chuyện Năm Tỵ

Chỉ trong chớp mắt giống một thoáng chiêm bao, năm lại hết, tết đã tới. Trong tâm tư ngưới Việt tha hương tị nạn, dù người bỏ nước đi trước, vượt biên sang sau hay gia đình đoàn tụ, chắc không sao tránh khỏi nỗi bùi ngùi xúc động mỗi khi quạnh quẽ đón xuân nơi đất khách quê người. Ðể phần nào quên đi nỗi sầu viễn xứ, chúng tôi hân hạnh đóng góp vài mẩu chuyện phiếm về năm con rắn, trước để có dịp viết lại những giòng chữ Việt tuy đơn sơ mộc mạc nhưng đầy trừu mến thương yêu, sau để ôn lại vài sự tích xa xưa do ông bà kể lại để cống hiến độc giả những giây phút giải trí thoải mái vào lúc xuân sang. Trước hết, nhân dịp đầu năm, thành thực cầu chúc qúi vị cùng bửu quyến được an khang thịnh vượng, vạn sự như ý, phúc lộc đầy nhà. Theo ngũ hành can chi, năm vừa qua là năm thìn, cầm tinh con rồng. Nếu căn cứ vào "tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển" do các vị chuyên "rờ mu rùa" bàn tán theo sách Lốc Cốc Tử, năm rồng bao giờ cũng rất hên "đại cát đại lợi", vì chẳng những Rồng là một linh vật đứng đầu trong tứ linh "long, ly, qui, phụng" mà còn là biểu hiệu của chân mạng thiên tử. Tuy nhiên trong năm vừa qua, nếu có vị nào chưa được may mắn khi du hành Las Vegas hoặc không được thuận lợi lúc viếng thăm Wall Street, hãy khoan thất vọng. Chắc chắn qua năm con rắn, mặc dù được coi là "dần thân tị hợi “tứ hành xung", nhưng "phúc lộc thọ" sẽ ào ào bò, trườn, lê, lết tới. Sở dĩ chúng tôi giám đoán chắc như vậy vì tuy Rồng trông"ngon" thật, bay lộn rất "ngoạn mục", nhưng chiếu theo luật vận hành của tạo hóa, chẳng qua cũng chỉ ăn hiếp được chú mèo, đến khi xà vương xuất hiện cũng phải bỏ chạy có cờ, nhường ngôi vua phàm trần cho họ hàng loài rắn. Ðể bài phiếm luận có đầu có đuôi, đề nghị chúng ta hãy tìm hiểu họ hàng hang hốc của loài rắn trước, rồi sau đó sẽ "phiếm" đến những chuyện liên quan tới mãng xà tinh. Theo khoa học, rắn thuộc loài bò sát tương tự như giống thằn lằn không chân. Ðiều khác biệt là rắn có một hàng vẩy cứng dưới bụng có thể di động được như những chân nhỏ khi trườn lết. Ðặc điểm nữa là xương hàm trên của rắn có thể di chuyển, đổi chỗ để miệng có thể mở rộng khi nuốt những mồi lớn. Môn học nghiên cứu về rắn, hay "Xà Học", được giới khoa học gọi là "Herpetology" bắt nguồn từ chữ Hy Lạp "Herpeton" co nghĩa là "loài bò sát". Sau nhiều cuộc khảo sát kỹ lưỡng, người ta vẫn chỉ dự đoán được rằng rắn xuất hiện trên trái đất cùng lúc với loại khủng long, vào thời đại Triassic khoàng 200 triệu năm trước đây. Việc nghiên cứu về tổ tiên loài rắn tương đối khó khăn vì xương rắn nhỏ nên không tồn tại nhiều trong các hóa thạch vật (fossil) giống các động vật có xương lớn khác như khủng long, voi, cọp v.v... Căn cứ vào những bằng chứng tìm được trong thời Cretaceous cách đây khoảng 130 triệu năm, rắn do loại thằn lằn chuyên sống trong hang dưới đất (burrowing lizard) biến thể. Loại thằn lằn này phải sống trong hang để khỏi bị các giống vật khác ăn thịt và cũng để dễ săn mối. Trải qua nhiều triệu năm, chân và và tai của giống thằn lằn hang này bị biến mất để dễ di chuyển trong hang hóc chật chội; dần dần, theo lịch trình tiến hoá biến thành rắn. Bù lại, rắn có khứu giác rất nhạy, có thể đánh hơi con mồi từ xa. Vì không có chân nên rắn không thể đi hoặc chạy nhảy, mà phải di chuyển bằng động tác "trườn" (locomotion) giống như bơi cạn! Toàn thân rắn được bao bọc một lớp vảy. Những chiếc vảy này vô cùng cứng rắn, không lớn lên tương ứng theo sự trưởng thành của thân rắn. Vì vậy cứ 2-3 tháng rắn phải thay da để tăng trưởng một lần. Các chiếc vảy này không chỉ giúp rắn bảo vệ mà còn có chức năng như những bàn chân nhỏ để rắn trườn bò. Khi di chuyển, thân dài và nhỏ của rắn uốn cong thành hình chữ S, phía dưới thân thể theo sát bộ phận phía trên để bò lên cùng vị trí ấy. Khi bò, các vảy trườn theo bộ phận lồi ra, rắn dùng đầu nhọn của các chiếc vảy để trèo lên những đám cỏ hoặc đám đất gồ ghề. Một số loại rắn đặc biệt có khả năng lướt nhanh, hầu hết là thuộc chi Chrysopelea. Chúng có khả năng phóng mình rất xa như bay khoảng trên 10 mét trong không khí, do đó có người gọi là rắn bay. Da rắn được vảy phủ kín. Hầu hết rắn di chuyển dựa vào lớp vảy này. Da rắn khá nhẵn hoặc có hạt. Mi mắt rắn trong suốt và thường xuyên đóng kín, được gọi là vảy mắt. Rắn lột da để lớn theo theo chu kỳ. Không giống những loài bò sát khác, cách thức lột da của rắn t ương tự như người ta tháo bỏ một chiếc vớ: nó cọ đầu và mũi vào những vật cứng, như đá, cho tới khi da rách và chúng bắt đầu lột. Tất cả các loài rắn đều ăn thịt. Chúng có thể ăn cả những con rắn khác và những động vật có vú, động vật nhỏ như thằn lằn, chim, trứng các loài khác hay sâu bọ. Một số loài có nọc độc để giết chết con mồi trước khi tiêu thụ. Một số loài khác thì xiết mồi đến chết. Thậm chí có những loài rắn nuốt sống cả con mồi. Xương hàm dưới của rắn rất linh hoạt. Hai hàm của nó không gắn liền cố định mà di chuyển được và nối thẳng vào xương sọ, cho phép chúng mở rộng miệng để nuốt trọn con mồi dù có lớn hơn nhiều so với đường kính thân rắn. Sau khi ăn, rắn trở nên lười biếng và thụ động trong khi bộ tiêu hóa bắt đầu làm việc. Lúc này, hệ tiêu hóa hoạt động rất mạnh, nhất là khi phải tiêu thụ con mồi lớn. Ở một số loài rắn, toàn bộ hệ thống tiêu hóa sẽ nghỉ ngơi giữa những bữa ăn để tránh thất thoát năng lượng vì rắn ăn khá ít; trong vòng 48 giờ hệ tiêu hóa sẽ hấp thụ đầy đủ chất dinh dưỡng từ con mồi. Ở loài rắn đuôi chuông (rattle snake), năng lượng được chuyển hóa rất nhiều trong khi tiêu hóa, nhiệt độ cơ thể có thể tăng lên đến 14 độ C so với môi trường xung quanh. Loài rắn thường không cắn người, tuy nhiên có trường hợp những đứa trẻ bị trăn khổng lồ tấn công trong rừng nhiệt đới. Ngay cả một số loài rắn vốn được xem là hung dữ cũng rất ít khi nào cắn người nếu chúng không bị giật mình hay bị khiêu khích, ngoài ra chúng thường lảng đi nơi khác. Phần lớn rắn không độc hoặc độc của chúng cũng không gây chết người. Thông thường, rắn ăn thịt những loài động vật gặm nhấm. Có một vài ngoại lệ như rắn lục, chỉ ăn sâu bọ. Nói chung, rắn thường ăn một số loại thức ăn cố định như chuột hoặc chuột hoang gerbil. Rắn sinh sản bằng nhiều cách. Hầu hết rắn đều đẻ trứng, và đa số số rời bỏ trứng của chúng sau khi đẻ. Tuy nhiên, một số loài lại giữ trứng trong cơ thể đến khi trứng nở. Gần đây, giới khoa học xác định được một số loài rắn đẻ con, giữ con của chúng trong nhau thai hoặc một thứ tương tự túi noãn; đây là một điều khác thường trong giới bò sát. Việc giữ trứng trong cơ thể cho đến lúc nở thành con là cách giúp rắn mẹ kiểm soát nhiệt độ của trứng và bảo vệ con khỏi những đe dọa của môi trường chung quanh. Những cái chết do bị rắn cắn thường không mấy phổ cập. Trên toàn thế giới chỉ có khoảng 450 loài rắn có độc (250 trong số đó có nọc độc đủ giết người). Hàng năm tại Hoa Kỳ, có khoảng 6.000 bị rắn cắn, còn ít hơn số người chết vì sấm sét. Rắn độc xử dụng nước bọt; chất độc tiết qua những chiếc nanh trong miệng để làm tê liệt hoặc giết con mồi. Đa số loài rắn không độc xiết con mồi đến chết. Nọc độc rắn có thể là độc tố thần kinh hoặc độc tố máu. Độc tố thần kinh tấn công hệ thần kinh trong khi độc tố máu làm hư hại hệ tuần hoàn. Rắn Pitviper Philippine Rắn độc sử dụng độc tố máu thường có nanh tiết chất độc ở trước miệng, giúp chúng dễ dàng chích thẳng chất độc vào nạn nhân. Rắn sử dụng độc tố thần kinh, như loài rắn cây đước độc tính cao, có nanh nằm ở phía sau miệng đồng thời nanh cong về phía sau. Vì tiến trình phức tạp của loài rắn bắt đầu cách đây hàng trăm triệu năm nên đến bây giờ có khá nhiều chủng loại hoặc "gia đình" (families) rắn sinh sống tại những vùng khác biệt trên trái đất. Có loại xuất hiện từ lúc các đại lục còn như dính liền, nên hiện nay có mặt hầu như khắp nơi trên thế giới. Nhiều loại rắn mới chỉ có trong từng vùng vì mặt đất đã bị tách rời do đại dương ngăn cách. Các nhà khoa học hiện phân loại chừng 14 hoặc 15 chủng loại (families) rắn khác nhau, tổng cộng chừng 2.400 giống (species). Có hai loại rắn chỉ có một giống, một loại có hai giống và một loại khác có ba giống, trong khi loại rắn Colubridae có tới trên 1.500 giống. Ðại cương, rắn được chia thành những chủng loại như: rắn nước chuyên sống dưới nước, rắn cây chuyên sống trên cây, rắn hổ, rắn lục, trăn v.v…Tổng cộng có kho ảng 1.000 loại rắn khác nhau trên thế giới. Riêng tại Vi ệt Nam có gần 200 loại gồm rắn độc, rắn nước và rắn biển .v... Ðặc tính chung của rắn là không có chân. Thân rắn có vẩy cứng cách nhau bằng một lớp "keratin" mềm rất đàn hồi để rắn có thể trườn nhanh và dễ dàng. Vẩy trên mình rắn được dùng như một lớp khiên để che chở toàn thân. Ngược lại, vẩy bụng lại nằm ngang để rắn có thể di chuyển. Vì lớp vẩy bao phủ toàn thân nên rắn thường phải "lột da" để thân thể phát triển lớn hơn. Mỗi khi lột da, rắn tiết ra một chất nhờn đặc biệt dưới lớp vẩy, các mạch máu trong mình, nhất là ở đầu, đều phồng căng lớn để làm bong lớp da cũ, bắt đầu từ dưới hàm. Lúc đó, rắn sẽ cọ đầu vào những vật cứng như thân cây, tảng đá v.v... để lột da, bắt đầu từ lớp da đầu. Trong lúc lột da, rắn coi như bò ra từ cái vỏ và lộn lớp da cũ từ trong ra ngoài. Một đặc điểm nữa là sọ rắn có thể co dãn vì gồm những xương nối với nhau bằng những sợi gân đàn hồi. Mép rắn nằm sâu vào phía trong nên hàm trên và hàm dưới có thể mở rộng tối đa cũng như di chuyển độc lập. Ngay cả óc rắn cũng có thể di chuyện tới lui hoặc ngang dọc. Nhờ đặc tính đàn hồi này mà rắn có thể nuốt những con mồi rất lớn. Răng rắn rất nhọn, nghiêng về phía trong miệng để giữ chặt con mồi không bị vuột. Vì phải há miệng rất lớn mỗi khi nuốt mồi nên sọ rắn phải chịu một áp lực rất lớn, nhưng nhờ lớp xương sọ có thể đổi chỗ nên rắn vẫn không hề hấn gì. Ngoài ra, răng rắn còn có thể mang nọc độc dùng dể giết chết con mồi hay để tự vệ. Thông thường, nanh mang nọc độc của rắn thường nằm ở hàm trên. Khi bị rắn cắn, nọc độc từ một hạch trên đầu rắn sẽ được "bơm" qua nanh để chuyền vào vết thương. Người ta thường nói "miệng hùm, nọc rắn" để chỉ những nơi nguy hiểm, độc địa. Vậy nọc rắn "độc" ra sao? Nên nhớ: nọc rắn vẫn có thể chảy khi đầu rắn đã bị chặt đứt, và số lượng cũng vẫn bằng với lúc rắn còn sống! Ngoài ra, nọc rắn lúc còn nhỏ cũng độc như rắn lớn. Khi cố tình tấn công, rắn nhả ra nhiều nọc độc hơn là lúc tự vệ, thí dụ như khi có người vô ý dẫm vào đuôi. Ðúng ra, nọc rắn không hẳn được tuôn ra từ miệng, mà từ những hạch đặc biệt nằm ở phía trong mắt. Nanh của loại rắn lục (viper) rất dài đến độ phải "xếp" lại rắn mới có thể khép miệng được và có thể di chuyển như cây kim để chích ngay nọc độc vào con mồi. Ðối với loại rắn có nanh độc nằm phía trong miệng, rắn phải cắn và giữ chặt con mồi rồi mới tiết nọc độc sau. Nghe đồn dạo ở Việt Nam, một số lính Mỹ chiến đấu trong rừng mệnh danh một loại rắn hổ địa phương là rắn "hai bước", "ba bước" hoặc "năm bước" để chỉ người bị rắn cắn chỉ đi thêm được vài ba bước là ngã ra chết. Ðặc điểm quan trọng khác của rắn là tài đánh hơi. Tuy rắn có lỗ mũi nhưng được dùng để thở hơn là đánh hơi. Sở dĩ rắn nhạy hơi là nhờ một cơ cấu đặc biệt gọi là cơ quan Jacobson gồm hai rãnh nhỏ nằm ở hàm trên. Cơ quan này có nhiều thần kinh nhỏ nối với phần não bộ chuyên về khứu giác. Khi rắn le lưỡi qua lại trước mặt, những phân tử”mùi hơi" của mục tiêu sẽ được hút v ào lưỡi rồi truyền đến cơ quan Jacobson lên tới óc. Thị giác của rắn cũng khá tinh, nhưng chỉ phân biệt rõ ràng khi đối tượng di động hoặc đổi chỗ. Có người cho rằng rắn "không bao giờ ngủ" vì lúc nào cũng mở mắt. Ðiều này không đúng. Rắn có ngủ nhưng mắt vẫn mở vì không có mí mắt để khép lại. Tuy rất khó quan sát, nhưng ta có thể biết rắn ngủ khi thấy đồng tử thu nhỏ lại, hoặc dấu đầu vào khúc mình rắn khoanh tròn. Một phương pháp nữa là khoa tay trước mắt rắn; nếu không thấy mắt di chuyển và lưỡi thè ra là lúc rắn đang ngủ. Thính giác của rắn coi như không được bén nhạy vì không có vành tai để âm thanh dội lại. Các nội tạng của rắn đều dài theo thân mình. Gan rắn dài nhưng không chia ra từng miếng, mật rắn nằm giữa bao tử và ruột. Phổi trái tương đối nhỏ trong khi phổi phải lại rất dài vì chứa những túi dự trữ dưỡng khí giúp rắn không cần thở trong lúc bận nuốt mồi lớn. Ðại đa số rắn thường đẻ trứng. Trứng rắn hình bầu dục. Sau khi thụ tinh chừng hai tháng, rắn đẻ trứng, vỏ mềm tại nơi có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp. Trứng nở trong vòng từ 4 đến 12 tuần lễ tùy theo loại rắn, trong thời gian này, trứng phồng lớn. Rắn con dùng răng tự cắn vỏ trứng để chui ra ngoài. Trăn cái ấp trứng bằng cách truyền thân nhiệt qua trứng. Nhiều giống rắn sinh sống tại vùng lạnh, trên cây hoặc dưới nước không đẻ trứng mà giữ trong mình cho tới khi nở rồi đẻ ra con. Ngủ cùng trăn Ðặc biệt có loại rắn "Brahminy Blind Snake" được gọi là "parthenogenic" nghĩa là "toàn cái". Loại rắn này đẻ trứng không có giống đực, sau nở ra toàn rắn cái. Có loại rắn cái không cần "chịu đực" mỗi lần đẻ trứng mà vẫn sinh con. Lý do vì loại rắn này có thể "giữ" tinh trùng đực lâu đến bảy năm! Khi đẻ trứng, rắn cái chỉ cần dùng lại tinh trùng cũ mà không cần tới rắn đực! Rắn con ngay từ lúc mới nở đã phải tự lực cánh sinh, săn mồi và tự vệ vì rắn bố và mẹ không ở bên cạnh để săn sóc. Trong vòng một năm rắn tới tuổi trưởng thành. Hình dạng và màu sắc không những dùng để phân biệt chủng giống mà nhiều khi còn cho biết môi trường sinh sống của rắn. Con trăn rừng dài nhất đo được 33 feet (khoảng 10 mét). Con trăn nước (green anaconda) dài nhất bị bắt tại Brasil dài 18 thước 9. Những loại trăn lớn này di chuyển nặng nề, cần ăn nhiều nên chỉ sống tại những nơi dễ kiếm mồi lớn. Ngoài ra, vì là loài "máu lạnh" nên rắn cần môi trường bên ngoài để hâm nóng thân thể tới nhiệt độ thích hợp mới có thể hoạt động được. Do đó, những loại trăn, rắn lớn chỉ sống tại vùng nhiệt đới. Rắn cũng có nhiều màu sắc khác nhau để có thể "ngụy trang" hoặc thu hút và bảo vệ thân nhiệt tùy theo môi trường sinh sống. Nhiều loại rắn còn đổi màu khi tăng trưởng. Vẩy rắn thật ra chỉ là những chỗ da dầy và cứng hơn những chỗ khác, vì vậy vẩy cũng chính là da rắn. Sự cấu tạo này khác với vẩy cá có thể tách rời khỏi da. Vẩy rắn được dùng như lớp giáp để che chở thân rắn khi trườn cũng như để tự vệ. Trong vẩy rắn có hạch đặc biệt làm thành màu sắc của rắn. Thật ra. vảy rắn gồm hai lớp, phân cách bằng một lớp tế bào mỏng, trong suốt. Rắn còn nhỏ thường lột da nhiều hơn rắn lớn để thân thể tăng trưởng. Rắn cái thường lột da trước khi đẻ trứng hoặc đẻ con. Rắn bị thương cũng lột da thường xuyên để tự chữa. Rắn thường ăn các động vật khác, nhưng vì không có tay chân nên phải nuốt trọn con mồi. Hàm rắn có thể tạm thời di chuyển, da rất đàn hồi để có thể nuốt mồi lớn hơn đầu. Nhiều trăn, rắn lớn có thể nuốt trọn con nai nhỏ hoặc cả cá sấu. Có rắn lại ăn cả loại rắn khác. Loại trăn thường cuốn chặt con mồi đến nghẹt thở truớc khi nuốt. Rắn độc truyền nọc độc để giết con mồi trước khi nuốt trọn. Chúng ta thường thấy hình ảnh "phù thủy rắn" là ông già Ấn Ðộ gầy nhom, miệng thổi cây kèn sặc sỡ trước mặt một con rắn hổ nghển cổ, phùng mang, đầu đong đưa qua lại theo tiếng nhạc, trông rất ghê rợn. Những tay "thầy rắn" này được người Tây Phương mệnh danh la "Snake Charmers". Tuy màn trình diễn trông có vẻ nguy hiểm, nhưng có nhiều giả tạo trong đó. Trước nhất là tiếng kèn rên rỉ và đầu rắn đong đưa theo điệu nhạc như khiêu vũ. Thật ra, rắn không nghe được tiếng nhạc nên biết đâu mà "nhảy"? Rắn chỉ theo dõi những di động của cây kèn sặc sỡ hoặc của chính ông thày rắn trong tư thế chuẩn bị tấn công. Ðầu rắn ngóc cao, mang bạnh lớn, đầu đảo qua lại, mắt theo dõi những di động của cây kèn như bị thôi miên vì rắn coi cây kèn như địch thủ. Các thày rắn thường dùng loại rắn hổ mang "đeo kính" (naja naja) rất dài, đôi khi tới 20 feet (khoảng 6 mét), mang bạnh ra trông rất dữ dằn. Tuy nhiên, để giảm bớt nguy hiểm, có thể rắn đã được "ngâm lạnh" hoặc cho ăn thật no để tở nên chậm chạp, hoặc đã bị nhổ mất nanh độc hay khâu miệng. Do đó, nhiều tay thầy rắn còn nhảy chung với rắn, hôn rắn hoặc ngậm cả đầu rắn vào trong miệng. Tuy đã bị "giải độc" nhưng cứ nhìn những con rắn đeo kính" này "phùng mang múa mỏ" lắc lư theo điệu kèn rền rĩ của các tay “fakir” cũng đã đủ ớn phải không qúi vị? Sau đây là vài chuyện khó tin nhưng có thật về rắn. Người Cắn Răn: Vào khoảng tháng 5/1997, anh Valentin Grimalo đang buớc bên lề cỏ dọc theo xa lộ tại thị xã Edinburg thì bị một con rắn cắn. Lập tức, Valentin nắm lấy con rắn, dùng miệng cắn đứt đầu rắn rồi lột da dùng làm giây cột bên trên vết thương để nọc độc không truyền vào tim. Theo tờ báo Beaver County Times, sau đó có người lái xe chở anh tới bệnh viện chữa trị. Anh hoàn toàn bình phục. Rắn Bắn Chết Người: Chỉ có người đi săn, giết rắn, làm sao rắn có thể bắn chết người? Thế mà vài năm trước đây tại Iran, có một anh thợ săn bị rắn bắn chết bằng "shotgun". Bạn anh thợ săn cho biết: nạn nhân toan bắt sống một con rắn bằng cách dùng báng súng đè đầu rắn xuống khiến mình rắn co lại, cuốn quanh báng súng. Chẳng may đuôi rắn cuốn trúng cò khiến súng khai hỏa trúng đầu anh thợ săn. Hẩu Xực: Ðây là chuyện hoàn toàn có thật. Vào năm 1973, một người đàn ông 42 tuổi tại Trung Hoa cho biết anh đã ăn chừng 10.000 con rắn sống trong vòng hai thập niên. Anh cho biết nếu bữa nào không "xực" ít nhất một con rắn thì cảm thấy rất buồn bực, khó chịu. Ăn nhiều rắn như vậy, chắc cuộc đời anh ta "lên hương" lắm? Không đúng như vậy, vì chẳng một bà hay cô nào giám lại gần tay "xực" rắn này, nên suốt đời anh ta mồ côi vợ. Chắc không có cô nào chịu nổi khi được anh mời về nhà ăn bữa tiệc rắn đầu tiên. Lẫu rắn   Tiếp theo là một số ngộ nhận về rắn. - Rắn nào cũng nguy hiểm: ngược lại, đa số rắn đều vô hại. - Rắn không biết ngửi: tuy rắn không thính mũi, nhưng "khứu giác" quan trọng hơn là lưỡi và cơ quan Jacobson. - Rắn thường trơn trợt: rắn trông bóng láng nhưng thật ra da rắn rất khô và ấm. - Vẩy rắn dùng để giữ thân nhiệt: đúng ra, vẩy rắn không thấm nước, dùng để giữ độ ẩm khiến rắn không bị chết khô ngoài nắng. - Rắn có khả năng thôi miên: rắn chỉ nhìn trừng trừng khiến người và vật sợ hãi. - Thân rắn lạnh: tuy thuộc loài máu l ạnh nhưng thật ra, rắn có thể giữ thân nhiệt rất cao, đến hàng trăm độ F. Nhưng rắn không thể tự sinh ra thân nhiệt như con người mà hải nhờ tới môi ytrường bên ngoài. - Vẩy rắn rất dầy và nặng: đúng ra. vẩy rắn rất mỏng như giấy. - Rắn rất dữ: ngược lại, rắn rất nhát, chỉ tấn công khi bị bắt buộc. - Rắn không có xương sống: rắn có khoảng 300 đốt xương sống và xương sườn. Con người chỉ có 33 hay 34 xương sườn. Tới đây xin kể một số kỷ lục về rắn. - Rắn ngắn nhất: loại rắn "kim" tại vùng đảo St. Lucia, Martinique, Barbados, chỉ dài khoảng 10 phân. - Rắn già nhất: con trăn đực tên "Popeye" chết năm 1977 tại sở thú Philadelphia, già 40 năm 3 tháng 10 ngày. - Rắn nhanh nhất: rắn hổ Phi Châu có thể di chuyển 14 - 19 km một giờ. - Rắn độc nhất: rắn biển giống Hydrophis Belcheri có nọc độc mạnh gấp hàng trăm lần rắn độc thông thường. Giống rắn đất độc nhất là rắn hổ Úc Ðại Lợi. - Rắn dài nhất: trăn dài 10 thước bị giết tại đảo Celebes, Nam Dương vào năm 1912. Rắn độc dài nhất là loại rắn hổ vùng Ðông Nam Á đo được 5 thuớc 71 tại sở thú Luân Ðôn. - Rắn nặng nhất: trăn nước Nam Mỹ và Trinidad. Kỷ lục nặng khoảng 500 lbs, dài chừng 9 thước. Ngay từ thời Thượng Cổ, đã có nhiều tương quan và huyền thoại giữa người và rắn, có lẽ vì hình dạng dài và uyển chuyển của rắn được coi như xương và tủy sống là trung tâm của mọi hoạt động của con người. Gần đây, nhà phân tâm học nổi tiếng Karl Jung của Thụy Sĩ cũng phân tách rằng rắn với nhiều điều kỳ bí là biểu tượng của vô thức con người. Những nhà khảo cổ tìm thấy nhiều hình dáng "uốn éo" giống như rắn trong nhiều hình vẽ, tượng hoặc đồ gốm thời cổ. Nhiều hình vẽ con rắn khổng lồ cuốn quanh cả vũ trụ, dưới gốc cây hay khoanh tròn trên bụng đàn bà chửa, tượng trưng cho oai lực tạo nguồn sống cũng như bất tử. Rắn cũng chui ra từ trong hang dưới đất nên nhiều khi còn được coi là sinh vật của âm giới. Hình ảnh rắn ngậm đuôi trong miệng và lột da cũng tượng trưng cho sự tái sinh và trường thọ. Vì vậy, loài người đã sùng bái và thờ rắn từ lâu. Người vùng Babylon và Ai Cập có nhiều tranh vẽ hoặc tượng những vũ công nhảy múa trong các buổi tế lễ theo dáng di chuyển của rắn. Người vùng Sumer tin tưởng rắn là thần vật bảo vệ "trục vũ trụ". Dân Ba Tư thờ thần rắn biết bay trên trới tên Azhi Dahaka, được coi như thần sáng tạo những trăng sao trên trời. Tưởng cũng nên nói người Âu Châu thời cổ sắp chung rồng và rắn vào cùng một loại trong đó rồng là một loại "rắn" sống trên trời, có cánh biết bay. Tên "dragon" tức là rồng bắt nguồn từ Hy Lạp chữ "drakon" có nghĩa là rắn. Qua tới Ai Cập, hình ảnh rắn lại được thể hiện rõ ràng và phổ cập hơn. Ðiển hình nhất là vương miện của các vị vua (Pharaoh) đều có hình của thần rắn hổ. Khăn đội của của vua Ai Cập cũng được mở rộng tới vai, trông giống như rắn hổ phùng mang. Thần rắn hổ tên Uraeus thường được thấy khoanh tròn trên trán của vua chúa có liên quan tới thần Horus khi tái sinh thành những "Pharaoh". Nữ hoàng Cléopatra dùng rắn hổ cắn vào người để tự tử vì tin rằng Uraeus sẽ đưa nàng về chốn vĩnh hằng. Người Ai Cập còn tin rằng thần rắn Apep là chúa của bóng tối và hủy diệt vì lúc nào cũng muốn nuốt chửng mặt trời. Thần mặt trời Ra và thần bóng tối Apep tranh dành nhau quyết liệt, gây ra những lần nhật thực và đêm tối, nhưng lần nào thần Ra cũng thắng vì mặt trời vẫn xuất hiện mỗi ngày. Apep còn có hình dạng như một con cá sấu, có tên là Typhon tức là rồng. Trong thần thoại Hy Lạp, rắn Typhon là con út của thần Gaea và Tartarus. Typhon cao hơn núi, có cánh, đôi mắt nẩy lửa, chân có móng vuốt như rồng và thân rắn. Typhon kết hôn với nàng Echinda sanh ra bốn con là Hydra, Ceberis, Chimera và con sư tử Nemean. Người Ai Cập còn thờ thần rắn Nehebkau có chân và tay như người. Tại Phi Châu, bộ lạc Ewe tin rằng con rắn khổng lồ tên "Anyiewo" thường hiện ra kiếm ăn vào lúc trời mưa, thân rắn phản chiếu lên trời thành cầu vồng bảy sắc . Người Dogan thuộc Trung Phi tin rằng có thần Lebe là một con rắn. Tại Dahomey, có thần rắn tên Danh hiện thân thành cầu vồng cuốn vòng quanh vũ trụ, đuôi ngậm trong miệng. Thần Danh hay Da, như vậy được coi là phúc thần bảo vệ trật tự toàn vũ trụ. Khi thần Danh hiện thân thành cầu vồng, phần nam tính mang màu đỏ, phần nữ tính màu xanh. Phần trên trái đất, Danh có 3.500 khúc, cũng bằng phần dưới để cùng nâng trái đất. Tại Nigeria, có thành phố cổ Benin rất huy hoàng tráng lệ không thua các đền đài Ai Cập, được kiến trúc theo hình dạng một con rắn. Ở mạn Trung Ðông, người Hebrew dùng rất nhiều danh từ để nói về rắn. Thí dụ như "akshub" là rắn khoanh tròn, "epheh" là rắn phun nọc, "livyathin" (Leviathan) là rắn biển, "pethen" là rắn cuốn, "shephiyphon" là rắn mổ, "tsepha" hay "tsiphoniy" là rắn le lưỡi. Trong sách Exodus, rắn được đồng hóa với cây gậy, gọi là gậy Aaron. Tiên tri Moses của dân Do Thái có cây gậy khi liệng xuống đất biến thành rắn, khi cầm lên lại thành gậy. Moses dùng cây gậy rắn này để rẽ nước dẫn dân qua biển và đập vào đá để biến thành nước. Có lẽ con vật dáng sợ nhất trong Thánh Kinh mang tên Leviathan, là một con rắn hay rồng biển chuyên phá hoại trật tự và những sáng tạo trên đời. Leviathan cuối cùng bị Thiên Chúa đập nát đầu. Cùng cặp với Leviathan là Behemoth. Vùng Trung Mỹ, dân Mayan thờ thần "rắn có lông" (feathered snake) tên Kulkulcan hay Queztalcoatl. Kim tự tháp "El Castle" thờ thần Kulkulcan có 365 bậc tượng trưng 365 ngày trong một năm, 52 cửa tượng trưng một thế kỷ Mayan có 52 năm và 18 sân thượng tượng trưng cho 18 tháng trong một năm Mayan. Dân Aztec cũng thờ thần rắn có lông này. Tới Nam Mỹ, tại Columbia có thần rắn Chiminigagua cư ngụ trong một hồ đầy rắn. Ba Tây có nữ thần rắn Iara, còn được gọi là "mae d'agua" có nghĩa là "mẹ của nước". Dân Inca có nữ thần rắn Chalchiuhtlicue mặc áo rất đẹp dệt bằng vỏ sò và da rắn, là thần sinh sản. Tại Paraguay có thần Mboi-Túl mình rắn, đầu vẹt là thần che chỏ các loài vật và cây cỏ. Tại Âu Châu, trong các đền thờ cổ La Mã, người ta tìm được dấu tích của thần Chimera là một sinh vật rất kỳ lạ thân sư tử, đầu dê, đuôi rắn. Thần y khoa Aescepulus hay Askepulus hiện thân trong thần thoại La Mã là một con rắn. Dân Celtic có huyền thoại Thánh Patrick đuổi rắn ra khỏi Ái Nhĩ Lan, ngoại trừ một con rắn lớn tên là Luogh Derg Monster bị nhốt dưới đáy hồ Lough Derg. Người ta thường thấy tượng thánh Patrick đạp đầu một con rắn, tượng trưng cho quyền lực Thiên Chúa chiến thắng qủi Satan. Tại Tô Cách Lan hiện nay vẫn còn đồn đại hồ Loch Ness có một con rắn biển lớn mà dân chúng thường thân mật gọi là Nessie. Nhiều người quả quyết đã nhìn thấy và chụp được cả hình Nessie, nhưng những cuộc thăm dò tìm kiếm đáy hồ Lock Ness mới đây bằng những dụng cụ thu hình tối tân không tìm ra dấu vết. Tại Á Châu, người Nhật tin rằng vùng biển bao quanh các đảo đều có rất nhiều "người rắn” đầy quyền lực. Nữ thần cai trị các sông là Sarawati kết hôn với một rắn chúa. Thần rắn Susa-No-Wo cũng được nhắc tới rất nhiều trong việc tranh chấp với nữ thần mặt trời Amataratsu omi kami. Dân Ấn Ðộ từ lâu vẫn coi rắn hổ vẫn được coi là thần vật. Mãng xà vương Naga, con của Kadru và Daksha rất được dân chúng tôn thờ và sùng bái. Naga - tiếng Phạn có nghĩa là rắn - cư ngụ trong các cung điện của đô thị ngầm Bhogavati và cai quản các nguồn nước như sông ngòi, suối v.v... Naga biết hát và nhảy múa, đôi khi có nhiều đầu như Mulchalinda hay Naga Kanya. Sesha là vua của các Nagas có tới 1,000 đầu và bận y phục màu tím. Thần Shiva có rắn gọi là "naga bushana" cuốn quanh cổ. Thần Vishnu ngủ trên một con rắn cuốn tròn trên mặt nước. Hai con rắn khác, một ngóc đầu lên, một quay đầu xuống tượng trưng cho tình trạng thức và ngủ. Thần Vishnu khi ngồi cũng được rắn Naga Kanyan chín đầu phùng mang che chở. Trong kinh Phật cũng nói tới rắn 1,000 đầu tên Ananda khoanh tròn quanh trục trái đất. Sau thời gian tịnh tâm dưới gốc bồ đề, Phật Tổ ngồi tại một gốc cây khác để tham thiền không để ý gì đến chung quanh. Trong lúc đó, bỗng nhiên giông bão nổi lên. Một con rắn lớn tên Muchalinda từ gốc cây bò ra, cuốn quanh Phật 7 lần để che chở và dùng mang che đầu Phật cho khỏi ướt. Dân Cam Bốt tin rằng vương quốc Khmer do vua rắn sáng lập. Con đường dẫn đến ngôi đền chính tại Ankhor Wat của Cam Bốt được khảm bằng nhiều "naga" bảy đầu và cũng có nhiều hình rắn được tạc trên tường. Ngay cả xứ Tây Tạng không có rắn cũng thờ thần Naga có tên là Lu. Tên Nagajurna tiếng Tây Tạng gọi là Lu-truh. Trong tiếng Phạn, Naga có nghĩa là rắn hổ mang l à chúa tể của loài rắn với những chiếc răng sắc nhọn mà dù là con voi to lớn bị cắn phải cũng sẽ trở nên bất động và chờ tử thần đến đưa đi. Rắn hổ mang còn tượng trưng cho thần Siva tối cao nắm giữ trong tay quyền lực hủy diệt và tái sinh. Truyền thuyết kể rằng, vị vua đầu tiên sáng lập ra vương quốc Chân Lạp là Kampu. Ngài là một quốc vương tài giỏi, yêu thương dân chúng, được thần dân tôn sùng và kính trọng. Một lần, trên đường sang đất nước Indonesia xinh đẹp, ngài gặp nữ vương con gái vua rắn Naga kiều diễm, thông minh vượt trội, vừa dịu hiền, vừa quyết đoán. Quốc vương tuy mới gặp nhưng đã đem lòng yêu mến và quyết lấy nàng làm vợ. Sự dũng mãnh, oai phong và tài giỏi của quốc vương Kampu thể hiện trong các kỳ thi thử sức đầy gay go, quyết liệt của vua rắn Naga đã giúp ngài làm vừa lòng vị nhạc phụ tương lai khó tính và đưa nữ vương lên ngôi hoàng hậu. Quốc vương Kampu và Hoàng hậu Naga cùng nhau sáng lập và xây dựng nên đất nước Campuchia. Các vị vua của đất nước xứ chùa tháp đều cho xây dựng các cung điện và đền thờ khổng lồ bằng đá, mà rắn Naga được xem là vị thần canh giữ chốn thiêng liêng. Rắn Naga luôn xuất hiện trên cầu thang, các lối đi, trên ngưỡng cửa hoặc trên các mái tháp để xua đuổi tà ma. Rắn Naga còn tượng trưng cho sự phồn thực và là loài có khả năng bảo vệ nguồn nước cho người Campuchia. Đến thăm các các ngôi đền cổ ở Campuchia, du khách sẽ thấy nhiều cầu vòng có hình rắn Naga. Những chiếc cầu vòng này tượng trưng cho cầu nối giữa cõi nhân gian và cõi Niết Bàn. Rắn Naga nhiều đầu tượng trưng cho chiếc cầu nằm trải dài dưới chân những ngôi đền núi là thế giới con người đến đỉnh của ngôi đền tượng trưng cho cõi thần linh. Theo quan niệm của con dân xứ Angkor, rắn 3 đầu tượng trưng cho tam tài là thiên, địa, nhân; 5 đầu theo thuyết ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Thần Naga bảy đầu tượng trưng cho sự đắc đạo trong tu hành và 9 đầu chính là con đường dẫn lên thiên đàng. Rắn Naga 7 đầu còn tượng trưng cho bảy sắc dân trong xã hội Campuchia cổ xưa, cũng như biểu trưng cho năng lực của người nam, sự vĩnh hằng, sự vô tận và sự bất tử. Rắn Naga 7 đầu còn phù hợp với 7 sắc cầu vồng. Cũng có rắn Naga 6 đầu, biểu trưng cho người nữ, trái đất, thể xác và sự chết. Trong các ngôi chùa của “đất nước xứ chùa tháp”, rắn Naga ngự trên các mái chùa, các đầu đao để xua đuổi tà ma và bảo vệ đạo Phật. Ngoài ra cũng có hình tượng rắn Naga được chạm trổ bằng xà cừ uốn lượn quấn quanh những cánh cửa chùa, trên những chiếc tủ đựng kinh sách, trên những chiếc xe tang đưa người chết đến nơi hỏa thiêu tượng trưng cho vị thần đưa linh hồn người tốt lên cõi Niết Bàn. Truyền thuyết rắn Naga đã ăn sâu vào thế giới tâm linh của người Campuchia. Tại Thủ đô Phnompenh của “đất nước xứ chùa tháp” xinh đẹp có một khách sạn 5 sao mang tên thần rắn Naga, đó là Khách sạn NagaWorld. NagaWorld nằm giữa vùng địa thế ven bờ đẹp như tranh vẽ của sông Mekong và biể n hồ Tonlé Sap tràn đầy sức sống. Theo truyền thuyết, tên của NagaWorld bắt nguồn từ thần thoại rắn 7 đầu hay còn gọi là thần Naga. Rắn thần dũng mãnh được tin là luôn ẩn cư trong lòng sông và canh giữ kinh thành PhnomPenh. Người ta bảo rằng chỉ có thể thấy ngài xuất hiện khi cầu vồng tỏa sắc và nếu được như thế sẽ rất may mắn. Ðặc biệt người Hy Lạp có rất nhiều thần thánh và huyền thoại liên quan tới rắn. Loại nữ trang cổ Hy Lạp thông dụng nhất mang hình rắn khoanh tròn. Thần Zeus được coi như vị thần tối cao, xuất hiện mỗi mùa xuân dưới dạng môt con rắn khoanh tròn cùng với nữ thần cai quản trái đất Rhea cũng mang hình rắn. Rắn, như vậy được người Hy Lạp coi là biểu tượng của đất và nước. Chính thần Zeus khi bị cha là Chronos đuổi giết đã biến hình thành một con rắn để trốn thoát.. Sau này Thần Zeus trở thành thần tối cao vì đã chinh phục được con rắn khổng lồ Typhon, tương tự như chuyện Yahweb chinh phục Leviathan trong thánh kinh. Người ta cũng tin rằng có một con rắn lớn tên Python nằm giữa trung tâm trái đất để giữ cho khỏi bể. Theo huyền thoại, Python là con của Gaia được nặn bằng bùn và đất đọng lại sau trận lụt lớn Deucalion. Vì Python quá hung dữ không ai giám lại gần nên dân chúng xin thần Appolo trợ gúp. Thần Appolo từ núi Olympus hiện xuống, dùng cây cung bạc, bắn mũi tên vàng giết chết Python, do đó thần Appolo còn được gọi là Pythian Appolo. Về thiên văn, người Hy Lạp dùng tên Draco có nghĩa là Rồng để đặt cho một chòm sao rất dài trông như con rắn trên trời. Theo truyền thuyết, rồng Draco là vật nuôi trong nhà của thần Zeus. Vì Zeus bắt cóc nàng Europa nên người em của nàng là Cadmus tìm đến cứu chị. Draco bị Cadmus giết chết nên thần Zeus biến Draco thành bất tử bằng cách đưa lên trời trở thành chòm sao. Ngoài Draco, còn có chòm sao khác mang tên Hydra cũng mang hình tượng rắn. Nữ thần bảo hộ thành phố Athen là Athena rất nổi tiếng thường mang một tấm khiên có hình con rắn. Athena mà người La Mã gọi là Minerva, còn được gọi là Pallas Athena. Ngày nay, Minerva rất thông dụng để đặt tên cho con gái tại các quốc gia nói tiếng Tây Ban Nha vùng Nam Mỹ. Athena là con của thần Zeus (Jupiter), ngay khi được tạo ra từ trán cha đã khôn lớn và mặc áo giáp. Athena thường đội nón sắt, tay cầm giáo và mang khiên. Lớp áo giáp của Athena giống như của cha, có tên là "aegis", làm bằng một lớp da dê viền rắn, khi lay động phát ra tia chớp để giết quân thù. Ngày nay, tên "Aegis" được đặt cho hệ thống phòng thủ chống hỏa tiễn của các chiến hạm hải Quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Athena khác xa thần chiến tranh là Ares (Mars). Nàng tượng trưng khía cạnh tinh khôn, sáng suốt của nghệ thuật chiến tranh hơn là một chiến sĩ. Athena không những mưu lược khi xung trận mà còn rất hữu dụng trong hòa bình. Nàng là người sáng chế ra chiếc cầy và cách đóng ách vào bò để dạy dân cầy đất. Athena còn được coi là nữ thần bảo hộ các thành phố lớn. Tên của nàng được dùng để đặt cho thủ dô Athen của Hy Lạp vì một hôm, thần Zeus cho biết sẽ dùng tên của vị thần nào tạo ra được sự lợi ích nhất cho dân chúng để đặt cho thành phố lớn nhất. Thần Poseidon tặng dân loài ngựa. Athena dùng mũi giáo đâm xuống đất tạo ra cây olive được dân chúng rất thích. Vì vậy thần Zeus trao tặng thành phố này cho Athena. Do đó, người ta còn thất nhiều hình tượng nữ thần Athena tay cầm cành olive biểu tượng cho hòa bình và sung túc. Athena là nữ thần còn trinh trắng nên được gọi là Parthenos (gái trinh) và được thờ ở đền Parthenon. Huyền thoại đáng kể nhất còn liên quan tới ngày nay là chuyện ông Asclepius (người La Mã gọi là Aescepulus hay Askepulus) chuyên dùng rắn để chữa bệnh cho dân chúng nên sau này được tôn xưng ông tổ sáng lập ra ngành Y Khoa, trước cả tổ sư Hippocrates. Nguyên thần Apolo có một bà vợ tên Coronis là một cô gái rất xinh đẹp của thành phố Thessaly, nhưng vì bà này không trung thành nên bị Thần giết chết. Ðứa con trai sơ sinh của hai người được gửi cho Chiron là một quái vật đầu người, mình ngựa nuôi dưỡng. Ðược Chiron truyền Y Thuật nên Asclepius trở thành một danh y hành nghề cứu nhân độ thế. Cách chữa bệnh của ông rất lạ đời: ông thường cho các bệnh nhân vào nằm ngủ qua đêm trong một đền thờ Rắn Thần để đến khuya, bầy Rắn bò ra liếm vào mình con bệnh, đến sáng hôm sau bách bệnh đều tiêu tan! Vì lý do đó, dân chúng Hy Lạp thời cổ dùng hình ảnh biểu con rắn cuốn quanh cây gậy để làm biểu tượng của danh y Asclepius. Y thuật của ông cao siêu đến độ có một lần ông cãi mệnh trời, cải tử hoàn sinh cho một vị hoàng tử. Vì vậy, thần Zeus tức giận dùng một tia sét để đánh chết Asclepius. Y thuật của ông sau này được các đệ tử truyền qua La Mã và được Hippocrates hệ thống hóa. Hiện nay bên Hy Lạp vẫn còn các đền thờ Thần Rắn. Hình ảnh con rắn cuốn quanh cây gậy, gọi là caduceus, tiếng Hy Lạp là Kerykeion đã trở thành biểu tượng của ngành y khoa hiện đại, các tân bác sĩ trước khi ra trường chữa bệnh đều phải thề trước tượng tổ Hippocrates này. Ðọc mãi những chuyện rắn trong khoa học và huyền thoại cũng phát chán phải không qúi vị? Ðể thay đổi không khí cũng như "văn phong" và chứng tỏ sự oai lực của giống mãng xà, chắc không gì bằng kể lại mẩu chuyện rắn trong Thánh Kinh. Câu chuyện này rất nổi tiếng, không những vì đã vượt thời gian và không gian đến nỗi mọi người Ðông Tây đều biết, mà còn liên quan mật thiết đến nguồn gốc loài người. Chuyện kể rằng khi Thiên Chúa sáng tạo xong trời đất muôn vật, thấy vũ trụ tuy "trăm hoa đua nở" nhưng vẫn thiếu sinh khi nên dùng đất - ôi! cát bụi lại trở về với cát bụi - để nắn thành người đàn ông, đặt tên là Adam. Thiên Chúa cho Adam ở trong vườn Ðịa Ðàng là nơi đầy hoa thơm cỏ lạ, không chút ưu phiền. Tuy nhiên, tuy được cư ngụ tại một nơi không bao giờ sợ bị "lay off" cũng chẳng phải lo về những chuyện trần tục như "trả bills", "bảo hiểm", "thị trường chứng khoán... trồi sụt" v.v..., nhưng ông tổ Adam thân mến của chúng ta vẫn cảm thấy "buồn man mác, nhớ bâng khuâng" vì thiếu một bóng hồng thân yêu. Một hôm, sau khi ca đi ca lại mãi bản vọng cổ "hỡi ơi nhìn trời hiu quạnh, nhìn trăng, trăng lạnh, nhìn rốn...", cụ tổ Adam chịu đời không thấu bèn than thở cùng Thiên Chúa về cuộc sống cô đơn, thiếu... ướt át của mình. Thiên Chúa thông cảm cảnh "phòng không chiếc bóng" của cụ Tổ nên bẻ một khúc xương sườn của ông Adam - với hàm ý rằng nếu ngươi muốn "liên hệ" với phái đẹp, ta sẽ cho ngay, nhưng trước hết ngươi phải tập làm quen với mùi đau khổ cái đã - để tạo thành một người đàn bà, đặt tên là Eva. Thiên Chúa cho phép hai người được tự do đi lại, "vacation" 24/24 và được phép ăn bất cứ của ngon vật lạ nào trong vười Ðịa Ðàng, ngoại trừ một loại trái cây gọi là Trái Cấm. Kể từ khi có người đẹp Eva bầu bạn, cuộc đời ngài Adam lên hương và phấn khởi thấy rõ. Chỉ có mỗi một việc tận hưởng "tứ khoái". Không phải "cầy" hai ba "jobs" để n àng “shopping” thì không khoái tỉ sao được! Hai ông bà tà tà cùng nhau "kề vai cọ... vế", an hưởng hạnh phúc. Cho tới một ngày kia, có một con rắn do qủi Satan là kẻ thù của Thiên Chúa biến hình, cám giỗ và xúi bà Eva cứ việc bẻ trái cấm mà ăn, vì ai ăn được trái cấm sẽ được trẻ đẹp mãi mãi, không bao giờ cần viếng thăm thẩm mỹ viện, và nhất là còn có nhiều quyền lực hơn cả Thiên Chúa! Bà Eva nghe lời ngon ngọt của qủi dữ bèn năn nỉ ỉ ôi cùng ông Adam để bẻ Trái Cấm. Lúc đầu ông Adam còn nhớ đến lời răn của Chúa nên nhất định từ chối. Về sau, bị bà Eva dùng chiến thuật "nước chảy đá món, trường kỳ kháng chiến", và nhất trúng độc chiêu độc chiêu "bế môn tỏa cảng", ông Adam chịu đời không thấu, đành bẻ Trái Cấm để hai người cùng ăn. Bà Eva vì muốn mau được "trường kỳ" trẻ đẹp và có nhiều quyên lực hơn Thiên Chúa nên "ngốn" hết rất nhanh. Nhưng đúng lúc ông Adam đang nuốt trái cấm còn mắc ngang cổ, bỗng Thiên Chúa hiện ra trách phạt hai người đã không theo lời răn. Vì vậy, các đấng "đực rựa" con cháu của cụ tổ Adam ngày nay còn mang một "cục nợ" chình ình tại cần cổ được gọi là "trái táo Adam" (Adam's Apple). Từ đó, cả ông Adam lẫn bà Eva bị trục xuất khỏi vườn Ðịa Ðàng, đầy xuống trần gian sinh con đẻ cái tạo thành nhân loại đầy khổ ải ngày nay để tiếp tục trả “nợ tổ tông”. Qua câu chuyện lý thú về thủy tổ loài người kể trên, tác giả mạn phép có một đôi lời bàn theo kiểu Mao Tôn Cương. Trước nhất, ngay từ th ơời tạo thiên lập địa, chúng ta thấy ông tổ Adam của giới đàn ông con trai có cuộc sống "đầy đủ tiện nghi", không phải đi làm, cắt cỏ, cào lá, sửa xe v.v... tối ngày chỉ ăn chơi phè phỡn rồi xách vợt đi dợt Tennis trong vườn Ðịa Ðàng. Tuy sung sướng là vậy nhưng cụ Adam vẫn cảm thấy "đời vắng em rồi, dzui mí ai?" Vì vậy, đến ngày nay, nếu có vị tu mi nam tử nào có chết dở sống dở vì các đấng liền bà con gái tưởng cũng là chuyện thường vì chỉ theo gương ông Tổ. Thứ hai, con rắn thật là khôn ngoan, qủi quyệt và rất rành "tâm lý". Biết được các đấng trượng phu hào hoa phong... thấp có thể bách chiến bách thắng nhưng khó qua được cửa ải "quần hồng" nên rắn ta đã khôn ngoan "lòn cửa hậu". Rắn biết "chăm phần chăm" rằng một khi tướng bà đã "OK", mọi chuyện sẽ chắc ăn như cua gạch. Cho dù tướng ông có phản đối đi nữa, nhưng khi đã lọt vào... đồ bát quái của nữ tướng, dù có cứng rắn đến đâu cũng sẽ bị nhũn như con... chi chi. Trong lịch sử Ðông Tây kim cổ, có thiếu gì chuyện phản ảnh qui luật "lệnh ông không bằng cồng bà" này. Chẳng hạn như nàng Thúy Kiều với "làn thu thủy, nét xuân sơn" đã làm đấng anh hùng Từ Hải oai dũng "râu hùm, hàm ém, mày ngài, vai năm thước rộng, thân mười thước cao" bị chết đứng. Gần đây, những câu chuyện "cửa hậu" tại Việt Nam hoặc oai lực của rồng cái biết hút xì gà Monica Lewinsky làm Tông Tông Bill Clinton xiểng niểng tại Hoa Kỳ đã hùng hồn chứng tỏ oai lực này. Thứ ba, câu chuyện trái cấm vườn Ðịa Ðàng này cũng chứng tỏ biệt tài "ăn nhậu" của qúi bà. Mặc dù có câu "nam thực như hổ, nữ thực như miêu", nhưng lúc ăn trái cấm, bà Eva đã "nhẩm xà" phần nhiệm của mình rất nhanh. Trong lúc đó, ông Adam vẫn còn ì ạch nhai nuốt đến nỗi bị Thiên Chúa bắt gặp tại trận chưa nuốt kịp, trái cấm còn kẹt trên cổ. Báo hại cho đến ngày nay, các vị đực rựa còn được "ân hận" mang cục nợ này mà chẳng được tích sự gì!. Có lẽ vì vai trò không đẹp của rắn trong Vườn Ðịa Ðàng nên hầu hết các sắc dân trên thế giới đều dùng rắn để ví von với những hình tượng mang ý nghĩa xấu. Trong tiếng Pháp, "serpent" là con Rắn, nhưng người Pháp cũng dùng chữ "serpent" để chỉ loại người hiểm độc. Thí dụ như "langue de serpent" là ăn nói độc địa; "serpent caché sous fleurs" tức "rắn ẩn dưới hoa" là sự nguy hiểm nằm dưới bề ngoài đẹp đẽ không ngờ "réchauffer un serpent dans son sein" tức "ủ rắn trong ngực" là nuôi họa vào thân hay nuôi ong tay áo. Trong văn học Pháp cũng có giai thoại hai văn hào nổi tiếng có điều xích mích. Một ông làm bài thơ kể chuyện ông kia đi chơi núi bị rắn độc cắn, nhưng kỳ lạ thay không hề hấn gì, mà ngược lại, con rắn lại bị chết! Người Anh cũng có nhiều câu nói không đẹp về rắn. Thí dụ như ""snake in the grass" đồng nghĩa với "serpent sous fleurs"; "speak with forked tongue" là miệng lưỡi ăn nói độc địa như lưỡi rắn; "lower than a snake's belly" để chỉ loại người đê tiện, hèn hạ, xảo trá, hèn hạ như không còn gì thấp hơn. Những câu nói này đều rất đúng nếu đem áp dụng vào đám đầu xỏ Việt Cộng. Người Trung Hoa khi gặp nhau cũng thường chào hỏi bằng câu "Vô xà hồ?" nghĩa là không gặp chuyển chẳng lành gì chứ? Sau khi đọc những chuyện “rắn rết cùng với ông Adam và bà Eva, chắc qúi độc giả cảm thấy cũng có đôi phần lý thú? Vậy "thừa thắng xông lên" và cũng để được tiếng vui xuân vẫn không quên chiến sĩ, nay xin "phiếm" thêm về phái nữ cho đúng câu "kính nữ đắc thọ". Vào dịp đầu năm, các bà các cô thường có "thuần phong mỹ tục" đi xin xâm, hái lộc, coi bói, xem tướng v.v... nên thiết tưởng nên kể vài mẫu chuyện đến tướng số của phái nữ có liên quan tới rắn. Chả là ngày xửa ngày xưa, theo quan niện "nam nữ thụ thụ bất thân" nên nhiều khi cho tới khi thành gia thất, đôi trai gái vẫn chưa hề được gặp mặt nhau chứ đừng nói đến chuyện "xào khô, xào ướt" hoặc cằm tay cầm chân, bẻ giò bẻ cẳng hôn hít chùn chụt như thời vệ tinh nguyên tử bây giờ. Tuy nhiên, không phải vì vậy mà các cụ ta nhắm mắt lấy mò, vì các vị nam phụ lão ấu từ thời Hồng Bàng đã luôn luôn thực hành câu "lấy chồng xem tông, lấy vợ xem giống". Tuy nhiên, "xem" đây không phải là "vạch trần" ra mà coi như thời đại văn minh bây giờ. Với quan niệm tam tòng tứ đức "công dung ngôn hạnh" thời xưa, sức mấy mà coi được cái... giống của qúi vị liệt nữ! Ðiều quan trọng khi cưới vợ là phải chọn được cô nào có tướng "vượng phu ích tử", tránh các vị liền bà mang tướng "thương phu trích lệ" hoặc lưỡng quyền cao là tướng sát phu v.v... Vì vậy, phải nhờ những vị chuyên rờ mu rùa "xem mặt mà bắt hình dong" theo kiểu "cái miệng làm sao, cái ngao làm vậy". Kinh nghiệm mấy ngàn năm của các đệ tử thầy Qủi Cốc về tướng số nữ giới được cô đọng thành một bài thơ tứ tuyệt không tiện "ngâm" trong lúc đầu xuân, chỉ biết trong đó có những chữ "hồng diện, trường mi, chiết yêu, trường túc" để mô tả những "quái" tướng của các vị liễu yếu đào tơ. Rất tiếc, vào dịp đầu xuân tết nhất, dù có uống mật gấu tác giả cũng không giám công khai diễn nôm nguyên văn cũng như nguyên nghĩa... đen chùi chũi như mõm chó của bài thơ, chỉ giám lạng quạng giải thích phần nào. "Hồng diện"có nghĩa là mặt màu hồng, do dó "đào" đẹp còn được gọi là "hồng phấn mỹ nhân" hay "hồng nhan tri kỷ". "Trường mi" là lông mi dài, được mệnh danh là "mi thanh mục tú". "Chiết yêu" là lưng hay eo thon, do đó tục ngữ ta có câu "những người thắt đáy lưng ong, vừa khéo "chiều" chồng, vừa khéo nuôi con". "Trường túc" là chân dài, được đánh giá là "trường túc bất tri lao". Nếu nghiệm ra, bài thơ tướng số nói trên đúng phóc không chỗ chê. Chúng ta hãy nhìn kỹ những mỹ nhân đông tây kim cổ, từ Cléopatra, Marie Antionette đến Tứ Ðại Mỹ Nhân hoặc các vị liền bà con gái trong các tuồng chưởng như Hân Tố Tố, Chu Chỉ Nhược, Hoàng Dung, Triệu Minh Quận Chúa v.v... cho đến tận ngày nay, phái yếu luôn luôn chú trọng tới chuyện "má hồng" (hồng diện) bằng cách tô son điểm phấn. Mục "tô lục chuốt hồng" này còn lan cả đến môi đưa tới các mục "xâm", có vị còn đi quá xa "chơi" luôn phần "hình nhi hạ" nữa! Còn vụ lông mi dài "trường mi" thì khỏi phải nói! Ngoài các mục xâm, cấy, mang lông mi giả, có vị còn xài thuốc "thoa đâu mọc đó. Eo thon "chiết yêu" có lẽ được các vị nữ lưu chú ý nhất cùng với mục "ngực nở", vì vậy mới có những chuyện nhịn ăn, hút dầu hút mỡ để vòng số 2 nhỏ đi được vài "inches". Riêng vụ chân dài "trường túc" rất quan trọng đối với các bà các cô Giao Chỉ tương đối "ngắn đòn", vì vậy những giầy cao gót cỡ 10 phân được các vị này nồng nhiệt chiếu cố. Ðến đây, thế nào cũng có một số qúi vị độc giả thân mến lên tiếng trách móc rằng cái "vốn trời cho" của qúi vị liền bà con gái có liên quan gì đây đến chủ đề rắn mà tác giả khai thác kỹ đến như vậy? Qúi vị khoan nóng tính, hãy bình tĩnh rót ly trà, nhâm nhi miếng mứt để coi "hồi sau sẽ tiếp". Chẳng lẽ với 4,000 năm văn hiến, số mạng các bà các cô là sinh vật quan trọng nhất trên quả địa cầu chỉ bao gồm trong 4 câu thơ... ngắn ngủn như vậy, phái yếu sẽ chẳng hài lòng. Thật ra, các cụ ta không những chỉ căn cứ vào bài thơ trên mà còn xem kỹ tướng ăn, tướng ngồi, tướng đứng, tướng đi để chọn con dâu tương lai. Một trong những "quái tướng" được các cụ để ý là tướng đi "vặn mình xà" hay gọi tắt là "xà hành". Tướng đi độc đáo này chỉ có những bà những cô "chiết yêu, trường túc" mới đủ công lực để trình diễn. Tác giả vì không được hân hạnh thuộc giới "quần vận yếm mang" nên khó bề diễn tỏa. Tuy nhiên, qúi vị hãy để trí tưởng tượng làm việc, hình dung khúc mình "giây" của con rắn lúc di chuyển, thân hình đong đưa, khi sang đông, lúc về tây, lên thác xuống ghềnh, trông thật uyển chuyển và mềm mại, thật "đã con mắt" phải không qúi vị? Nay nếu lại có cả một tòa thiên nhiên "dầy dầy sẵn đúc" đặt trên cái "foundation" ẹo qua ẹo lại đó, thật là hết xảy, không bút mực nào tả xiết! Muốn biết thêm chi tiết về thế đi hào hứng "vặn mình xà" này, cứ tìm hỏi các đấng đực rựa dạo trước thường đóng đô rửa mắt tại Brodard hay Givral đường Tự Do hoặc Nguyễn Huệ của thủ đô Sài Gòn xa xưa sẽ rõ. Sang qua mặt y dược, người Á đông đã dùng một số loài rắn như cạp nong (rắn mai gầm) (Bungarus fasciatus Schneider ), rắn hổ (Elapidae) rắn cạp nia (rắn mai gầm bạc) v.v..làm thuốc từ lâu. Người Việt Nam ta thường quan niệm rắn càng độc lại càng “nên thuốc”, tương tự như “càng đẹp càng độc” hay “hồng nhan họa thủy” khi luận về liền bà con gái! Thịt rắn chứa nhiều protein, acid amin, thường dùng dưới dạng ngâm rượu thuốc gồm 1 bộ 3 con gọi là tam xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 rắn ráo), hoặc bộ 5 con gọi là ngũ xà (1 hổ mang, 1 cạp nong, 1 cạp nia, 2 rắn ráo). Cũng có thể làm thành dạng viên chữa đau nhức khớp xương, tê bại, nhọt độc. Nọc rắn rất độc do có các enzym và protein độc, thường được dùng dưới dạng thuốc chích, thuốc mỡ chữa tê thấp, giảm đau cho bệnh nhân ung thư, hạn chế phát triển khối u. Mật rắn chứa các loại acid mật chữa phong thấp, khớp xương, đau lưng, sốt kinh giản ở trẻ em, ho, hen suyễn, dùng dưới dạng siro, rượu thuốc Xác rắn (xà thoái) chữa động kinh, co giật ở trẻ em, đau cổ họng, ghẻ lở. Dùng 6-12g một ngày, dưới dạng thuốc sắc hay sao vàng tán bột uống, ngâm cồn bôi ngoài. Mỡ rắn được dùng để chữa phỏng lửa.   Qua tới phần tướng số để lấy hên đầu năm, người sinh vào những năm 1917, 1929, 1941, 1953, 1965, 1977, 1989, 2001 người tuổi rắn (Tỵ). Nói chung người tuổi Tỵ ưa thích hài hước, song cũng có trường hợp ngoại lệ. Một số người lãnh đạm, lạnh lùng, một số khác lại thường trêu đùa, chế giễu người khác, nhưng khi gặp lúc nguy cấp họ có thể hâm nóng bầu không khí bằng cách pha trò vui vẻ, ngay cả khi họ chịu áp lực nặng nề cũng chẳng chút hốt hoảng. Người sinh năm Tỵ có thể trở thành nhà triết học, thần học, nhà chính trị và cũng có thể là một nhà tư tưởng sâu sắc. Họ là người bí ẩn nhất trong số mười hai con giáp và có trí tuệ đặc biệt bẩm sinh. Người tuổi Tỵ nho nhã, lịch sự, rất thích đọc sách nghe nhạc, thích ăn ngon và xem kịch. Những cô gái xinh đẹp nhất, nổi bật nhất, các chàng trai cá tính mạnh mẽ thường sinh vào năm Tỵ, cho nên nếu bạn sinh năm Tỵ, chắc hẳn bạn sẽ có một vận mệnh tốt đẹp. Nhìn chung, nữ giới tuổi Tỵ vốn là một mỹ nữ. Cô tự tin, ung dung và thong thả. Họ yêu thích thời trang, ăn mặc đúng mốt. nhưng không mấy quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ cô còn hiền lương, thẳng thắn, trong sáng, thuần khiết, lễ phép. Nam giới tuổi Tỵ thường hướng tới cuộc tình cháy bỏng, mãnh liệt. Vì vậy, trong suốt cuộc đời, họ luôn được phái nữ vây quanh, là một mẫu phong lưu điển hình. Về sức khỏe, người tuổi Tỵ dễ bị rơi vào căng thẳng khi cuộc sống của họ không theo đúng thứ tự. Họ thích một cuộc sống bình yên, họ chọn sự yên tĩnh chứ không chọn sự náo nhiệt và thích loại công việc dễ xử lý hơn là loại công việc bận rộn. Về Sự nghiệp, người sinh năm Tỵ rất giàu tính sáng tạo và làm việc chăm chỉ vô cùng. Họ đặc biệt giỏi về giải quyết vấn đề và tự hạn định thời gian cho mình rất chặt chẽ. Họ cũng có thể trở nên quyến rũ và mê hoặc để thu hút mọi người quanh họ. Sang mặt tình duyên những người tuổi Tỵ là người chịu trách nhiệm trong các mối quan hệ và họ sẽ là người quyết định xem có nên tiếp tục mối quan hệ đó hay không. Một khi đã lựa chọn được người bạn đời, họ sẽ không ngại công khai điều đó. Người bạn đời của họ sẽ giống như một phần thưởng mà họ giành được sau bao lâu mong ước, họ trở nên ghen tuông và thậm chí là bị ám ảnh khi họ bảo vệ người ấy. Quan trọng là không bao giờ được phản bội người tuổi Tỵ, vì một con rắn bị phản bội sẽ trả thù rất ghê gớm. Tuổi Tỵ hạp với tuổi Dậu, Sửu, nhưng xung khắc với tuổi Dần, Thân và Hợi Ngoài ra, sách "Tử Vi Ðẩu Số" do Qủy Cốc Tử sáng tác từ thời cụ Bành Tổ cũng có khá nhiều lời bàn ... Mao Tôn Cương rất lý thú về vận mạng của những người mang cốt rắn. Liền bà con gái tuổi Tỵ thường rất đẹp, khôn ngoan lanh lợi, hấp dẫn như Marilyn Monroe hay ít ra cũng "xexy" nhu Monica Lewinsky! Các nàng này ưa thích thời trang, ăn diện rất "hiện đại" và đúng "mode". Tuy nhiên, loại phụ nữ "rắn" này lại thích cuộc sống trong tổ ấm gia đình và có máu ghen khủng khiếp khiến Hoạn Thư cũng phải chạy mặt! Các chàng tốt số vớ được cô vợ tuổi Tỵ cần đề cao cảnh giác, nếu lạng quạng với đào nhí hay thích mục bia ôm sẽ có ngày bị hổ mang ... bành mổ thác hoặc biến thành bà con với anh chàng Bobbit chẳng mấy hồi! Liền ông con trai tuổi Tỵ cũng rất quyến rũ, chải chuốt theo kiểu "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bảo". Phái nữ sa vào tay loại "lady killer" này cần "thủ" kín, nếu sơ ý cởi mở sẽ bị "mổ" tan tác! Sách "Giải Ðiềm Ðoán Mộng" cũng nói "duy hùng duy bi, nam tử chi tường; duy hủy duy xà, nữ tử chi tường", nghĩa là các bà có mang nằm chiêm bao thấy gấu là điềm sinh con trai, thấy rắn l à dấu hiệu sinh gái. Vì vậy, trong truyện "Nhị Ðộ Mai" (Hoa Mai Hai Lần Nở) mới có câu thơ: Hiếm hoi mới được mộng xà Vân Tiên là gái, mặt hoa khuynh thành" Ngược lại, nằm mơ thấy hoa lan lại sinh con trai như trong thơ "Bần Nữ Thán" (Gái Nghèo Than Thân) nói về chuyện lân gia hàng xóm sinh con đẻ cái: Kìa như động bích lân gia Kẻ đà bốc phượng, người đà mộng lan" Sau khi du lịch vòng quanh thế giới để xem rắn, mời qúi vị trở về xứ Giao Chỉ "ta về ta tắm ao ta" để nghe chuyện rắn "quê hương". Chẳng nơi nào đẹp và "nhiều chuyện" bằng nơi chôn nhau cắt rốn phải không qúi vị? Trong văn chương Việt Nam, có nhiều câu tục ngữ ca dao cùng huyền thoại hay ho liên quan tới rắn. Trong kho tàng cổ tích dân gian có truyện Trạng Quỳnh vẽ rắn khiến vua quan Tàu phải lắc đầu thán phục. Nguyên Trạng Quỳnh được vua ta cử đi sứ sang Tàu để bàn chuyện giao hảo giữa hai nước. Vua quan Tàu muốn làm nhục sứ nước Nam nên bày ra cuộc thi vẽ, với điều kiện khi dứt ba tiếng trống, phải vẽ xong một con vật. Dĩ nhiên, vua Tàu đã chọn sẵn một họa sĩ chuyên vẽ súc vật tài giởi nhất trong nước đã tập dượt thuần thục vẽ rất nhanh một con vật. Trạng Quỳnh biết ý định thâm độc của vua Tàu, nhưng vẫn bình tĩnh coi như không. Ðến ngày thi, mỗi bên được cấp một tờ giấy, môt ngọn bút lông và một nghiên mực. Khi tiếng trống đầu tiên vừa dứt, Trạng Quỳnh đã nhúng cả mười đầu ngón tay vào nghiên mực rồi vẽ vẽ ngoằn ngoèo trên giấy trong lúc họa sỉ Tàu còn chưa vẽ được gì. Khi nộp bức tranh, vua Tàu bắt bẻ cho rằng Trạng Quỳnh vẽ chẳng ra hình thù gì cả. Ông biện bạch thưa là đã vẽ xong mười con rắn đang bò khi mới dứt một tiếng trống. Thế là vua Tàu bị đuối lý, đành phải để Trạng Quỳnh thắng cuộc thi vẽ. Tục ngữ cũng có câu "cõng rắn cắn gà nhà" để chỉ phường Việt gian bán nước, cam tâm là đầy tớ cho ngoại bang, cúi đầu khom lưng cõng chủ về để làm hại đồng bào. Câu này rất đúng trong trường hợp bọn Việt Cộng trước đây cõng con rắn trắng Nga Sô, hiện lại cõng con rắn đỏ Trung Cộng về cắn đồng loại. Ấy vậy mà con cháu cáo Hồ ngoài miệng vẫn ngon ngọt hô hào tự do độc lập, nhưng lại chủ trương độc tài đảng trị kìm kẹp dân chúng, thật là một bọn "khẩu Phật tâm xà". Ðối với con rắn độc Cộng sản, chúng ta cần phải tiêu diệt hoặc tránh xa, không thể nghe lời dụ giỗ đường mật của chúng ca bài "giao lưu" hay "hòa hợp hòa giải" vì như Esape đã nói "nếu bạn sưởi ấm con rắn trong lòng, khi hồi sức, nó sẽ cắn bạn ngay". Bọn Việt Cộng cũng chuyên nghề "vẽ rắn thêm chân", bày vẽ nay luật này, mai lệ nọ để làm khó dễ hầu móc túi nhân dân với thủ tục "đầu tiên".Nói tóm lại, bọn Cộng Sản nguy hiểm và độc như "miệng hùm, nọc rắn", không thể khinh thường được. Ngoài tục ngữ ca dao, văn chương Việt Việt Nam còn có chuyện rắn rấy ký thú liên quan tới ông Bảng Nhãn Lê Qúi Ðôn (1726 - 1784), người xã Diên Hà, tỉnh Sơn Nam (Thái Bình ngày nay)tỉnh, con của Tiến sĩ Hình Bộ Thượng thư Lê Phú Thứ đời Dụ Tông thời chúa Trịnh Cương. Ô ng nổi tiếng là thần đồng. Lên năm tuổi học Kinh Thi, mỗi ngày thuộc cả chục dòng sách. Mười một tuổi, mỗi ngày học Sử ông thuộc tám, chín chương. Mười bốn tuổi đã thông hết Ngũ kinh, Tứ thư, Sử, Truyện. Trong một ngày có thể làm 10 bài phú, không phải nghĩ, không viết nháp. Mười tám tuổi thi Hương đậu Giải Nguyên. Hai mươi bảy tuổi thi Hội, thi Ðình đậu Tam Nguyên Bảng Nhãn. Ông để lại nhiều tác phẩm giá trị với đủ thể loại (triết, văn, sử, địa, ngôn ngữ ...kể cả khoa học nữa) nên người đời sau tôn ông là một nhà bác học. Ông còn có tục danh là Lê Danh Phương, tự là Doãn Hậu, hiệu là Quế Ðường. khi còn nhỏ là một đứa bé tuy thông minh nhưng rất tinh nghịch, khó dậy, rắn mắt và cứng đầu cứng cổ. Tương truyền thuở nhỏ, một hôm ông đang cởi truồng tắm s ông với các bạn, bỗng gặp một quan Thượng hỏi thăm nhà. Ông liền đứng dạng chân và dang tay ra bảo quan Thượng: - Nếu ông biết được cháu đang ra dấu chữ gì, cháu sẽ chỉ nhà cho ông. Quan Thượng cũng tha thứ cho sự nghịch ngợm của tuổi trẻ nên bỏ đi. Ông cười ầm lên và bảo với các bạn: - Ông ấy làm quan to mà không biết chữ các bạn ơi! Quan Thượng bực mình quay lại nói: - Trẻ con đừng hỗn láo. Mày mới học lỏm được chữ Ðại ( ) mà đã dám đi trêu chọc người rồi. Ông càng cười to hơn: - Thế thì ông không biết chữ thật! Có cái chấm ở dưới nữa thì là chữ Thái ( ) chứ sao lại chữ Ðại !? Khi quan Thượng vào nhà ông Lê Phú Thứ, mới biết cậu bé ấy là con của bạn mình. Ông kể lại câu chuyện dọc đường. Ông Thứ liền gọi con ra trách mắng và đánh đòn. Quan Thượng thấy bé Đôn thông minh nên xin tha, với điều kiện phải ứng khẩu một bài thơ tạ lỗi. Ông xin quan Thượng ra đầu đề. Quan Thượng nói: - Cha cháu vừa nói cháu là đứa bé "rắn đầu rắn cổ", vậy cháu cứ lấy đó làm đề bài. Ông Lê Qúi Đôn ngẫm nghĩ một lát rồi đọc bài thơ "Rắn Ðầu Biếng Học” như sau: Chẳng phải liu điu cũng giống nhà, Rắn đầu biếng học lẽ không tha. Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ, Ráo mép chí quen phường láo lếu, Lằn lưng chẳng khỏi vệt dăm ba. Từ nay Trâu, Lỗ xin chăm học, Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia. Bài thơ này không những ngụ ý xin lỗi cha mẹ về tội "rắn đầu" của mình mà mỗi câu thơ đều mang tên một loại rắn như liu điu (rắn nhỏ), hổ lửa, mai gầm, rắn ráo, thằn lằn, hổ mang v.v... Trâu là nước Trâu, quê hương của thày Mạnh Tử Lỗ là nước Lỗ, quê của "Vạn Thế Sư Biểu" Khổng Tử. Quan Thượng phải tấm tắc khen là kỳ tài! Sau khi làm bài thơ này, quả nhiên ông Lê Qúi Ðôn giữ đúng lời hứa, chăm chỉ học hành, thi đỗ Bảng Nhãn, làm quan nhất phẩm triều đình. Ông còn để lại nhiều áng văn chương và bộ sử rất giá trị. Ngoài chuyện văn chương thi phú của ông Bảng Nhãn Lê Qúi Ðôn có liên quan tới rắn, lịch sử nước ta còn có một huyền thoại về rắn dính dáng tới đệ nhất khai quốc công thần Nguyễn Trãi đời nhà Lê. Ông Nguyễn Trãi thi đỗ Tiến Sĩ vào năm 1400, là con của Bảng Nhãn Nguyễn Phi Khanh. Khi cha bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng, ông theo cha lên tận ải Nam Quan không chịu trở về. Ông Phi Khanh bảo con:"Con phải về nhà lo việc trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?" Nghe lời cha, ông Nguyễn Trãi trở về, ngày đêm lo việc trả thù nhà, nợ nước. Gặp lúc Bình Ðịnh Vương Lê Lợi đem quân về đóng ở Lỗi Giang thuộc vùng Thanh Hóa, Nghệ An, ông vào yết kiến và được dùng làm quan Tham Mưu. Về sau, ông Nguyễn Trãi giúp vua Lê lập được nhiều công lớn trong việc đánh đuổi giặc Minh. Chính ông đã bày mưu dùng mỡ viết trên lá cây hàng chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần, Lê Lai vi tướng" (Lê Lợi là vua, Nguyễn Trãi là quan, Lê Lai là tướng) rồi để kiến ăn, đục thành chữ. Ông cho thả những lá cây này theo dòng nước chảy tới chỗ đông dân cư. Dân chúng thấy được những lá cây có hàng chữ này, nghĩ đây là điềm trời báo trước nên tin tưởng và nô nức theo Bình Ðịnh Vương rất đông. Khi dẹp xong quân xâm lăng dành lại nền độc lập cho xứ sở, ông Nguyễn Trãi làm bài "Bình Ngô Ðại Cáo" là một áng văn chương tuyệt tác để tuyên cáo cho thiên hạ được rõ về chiến công của vua Lê. Ðến khi về già, ông Nguyễn Trãi cáo quan về trí sĩ tại Côn Sơn thuộc vùng Chí Linh, Thanh Hóa, lấy biệt hiệu là Ức Trai để hưởng thú thanh nhàn. Tục truyền một hôm ông làm vườn, chẳng may lưỡi cuốc chém phải một ổ rắn, giết chết bầy rắn con, chỉ còn rắn mẹ bị thương chạy mất. Ðêm đó khi Ức Trai tiên sinh ngồi đọc sách tại thư phòng, bỗng có một giọt máu từ trên xà nhà nhỏ xuống trúng vào chữ "Ðại" (có nghĩa là "đời" hay "thế hệ"). Vết máu thấm qua 3 trang giấy. Ông Nguyễn Trãi ngước nhìn lên, thấy một con rắn cụt đuôi còn vấy máu từ trên xà nhà phóng mình ra ngoài chạy mất. Cụ tưởng rằng đây chỉ là một chuyện ngẫu nhiên nên chẳng để ý. Mấy hôm sau có một cô bán chiếu rất xinh đẹp đi ngang mời cụ mua chiếu. Thấy cô hàng có duyên, cụ liền ứng khẩu bài thơ có ý trêu chọc: “Ả ở nơi nào bán chiếu gon? Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn? Xuân xanh nay được bao nhiêu tuổi? Ðã có chồng chưa? Ðược mấy con?" Cụ Nguyễn Trãi lúc đó là một vị quan lớn, dù đã trí sĩ, nhưng thân phận rất cao, nên bài thơ có tính cách bỡn cợt và hơi trịch thượng. Không ngờ gặp phải cô hàng chiếu tên Nguyễn Thị Lộ đanh đá cũng chẳng vừa gì. Thị Lộ bèn trả lời bằng cách ứng khẩu một bài thơ họa nguyên vận như sau: “Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon, Cớ sao ông hỏi hết hay còn? Xuân xanh mới độ trăng tròn lẻ, Chồng còn chưa có, hỏi chi con?" Câu cuối của bài thơ tuy ngụ ý cô hàng chưa có chồng nên hỏi chi đến chuyên con cái, nhưng cũng có ý trả đũa sự khinh miệt của cụ Nguyễn, vì "hỏi chi con" còn hàm ý coi cụ Nguyễn như "con", "hỏi làm chi vậy hả con?" Cụ Nguyễn thấy cô hàng chiếu vừa xinh đẹp, lại có tài thi phú mẫn tiệp nên sau này cưới về làm nàng hầu. Sử chép vào tháng bảy năm Nhâm Tuất (1442), nhân dịp đi duyệt binh ở Chí Linh, vua Lê Thái Tông ghé Côn Sơn thăm lão thần Nguyễn Trãi. Nhà vua thấy Thị Lộ có tài sắc nên truyền chỉ bắt nàng đi theo hầu. Chẳng may trên đường về khi tới huyện Gia Ðịnh thuộc tỉnh Bắc Ninh thì vua băng hà. Triều đình đổ tội cho Thị Lộ giết vua, ghép cho Nguyễn Trãi tội âm mưu rồi xử "chu di tam tộc". Sau này, có người cho rằng Thị Lộ chính là con rắn mẹ biến hình để trả thù xưa. Giọt máu nhỏ vào chữ Ðại thấm qua ba trang giấy ngụ ý báo trước món nợ sẽ phải trả bằng máu của ba đời giòng họ Nguyễn. Mãi đến 22 năm sau, vua Lê Thánh Tông xét lại vụ án vì vợ nhà vua tên là Nguyễn Thị Hằng là cháu bốn đời của bà Châu Thị, vợ cả của ông Nguyễn Trãi. Vua thấy nhiều điều oan ức nên truyền hủy bỏ bản án trước, phục chức cho ông Nguyễn Trãi. Có người cho rằng đại thần Lê Sát vì thấy ông Nguyễn Trãi được vua Lê Thái Tổ trọng vọng nên sinh lòng đố kỵ, lợi dụng cơ hội để sát hại công thần. Ðó là vụ án lịch sử Lệ Chi Viên. Kể xong một số truyện rắn trong dã sử, tới đây tác giả thấy nên đổi đề tài, xoay qua những chuyện cổ tích. Theo các ông bà thuở xưa, rắn có thể tu luyện thành tinh và lột da sống đời. Những "mãng xà tinh" này đều có viên ngọc trong đầu gọi là ngọc rắn, nếu người nào có viên ngọc này sẽ có thể nghe được tiếng nói của loài vật. Ngày xưa, có một anh học trò nghèo tên Công Dã Tràng vì cứu được một gia đình rắn nên được rắn chúa trả ơn bằng cách nhả cho môt viên ngọc. Một hôm, Dã Tràng ngậi viên ngọc rắn trong miệng đi vào rừng, chợt nghe bầy kiến xôn xao bảo nhau phải dời tổ lên cành cây cao vì trong vòng ba ngày sẽ có mưa lụt lớn. Nghe được tin này, Dã Tràng bèn tức tốc báo cho quan huyện sở tại để ra thông tri cho dân chúng chuẩn bị tránh nạn hồng thủy. Quả nhiên ba ngày sau trời đổ mưa tầm tã là vỡ đê gây lụt lớn. Nhưng dân cư trong vùng không bị thiệt hại vì đã đề phòng trước. Quan huyện tâu với triều đình vì Dã Tràng có ngọc rắn nghe được tiếng loài vật nên đã biết truớc có nạn lụt. Nhà vua rất thích, cho với Dã Tràng vào cung, ban cho một chức quan nhỏ để có thể cùng Dã Tràng du ngoạn đó đây, cùng nghe tiếng loài vật. Môt hôm, vua ngự thuyền rồng cùng Dã Tràng ra biển nghe tiếng cá. Chợt nhà vua nghe thấy một cặp cá vừa thong dong bơi lội, vừa thân mật trò chuyện với nhau. Thích quá, vua há miệng ra cười khiến viên ngọc rắn rơi xuống biển. Dã Tràng tiếc ngọc, nhảy xuống biển mò nên bị chết đuối. Tuy đã chết nhưng Dã Tràng vẫn muốn tìm viên ngọc nên biến thành con dã tràng là một loài cua nhỏ, hàng ngày bò lên bãi biển lấy cát mong lấp biển nhưng vẫn không bao giờ tìm lại được viên ngọc. Vì vậy, người đời thường ví những ai làm những việc không thể thực hiện được la "uổng công đã tràng". Trong dân gian cũng có câu: "Dã Tràng xe cát biển Ðông, Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì" Tưởng cũng nên nói bên Tàu cũng có khá nhiều chuyện rắn liên quan. Thí dụ như chuyện Lưu Bang chém rắn. Nguyên dưới triều bạo chúa Tần Thủy Hoàng, Lưu Bang là đình trưởng tại huyện Phong Bái. Một hôm quan huyện sai Lưu Bang dẫn một toán dân phu đi xây thành tại Ly Sơn, tất cả bàn nhau bỏ trốn vì công việc quá nặng nhọc, sớm muộn gì cũng sẽ chết. Ði đến gần hẻm núi Mang Ðãng, bỗng gặp một con rắn trắng cực lớn nằm cản ngang đường. Mọi người đều nhốn nháo sợ hãi, riêng Lưu Bang vẫn điềm nhiên nói: "Ðại trượng phu không vì trở ngại mà lùi bước". Nói xong liền cầm kiếm chém con rắn đứt làm hai, giúp mọi người thoát nạn. Sau này, khi cùng Hạng Vũ diệt xong nhà Tần, Lưu Bang tuy được phong làm Hán Vương, nhưng vì Hạng Võ nghe lời quân sư Phạm Tăng, muốn diệt trừ hậu hoạn nên bị đưa đi trấn nhậm vùng Quan Trung là nơi địa thế vô cùng hiểm trở, ra vào chỉ có một đường lát bằng gỗ dài, chừng 300 dậm gọi là Sạn đạo. Tuy bị đày vào nơi hiểm địa, Lưu Bang cùng với quân sư Trương Lương và Nguyên Soái Hàn Tín giốc chí chiêu binh mãi mã để chờ ngày tiêu diệt Sở Bá Vương Hạng Võ. Khi lực lượng đã mạnh, Hàn Tín dùng kế nghi binh "Minh tu Sạn đạo, ám độ Trần Thương", giả bộ cho quân sửa sang lại Sạn đạo, nhưng kỳ thực lại cho quân lẻn qua hẻm núi Trần Thương để đánh bọc hậu quân Sở. Dọc đường, quân Hán bị một con rắn khổng lồ mắt to, sáng như hai ngọn đèn, miệng đỏ đe dọa, nhưng bị tướng Ngập Hấp chém chết. Thấy xác rắn quá lớn, mọi người đều khiếp sợ. Hàn Tìn nói: "Thời thượng cổ tại núi Côn Lôn chu vi ba vạn dậm, thế mà có con rắn lớn quấn quanh núi ấy". Câu chuyện rắn này làm chúng ta liên tưởng tới huyền thoại có con rắn cực lớn quấn quanh trái đất để nâng đỡ. Cuối cùng, khi Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang với sự trợ giúp đắc lực của quân sư Trương Lương và Nguyên Soái Hàn Tín đã đánh bại Hạng Võ trong trận Cửu Lý Sơn khiến Hạng Võ phải tự sát tại bến Ô Giang cùng người đẹp Ngu Cơ. Do đó, điềm chém rắn ngày trước đã ứng nghiệm vào việc Lưu Bang diệt nhà Tần và Sở, mở nghiệp nhà Hán. Trong truyện chưởng Cô Gái Ðồ Long cũng kể Trương Vô Kỵ học được nghề y của Tiết Thần Y nên sau này cứu sống được vợ của một danh sư bị "linh chi xà" cắn. Nãy giờ nghe kể chuyện Rắn từ Ðông sang Tây, chắc qúi vị độc giả thân mến của bổn báo nếu không khát nuớc, thế nào cũng cảm thấy đói bụng. Vì vậy đã tới lúc bàn tới chuyện ăn uống liên quan tới rắn. Tuy da số chúng ta thường coi rắn là một sinh vật đáng sợ, cần phải tránh xa, nhưng người Việt thuộc vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh lại hay bắt rắn để làm món... nhậu! Những ai từng có dịp qua lại vùng Cần Thơ, Long Xuyên, Vĩnh Long, Sa Ðéc, Cao Lãnh... chắc khó quên những quán nhậu thịt rắn nổi tiếng, có nhiều món rất ngon, giá cả lại rất "bình dân". Tại Tây Ðô Cần Thơ có quán nhậu Vĩnh Ký nổi tiếng về món rắn và rùa. Tại Long Xuyên có quán Ba Vị vang danh không kém. Các vị đệ tử thần Lưu Linh thường có câu "nhất rắn nhì rùa" để ca tụng hai món mồi "bắt" nhất của dân làng nhậu. Dạo còn phục vụ trong quân chủng Hải Quân, tác giả có dịp hành quân vùng Cao Lãnh, Ðồng Tháp Mười, thường thấy rắn đủ loại, kể cả trăn, được đem bán ngoài chơ Tân Châu, Hồng Ngự, An Long, Phuớc Xuyên v.v... cùng với lươn và chuột, nhất là vào mùa nước nổi. Dân vùng này nói là khi nước dâng lên ngập các cánh đồng, rắn và chuột bị ngộp nước phải bò ra khỏi hang để leo lên cây hay những gò đất cao. Lúc đó họ chỉ việc chèo xuồng dùng chĩa để đâm hay dùng dây thòng lọng bắt bỏ vào giỏ. Theo lời bàn tán của các tay nhậu nhiều kinh nghiệm thường kể trên bàn rượu, tuy loại rắn bông súng là món nhậu phổ thông nhất, nhưng ngon nhất phải kể tới thịt rắn hổ vì "rắn càng độc, thịt càng ngon" tương tự như "đàn bà càng đẹp lại càng độc"! Nói đến vùng đất miền Nam Việt Nam là nói đến rừng rậm có nhiều chim muông và thú dữ, cá tôm đầy đồng, ruộng lúa bạt ngàn... trong đó loại bò sát như rùa, rắn nhiều vô kể: rắn nước, bông súng, ri cá, rắn gáo... Rắn có nọc độc như: rắn hổ mang, hổ đất, nơi rừng rậm hoang vu là môi trường lý tưởng cho chúng sinh sống và phát triển . Vào mùa nắng chúng ở những bụi rậm, gốc cây, gò đống ngoài đồng hoặc đào hang trú ẩn để sinh đẻ, người ta dùng thuật bắt rắn ngay được bằng tay không, dù rắn độc mấy cũng không hại được. Còn vào mùa nước lên, chúng leo lên cây để tránh nước, đây cũng là cơ hội để con người tha hồ mà bắt. Rắn quấn khoanh tròn theo nhánh cây nằm yên như bất động, người bắt rắn chỉ cần mũi chĩa phụp vào là đúng mục tiêu, rắn chỉ cựa quậy không sao thoát khỏi, con nào ngoan cố kiếm đường tẩu thì rơi xuống nước liền bị đập vào lưng nằm ngay đơ bất tỉnh, người bắt rắn để ăn đập cho chết luôn, còn người bắt rắn để bán, thường đập cho rắn bất tỉnh. Sau đó họ bắt bỏ vào bao, rắn có sức chịu đòn mạnh lắm, thấy nó phơi mình chớ không chết đâu (người ta nói nó làm bộ chết, nếu ai không biết sơ ý sẽ chết vì nó). Rắn hổ mang là món ăn quý, ngày xưa thường dùng để đi lễ quan trên và đãi khách. Bắt rắn về, người ta cắt cổ lấy máu nó hòa với rượu uống trị bệnh phong thấp đại tài, sau đó đem đốt trên lửa rồi cạo vẩy (gọi là làm lông), mổ bụng, lấy mật có người dám nuốt sống, người ta nói mật rắn hổ cũng trị được nhiều chứng bệnh lại bổ khỏe nữa. Người ta lấy mật rắn hổ đất đem phơi khô để dành trong gia đình có ai mới vừa sinh con đem mật này mài, hay ngâm với nước cho uống sau này không bị bệnh hen xuyễn. Làm rắn xong phải bỏ đầu, bỏ đuôi vì họ cho rằng trong đó có chất độc. Rắn có nhiều cách nấu, nhưng thông thường ở vùng quê người ta hay nấu cháo với đậu xanh ăn ngon lại bổ khỏe. Nồi cháo được bắc lên đồng thời cho rắn vào, đợi khi nước vừa sôi, họ vớt rắn ra dùng tay lột từ trên xuống, phần da và thịt rắn tróc nguyên lớp chỉ còn trơ phần xương. Xương này chặt thành từng đoạn để vào nồi nấu cháo cho ngọt nước, phần thịt xắt nhỏ thành từng miếng mỏng đem xào cho thêm nhiều gia vị càng thơm ngon, khi nồi cháo gạo và đậu xanh nhừ mới cho phần thịt, hành, tiêu vào rồi nêm lại lần nữa, nồi cháo kể như hoàn thành. Ăn cháo rắn hổ ngon không chê vào đâu được, tối ngủ thấy mình mẩy mát lạnh, sức khỏe tăng lên. Cần nhớ khi làm rắn hổ chớ dùng thớt gỗ me để chặt rắn, người ta nói thớt me kỵ thịt rắn hổ ăn sẽ chết. Điều thứ hai khi nấu thịt rắn hổ phải nấu ngoài trời để tránh bồ hóng rớt vào nồi cháo ăn cũng chết người, đó là những điều cấm kỵ mà ông bà mình nói lại cần tránh là tốt nhất. Đó là cách làm của người nhà quê, đơn giản mà ngon, không cầu kỳ như ở thành thị. Người ta nấu món rắn có tên “long hổ hội”, gồm một con rắn hổ mang (rắn Cạp nong càng quý) và một con mèo đen (đen tuyền) nấu với chân giò heo, thêm vài vị thuốc bắc, món này ăn tuyệt chiêu không dễ gì kiếm đ ư ợc, may ra chỉ có các đại gia Vi ệt Cộng mới c ó dịp thưởng thức! Người ta còn có cách ăn thịt rắn công phu hơn. Có nhà bắt rắn về nuôi trong một óng tre vài lóng, một đầu để mắt, đầu kia để trống bỏ rắn vào bịt lại. Đằng mắt tre xuyên chừa một lỗ nhỏ, giã hành thun tẩm que tre để vào lỗ. Rắn sợ hành co mình lại, một tuần sau thay que cũng tẩm hành mà đẩy vào thêm, rắn càng co mãi, lâu dần ngắn bằng con chạch, vảy trắng da, rất béo ngon. Ngoài việc được dùng làm món nhậu khoái khẩu, rắn còn được dùng để ngâm "rượu thuốc". Dân nhậu còn kháo nhau rằng thịt rắn độc không những ngon mà còn "nên thuốc" nữa. Chẳng vậy mà tại vùng biên giới Miên - Việt như Tịnh Biên, Châu Ðốc, Tân Châu, Hồng Ngự còn có hai loại rượu thuốc rất nổi tiếng, có tác dụng "bách chiến bách thắng". Ðó là rượu con "cắc kè bay" tức là ba xi đế ngâm với con cắc kè có mang xòe ra như cặp cánh. Loại thứ hai là rượu thuốc ngâm rắn hổ mun. Hai loại rượu này được nổi tiếng là rượu "bà khen". Dân nhậu sau khi lai lai ba sợi, lúc ba ngù giải thích rằng đấng trượng phu nào uống các loại rượu này, nhất là mấy vị lão ông sồn sồn thuộc loại gần... rã bành tô, thế nào cũng được bà xã chẳng những đã không phản đối mà còn... khen hay! Nhiều ông còn thề sống thề chết trên bàn rượu rằng nhờ nhậu "bà khen" mà đã gần thất tuần vẫn còn có con còn ẵm ngửa! Có điều không rõ vì ba ngù tối ngày, các vị này có "sua" là con của mình không? Chẳng hiểu rượu "bà khen" này có sánh được với loại "nhất dạ ngũ giao sinh lục tử" hay rượu "Mao xếng xáng" không, nhưng tới đây tác giả cảm thấy cần phải có đôi lời cảnh giác, nhất là đối với qúi vị nam nhi gần tới tuổi "retire" súng ống trong tình trạng rỉ sét, đạn dược cũng gần cạn. Nếu qúi vị đọc tới đây thấy bùi tai quá, nên vội vàng đi kiếm rắn ở xứ Cờ Hoa này ngâm rượu để uống với mục đích cao cả để được "bà khen", rủi lỡ bị "bà chê", tác giả sẽ không chịu trách nhiệm đâu. Hiện nay tại Việt Nam có nhiều hãng chế tạo rượu ngâm rắn để bán cho du khách và Việt kiều. Bên Trung Hoa cũng bầy bán công khai những bình rượu thuốc ngâm rắn gọi là "Tam Xà Tửu" (rượu ngâm ba loại rắn) hay "Ngũ Xà Tửu (rượu ngâm năm loại rắn). Nghe đồn, đây cũng là đặc sản"bà khen" của các chú Ba. Rượu rắn Như trên đã nói, rắn không những là món mồi rất bắt và được "bà khen", nhưng còn được phái nữ, tuy đa số rất sợ, nhưng lại vẫn chú ý theo dõi nữa. Lý do vì trong muôn loài sinh vật, kể cả con người, chỉ có rắn là có thể trẻ mãi, cải lão hoàn dồng. Trong số qúi vị độc giả, chắc đã có nhiều người thấy các con vật như chó, mèo, voi, cọp v.v... chết già, nhưng chắc chưa có ai thấy rắn chết vì... có tuổi. Lý do vì khi gần hết xí quách, rắn ta chỉ việc nằm thẳng cẳng, tự lột da là trở thành đào tơ hơ hớ ngay. Có lẽ học được cái quái chiêu "lột da sống đời" này của rắn mà lắm bà nhiều cô đã áp dụng với hy vọng được trẻ mãi. Tác giả thuộc giới đực rựa nên chỉ được nghe đồn hiện nay có phương pháp "lột da" (peeling) giống như rắn nên cho dù phái đẹp tuổi đã sồn sồn nhưng vẫn có thể trẻ đẹp, da dẻ mịn màng như mới "mười mí"! Nếu da mặt chẳng may bị "xếp pli" nhăn nheo như tờ giấy lộn vì phong sương của cuộc đời, chỉ cần ủi, căng và nhất là "lột" như rắn là kéo lại được tuổi thanh xuân ngay. Kỹ thuật "peeling" ra đời là một tin mừng cho nữ giới, nhưng qúi bà qúi cô cũng nên cẩn thận vì nghe nói chỉ công hiệu khi lột da mặt. Nếu qúi nữ giới "thừa thắng xông lên" da chỗ nào cũng đòi lột để trở thành "brand new", rủi bị "ép phê ngược" thì nguy lắm. Bài phiếm luận đầu Xuân con rắn đến đây đã khá dài, và tưởng cũng đã có "đủ cả đầu đuôi" nên tác giả chẳng giám "họa xà thiêm túc" (vẽ rắn thêm chân). Tuy chủ đề là rắn, nhưng đã được mở đầu và kết thúc bằng loại sinh vật "độc" nhất mà cũng "ngon" nhất trên địa cầu, đó là phái nữ. Ðiều này đã chứng tỏ lòng kính trọng của tác giả đối với con cháu bà Eva, không hề giám "hạ bệ" như chẳng may có ai lầm tưởng. Nhân dịp đầu xuân, với thiện chí cao đẹp mong ước đã giúp vui qúi độc giả được một vài giây phút thoải mái bên ly "tam xà tửu", tác giả bèn nổi hứng vác nàng Kiều của cụ Nguyễn Du ra mà "lẩy" rằng: "Lời quê góp nhặt giông dài Mua vui cũng được một vài weekend!" Với mục đích mua vui trong mấy ngày xuân, giám mong qúi độc giả vui lòng lượng thứ những sơ sót hoặc "đụng chạm" ngoài ý muốn. Mến chúc qúi vị và bửu quyến năm mới An Khang Thịnh Vượng.   TRẦN ÐỖ CẨM (Austin, Texas Jan. 2013)
......

Nguy cơ Trung Quốc

Lời người dịch: Nền kinh tế Vìệt Nam cũng như hệ thống tài chánh ngân hàng Việt Nam hiện nay là một „copy“ mang nhiều khiếm khuyết của nền kinh tế và hệ thống ngân hàng Trung quốc. Nhân đọc được bài viết có giá trị về sự rủi ro của hệ thống ngân hàng Trung quốc đăng trên trang nhất của nhật báo dành cho giới doanh nhân và kinh tế của Đức “Handelsblatt“ ngày 31.01.2013 tôi xin được dịch ra tiếng Việt để mọi người cùng tham khảo. Nguyễn Hội ***************************** Trung Quốc lừa cả thế giới: trong lĩnh vực nợ nần nhà nước là biểu tượng sáng chói. Tuy nhiên rủi ro bạc tỷ trong lĩnh vực ngân hàng dùng chi phí cho các dự án danh tiếng và chi phí cho các chương trình kích thích kinh tế. Bong bóng tín dụng rất nguy hiểm đã được hình thành (tại Trung quốc).   Niềm tự hào mới nhất của Trung Quốc là tuyến đường sắt cao tốc 2 300 km với xe lửa màu trắng thon gọn nối liền Quảng Châu và Bắc Kinh, trung tâm kinh tế phía Bắc và phía Nam của quốc gia. Tốc độ tối đa là 300 km mỗi giờ.   Dự án chỉ có một lỗi là không bao giờ có lợi nhuận.   Cho tới nay công ty đường sắt Trung Quốc đã mượn nợ của ngân hàng tổng cộng là 280 tỷ euro để chi phí cho dự án này cũng như cho các dự án khác. Ngân hàng chủ nợ có „thấy lại“ được số tiền cho vay nêu trên hay không là điều còn cao hơn là nghi ngờ.   Bong bóng nợ đã hình thành tại Trung Quốc, bong bóng này cũng như tất cả mọi thứ khác hiện diện trên Nước Cộng hòa Nhân dân là rất vĩ đại. Nhà nước luôn luôn chi phí hàng tỷ USD vào các dự án danh tiếng mới, chủ yếu được tài trợ bằng các khoản vay nợ ngân hàng ngắn hạn. Họ muốn phát triển bằng mọi giá – cho dù nợ ngập đầu.   Ở phương Tây, các ngân hàng phải bảo đảm rủi ro tín dụng mà họ cho vay bằng vốn của chính ngân hàng và tiền vốn bảo đảm này mỗi ngày mỗi tăng (bởi qui định của pháp luật) và các khoản nợ xấu phải được xử lý bằng cách đưa vào các ngân hàng xấu (bad debt bank), trong khi đó các ngân hàng Trung Quốc được thổi phồng to một cách không kiểm soát được. „Hàng chục nghìn quan chức cấp thấp của chính phủ và các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước đã mượn nợ mà không cần phải kiểm tra, giám sát“, nhà kinh tế Michael Pettis của Đại học Bắc Kinh cho biết. Chính thức là nhà nước không thiếu nợ cao. Tuy nhiên tất cả các rủi ro được dồn vào bảng cân đối của các ngân hàng (bank balance sheet). Vì vậy, ngân hàng (tại Trung Quóc) là lĩnh vực nguy hiểm nhất cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Họ phải phục vụ một nền kinh tế lớn nhất trên thế giới sau Hoa kỳ, nhưng đồng thời cũng là nơi nhận chỉ thị của chính quyền xã hội chủ nghĩa trung ương. Các khoản cho vay mà không có bất kỳ một kiểm soát từ bên ngoài. Theo các chuyên gia, trên thực tế Trung quốc chỉ có đủ khả năng tăng trưởng từ 5% đến 6% mà thôi, nhưng họ đặt mục tiêu cho năm nay là hơn tám phần trăm. Cơn nghiện tín dụng đã phóng đại thực tế ở Trung Quốc.   Vòng luẩn quẩn của việc giảm tăng trưởng và gia tăng nợ nần có vẻ đe dọa nặng nề hơn là Trung Quốc có nhiều ngân hàng lớn nhất thế giới. Ngân hàng Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc (Industrial & Commercial Bank of China), với mức vốn tổng cộng gần 186 tỷ euro là ngân hàng có giá trị nhất thế giới. Ngân hàng thúc đẩy tăng trưởng gần như là độc quyền, tài trợ từ các ngân hàng khác cho tới nay không đáng kể.   Cơn đói tín dụng lên cao đến độ mà các doanh nghiệp (Trung quốc) phải kiếm ngày càng nhiều nguồn vốn từ các ngân hàng không chính thức. Tháng mười năm ngoái Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã cảnh báo sự phát triển bùng nổ của các ngân hàng trong bóng tối gây nguy hiểm cho sự ổn định tài chính của đất nước và tăng tính thiếu minh bạch của hệ thống (tài chính).   Chẳng có gì gọi là ngạc nhiên khi doanh nhân Đức ngày càng mất tin tưởng vào quốc gia đầy hy vọng trong quá khứ này là Trung Quốc. Tuy vẫn còn thu hút với doanh thu bán hàng hoá ngày càng tăng - nhưng nguy cơ cũng gia tăng.   Ở phương Tây cuộc khủng hoảng tài chính được lắng dịu, nhưng ở Trung Quốc lại đang ủ một thảm họa mới. Tin tức hôm qua được loan báo là nợ hàng tỷ của chính quyền cấp tỉnh đã được gia hạn tiếp. Rõ ràng là việc trả nợ không cần thiết phải nghĩ đến. Cựu giám đốc Ngân hàng Thế giới phụ trách Trung Quốc, Yukon Huang, đã viết trên báo Financial Times rằng, „các ngân hàng Trung Quốc quá lớn để quản lý, Chúng ta sẽ chứng kiến nhiều cuộc vỡ nợ và những cuộc khủng hoảng tài chính nhỏ, một hoặc thậm chí hai ...“   Mặt trái của sự phát triển bùng nổ tại Trung Quốc. Trong khi châu Âu đang tiếp tục trông chờ một giải pháp thuyết phục nhằm giải quyết cuộc khủng hoảng nợ euro và Mỹ đang trên bờ vực thẳm của sự suy sụp ngân sách quốc gia, một nền kinh tế lớn khác tỏ vẻ không một chút ấn tượng về khủng hoảng là Trung Quốc. Tại Cộng hòa nhân dân hàng năm có trình báo số liệu thống kê về tình hình phát triển bùng nổ đặc biệt, năm 2013 các nhà kinh tế Trung quốc kỳ vọng nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng 8,5%.   Một phép lạ xảy ra nhờ sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản lèo lái nền kinh tế thị trường? Thưa không. Bởi vì phép lạ phải được chứng minh, kiểm tra chặt chẽ hơn là chỉ qua một cơ chế rất tầm thường - sự gia tăng GDP chủ yếu là do các tỉnh và địa phương Trung Quốc, thí dụ như chi phí cho các dự án lớn xây nhà ở theo phương châm: tiền không không quan trọng.   Với phương pháp trên, các tỉnh và địa phương làm suy yếu hệ thống tài chính Trung Quốc từ bên trong ra bên ngoài - mặc dù trung ương Bắc Kinh làm ăn thực sự vững chắc. „Hàng chục ngàn các quan chức chính phủ cấp thấp cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước đều có thể thực hiện các dự án đầu tư mà không cần được kiểm soát, giám sát“, kinh tế gia Michael Pettis của Đại học Bắc Kinh cảnh báo. Kết quả là: nợ lên đến nhiều nghìn tỷ (ức) nhân dân tệ, việc trả được nợ là hoàn toàn không chắc chắn, như các chuyên gia từng cảnh báo. Thoạt nhìn, hệ thống ngân hàng có vẻ mạnh mẽ, theo ông Pettis. Trong trường hợp của một cuộc suy thoái kinh tế, các ngân hàng tin tưởng rằng sẽ được nhà nước để được cứu trợ. Các khoản nợ của chính phủ tỉnh và địa phương theo một cuộc kiểm tra đặc biệt của nhà nước ít nhất là 25% tổng sản lượng GDP - ở Đức, mặc dù tình hình tài chính các thành phố, địa phương không mấy sáng sủa nhưng khoản nợ của thành phố chỉ với 5% GDP. Thậm chí chính phủ trung ương Bắc Kinh không hề biết được là bao nhiêu các khoản vay này không thể trả lại được.   Chính thức ngân hàng khai báo ít khoản nợ xấu. Các nhà phân tích hoài nghi những con số được khai báo này. Mục tiêu lợi nhuận cho các dự án nhà ở thường được nêu không thực tế. Nhà cửa thường được xây dựng một cách nhanh chóng và chỉ hai năm sau khi xây hoàn tất đã cần phải được cải thiện. Chính quyền địa phương sau đó cần nhiều tiền hơn. Các tỉnh trưởng hành động theo phương châm: „Bắc Kinh sẽ giải quyết.“   Một vấn đề của nợ Trung Quốc nữa là thời gian đáo hạn khác biệt của các khoản vay và các dự án mà họ tài trợ. Thời gian xây dựng một hệ thống xử lý nước thải hoặc một tuyến đường sắt đòi hỏi phải mất nhiều năm. Thời gian có thể đạt được lợi nhuận thường lên tới nhiều thập niên.. Chi phí cho các dự án này thường bằng các khoản vay nợ ngân hàng có kỳ hạn một vài tháng hoặc vài năm. „kỳ hạn trả nợ thực tế và thời gian đáo hạn của các khoản vay nợ cách nhau quá xa“ kinh tế gia Qu Hongbin của ngân hàng lớn HSBC.cho biết. Tiền, không phải là một vấn đề, bởi vì tỷ lệ tiết kiệm của Trung quốc trên 50%. „vật thiếu thốn là những công cụ (quản lý) tài trợ dài hạn.“   Trung Quốc không có những công cụ đó. Tài trợ bằng trái phiếu đòi hỏi phải có một thị trường thực sự trưởng thành, với việc đánh giá trung thực và thông tin minh bạch về những doanh nghiệp và chính quyền liên quan. "Trung Quốc đã thực hiện được một số vấn đề, nhưng chưa đủ“ , một doanh nhân người Đức cho biết. Những người có trách nhiệm rõ ràng là thiếu tính nhận thức vấn đề.   Tuy nhiên, ngay cả trong một nền kinh tế mà nhà nước chiếm ưu thế, một nguyên tắc cũng phải tuân giữ là: nếu mượn nợ thì tiền vay nợ cuối cùng phải được hoàn trả lại cho chủ nợ. Tiền của các ngân hàng trên thực tế là tiền do người dân Trung quốc tiết kiệm. Một ví dụ là Bộ Đường sắt Trung Quốc là một trong những tổ chức mang nợ cao nhất thế giới: bộ vay mỗi năm thêm gần một nghìn tỷ nhân dân tệ, tương đương với 118 tỷ euro. Theo nhà kinh tế Pettis là „một sự mất cân bằng to lớn“ và tiên đoán về trung hạn nước Cộng hòa nhân dân sẽ có „một thảm họa nợ nần“. Cứu trợ ngân hàng bởi nhà nước là điều không thể tránh khỏi.   Do đó, thống đốc ngân hàng trung ương Zhou Xiaochuan suy nghĩ phương cách làm thế nào qui trách nhiệm rủi ro này cho chính quyền cấp tỉnh. Đề nghị của ông là: phần lớn các khoản vay nợ của chính quyền tỉnh phải được bảo đảm bởi cư dân của tỉnh đó. Theo cách suy tính của Zhou Xiaochuan, chỉ khi nào có chủ nợ hoặc người bảo lãnh tại địa phương, thì chức năng kiểm soát mới thực sự được thực hiện.   Tựa: Das China-Risiko Tác giả: Finn Mayer-Kuckuk và Frank Sieren. Đăng trên trang nhất nhật báo Đức Handelsblatt ngày 31.01.2013 Chuyển ngữ: Nguyễn Hội  
......

Thư gửi con trai anh Nguyễn Quốc Quân

Tôi nghĩ mình đường đột và hơi sỗ sàng khi viết lá thư này cho một người chưa bao giờ biết mặt và cũng hầu như không có chút thông tin gì ngoài những dòng dưới đây [1]: Hôm qua, cháu Khoa con trai lớn nói với tôi: “Điều duy nhất con mong muốn bây giờ là bố được trở về với mình, mà tại sao bố lại chống lại họ trong lúc này, tại sao lại quyết định tuyệt thực hả mẹ?”. Tôi trả lời cháu rằng: “Bố đang đấu tranh cho quyền hạn của một người tù. Không chỉ cho bố mà cho những người tù khác nữa. Theo chính luật pháp Việt Nam khi chấm dứt điều tra trong vòng ba ngày bố phải được gặp Luật sư. Con nghĩ xem, nếu không phải một mình bố mà tất cả tù nhân, hoặc tám chục triệu người cùng đòi hỏi nhà nước phải làm những điều đúng theo luật pháp Việt Nam đã quy định, có lẽ mọi việc đã khác nhiều.” Tôi biết Khoa chưa hiểu nhiều về những việc bố làm, có lẽ cháu cũng đang đi tìm cái vỏ trứng của mình. Vì thế, hãy cho phép tôi cảm nhận Khoa như một đứa cháu trai dù chưa hề quen biết. Hy vọng cháu chấp nhận điều này. Bố cháu, một người đàn ông 60 tuổi, một vợ hai con, một người Việt tị nạn, rời khỏi Việt Nam vào năm 1981, một Tiến sĩ toán học, một đảng viên thuộc đảng Việt Tân và là một công dân Hoa Kỳ [2]. Điều này có nghĩa, bố cháu là một người đàn ông bình thường như những người đàn ông khác ở bất kỳ xứ sở tự do nào, trừ... Việt Nam (!) Ở Việt Nam, có lẽ cháu biết, một người được cho là bình thường, khi và chỉ khi họ không quan tâm hoặc thờ ơ và lãnh đạm trước mọi vấn đề xã hội, nếu họ không muốn vào tù hay trại tâm thần với tư cách là người bất bình thường. Cháu Khoa! Tôi biết, lần bố cháu bị bắt mới đây, mà ĐCSVN buộc phải trả tự do sau hơn 9 tháng giam cầm tùy tiện, không phải là lần đầu tiên. Trong hơn 9 tháng tù đó, bố cháu đã tuyệt thực không dưới một lần để đòi hỏi Quyền Con Người phải được nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng. Sau khi ĐCSVN buộc phải trả tự do và trục xuất bố cháu về Mỹ với tư cách là công dân Hoa Kỳ, tôi đã viết một lá thư cho đảng của bố cháu để ngỏ lời cám ơn và tôi đã bị rầy vì lời cám ơn được cho là vô duyên, vô ích và vô nghĩa. Không sao cháu ạ! Một người chỉ cần chút hiểu biết, sẽ nói lời cám ơn một người phu quét đường tự nguyện, bởi con đường dơ bẩn đó ta chỉ dám đi đến, sau khi phó mặc cho người phu đó chịu trách nhiệm về sự sạch đẹp. Có lẽ cháu thắc mắc, ở Việt Nam chẳng lẽ không còn "người phu quét đường tự nguyện"? Còn chứ, nhưng nơi "hành nghề" của những người phu ấy là trại tù, trại phục hồi nhân phẩm, trại tâm thần hay một cái gì tương tự như thế, vì bên ngoài họ không được phép làm việc, do những chủ nhân trên con đường đó thích ở... dơ, mặc dù những ông bà chủ này không quên xức nước hoa, vận đồ hiệu, thắt "tie", đeo nữ trang. Tất nhiên, để đảm bảo thơm tho trước người khác, họ luôn đủ thông minh để tránh xa người phu quét đường vì sợ... bẩn lây! Bố cháu - Nguyễn Quốc Quân - một công dân Hoa Kỳ - hà cớ gì vào Việt Nam để làm "người phu quét đường tự nguyện"?! Không đâu, Khoa! Bố cháu vẫn nhớ về từng con đường, góc phố, hàng cây, ngôi nhà, dù bây giờ những hình ảnh tươi đẹp trở nên tàn tạ, bẩn thỉu và không còn thuộc về bố cháu, tuy thế bố cháu nghĩ vẫn cần phải góp thêm vài nhát chổi cùng người dân trong nước để làm sạch. Tôi gọi đó là Tình Yêu. Đơn giản vậy thôi, cháu ạ! Chắc chắn, cháu hiểu rõ thế nào là Tình Yêu Thủy Chung, nhất là khi người yêu của mình rủi ro bị... cưỡng bức vì những tên vô lại! Người Việt Nam chúng ta đã lãnh hậu quả tương tự như vậy đấy, Khoa! Ai nỡ bỏ người mà ta yêu thương nhất mực vì sự cố ngoài ý muốn, phải không cháu? Cháu có thể gọi đó là Tình Yêu Cao Cả. Tình yêu của bố và mẹ cháu đối với quê hương Việt Nam hội đủ cả hai yếu tố: Thủy Chung và Cao Cả. Vì vậy, cháu hãy tự hào vì có một người cha như anh Nguyễn Quốc Quân và một người mẹ như chị Ngô Mai Hương. Có lẽ cháu không tưởng tượng nổi, cuộc sống bình yên của một gia đình nào đó (ví dụ trên đất Mỹ), bỗng một hôm bị phá vỡ tan tành và gia đình đó buộc phải khăn gói trốn chạy khỏi quê hương mình? Điều kinh khủng lắm phải không cháu? Bố mẹ cháu và hàng triệu người Việt Nam đã buộc phải làm như thế sau 1975! Nói điều này để cháu cảm thông, thương yêu và trân trọng hơn quá khứ đau buồn của bố và mẹ cháu cũng như hàng triệu người Việt khác đã xảy ra tương tự như thế! Nếu cháu vẫn xem Việt Nam là cội nguồn, tôi mong cháu hãy tìm đọc tác phẩm "Bên Thắng Cuộc" của nhà báo Huy Đức và những tác phẩm trước đó như: Đêm Giữa Ban Ngày (Nhà văn Vũ Thư Hiên), Hoa Xuyên Tuyết (nhà báo Bùi Tín), Những Thiên Đường Mù (Nhà văn Dương Thu Hương) v.v... để rõ thêm lịch sử bi hận và nhức nhối của người Việt Nam chúng ta. Ngày nay, bố mẹ cháu cũng như hàng triệu người Việt hải ngoại khác, có quyền vất bỏ hết tất cả những cay đắng và đau thương của dĩ vãng để tìm nguồn vui trong cuộc sống tự do trên quê hương thứ hai. Tuy nhiên, bố và mẹ cháu đã chọn làm "người phu quét đường tự nguyện" cho quê hương thứ nhất. Đó không là điều đáng để cháu đăm chiêu tìm hiểu lý do tại sao như thế? Một số người bảo là phù phiếm trong việc làm, hoang tưởng trong hành động và điên cuồng trong tham vọng, khi bố cháu đã nhiều lần trở về Việt Nam trong tư cách một đảng viên của một chính đảng và chịu giam cầm nhiều tháng. "Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại", những người chê bai, đả kích, nghi ngờ bố cháu, phải chăng, hoặc là họ cố tình không hiểu để ngụy biện cho tính đố kỵ cùng tâm trạng tự ti, hoặc là họ không còn Tình Yêu đối với quê hương này và áp đặt tâm thức chủ bại cho bố cháu? Để làm gì nhỉ? Chắc là để làm bố cháu nản lòng?! Cháu có thấy, thật thiếu công bằng, khi họ tự cho cái quyền nghi ngờ lòng yêu nước của bố mẹ cháu, nhưng chưa bao giờ họ cho phép người khác nghi ngờ cái phía sau là cái gì đã thúc đẩy họ nói lên những lời miệt thị cốt để đánh gục sự kiên trì cũng như nhân phẩm bố cháu? Dựa trên một Tình Yêu Thủy Chung và Cao Cả, người ta luôn nhẹ nhàng vượt qua số phận nghiệt ngã cùng những đòn thù khốc liệt. Cháu có quyền ngưỡng mộ về điều này. Nhân đây, tôi muốn giới thiệu một "người phu quét đường tự nguyện" độc đáo nữa - André Menras Hồ Cương Quyết [4]. Rất may (!) "người phu" này nhờ lý lịch cũng độc đáo không kém đã giúp ông không phải ở trong trại tâm thần nào đó, nên ông mới có "cơ hội" làm đẹp cho đời. Thú thật, tôi xấu hổ khi nhắc về "người phu" này, không biết những ông chủ, bà chủ cùng các người phục dịch, hầu hạ vây quanh có bao giờ hổ thẹn trước "người phu" này không, khi những nhát chổi "Hòang Sa Việt Nam - nỗi đau mất mát" của ông đập thẳng vào đầu não bọn bành trướng Trung Cộng gây tội ác đối với đồng bào và đất nước chúng ta?! Một "người phu quét đường tự nguyện" nữa - Lê Công Định, vừa được trả tự do, chắc chắn là điều mà nhiều người Việt Nam, trong đó có bố mẹ cháu cùng vui mừng chào đón "người phu" này về nhà ăn tết. Mong muốn giản dị của cháu và những người thân của LS. Lê Công Định đã thành sự thật. Tôi chỉ muốn nói thêm, còn nhiều lắm những thân nhân của các "người phu quét đường tự nguyện" khác đang trông ngóng họ về ăn tết với gia đình, Khoa ạ! Cháu đã tìm ra "cái vỏ trứng của mình" chưa? Tôi tin, từ "cái vỏ trứng" đó, một chú Đại Bàng dũng mãnh vặn mình và đầy tự tin vút lên trời cao với khát vọng mãnh liệt, Khoa nhỉ? Hy vọng trong đêm giao thừa, bên cạnh bố mẹ, đón cái tết cổ truyền Việt Nam, cháu hãy nhớ về chúng tôi: Người Việt Nam đang lạc loài ngay trên chính quê hương mình. Nhờ cháu chuyển lời chúc sức khỏe đến với hai vợ chồng "người phu quét đường tự nguyện" cùng lời nhắn gởi của tôi [4]: Hãy nhớ và hãy nhớ Người Việt Nam đang lạc loài Hãy thương và hãy quý Tình đồng bào ta với ta Hãy biết và hãy biết Rằng ngày mai khi ta về Hãy nhóm ngọn lửa hồng Đốt sáng vạn niềm tin   Tạm biệt Khoa! Ngày về quê của gia đình cháu có lẽ không còn xa lắm! http://danluan.org/tin-tuc/20130206/thu-gui-con-trai-anh-nguyen-quoc-quan
......

Luật sư Lê Công Định ra tù

Một trong những nhân vật bất đồng chính kiến nổi tiếng ở VN, Luật sư Lê Công Định, vừa được ra tù trước thời hạn. Trang Blog của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết, „Sáng nay (6.2.2013) những người thân của LS Lê Công Định đã vào khám Chí Hòa Sài Gòn đón LS trở về nhà“. Thân nhân của LS Định, bà Đặng Ngọc Ánh, xác nhận với BBC ông đã về nhà lúc 10:00 sáng thứ Tư 6/2 trong tình trạng "sức khỏe tốt nhưng hơi gầy". Luật sư Lê Công Định, nguyên Phó Chủ nhiệm Đoàn luật sư Sài Gòn, một trí thức từng có nhiều bài viết cổ súy cho dân chủ tại Việt Nam, bị bắt vào lúc 11 giờ trưa Thứ Bảy, 13 tháng 6, năm 2009, tại nhà riêng ở Sài Gòn và bị kết án 5 năm tù kể từ năm 2009 theo điều 79 và 88 Bộ luật hình sự. Ngày 20/01/2010, Tòa sơ thẩm TP Sài Gòn đã tuyên án từ 5 năm tới 16 năm tù giam, thêm từ 3 tới 5 năm quản chế tại gia cho các bị cáo trên, trong đó ông Lê Công Định lãnh án 5 năm tù, cộng thêm 3 năm quản chế tại gia. Tòa phúc thẩm sau đó đã y án trên. Như vậy là Ông được thả ra trước thời hạn. Cùng bị bắt với Ls. Lê Công Ðịnh, là các ông Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, và Nguyễn Tiến Trung. Tất cả đều bị qui chụp cho tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 của Luật Hình Sự Việt Nam. Trong phiên xử, tất cả họ bị buộc tội đã cấu kết với "các thế lực phản động" trong và ngoài nước nhằm lật đổ chế độ. Họ cũng bị buộc tội liên quan tới Đảng Dân chủ Việt Nam, vốn không được phép hoạt động trong nước. Ông Lê Công Định còn bị cáo buộc đã tham gia khóa huấn luyện Đấu tranh Bất bạo động do đảng Việt Tân tổ chức. Sau khi ông Lê Công Định bị bắt và giam giữ trong tù, Bộ Ngoại Giao và nhiều Dân Biểu Hoa Kỳ cùng nhiều tổ chức quốc tế đã kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho ông. Thời gian vừa qua, từng có tin đồn Luật sư Lê Công Định được thả và Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận cho ông tị nạn chính trị, nhưng điều đó đã không xảy ra. Ông Lê Công Định đã hành nghề lâu năm tại TP Sài Gòn. Trước kia, với tư cách luật sư của công ty YKVN, ông đã cùng đối tác là hãng luật White & Case của Mỹ bảo vệ phía Việt Nam trong vụ kiện cá basa tại Hoa Kỳ. Sau đó, ông tham gia bào chữa cho nhiều vụ việc bị cho là 'nhạy cảm', như bào chữa cho các luật sư bất đồng chính kiến Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân và cho blogger Điếu Cày. Ông Lê Công Định cũng được biết tới như một cây bút viết các bài bình luận thời sự, nhiều bài đã đăng trên BBCVietnamese.com. Tốt nghiệp Đại học Luật năm 1989, ông Định lấy bằng thạc sỹ luật tại Đại học Tulane University, Hoa Kỳ hồi 2000. Trước đó, ông có một thời gian tu nghiệp tại Pháp. Năm 2004, LS Lê Công Định cưới Nguyễn Thị Ngọc Khánh, Hoa hậu Việt Nam 1998.
......

Đại diện nhân sĩ trí thức trao Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992

Hồi 10h30’ sáng nay, thứ Hai 4-2-2013, một đoàn đại biểu gồm 16 nhân sĩ trí thức, đại diện cho 72 người đầu tiên trực tiếp ký tên và hàng ngàn đồng bào đã tham gia ký tên vào bản “Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992”, đã đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương, Hà Nội, để trao bản Kiến nghị cho Ủy ban. Thành phần Đoàn đại biểu gồm: 1- Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội 2- Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội 3- Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM 4- Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội 5- Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội 6- Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất). 7- Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội 8- Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội 9- Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội 10- Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn) 11- Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM 12- Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An 13- Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội 14- Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội 15- Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội 16-  Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế. Trước đó, Đoàn đã thông báo mời một số báo chí tới tham dự, đưa tin. http://anhbasam.wordpress.com/
......

Thế Của Quốc Tịch Mỹ

Tiến sĩ Nguyễn quốc Quân thoát khỏi ngục tù CS, trở về Mỹ ngày 30/01/2013. Một người Việt được tự do là mừng cho một người. Một nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN thoát khỏi ngục tù CS là một niềm vui lớn cho người Việt còn nghĩ đến vận mạng nước nhà đang nằm trong gọng kềm CS, cho công cuộc đấu tranh  và cho chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Trường hợp Tiến sĩ Nguyễn quốc Quân, một người Mỹ gốc Việt, một công dân Hoa kỳ, một nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, được phóng thích một cách bất ngờ còn nói lên cái thế quốc tịch Mỹ của người Mỹ gốc Việt hiện chiếm hơn phân nửa dân số người Việt hải ngoại. Cái thế công dân Mỹ gốc Việt, cái uy  của quốc tịch Mỹ là lợi thế, lợi khí an toàn và hữu hiệu cho công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, ngay trong chế độ CSVN. Và người Mỹ gốc Việt vận dụng rất thành công. Cùng bị cáo buộc tội âm mưu lật đổ chánh quyền mà 14 đồng bào Công Giáo ở Thanh Hoá, công dân của chế độ CSVN bị CSVN kêu án tổng cộng 83 năm tù cộng với mấy chục năm quản chế. Còn Ts Nguyễn quốc Quân  công dân Mỹ bị cáo buộc tội khủng bố rồi sau đổi tội danh thành âm mưu lật đổ chánh quyền lại được phóng thích chỉ sau 9 tháng điều tra xét hỏi ở trại tạm giam. Với quan điểm lập trường  “địch và ta” của CSVN, theo tinh thần Nghị Quyết 36 của Bộ Chánh Trị CSVN, người như Ts Nguyễn quốc Quân là “lực lượng thù địch” số 1 của CSVN. Ts Quân là một người Mỹ gốc Việt  thuộc một đảng chánh trị có chủ trương đưa cán bộ về nước ”bám thắt lưng địch mà đánh”,  với chiến lược, chiến thuật tuy ôn hoà, bất bạo động, tuy dùng quyền lực mềm tự do, dân chủ, nhân quyền rất êm nhưng vô cùng thấm. Nó thấm tận tâm can tì phế thận của CSVN. CS sợ như thí sinh sợ phạm húy trường thi,  không dám nói tên mà nói trại ra là “diễn biến hoà bình”. CSVN  quá sợ nên rất thù đảng Việt Tân, chụp cho cái  mũ là “khủng bố”, dù Đảng Việt Tân là một chánh đảng có trụ sở ở Mỹ là quốc gia lãnh đạo cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu; nên chẳng con ma nào kể cả  con ma “khỉ đít đỏ” cũng không tin sự cáo buộc vô căn, vô lý này của CSVN. Cái thế công dân Mỹ đã làm cho CSVN rất bối rối, mất bình tĩnh, tiền hậu bất nhứt trong khi giải quyết vấn đề bắt bớ, giam cầm TS Quân. Công an CSVN ban đầu buộc tội khủng bố, rồi đổi tội danh âm mưu lật đổ chánh quyền. Rồi toà án CSVN công khai tuyên bố ngày giờ đăng đường xét xử rồi bất thần hoãn, lại hoãn vô hạn định, rồi bất ngờ phóng thích, cho trở về Mỹ ngay. Vì vấn đề mặt mũi, Đảng Nhà Nước CSVN lại làm một chuyện ruồi bu, kiến đậu nữa. “Báo đài” của Đảng Nhà Nước CSVN nói, đương sự “nhận tội” và nhà nước “khoan hồng”, nhưng  dấu đầu lòi đuôi nói “trục xuất” về Mỹ. Báo chí quốc tế, báo chí VN hải ngoại và truyển thông ngoài luồng của người dân Việt trong nước đều cười ngạo cái trò  hề rẻ tiền của CSVN. Lý trí và luận lý cho thấy nếu thực sự Ts Quân “nhận tội”, nhà nước “khoan hồng” thì hà cớ gì CSVN phải sợ mà trục xuất  TS ngay sau khi trả tự do. Tại sao CS không dùng Ts trong việc tuyên truyền cho chế độ là khoan hồng. Già sử TS Quân có yếu bóng vía “nhận tội”, thì hà cớ gì Ts lại chịu biệt giam 9 tháng, mà không nhận trước để được khoan hồng thả ra cho khoẻ thân. Ts Quân là một người già dặn kinh nghiệm CS, thuộc một chánh đảng dám xông vào bám thắc lưng địch mà đánh thì đâu có yếu bóng vía như vậy bao giờ. Người trí thức đấu tranh, người có đảng tịch cao như Ts Quân dám làm là dám chịu, sẵn sàng vào tù ra khám, kiên cường giữ khí tiết của một nhà cách mạng. Kể cả Bà Quân, một phụ nữ lúc nào cũng bình tĩnh, kiên cường khi lên Quốc Hội, Bộ Ngoại Giao, nhờ can thiệp và đòi công lý cho chồng, cũng như khi trả lời phỏng vấn với truyển thông quốc tế. Chính cái thế công dân Mỹ, chính cái uy của quốc tịch Mỹ, hay nói một cách khác chính chánh quyền Mỹ của dân, do dân, vì dân đã bảo vệ công dân Mỹ, đã can thiệp trực tiếp hay gián tiếp, đã áp lực công khai hay ngấm ngầm khiến CS VN phải thả Ts Quân. Ủy Ban Quốc Hội của Mỹ đã hơn một lần mở cuộc điều trần, chất vấn, khuyến cáo Thứ Trưởng Ngoại Giao, hỏi coi Toà Đại sứ, Tổng Lãnh sự Mỹ ở VN có đi thăm TS Quân, Bộ Ngoại Giao có cử người gặp phu nhân của TS Quân ở Mỹ chưa. Cả chục dân biểu hơn một lần chánh thức gởi văn thư cho Bộ Ngoại Giao, Phủ Tổng Thống yêu cầu can thiệp cho những nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, trong đó thường nhắc đến Ts Quân một cách quan tâm đặc biệt. Còn Toà Đại sứ hay Tổng Lãnh sự Mỹ ở VN hàng tháng có cử người vô tận khám viếng thăm Ts Quân. Mọi biến chuyển về sức khoẻ tinh thần và vật chất của Ts, nhà ngoại giao Mỹ đều có cho Bà Quân ở Mỹ biết. Sứ quán của Mỹ ở VN cũng có liên lạc với luật sư nhiệm cách bảo vệ cho Ts Quân khi ra toà. Sứ quán và nhân viên ngoại giao Mỹ làm việc hết sức chuyên nghiệp và tận tâm, không khoa trương mà rất hữu hiệu. Xem các cuộc phỏng vấn của các nhà báo trong vụ Ts Quân được phóng thích trở về Mỹ, cho thấy nhân viên ngoại giao Mỹ có liên quan trong vụ Ts Quân chỉ cho luật sư nhiệm cách biện hộ cho Ts Quân biết Ts Quân được trả tự do khi máy bay của Ts Quân rời khỏi không phận của VN. Và Bà Ts Quân cũng thế, ngoại giao Mỹ thông báo đúng lúc CSVN không còn có thể gây khó khăn gì cho Ts Quân nữa. Bà Quân được thông báo cụ thể giờ Ts Quân đổi máy bay ở Đài Loan để nói chuyện với chồng. Chánh quyền của dân, do dân vì dân Mỹ, cấp trung ương cũng theo dõi sát và công khai và chánh thức bày tỏ niềm vui khi công dân Mỹ trở về Mỹ. Xin lấy tin của Pháp ít chủ quan hơn trong chuyện của Mỹ. Tin  thông tấn xã Pháp AFP, từ Hà nội phát ngôn viên Toà Đại sứ Mỹ ở Hà Nội, Christopher Hodges, cho biết là phía Mỹ cảm thấy “khích lệ” trước việc Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân được phóng thích. Từ Washington DC, bà Victoria Nuland, phát ngôn viên bộ Ngoại giao Mỹ trong cuộc tiếp xúc với báo chí xác định đối với chính quyền Hoa Kỳ, “không có một ưu tiên nào cao hơn sự an toàn và an ninh của công dân Mỹ ở ngoại quốc”. Hoa Kỳ cảm thấy “hài lòng về việc công dân Mỹ Richard Nguyễn được trả tự do”, và đấy là một “tin vui”. Đúng là một tin hết sức vui đối với người Mỹ gốc Việt. Một nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyển VN thoát khỏi ngục tù CS về với gia đình, cộng đồng, đoàn thể trong những ngày Tết cỗ truyển của dân tộc Việt./. Nguồn: Việt Báo
......

Mỹ dọn cỗ mời Tàu xơi

Chính sách đối ngoại dưới thời George W. Bush là một thảm hoạ và còn để lại nhiều di hại cho Hoa Kỳ. Hậu quả có thể được tóm gọn qua 6 chữ “Mỹ dọn cỗ mời Tàu xơi” trong khu vực Hồi Giáo ở Trung Đông và Nam Á. Hoa Kỳ tốn gần 1.5 ngàn tỷ USD và 8000 binh lính thiệt mạng trong hai cuộc chiến, nhưng khi các công ty Tây Phương vẫn còn ngần ngại về tình hình an ninh thì Hoa Lục đã nhảy vào ký các hợp đồng dầu hoả và khoáng sản khổng lồ tại Iraq [1] và Afghanistan [2]. Ở các thành phố lớn như Baghdad và Kabul lại tràn ngập tivi, tủ lạnh v.v… mua từ Trung Quốc. Gia đình Hoàng Tộc của Saudi Arabia đang tăng cường hợp tác với Bắc Kinh [3] vì 3 lý do: (1) sợ bị Mỹ bỏ rơi giống như cựu Tổng Thổng Mubarak của Ai Cập, (2) bực tức vì ảnh hưởng của Do Thái khiến Hoa Kỳ ngày càng thiên lệch (3) sản xuất dầu hoả tại Mỹ đang tăng nhanh nhờ vào khai thác đá phiến nên chính sách tại Trung Đông có thể sẽ thay đổi. Hoàng Gia cần tiền để xoa diụ dân chúng nên mở cánh cửa mời Bắc Kinh đến mua dầu và đầu tư xây dựng hạ tầng, cả hai việc làm hoàn toàn phù hợp với nhu cầu nhập và xuất cảng của Hoa Lục. Nhưng Trung Quốc rất khéo léo đi theo chính sách ngoại giao không những chỉ là nước đôi mà đến nước ba: dùng quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quốc để che chở cho Iran, đồng thời vẫn trao đổi mậu dịch và kỹ thuật với Do Thái; như vậy là cùng một lúc hợp tác với cả 3 nước thù địch gồm Saudi – Iran – Do Thái, đồng thời vẫn ký kết mua dầu với 3 quốc gia có trử lượng hàng đầu trên thế giới là Saudi – Iran – Iraq. Trong khi Hoa Lục đầu tư ồ ạt vào Phi Châu thì các công ty Tây Phương ngày càng gặp khó khăn nhất là từ sau vụ Pháp đem quân sang Mali, và quân khủng bố tấn công vào cơ sở sản xuất khí đốt tại Algeria khiến hàng chục con tin Âu-Mỹ bị sát hại. Chính sách ngoại giao của Bắc Kinh tại Afghanistan cũng vô cùng khéo léo để cùng một lúc thu lợi trên ba mặt. Hoa Lục công nhận cả hai chính quyền Kabul và Taliban để tạo tư thế bù đắp lổ trống khi NATO sẽ rút quân khỏi vào năm 2014. Bắc Kinh lại được sự hợp tác của Pakistan để chận đứng ảnh hưởng của Ấn Độ vào Afghanistan. Hoa Lục có thêm nhu cầu ổn định tại Trung Á để chận việc phiến loạn Hồi Giáo tràn vào lảnh thổ Tây-Môn-Nhĩ của Trung Quốc. Ít nhất trong ngắn và trung hạn Bắc Kinh đang có lợi thế và nhanh chóng phát triển ảnh hưởng tại Trung Đông và Nam Á, phần lớn nhờ vào chính sách ngoại giao độc đoán bắt đầu từ thời George W. Bush. Nhưng tiềm ẩn trong đó là mối lo tâm phúc: hai khu vực này là thùng thuốc nổ nên càng lộ mặt sẽ dễ bị vạ lây! Nga thua Mỹ chạy nhưng cả hai nước này ngày thêm tự lực về năng lượng, trong lúc Trung Quốc bắt buộc phải can dự vì nhu cầu năng lượng tăng nhanh. Cứ trong vài năm thể nào cũng có một cuộc khủng hoảng, nguồn cung cấp bị gián đọạn khiến giá dầu nhảy vọt thì Nga-Mỹ lời to (nhờ bán dầu) trong lúc Trung Quốc (cùng với Âu Châu, Nhật, Nam Hàn, v.v…) sẽ… than trời. Có người sẽ cho rằng Mỹ “cấy” sinh tử phù vào Trung Quốc. Người viết không nghĩ vậy, nhưng đôi khi hay không bằng hên!  
......

Xây dựng Hiến pháp mới

Việc nhân dân góp ý để xây dựng Hiến pháp 2013 đang được thực hiện. Ý định của lãnh đạo đảng và nhà nước là lấy ý kiến nhân dân trong ba tháng (từ đầu tháng 1 đến cuối tháng 3) dựa vào bản dự thảo đã được công bố. Bản tổng hợp ý kiến đóng góp của nhân dân sẽ được trình bày tại phiên họp Quốc hội vào giữa năm nay, sau đó bản dự thảo được sửa đổi bổ sung cuối cùng sẽ được Quốc hội xem xét và biểu quyết tại phiên họp trong tháng 10. Nhưng công việc không đơn giản như thế. Ngay sau khi bản dự thảo đầu tiên được công bố, đã có ý kiến khá gay go về quá trình xây dựng bản dự thảo cũng như nội dung của bản dự thảo này. Trước hết đã có ý kiến của hàng ngàn trí thức tiêu biểu yêu cầu kéo dài thêm thời gian lấy ý kiến của nhân dân, vì 3 tháng xem ra không thể đủ. Lý lẽ của ý kiến này là Hiến pháp cực kỳ hệ trọng, nhất là khi toàn dân mong muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thật sự, việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật trở nên nền tảng của cuộc sống toàn dân. Do đó, không thể làm hình thức, qua loa được. Một bộ phận không nhỏ trong nhân dân không hài lòng với bản dự thảo vừa công bố, vì tuy đề ra hàng trăm điều sửa đổi, nhưng lại hoàn toàn bỏ qua những thay đổi cơ bản cần thiết và cấp bách nhất. Trong những ý kiến này, có 2 đề nghị cực kỳ quan trọng rất khó lòng bác bỏ, đó là đổi tên gọi từ Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) thành Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) như trước đây; đồng thời có ý kiến yêu cầu đảng Cộng sản Việt Nam nên chọn cho mình một tên gọi khác thích hợp với thực tế và khoa học hơn. Hiện nay VN gần như là nước duy nhất còn mang danh xã hội chủ nghĩa (XHCN). Trung Quốc vẫn là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Cuba nay là nước Cộng hòa Cuba. Libya đã từ bỏ danh xưng XHCN. Miến Điện cũng không còn tự gọi là một nước XHCN nữa. Hơn nữa hiện nay chưa ai chỉ ra được hình  thù chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa Cộng sản (CNCS) ở nước ta nó ra sao, mang những đặc điểm cụ thể gì, bao lâu nữa sẽ hình thành, qua mấy kế hoạch 5 năm, qua mấy chiến lược 10 năm. Trong Hiến pháp không thể ghi những khái niệm chung chung, mơ hồ, xa vời. Hơn nữa CNCS kiểu Mác-Lênin trong thực tế đã bị phá sản triệt để ở Liên Xô cũ và Đông Âu; vài nước còn theo chủ nghĩa này đang lâm vào  tình trạng khủng hoảng cả trên lý luận lẫn thực tiễn. CNCS đã bị lên án là một sai lầm khủng khiếp của lịch sử, là tội ác chống nhân loại, với hơn một trăm triệu nạn nhân được ghi rõ trên một tượng đài kỷ niệm ở thủ đô Washington của Hoa Kỳ. Trên khắp châu Âu, CNCS kiểu Mác-Lênin cũng bị cấm truyền bá và bị coi là tội ác lớn hơn cả tội ác của chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Vậy thì đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN)có nên giữ tên gọi như cũ, vẫn khẳng định trung thành với học thuyết Mác-Lênin, vẫn kiên định CNXH kiểu Mác-Lênin hay không? Lẽ phải, khoa học, uy tín của đảng, danh dự dân tộc, thể diện quốc gia đều yêu cầu phải sửa đổi. Có ý kiến nên tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý gọn, nhanh về vấn đề trên vì đã chin trong lý lẽ, trong dư luận rồi. Nếu đổi tên nước thành Nước VNDCCH thì sẽ có sự thay đổi tận gốc rễ từ chế độ độc đảng sang chế độ đa đảng, sẽ cần một đạo luật để sự chuyển đổi diễn ra trong luật pháp, trật tự, từ đó sẽ phải sửa rất  nhiều điều khoản cho đồng bộ. Hiến pháp hiện hành, nếu được sửa đổi một cách cơ bản, hoặc tốt hơn nữa là được thay đổi bằng một văn kiện hoàn toàn mới theo đúng mệnh lệnh của đất nước, ý nguyện của toàn dân, và yêu cầu của thời đại, sẽ mang lại một diện mạo mới mẻ cho đất nước. Sự chuyển đổi này có giá trị như một cuộc cách mạng dân chủ sâu sắc. Ngoài ra có mấy vấn đề hệ trọng khác cần được trao đổi, đối thoại rộng rãi trong dư luận. Đó là vấn đề sở hữu nhiều thành phần về ruộng đất như tại hầu hết các nước khác, từ đó khôi phục quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất vốn có từ xưa;  vấn đề tách rời ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp để có kiểm soát và cân bằng quyền lực;  vấn đề không coi sở hữu quốc doanh là chủ đạo trong nền kinh tế chung … Mới có vài tuần lễ bản dự thảo được đưa ra công luận, đã có phản ứng và hồi âm ngay. Đã có yêu cầu mạnh mẽ, dứt khoát chuyển thật sự sang một chế độ dân chủ đa nguyên. Trong số người đông đảo đã ghi tên đóng góp ý kiến, người ta thấy có những nhân vật rất nổi tiếng, mới cũng như cũ, thuộc cả hai giới nam nữ, từ mọi miền Bắc, Trung, Nam, thuộc mọi lứa tuổi, có cả người ngoài đảng CS và trong đảng. Lý lẽ của họ rất rõ ràng, lập luận công phu, Ban Lý luận Trung ương,  và 900 “lý lẽ viên” của Thành ủy Hà Nội khó lòng bác bỏ nổi. Lúc này chính là lúc Bộ Chính trị cần lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của nhân dân hơn lúc nào hết. Bộ Chính trị đã bỏ qua quá nhiều thời cơ và lãng phí quá nhiều thời gian của đất nước. Hãy lắng nghe tiếng nói của nông dân bị mất ruộng đất, của các nhà kinh doanh nhỏ và vừa bị chèn ép, của tuổi trẻ nhiều ước mơ bị vùi dập. Trong khi đó, nạn tham nhũng  đang ngang nhiên hoành hành, xã hội băng hoại vì kỷ cương buông lỏng từ trên cao, y tế xuống cấp, giáo dục lạc hậu, đều liên quan đến tệ quan liêu, độc đoán, thiếu vắng dân chủ. Trong công cuộc sửa đổi Hiến pháp, tạo ra Hiến Pháp Dân chủ năm 2013, có thể nói trên thực tế đã hình thành 2 nhóm lãnh đạo đối lập nhau. Một bên là lãnh đạo của đảng CS mà đại diện chính là Bộ Chính trị hiện nay, có vẻ như không mặn mà với việc sửa đổi Hiến pháp, hài lòng với bản dự thảo hiện tại, gồm có hàng trăm thay đổi vụn vặt, thứ yếu, tránh né những thay đổi cơ bản cần thiết đã hoàn toàn chin muồi. Một bên là một số trí thức khá đông đảo, chất lượng cao, không ít người là cán bộ cao cấp của đảng và nhà nước, một số từng là cán bộ lãnh đạo, cùng thanh niên, phụ nữ, lao động, nông dân, nhà kinh doanh… có trình độ và tâm huyết, mong muốn một cuộc thay đổi đúng mức, theo hướng dân chủ đa nguyên, hòa nhập với thế giới dân chủ hiện đại, có lợi cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước. Đây là một cuộc đấu tranh ôn hòa, bằng lý lẽ, qua lập luận, tranh luận, thuyết phục nhau, qua hội họp, bài nói và bài viết trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng mở rộng, lấy nhân dân cử tri cả nước làm trọng tài. Đây là dịp để nhân dân ta tập dượt thực thi quyền dân chủ của cử tri trong xã hội, với thái độ ôn hòa, xây dựng, bình đẳng tương kính trong một xã hội văn minh, có hàng ngàn năm văn hiến. Do có thể có những bất đồng gay gắt, cần đề phòng trước những thái độ nóng nảy, thành kiến, chụp mũ nhau, không lắng nghe rõ ý kiến của nhau, và nên luôn luôn lấy quyền lợi tối cao của nhân dân của đất nước làm trọng. Đất nước quê hương ta đã qua một thời kỳ chến tranh bi thảm, nay là một dịp quý hiếm để chung sức chung lòng tạo nên một đạo Luật Cơ bản làm nền tảng vững vàng cho một chế độ dân chủ đa nguyên mà nhiều nước đã thực hiện từ thế kỷ XVIII như Hoa Kỳ và Pháp, những gương sáng từng được ghi đậm nét trong bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước  VNDCCH. Đảng CSVN đang lãnh đạo đất nước có đóng góp nhưng cũng có nhiều sai lầm trong trách nhiệm của mình, nay có phần trách nhiệm chủ yếu trong việc điều hành xây dựng bản hiến pháp mới năm nay. Quần chúng nhân dân đang thức tỉnh về nền dân chủ đa nguyên ưu việt đặt niềm tin trên vai tập thể trí thức dân tộc đã có sáng kiến đề ra những tuyên bố, kiến nghị, lời kêu gọi vừa qua. Lịch sử sẽ ghi nhận thái độ đúng đắn, trọng lẽ phải, vì nhân dân, thức thời tự nguyện rời bỏ vai trò độc quyền độc tôn lãnh đạo đất nước của Đảng CSVN, chủ động sát cánh cùng toàn dân xây dựng nền dân chủ đa nguyên ưu việt, một bước tiến mạnh mẽ lên phía trước của nền văn minh nhân loại. Bùi Tín (VOA)
......

Thư gửi đảng Việt Tân

Thưa quý vị đảng Việt Tân! Khi nghe tin TS. Nguyễn Quốc Quân "bị" trục xuất về Mỹ [1], lẽ ra tôi nên có lời chúc mừng như thông lệ, sau gần cả năm TS. Quân phải hy sinh tự do và chấp nhận nhiều thiếu thốn trong nhà tù CS, tuy nhiên, suy cho kỹ chẳng có gì ngạc nhiên để chúc mừng, bởi việc này không nằm ngoài dự đoán của nhiều người quan sát. Giới cầm quyền VN, trước sau cũng phải trả tự do cho ông Quân mà thôi, bởi họ hiểu [2]: "Sẽ là một thảm họa cho Việt Nam nếu họ dám trừng phạt một công dân Hoa Kỳ bằng một bản án nặng nề chỉ vì ủng hộ nhân quyền trong hòa bình" - Linda Malone, một giáo sư tại Trường Luật William và Mary, người tư vấn cho luật sư bảo vệ Quan cho biết. "Họ sẽ phải chịu một mất mát hết sức lớn vào những gì mà họ từng nỗ lực để vươn lên". Lời bình luận của bà GS. Linda Malone làm tôi vừa cảm thấy vui vừa cảm thấy nhục và tủi. Vui đây là vui vì giới cầm quyền Việt Nam biết sợ... người giàu (!). Nhục đây là nhục khi đứng trước dân vừa giàu, vừa giỏi, vừa ... dữ :) giới cầm quyền Việt Nam biết phải hạ mình. Tủi đây là tủi cho tôi (và hàng triệu người trong nước) là người Việt Nam, nên "giá" ... quá bèo so với... người Mỹ!!! Tôi cảm thấy tiếc đứt ruột những đồng tiền thuế mà người Việt Nam trong nước đang đóng để nuôi cả bộ máy vừa ăn vừa phá cái đất nước còm cõi, đáng thương này! Thay vì chúc mừng, tôi muốn nói lời cám ơn đến cá nhân và gia đình TS. Nguyễn Quốc Quân nói riêng và đảng Việt Tân nói chung. Lý do cám ơn: Quý vị đã thay mặt những người dân cô thế trong nước "vỗ mặt ĐCSVN" [3] bằng hành động buộc họ phải trả tự do cho TS. Quân. Việc trả tự do cho TS. Quân, nói một cách chính xác: một thất bại thảm hại và được báo trước cho ĐCSVN. Nó là một thất bại tất yếu không tránh khỏi của họ. Ừ thôi! Bản chất của bọn gian hùng, lưu manh, lừa đảo, vô học thì đời nào cũng vậy, phải không thưa quý vị? Chắc quý vị cũng chẳng lấy gì làm băn khoăn về thói "cà cuống chết đến đít còn cay" qua giọng lưỡi "vì lý do nhân đạo" của mấy ông "đầy tớ"... "nhà tôi"! Nhân đây, tôi muốn bày tỏ lòng cảm kích của cá nhân tôi về tính kiên trì của TS. Nguyễn Quốc Quân và đảng Việt Tân với những chuyến đi về nhọc nhằn như thế này. Tôi cho rằng, những chuyến đi về này nên được tiếp tục thực hiện nhiều hơn, thường xuyên hơn từ nhiều đảng viên của quý vị, bởi nó đạt được hiệu quả quan trọng: - Tạo tính chính danh và quảng bá danh tiếng của Việt Tân cũng như của những tổ chức chính trị khác. Tính chính danh của quý vị càng cao, đồng nghĩa bộ mặt ngụy danh của CSVN càng bị lột trần trước mắt dân chúng và thế giới. - Thông qua nhiều chuyến đi về Việt Nam như đi chợ rồi bị bắt [*], bị tung lên báo, lên tivi là "khủng bố", âm mưu lật đổ", rồi cuối cùng buộc phải thả dù bất kỳ lý do nào v.v... vô hình chung giới cầm quyền VN tự phơi bày nỗi bất lực của họ. Thất bại của họ chính là thành công của quý vị. Song song đó, làm cho người dân trong và ngoài nước càng thấy hình ảnh "bắt cóc bỏ dĩa" ngày càng trở nên hài hước, mất tác dụng. Nó cũng tạo cảm giác "thuốc đã lờn" cho ngay cả những viên CAM hàng ngày đối diện với các trang báo tự do để rình rập mà suy ngẫm lại trước việc làm vô đạo của ĐCSVN mà cải tà quy chánh, quay về với nhân dân. - Một khi giới cầm quyền Việt Nam chẳng thể ngụy tạo hay vu khống gì thêm được nữa, bởi ngoài những trang sách, laptop mà không có một thứ công cụ nào liên quan đến bạo lực, thì điều 79, 88 càng trở thành trò hề thật thuyết phục đối với tất cả. Hình ảnh này càng làm nổi rõ tính bạc nhược, đê tiện và vô sỉ của giới cầm quyền Việt Nam đối với những tù nhân lương tâm. Lại một mùa xuân sắp tới! Nghĩ về hình ảnh TS. Nguyễn Quốc Quân quây quần ấm cúng bên gia đình, bạn hữu mà tôi rưng rưng nước mắt nhớ về các tù nhân lương tâm khác, sau cánh cửa sắt nặng nề và lạnh lùng, đang nằm chèo queo trên nền đất lạnh! Nhân dịp tết Nguyên Đán, kính chúc quý vị cùng gia quyến một năm mới an khang và tiếp tục dấn thân bằng những chương trình hành động thiết thực, hiệu quả để chung tay giải cứu người dân trong nước chúng ta và bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ đất Mẹ, trước bọn giặc Tàu tham tàn thâm căn cố đế cùng những kẻ ngụy danh đang manh tâm chống lại dân tộc. _______________ [1] Trục xuất Nguyễn Quốc Quân khỏi Việt Nam (Dân Luận) [2] Sự chậm trễ của cuộc họp nhân quyền Mỹ-Việt cho thấy mối quan hệ giữa hai nước đang nhạt dần vì Hà Nội đàn áp các nhà đấu tranh (Dân Luận) [3] Nguyễn Ngọc Già - Vỗ mặt đảng Cộng sản Việt Nam! (Dân Luận) [*] Đố họ dám đánh đập, hành hung công dân nước khác. Ai cũng biết, những tên tham tàn, lưu manh chỉ giỏi đày ải và hiếp đáp dân trong nước mà thôi. Thế nên tác giả Đồng Phụng Việt mới gọi nó là "ác với dân", còn tôi thì gọi nó là "quân khôn nhà dại chợ".   Nguồn: http://danluan.org/tin-tuc/20130130/thu-gui-dang-viet-tan  
......

CSVN phóng thích Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân

VIỆT NAM CANH TÂN CÁCH MẠNG ĐẢNG THÔNG CÁO BÁO CHÍ   Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân đã được trả tự do   Sau nhiều lúng túng thể hiện qua việc phải hoãn phiên xử Tiến sĩ Nguyễn Quốc Quân vào ngày 22/01/2013 vừa qua, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã phải trả tự do vô điều kiện cho Ts Nguyễn Quốc Quân vào chiều ngày 30/01/2013 (giờ Việt Nam). Hiện thời Ts Nguyễn Quốc Quân đang trên đường trở về Hoa Kỳ và sẽ tới phi trường quốc tế Los Angeles vào lúc 19:25 cùng ngày. Ts Nguyễn Quốc Quân đã bị công an bắt giữ ngay lúc vừa đáp xuống phi trường Sài Gòn vào ngày 17/04/2012. Mặc dù CSVN đã cố gán ghép ông vào tội “khủng bố” rồi sau đó lại chuyển thành tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, nhưng thực chất chỉ là những cáo buộc hàm hồ, vô căn cứ. Sau nhiều tháng giam giữ trái phép Ts Nguyễn Quốc Quân, nhà cầm quyền CSVN đã cho thấy sự lúng túng và nhất là lo ngại trước những phản ứng mạnh mẽ từ dư luận sau vụ xử 14 Thanh Niên Yêu Nước tại Nghệ An đã xảy ra trước đó vào hai ngày 8 và 9/01/2013. Đuối lý và nhất là trước những áp lực nặng nề từ chính quyền Hoa Kỳ và quốc tế, cuối cùng nhà cầm quyền CSVN đã phải trả tự do vô điều kiện cho Ts Nguyễn Quốc Quân. Trước sự kiện này, Đảng Việt Tân xác nhận quan điểm như sau: Cực lực phản đối nhà cầm quyền CSVN đã giam giữ trái phép Ts Nguyễn Quốc Quân, đồng thời đã xuyên tạc đường lối và hoạt động của Đảng Việt Tân. Đảng Việt Tân chủ trương đấu tranh chấm dứt độc tài và xây dựng dân chủ bằng phương pháp bất bạo động. Trong tinh thần đó, mọi đảng viên Việt Tân sẽ tiếp tục sát cánh cùng đồng bào Việt Nam để giành lại nhân quyền, công lý và dân chủ cho đất nước. Đảng Việt Tân sẽ tiếp tục vận động mọi áp lực để tranh đấu cho sự tự do của tất cả mọi tù nhân lương tâm đang bị nhà cầm quyền CSVN giam giữ vì lý do chính trị. Sau cùng, Đảng Việt Tân xin chân thành cảm tạ chính quyền Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới, các tổ chức nhân quyền, cơ quan quốc tế, và nhất là sự hỗ trợ của đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài nước đã nỗ lực góp sức tạo áp lực để Ts Nguyễn Quốc Quân được tự do. Ngày 30 tháng 1 năm 2013 Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng
......

Chế Độ Việt Cộng, Sụp Đổ Sớm Hơn Dự Kiến

Đồng bào Việt Nam, càng ngày càng nhận diện rõ bộ mặt thật “buôn dân bán nước” của Hồ Chí Minh (HCM) và đồng đảng của ông ta; nên độc đảng này đang/sẽ sụp đổ sớm hơn dự kiến và sự sụp đổ được tính bằng ngày, không còn tính bằng năm hay tháng. Việt Nam Cộng sản (Việt Cộng=VC), đã và đang răm rắp tuân theo sự chỉ đạo của Tàu là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc VN. Chính quyền Việt Nam Cộng sản, đã vâng lệnh quan thầy Trung cộng, đã chỉ thị công an thẳng tay đàn áp đồng bào VN, khi đồng bào tranh đấu chống quân Tàu xâm lấn trên đất liền và biển đảo của ta. Ngày xưa, trong thời bị Bắc thuộc, các Thái thú Tàu đã bóc lột dân ta tàn bạo và đến khi nước ta bị Pháp đô hộ, thực dân Pháp đã đày đoạ dân ta rất nhục nhằn. Vì vậy, nhân dân ta đã quật khởi, kiên cường đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi. Tuy nhiên, sự bóc lột và nhục nhằn ấy cũng chưa bằng lối cai trị quá tàn nhẫn của VC ngày nay. Vì sao tôi dám khẳng định như vậy?. Xin thưa: - Sự nhục nhằn của nhân dân ta, vào các thời ngoại bang đô hộ trước đây; chưa từng có hàng triệu người bỏ nơi chôn nhau cắt rốn đi tìm tự do. Nhưng sau hiệp định Genève (ngày 20-7-1954), hàng triệu người, từ miền Bắc di cư vào miền Nam Việt Nam để tìm đời sống tự do. Sau ngày 30-4-1975, cũng hàng triệu người Việt lại bỏ nước ra đi lánh nạn Cộng sản, chấp nhận mọi hung hiểm, chết chóc trên biển cả hãi hùng hay nơi rừng rú rậm rạp?! - Trên bốn ngàn năm lịch sử Việt Nam, chưa hề xảy ra cái quái thai: “Đấu tố - Cải cách ruộng đất”, hoặc “Vụ án - Nhân Văn Giai Phẩm”, chỉ có vào khoảng năm 1954, chính quyền Hà Nội lại bị nhà cầm quyền Bắc Kinh trực tiếp sai khiến, mới có cái quái thai này?!. Sau năm 1975, VC lại cướp đoạt hoặc trưng thu ruộng vườn của nhân nhân, mới có hiện tượng “Dân oan”, mà chữ “Dân oan” từ điển tiếng Việt chưa từng có trước đấy!. Chính sách chiếm đoạt ruộng vườn tạo nên một thùng thuốc nổ chậm cực lớn, sẽ nổ tan tành chế độ VC. Đấy là một “thế lực thù địch” chính VC tạo ra và VC sẽ nhận lấy hậu quả “gậy ông đập lưng ông” trong nay mai. - Trung cộng được đặc quyền khai thác bauxite Tây Nguyên, dự án ước tính khoảng 3,1 tỷ USD, chúng lại muốn xây dựng một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km và một cảng biển trên nước ta, lấy cớ để vận tải sản phẩm?!. Gây nên quan ngại rất lớn về sự có mặt cả hàng ngàn người Tàu tại địa bàn Tây Nguyên, nơi có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh và quốc phòng. Theo tiết lộ WikiLeaks: Vụ Bauxit Tây Nguyên, chính quyền Tàu đã mua đứt Nông Đức Mạnh 300 triệu USD, Nguyễn Tấn Dũng 150 triệu USD. Việc hối lộ này, đã đăng trên các báo: Tờ báo Aftenposten của Na Uy, Dân Làm Báo... Đồng thời, Báo Financial Times cho rằng: “Dự án Bauxit Tây Nguyên, nói lên tính phụ thuộc của Việt Nam đối với Trung Quốc, và dự án này là một món quà”?! Dự án Bauxit Tây Nguyên rất nguy hiểm về: An ninh, quốc phòng; kinh tế, xã hội; nhất là ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sinh thái, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Nhưng, hai ông Dũng và Mạnh chỉ cần lấy được tiền, họ xem tiền hối lộ trên đồng bào và tổ quốc?! Chính quyền VC chẳng những sợ sệt luồn cúi Tàu, mà còn xem người Tàu như đấng chí tôn (vua chúa) của mình, nên sợ “phạm huý” phải gọi tên bọn cướp biển Tàu đã/đang sát hại ngư dân VN là “tàu lạ”, dù VC biết chắc chắn tàu cướp biển này là của bọn “giặc Tàu”. Đúng là VC tự nguyện xem mình là thần dân của quân Tàu cướp nước?! Từ những hành động chính quyền VC như thế, nên VC được nổi tiếng: “Hèn với giặc, ác với dân” là vậy. Do đấy, mới có phong trào “người Việt yêu nước”, đã/đang chống lại hành vi sai trái của chính quyền VC, những nhân vật yêu nước nồng nàn, đã đấu tranh quyết liệt, phải trân trọng kể đến: Cha Lý, luật sư Cù Huy Hà Vũ, bà Lê Hiền Đức, bà Bùi Thị Minh Hằng, luật sư Lê Công Định... Đồng bào VN luôn kính trọng và biết ơn các vị này, họ vì quốc gia dân tộc mà phải chịu đoạ đày trước hành động trả thù vô lý và dã man của VC. Người xưa có câu: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân quý nhất, đất nước thứ hai, vua nhẹ nhất). VC lại không hiểu được lý lẽ này, hay hiểu nhưng họ là kẻ bán nước, là hồn Tần Cối (1090-1155) tái sinh. Tần Cối làm quan Tể tướng nhà Tống, đã ngấm ngầm dâng nước Tống cho giặc Kim, vì thế sau này nước Tống bị nước Kim xâm lược. “Tần Cối tái sinh, buôn bán nước Đồng bào xông xáo, giữ gìn quê Quân Tàu rình rập, xâm cương thổ Ai chống, ai hàng, ai tái tê???!!!” Tôi tin rằng: “Hồn thiêng sông núi phù trì, nay đất nước đang bị hao hụt bởi ngoại xâm, với tinh thần bất khuất của dân tộc, toàn dân sẽ đồng lòng gìn giữ đất nước, sẽ lật đổ chính quyền Thái thú VC. Ngày ấy không xa, có lẽ chính quyền VC không thể tồn tại lâu hơn 3000 ngày nữa”. Chưa hết, ngày 4-9-1958, thủ tướng Tàu cộng là Chu Ân Lai, ra một bản tuyên bố vùng biển Đông gồm Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Tàu. Tuân thủ ý đồ của quan thầy vừa tuyên bố; ngày 14-9-1958, thủ tướng miền Bắc Việt Nam là Phạm Văn Đồng, với sự đồng loã chủ tịch nước là Hồ Chí Minh, gửi công hàm cho Chu Ân Lai, xác nhận chủ quyền của Tàu cộng theo bản tuyên bố của họ Chu. Trong khi ấy, quần đảo Hoàng Sa thuộc Đà Nẵng, quần đảo Trường Sa thuộc Khánh Hòa (quần đảo Trường Sa ở ngoài khơi của Khánh Hoà chạy dài đến Philippines. Năm 1933, HS thuộc tỉnh Bà Rịa. Năm 1956, Tổng thống VNCH ký sắc lệnh, đổi Bà Rịa thành tỉnh Phước Tuy), như vậy Hoàng-Trường Sa là của miền Nam VN (VNCH), ông Đồng dâng biển đảo thiếu yếu tố pháp lý. Quá trớ trêu, chúng ta sẽ gọi ông Đồng và ông Hồ là 2 kẻ ăn cắp hay 2 kẻ ăn trộn đảo của VNCH, xin đồng bào cho ý kiến?!. Do đấy, ngày 19-1-1974, Tàu cộng đem hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa và đến năm 1988, Tàu cộng lại đem hải quân đánh chiếm nhiều đảo của ta ở Trường Sa. Ngày 30-12-1999, gọi là phân định lại biên giới Việt-Trung, VC đã nhượng cho Tàu cộng khoảng 700 km vuông, thuộc đất của các tỉnh Hà Giang, Lạng Sơn... Ngày 25-12-2000, chính quyền VC, cắt nhượng tiếp vùng vịnh Bắc Bộ của VN cho Tàu cộng, khoảng 11,000 km vuông. Từ cổ chí kim, từ Á qua Âu, qua Mỹ, chưa bao giờ có “Kẻ bán nước, lại bắt giam người yêu nước”, ba bloggers yêu nước, thuộc Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, tranh đấu chống quân Tàu xâm lấn VN, lại bị chính quyền bán nước VC, tuyên phạt tại cái gọi là toà án Sài Gòn ngày 24-9-2012: Nguyễn Văn Hải, tức Điếu Cày, 12 năm tù. Tạ Phong Tần, 10 năm tù và Phan Thanh Hải, 4 năm tù giam. Lại cũng “Kẻ bán nước, xét xử người yêu nước”, gọi là cái tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, trong hai ngày 8 và 9-1-2013, gọi là xét xử 14 thanh niên Công giáo: Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Lê Sơn, cô Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Đình Cương, Nguyễn Văn Duyệt, Nguyễn Văn Oai, Nông Hùng Anh, Nguyễn Xuân Anh, Hồ Văn Oanh, Thái Văn Dung, Trần Minh Nhật, Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc và chị Đặng Ngọc Minh. Không thể khuất phục trước bọn Việt gian bán nước; lòng yêu nước kiên trung thôi thúc, những thanh niên yêu nước này đã dám đứng lên dõng dạc hô to: “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam và Đả đảo Trung Quốc xâm lược”. Chưa hết, lòng yêu nước nồng nàn còn sáng chói, Paul Minh Nhật đã nói khẳng khái: “Tôi không có tội, nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì cứ tùy thích”. Đặng Xuân Diệu đã nói hùng hồn: “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm, nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại Tôi, thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc VN và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”. Đáng phục, những lời khẳng khái và hùng hồn ấy, như phảng phất lời son sắt của danh tướng Trần Bình Trọng đã mắng giặc: “Ta thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc, ta đã bị bắt thì chỉ có chết thôi”, lời nói này, sau khi tướng Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên (Tàu) bắt và dụ hàng vào năm 1285. Tất cả 14 người thanh niên yêu nước, đã bất khuất trong công cuộc đấu tranh chống quân Tàu xâm lược, mà lại bị VC cáo buộc “hoạt động lật đổ chính quyền”?!. Kết án tổng cộng 83 năm tù giam và 42 năm quản chế?! Chống Tàu xâm lược, vì sao VC ngạo ngược gọi là “hoạt động lật đổ chính quyền”, chính sự vu khống này sẽ “lộng giả thành chơn”, mà nhân dân ta sẽ hạ bệ chính quyền VC bán nước trong một ngày không xa. Có lẽ VC không học Sử Việt, nên không biết vua Trần Nhân Tông đã căn dặn: “Các ngươi chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình quyền nói một đàng làm một nẻo. Cho nên họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra nơi biên ải. Các việc trên khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn: Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các ngươi phải nhớ lời Ta dặn: Một tấc đất của Tiền Nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác”. Nói tới: “Có lẽ VC không học Sử Việt”, thì tôi lại cảm thông cho ông Nguyễn Tấn Dũng, nghe nói Ba Dũng là con rơi, con rớt của ông Nguyễn Chí Thanh gì đấy, bị bơ vơ, đến năm 12 tuổi phải đi làm liên lạc viên, nên trách Ba Dũng không học Sử Việt là trách oan rồi! VC trước đây, vừa mưu mô quỷ quái, vừa lừa lọc và hung hãn, đồng bào có người lầm mà tin theo, có người sợ mà khuất phục. Nhưng ngày nay (2013); đồng bào đã nhận diện rõ bộ mặt giả dối và “buôn dân bán nước” của Hồ Chí Minh và đồng đảng của ông ta, nên dân không còn tin theo và sợ sệt VC nữa. VC lại quên câu nói: “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh” hoặc: “tức nước vỡ bờ” là chuyện phải đến nay mai, vì người dân đã bị VC dồn đến đường cùng. Đại văn hào cũng là chính trị gia Nguyễn Trãi đã nói: “Đẩy thuyền đi là dân mà lật thuyền cũng là dân”. Vì vậy, cần xem xét kỹ lại hành động của VC, càng ngày VC càng đàn áp dân chúng thô bạo hơn, VC không nghĩ đến trường hợp người dân bị đè nén quá mức, giống như lò xo càng đè thì sức bật ngược càng mạnh. Do đấy, dự kiến rằng VC sẽ sụp đổ trong 3000 ngày là còn quá lâu. Nếu VC không thay đổi hoặc tiến đến đa nguyên đa đảng gấp, thì VC có thể không tồn tại được tới một nửa thời gian vừa dự kiến; vì “ý dân là ý trời”. Nhân đây, người viết cũng xin có vài lời tâm tình với Quân đội và Công an VN hiện nay. Người viết nói thật, đã ở tuổi nghỉ hưu, còn Công an và Quân đội đang phục vụ, có lẽ còn trẻ trung hơn, để xưng hô theo tuổi tác của người Việt; người viết xin gọi các người là chú (chú em) nhé. Về Quân đội có lẽ các chú đang “án binh bất động”, trong khi đất nước đang âm ỉ cháy ngầm chưa bùng phát, nhưng các ông: Đại tá Đào Văn Nghệ, đại tá Bùi Tín, tướng Trần Độ, tướng Nguyễn Trọng Vĩnh... đã quá bức xúc trước cảnh quân Tàu hung hăng, lấn chiếm bờ cõi của ta và xót xa chính quyền VC quá nhu nhược, nên đã thẳng thắn lên tiếng. Thành thật, tôi nghĩ rằng: “Mấy chú đã hiểu rõ hiện tình đất nước ta, đang bị quân Tàu rình rập xâm chiếm, mà chính quyền thì bán nước cầu vinh”. Nên tôi nhắc lại, để mấy chú nhớ, trong bài thơ “Viếng đền Kiếp Bạc”, hai câu luận, HCM viết: “Bác đưa một nước qua nô lệ Tôi dẫn năm châu đến đại đồng” Mấy chú đừng vội trách mắng HCM, tại sao lại hỗn láo với vị anh hùng khả kính Trần Hưng Đạo, mà phải thấy rõ việc họ Hồ có ý định làm nô lệ, thì cần suy nghĩ hơn: “Tôi dẫn năm châu đến đại đồng” là đại đồng nào vậy?! Nhập chung VN với Tàu chăng? Lúc đấy Tàu 1 tỉ dân, còn VN thì 50 triệu dân, tức là dân số VN chỉ bằng 1/20 dân số Tàu, có phải họ Hồ muốn nhờ Tàu đồng hoá dân Việt của mình không; bọn xâm lược Tàu hoan nghênh lắm đấy?! Còn nữa, những tên đàn em của HCM, vì ảnh hưởng tính nô lệ ấy, mà văn nô Tố Hữu khóc Stalin là một người Nga, mà cha mẹ không bằng, với lời lẽ kẻ nôbộc không kém: “Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi! Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng Thương mình thương một, thương Ông thương mười”. Thôi, dù sao họ cũng đã qua đời rồi! Mấy chú ráng bỏ qua đi, hãy nhìn về hiện tại lo cho tương lai đất nước mình thì hơn. Người viết, xin kể mẩu chuyện khác để mấy chú thấy rõ lòng người mình rất độ lượng: Sau năm 1975, chính quyền VC bắt buộc treo ảnh của HCM, nơi cửa mỗi nhà dân ở miền Nam, nhiều người nhăn nhó khó chịu, vì ông Hồ mà con em miền Bắc “sinh Bắc tử Nam” cả triệu người, và quân lính miền Nam bị tử thương tới 250 ngàn người, nhưng có một anh trong xóm đã gượng cười, nói rằng: “Thì cứ treo hình ông Hồ trước cửa nhà, cứ nghĩ là nhà mình nay có kẻ ngồi tại cửa trông nhà thì có sao đâu?!”. Thế là bà con cười đùa và treo hình HCM, không còn ái ngại nữa. Có một thời gian, chính quyền lại ra lệnh đem hình HCM vào thờ ở chùa, ở nhà thờ, như Phật, như Chúa. Có một chùa nọ (vì nhạy cảm không thể nêu đích danh), chú tiểu nghĩ kẻ bán nước như HCM, không thể để hình nơi bàn thờ của chùa được, nên loay hoay không biết tính sao, đến hỏi thầy trụ trì. Vị hoà thượng hiền hoà ôn tồn bảo: “Con cứ để tượng ông Hồ, dưới chân tượng Phật, biết đâu ông Hồ nghe kinh kệ lâu ngày sẽ tiêu trừ bớt tội lỗi như núi của ông ta. Mô Phật, cầu ông ta sớm được siêu thoát, thì chùa mình cũng làm được việc thiện là độ kẻ ác qua bến mê!” Đấy, mấy chú Bộ đội và Công an, có thấy dân mình từ người lương đến người tu hành đều hiền hoà và dễ dãi cả, chỉ có độc đảng Cộng sản là đi ngược lại tình tự dân tộc. Tôi thì tin đại đa số mấy chú vẫn có lương tâm người Việt. Chỉ có một số chú Công an đã nóng nảy gây tội lỗi quá trầm trọng, như việc “bịt mắt cha Lý”, “lột hết quần áo cô Nguyễn Hoàng Vi”... Mấy chú Công an man rợ ấy, đã bị nhân dân thế giới lên án và nguyền rủa, mình là người Việt cũng cảm thấy bị xấu hổ lây! Ngoài ra, mong mấy chú ghi tâm: “Dân chi phụ mẫu”, mấy chú là con cháu từ nhân dân mà ra và đời sống của mấy chú là do nhân dân đã đóng thuế nuôi đấy, nhớ đừng có bội bạc với nhân dân đấy nhé.
......

Viết về chính trị

Viết để đánh động vào cảm xúc của người đọc, hoặc đa số người đọc, không khó. Trong lãnh vực văn chương, không khó. Trong lãnh vực chính trị, lại càng không khó.   Chính trị, nơi thường có những tranh chấp quyết liệt, thậm chí, đẫm máu nhất, oái oăm thay, lại thường là nơi người ta dễ đồng cảm với nhau nhất. Lý do dễ hiểu: chính trị tác động đến con người không phải chỉ với tư cách cá nhân mà còn với tư cách tập thể. Thứ nhất, tất cả các chính phủ đều chỉ đại diện cho một khối người nhất định nào đó. Không bao giờ có chính phủ của toàn dân. Những cách nói “chính phủ của toàn dân” bao giờ cũng là những lối mạo nhận, đầy giả dối. Những số phiếu bầu 100% hay ngay cả trên 90% cho một người hay một đảng phái nào đó chắc chắn là những số phiếu gian lận. Chính phủ, may lắm, chỉ là chính phủ của đa số. Chứ không phải là của toàn bộ. Của tất cả. Đã có đa số thì sẽ có thiểu số.  Hai bên sẽ tranh chấp với nhau, nhưng ít nhất trong từng bên, sẽ rất dễ có sự đồng cảm.   Thứ hai, bất cứ chính sách lớn nào của chính phủ, về các phương diện kinh tế và xã hội, cũng đều ít nhiều có tác dụng tích cực đối với nhóm người này và tác dụng tiêu cực đến một nhóm người khác. Hai nhóm này có thể tranh chấp với nhau; nhưng trong nội bộ từng nhóm thì lại thường dễ đồng cảm với nhau.   Một ví dụ đơn giản: Khi quyết định tăng thuế, rất hiếm khi chính phủ dám tăng thuế đồng loạt. Thường chỉ tăng thuế ở một mức thu nhập nào đó, nghĩa là, nhắm vào một tầng lớp xã hội nào đó. Ví dụ, có đảng chủ trương tăng thuế của giới tư bản, thật giàu và giảm bớt thuế cho giới trung lưu hoặc dưới trung lưu; ngược lại, cũng có đảng chủ trương tăng thuế giới trung lưu, cắt giảm trợ cấp xã hội của thành phần có thu nhập thấp và giảm hoặc không tăng thuế giới giàu có với lập luận: thành phần đại tư bản giàu có ấy đã đóng góp lớn lao trong lãnh vực nhân dụng, tạo công ăn việc làm cho cả hàng ngàn hay chục ngàn người khác.   Bất cứ chính sách thuế khoá nào, như vậy, cũng làm lợi cho một số người và ngược lại, làm thiệt một số người khác. Trong từng nhóm, những người có lợi và những người bị thiệt ấy, rất dễ có sự đồng cảm với nhau.   Ở các chế độ độc tài, nhất là độc tài ở giai đoạn cuối, sự đồng cảm càng dễ nảy nở: trừ một thiểu số được hưởng lợi từ độc tài, những nạn nhân của độc tài thường rất gần nhau ở hoàn cảnh cũng như ở tâm trạng.   Khi một tâm trạng được cả đám đông chia sẻ, viết để đánh động cảm xúc của họ là điều dễ dàng. Ví dụ, ở Việt Nam hiện nay, không mấy người không bất mãn trước sự độc tài, tham lam và tàn bạo của giới cầm quyền. Nắm bắt sự bất mãn ấy: không khó. Khích động được sự bất mãn ấy: cũng không khó. Xoáy sâu vào những bất mãn ấy, người cầm bút rất dễ nhận được đồng cảm hay ngay cả sự hoan nghênh.   Việc làm ấy, dĩ nhiên, không phải không có ích. Nó khiến mọi người tự giác hơn về tội ác của giới cầm quyền. Nó làm mọi người thấy gần gũi hơn với tư cách nạn nhân hay chứng nhân. Nó lột mặt nạ, toàn bộ mặt nạ, của những tên bạo chúa giả dối để không còn ai có thể bị ảo tưởng hay bị lừa bịp nữa.   Nhưng việc làm ấy không phải không có hại. Dân chúng đang quằn quại đau đớn và phẫn uất, gặp những bài viết đánh động vào cảm xúc của mình, rất dễ đồng cảm. Thấy sung sướng. Thấy hả hê. Thấy như được trả thù. Bao nhiêu u uất, u uẩn và phẫn nộ dường như được giải toả. Người ta bỗng thấy nhẹ nhõm hẳn. Và vì sự nhẹ nhõm ấy, người ta không thấy có nhu cầu hành động hay làm gì thêm để thay đổi tình thế.   Nói hại là vì vậy.   Tôi nghĩ, trong thời điểm hiện nay, cần hơn là những bài viết nhằm khai mở nhận thức. Nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay tham nhũng? Điều đó hầu như ai cũng biết. Nhưng tham nhũng đến độ nào? Quan hệ giữa tham nhũng và thể chế chính trị như thế nào? Tại sao hành động chống tham nhũng, để có hiệu quả, phải gắn liền với hành động chính trị? Trả lời các câu hỏi ấy, người ta không phải chỉ vuốt ve cảm xúc mà còn làm thay đổi nhận thức của người đọc.   Chỉ nhận thức không, không đủ tạo thành cách mạng. Chỉ cảm xúc không, cũng không đủ tạo thành cách mạng. Không phải chỉ nhờ việc nhận thức được bản chất của độc tài, người ta có thể sẵn sàng đổ xô xuống đường chống lại độc tài. Cũng không phải chỉ do bất mãn độc tài, người ta đã có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để đánh đổ độc tài.   Cách mạng bao giờ cũng là kết quả của cả hai, nhận thức và cảm xúc: khi cảm xúc được soi sáng thành nhận thức và khi nhận thức sâu sắc đến độ biến thành cảm xúc.
......

Prozess in Vietnam

28. Januar 2013, 10:42 Uhr 22 Dissidenten droht die Todesstrafe http://www.spiegel.de/politik/ausland/vietnam-dissidenten-droht-todesstrafe-a-880026.html http://www.dw.de/quo-vadis-vietnam/a-16574254 Tòa án CS xét xử 22 thành viên của “Hội đồng công luật công án Bia Sơn”. Ngày 28.12013, Tòa án CS tỉnh Phú Yên đưa ra xét xử 22 thành viên của “Hội đồng công luật công án Bia Sơn” với tội danh gán ghép “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79, khoản 1, Bộ Luật Hình sự. 22 bị cáo này gồm các ông Phan Văn Thu (SN 1948), Từ Thiện Lương (SN 1950), Trần Quân (SN 1984), Lê Đức Động (SN 1983), Nguyễn Thái Bình (SN 1986), Lê Duy Lộc (SN 1956), Lê Phúc (SN 1951), Võ Thành Lê (SN 1955), Nguyễn Kỳ Lạc (SN 1951), Vương Tấn Sơn (SN 1953), Võ Ngọc Cư (SN 1951), Đoàn Đình Nam (SN 1951), Võ Tiết (SN 1952), Nguyễn Dinh (SN 1968), Đoàn Văn Cư (SN 1962), Phan Thanh Ý (SN 1948), Đỗ Thị Hồng (SN 1957), Trần Phi Dũng (SN 1966), Lê Trọng Cư (SN 1966), Phan Thanh Tường (SN 1987), Tạ Khu (SN 1947 ) và Lương Nhật Quang (SN 1987). Theo cáo trạng của CSVN thì từ năm 2003 đến tháng 2-2012, tại Khu du lịch sinh thái Đá Bia thuộc địa phận đèo Cả (xã Hòa Xuân Nam, huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên), ông Phan Văn Thu cùng với 21 bị cáo nêu trên đã thành lập một tổ chức với tên gọi “Hội đồng công luật công án Bia Sơn.”, mà cáo trạng cho là tổ chức chính trị. Cũng theo cáo trạng thì Tổ chức này thành lập 12 ban, 26 pháp hội và 4 nhóm chưa đặt tên pháp hội ở các địa phương như Phú Yên, Khánh Hòa, Thừa Thiên-Huế, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang với 293 người tham gia.  
......

Bên Thắng / Bên Thua & Những Bức Tường Lòng

“Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là… chó dại!” Khi còn bị phân chia bởi bức tường Bá Linh, dân Ðức hay kể câu chuyện hài này: Có một con chó chui tường từ Ðông sang Tây. Thấy khách lạ nên lũ chó bên Tây Ðức xúm xít và tíu tít hỏi thăm: - Bên ấy có hội bảo vệ súc vật không? - Có chứ. - Có bác sĩ thú y không? - Có luôn. - Có thẩm mỹ viện và nghĩa trang dành riêng cho chó không? - Có tuốt. - Thế thì việc gì đằng ấy phải vất vả chui tường sang đây? - Tại vì ở bển bị cấm được cho… sủa! Tháng 9 năm 1989, bức tường Bá Linh bị đập đổ. Ðông Ðức được giải phóng. Từ đây, người dân được quyền ăn nói tự do, và chó có quyền… được sủa. Sự thống nhất nước Ðức về thể chế, cũng như về nhân tâm, tuy không phải là một tiến trình toàn hảo nhưng có thể được coi như là ổn thỏa – ngoại trừ đối với một số người. Họ là những di dân đến từ Việt Nam, theo như tường thuật của Alisa Roth: “Người Việt vẫn đang là nhóm Á Châu lớn nhất tại thành phố Bá Linh. Những nguời được mệnh danh là Người Việt miền Tây là những người miền nam Việt Nam, hầu hết là thuyền nhân mà trong những năm tiếp theo chiến thắng 1975 của cộng sản, họ đã đổ đến những vùng bây giờ là Tây Ðức.” “Còn nguời Việt miền Ðông là những nguời đến Ðông Ðức vào thập niên 1960 và 1970 cùng với các công nhân xuất khẩu từ những quốc gia cộng sản đang phát triển tới làm việc trong các nhà máy…” “… Cái cộng đồng nhỏ bé này hãy còn duy trì sự chia cắt với hai thế giới, hai phương trời cách biệt. Những ý thức hệ – từng xé nát nước Ðức và nước Việt Nam ra làm đôi – hiện vẫn còn luân lưu mạnh mẽ tại nơi đây…” Nó “mạnh mẽ” tới độ khiến một người dân bản xứ phải thốt lên rằng: “Bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây còn cao hơn cả bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức.” (“Berlin’s Divide Lingers For Vietnamese Expatriates Capital’s East – West Gap Reflects Cold War Past,” San Jose Mercury News, 12 Jul. 2002:A1/ Việt Mercury 12 Jul. 2002: 1 + 69. Trans. Nguyễn Bá Trạc”). Nói như thế, nghe đã phũ phàng nhưng (vẫn) chưa …hết ý! Trong cuốn Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng – ấn bản 2001, Paris, nơi trang 70 – tác giả còn trích dẫn nhận xét của một người ngoại quốc khác về dân Việt, như thế này đây: “Ils ne s’aiment pas” (Chúng nó không ưa nhau đâu). Cha nội Parisien nào đó nói bậy bạ vậy mà… trúng phóc. Những phương tiện truyền thông và giao thông của thời hiện đại quả có làm cho trái đất nhỏ lại, và khiến cho loài người gần gũi với nhau hơn. Nhưng riêng với với dân Việt thì không. Nhất định là không. Người ngoài có vẻ “hơi” ngạc nhiên về thái độ “rất kém thân thiện” của dân Việt đối với nhau, trên bước đường lưu lạc. Họ sẽ ngạc nhiên chết (mẹ) luôn nếu biết rằng những “bức tường ô nhục” tương tự hiển hiện khắp chốn, kể cả ở Việt Nam, chứ chả riêng chi ở Berlin. Dù đất nước đã “thống nhất” hơn một phần tư thế kỷ, dân chúng giữa hai miền Nam/Bắc Việt Nam (rõ ràng) vẫn chưa gần nhau mấy. Đôi lúc, họ ăn ở cư xử với nhau cứ y như những kẻ phải sống trong một cuộc hôn nhân… cưỡng bách. Theo “truyền thống,” người Việt hay chia phe và họ thường nhìn nhau qua những “lỗ châu mai” từ những “pháo đài” của… phe mình. Họ hay gọi nhau là “tụi này” hay “tụi nọ” (tụi Công Giáo, tụi Phật Giáo, tụi Nam Kỳ, tụi Bắc Kỳ, tụi Trung Kỳ…). Gần đây, có thêm một “tụi mới” nữa – tụi thuộc… phe thắng cuộc! Và đó mới chỉ là những chuyện nhỏ, ở miền xuôi. Ở miền ngược, miền núi, hay còn gọi là miền cao, miền sơn cước (hoặc cao nguyên) thì còn nhiều chuyện… kỳ cục dữ nữa. Nơi đây, một phần dân tộc Việt vẫn chưa được nhìn nhận là người thường hay người Thượng. Họ bị coi là… “tụi mọi” và bị chính đồng bào mình (toa rập với cường quyền) cướp đoạt hết đất đai canh tác. Nghèo đói quá hoá “sảng” chăng? Khổ cực quá, cùng quẫn quá, bị chèn ép quá nên đâm ra gấu ó, cấu xé lẫn nhau chăng? Không hẳn đã thế đâu. Tại nước Ðức, ngay giữa một thành phố tự do và phú túc, “bức tường Bá Linh nằm trong đầu óc của người Việt miền Ðông với người Việt miền Tây (vẫn) còn cao hơn bức tường của người dân Ðức đối với người dân Ðức” mà. Hơn nữa, như đã thưa, những bức tường lòng (ô nhục) tương tự hiển hiện ở khắp nơi chứ đâu có riêng chi ở Berlin. Nơi đâu có người Việt quần tụ là tức khắc nẩy sinh những chuyện đố kỵ, chia cách, phân hoá, và đánh phá lẫn nhau túi bụi. Mỗi cộng đồng vẫn thường cần đến hơn một ban đại diện (dù tất cả những ban đại diện “dường như” không đại diện được cho bất cứ ai và cũng không mấy ai – thực sự- cần người đại diện). Tương tự, mỗi hội đoàn đều có tới hai hay ba ông (bà) chủ tịch, dù cả hội đoàn đều không mấy ai biết rõ là họ hội họp lại với nhau để làm gì. Mọi tổ chức (không chóng thì chầy) nếu không vỡ tan tành thì cũng bể thành vài mảnh! Người Nga có câu ngạn ngữ là nếu thiếu chó chăn, loài cừu không trở nên bầy đàn được. Cái khó của những cộng đồng người Việt hải ngoại là họ có dư loại chó này. Ðã thế, phần lớn, đều là … chó dại! “Sự kiện vô vàn phi lý, cực độ vô nghĩa, và bất lợi không lường này, đang diễn tiến kết thành hiện tượng phân hoá hỗn loạn, phân liệt khắc nghiệt, chia rẽ trầm trọng giữa những cá nhân, nhóm cá nhân, cộng đồng người Việt ” (Phan Nhật Nam, “Lời Khẩn Thiết Nhằm Chấm Dứt Hiện Tượng Phân Hoá“). Cũng theo tác giả bài báo vừa dẫn thì Cục Tình Báo Hải Ngoại, trực thuộc Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng Cộng Sản Hà Nội, là nguyên nhân gây ra những hiện tượng phân hoá tiêu cực kể trên. Những nhân viên của Cục Tình Báo Hải Ngoại e không tài ba đến thế. Chợ chiều rồi. Chúng nó (nếu có) cũng chỉ lo đánh quả mà thôi và chuẩn bị để chạy thôi. Thủ phạm không đến từ bên ngoài. Chúng phục sẵn trong “thâm tâm” của tất cả chúng ta. Khi còn nhỏ, tôi nhớ là đã đọc ở đâu đó – qua lời kể của Schopenhauer – một câu chuyện ngụ ngôn mà nội dung (đaị khái) như sau: Có một mùa Ðông lạnh đến độ muốn tồn tại muôn loài đều phải xích lại thật gần nhau để truyền cho nhau hơi ấm. Chỉ riêng có loài nhím vì lông quá nhiều, quá nhọn và không cách nào thu lại được nên đành… chờ chết! Dân Việt đang trải qua một mùa Ðông khắc nghiệt. Nếu chúng ta không vượt qua được những bức tường lòng hiện hữu, không xếp lại được những lông nhọn tua tủa tự mỗi người, và mọi phe nhóm đều nhất định “tử thủ” trong pháo đài của riêng mình thì (e) khó mà qua khỏi đuợc cơn quốc nạn này. Vấn đề không phải là mùa Ðông sẽ kéo dài vô tận mà vì đất nước (cũng như lòng người) sẽ bầm dập, te tua, tan nát, và tanh bành – sau đó. Nguồn : http://www.khoi8406hoaky.com/D_1-2_2-59_4-3653_5-20_6-1_17-1038_14-2_15-2/
......

Bản lên tiếng yêu cầu trả tự do cho 14 thanh niên yêu nước

  TỔNG SỐ CHỮ KÝ THU THẬP: 28480 chữ ký. http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/p/banlentieng.html Diễn tiến và kết quả luận tội, tuyên án của phiên tòa kéo dài 2 ngày, 8-9/1/2013, xét xử 14 thanh niên yêu nước tại toà án Vinh, Nghệ An của đảng Cộng Sản Việt Nam đã bị quốc tế lên án, nhân dân phẫn nộ. Những người bị mang ra kết án gồm có các anh chị: Hồ Đức Hòa, Nông Hùng Anh, Lê Văn Sơn, Đặng Ngọc Minh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn, Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc, Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Văn Oai, Nguyễn Văn Duyệt, Hồ Văn Oanh, Thái Văn Dung, Nguyễn Đình Cương, Nguyễn Xuân Anh, Trần Minh Nhật. Họ đều là những công dân đầy nhiệt huyết, tận tâm phục vụ con người và xã hội, tràn đầy tình yêu đối với đất nước. Các thanh niên yêu nước này đã can đảm và hy sinh đời sống riêng tư vì mong muốn đất nước thoát khỏi vòng kềm tỏa, thao túng của Trung Quốc, dẫn đến việc mất chủ quyền, độc lập của đất nước. Hành động của họ phải được xiển dương và là mô phạm cho tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay dấn thân cho Sự Thật, Công Lý và Hoà Bình. Chúng tôi ký tên dưới đây để: 1. Cực lực phản đối và phủ nhận bản án vừa được áp đặt đối với 14 thanh niên yêu nước này cũng như những bản án kết tội những người yêu nước khác; 2. Đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải thực thi pháp luật nghiêm chỉnh, chấm dứt việc bắt giữ tuỳ tiện phi pháp, đi ngược lại với công pháp quốc tế và trái với hiến pháp cũng như pháp luật Việt Nam; 3. Yêu cầu nhà nước trả tự do cho những người yêu nước đang bị bắt giữ về những tội danh gán ghép vô lý dựa trên công cụ là điều luật 79 và 88 của Bộ Luật Hình Sự, hai điều luật mơ hồ này đã đi ngược lại tinh thần của hiến pháp Việt Nam; 4. Xiển dương sự đóng góp của các nhà yêu nước. Thể hiện sự đồng cảm với những người bị đàn áp, bắt bớ và kết tội oan sai. Đồng thời quan ngại sâu sắc về cái gọi là một nhà nước pháp quyền. Việt Nam, ngày 27 tháng 1 năm 2013 Đồng ký tên:   THÂN NHÂN CỦA 14 THANH NIÊN YÊU NƯỚC 1. Ông Nguyễn Văn Chức – bố của Nguyễn Văn Duyệt 2. Bà Trần Thị Liệu – Mẹ của Nguyễn Văn Oai 3. Bà Hồ Thị Truyền – Chị gái của Hồ Văn Oanh 4. Ông Hồ Đức Hiền – Bố của Hồ Đức Hòa 5. Ông Trần Khắc Hiển – Anh trai của Trần Minh Nhật 6. Bà Nguyễn Thị Hóa – Mẹ của Phêrô Nguyễn Đình Cương 7. Bà Đinh Thị Oanh – Vợ của Phêrô Nguyễn Xuân Anh 8. Ông Đặng Xuân Hà – Anh trai của Đặng Xuân Diệu 9. Ông Thái Văn Hòa – Anh trai của Thái Văn Dung 10. Ông Đỗ Văn Phẩm – Cậu của Paulus Lê Sơn   CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN VINH 11. Linh Mục Giuse Trần Văn Phúc – Linh Mục Quản Xứ Ngọc Long- huyện Yên Thành -Nghệ An, Giáo Phận Vinh 12. Linh Mục JB. Nguyễn Đình Thục – Linh Mục Quản Nhiệm Đồng Lam – huyện Anh Sơn-NA, Giáo Phận Vinh 13. Linh Mục Phêrô Nguyễn Ngọc Giao – Linh Mục Quản Xứ Lãng Điền, huyện Anh Sơn – NA, Giáo Phận Vinh 14. Linh Mục Giuse Nguyễn Xuân Phương – Linh Mục Quản Xứ Yên Lĩnh – Anh Sơn-NA, Giáo Phận Vinh 15. Linh Mục Fx. Nguyễn Văn Lượng – Linh Mục Quản Xứ Sơn La – Đô Lương-NA, Giáo Phận Vinh 16. Linh mục Phêrô Hoàng Biên Cương – Linh Mục Quản Hạt Phủ Quì, huyện Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 17. Linh Mục GB Nguyễn Quyết Chiến – Linh Mục Quản Xứ Vĩnh Giang, Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 18. Linh Mục Giuse Nguyễn Ngọc Ngữ – Linh Mục Quản Xứ Đồng Lèn, Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 19. Linh Mục Pet Lê Đức Bắc – Linh Mục Quản Xứ Nghĩa Thành – Nghĩa Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 20. Linh Mục JB Đinh Công Đoàn – Linh Mục Quản Xứ Song Ngọc -Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 21. Linh Mục Antôn Nguyễn Văn Đính – Linh Mục Quản Hạt Thuận Nghĩa – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 22. Linh Mục Antôn Nguyễn Văn Thanh – Linh Mục Quản Xứ Cẩm Trường và Mành Sơn – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 23. Linh Mục Giuse Nguyễn Công Bình – Linh Mục Quản Xứ Thanh Đa – Quỳnh Thanh – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 24. Linh Mục Antôn Nguyễn Duy An – Linh Mục Quản Xứ Lộc Thủy và Phú Yên – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 25. Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Sơn – Linh Mục Quản Xứ Thuận Giang – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 26. Linh Mục Paul Nguyễn Xuân Tính – Linh Mục Quản Xứ Lập Thạch -Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 27. Linh Mục Giuse Phan Sĩ Phương – Linh Mục Quản Hạt Cửa Lò – Thị xã Cửa Lò, NA, Giáo Phận Vinh 28. Linh Mục Antôn Trần Văn Niên – Linh Mục Quản Xứ Phù Long – Hưng Long – Hưng Nguyên, NA, Giáo Phận Vinh 29. Linh Mục Antôn Đặng Hữu Nam – Linh Mục Quản Xứ Bình Thuận, Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 30. Linh Mục Giuse Nguyễn Anh Tuấn – Linh Mục Quản Xứ Kẻ Gai – Hưng Nguyên, NA, Giáo Phận Vinh 31. Linh Mục Luca Nguyễn Ngọc Nam – Linh Mục Quản Xứ Thượng Nậm – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 32. Linh Mục JB Hoàng Xuân Lập – Linh Mục Quản Xứ Vạn Lộc – Nam Lộc – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 33. Linh Mục Giuse Phạm Ngọc Quang – Linh Mục Quản Xứ Yên Lạc – Nam Lĩnh – Nam Đàn, NA, Giáo Phận Vinh 34. Linh Mục Giuse Nguyễn Đình Linh – Linh Mục Quản Xứ Phi Lộc – Diễn Quảng – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 35. Linh Mục Phanxico X. Đinh Văn Minh – Linh Mục Quản Xứ Yên Hòa – Quỳnh Vinh – Quỳnh Lưu, NA, Giáo Phận Vinh 36. Linh Mục Giuse Nguyễn Đăng Điền – Linh Mục Quản Xứ Nghi Lộc – Diễn Hạnh – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 37. Linh Mục Gioan Nguyễn Đức Quyến – Linh Mục Quản Xứ Yên Lý – Diễn Yên – Diễn Châu, NA, Giáo Phận Vinh 38. Linh Mục Phêrô Nguyễn Văn Hà – Linh Mục Quản Xứ Kẻ Dừa – Thọ Thành – Yên Thành, NA, Giáo Phận Vinh 39. Linh Mục Lu-y Nguyễn Văn Nga – Linh Mục Quản Xứ Kim Lâm – Can Lộc – Hà Tĩnh, Giáo Phận Vinh 40. Linh Mục Phanxicô X. Nguyễn Tất Đạt – Linh Mục Quản Xứ Làng Anh – Nghi Phong – Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh 41. Linh Mục Antôn Hoàng Trung Hoa – Linh Mục Quản Xứ Làng Nam – Nghi Trung – Nghi Lộc, NA, Giáo Phận Vinh   CÁC VỊ TU SĨ TÔN GIÁO KHẮP NƠI 42. Hòa Thượng Thích Không Tánh – Chùa Liên Trì, Sài Gòn – GHPGVNTN 43. Cụ Lê Quang Liêm – Hội Trưởng Giáo Hội Trung Ương PGHH Thuần Túy, Phú Nhuận Sài Gòn 44. Linh mục Phê-rô Nguyễn Hữu Giải – Tổng Giáo phận Huế 45. Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi – Giáo phận Bắc Ninh 46. Linh Mục Antôn Lê Ngọc Thanh – DCCT Sài Gòn 47. Mục Sư Nguyễn Mạnh Hùng – Quản Nhiệm Hội Thánh Mennonite Bình Tân (còn gọi là Hội Thánh Chuồng Bò), Sài Gòn 48. Mục Sư Thân Văn Trường, – Thủ Đức Sài Gòn 49. Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa – Giáo Hội LuTheran Việt Nam 50. Mục Sư Hồ Hữu Hoàng – Giáo Hội LuTheran, Đồng Nai 51. Mục sư Nguyễn Trung Tôn – Thanh Hóa   MỘT SỐ NHÀ DÂN CHỦ 52. Cô Phạm Thanh Nghiên – Hải Phòng 53. Bà Dương Thị Tân – vợ Blogger Điếu Cày, Saigon 54. Kỹ sư Đỗ Nam Hải – Ban điều hành Khối 8406, Saigon 55. Ông Nguyễn Bắc Truyển – Sài Gòn 56. Ông Lê Thăng Long – Phong Trào Con Đường Việt Nam, Sài Gòn 57. Bà Lư Thị Thu Duyên – Boston, Hoa Kỳ, Ban điều hành Khối 8406 58. Bà Lư Thị Thu Trang – Saigon, Thành viên Khối 8406 59. Ông Trần Quốc Hiền – Thành viên Khối 8406, Bangkok Thái Lan 60. Ông Phạm Ngọc Thạch – Sài Gòn 61. Anh Lê Thanh Tùng – Sài Gòn 62. Anh Đinh Văn Minh – Sài Gòn 63. Chị Hoàng Thị Ngọc Oanh – Sài Gòn 64. Anh Nguyễn Vĩnh – Đồng Nai 65. Anh Trần Văn Túc – Đồng Nai 66. Nhà báo Trương Minh Đức – Sài Gòn 67. Cựu tù nhân Cổng Trời Antôn Lê Phiến – Xã Long Sơn – Anh Sơn – Nghệ An, Giáo Phận Vinh http://www.chuacuuthe.com/?p=46057   Để cuộc vận động đạt được kết quả tốt đẹp và tạo thành một áp lực lên nhà cầm quyền CSVN, gia đình 14 thanh niên yêu nước rất mong mỏi quý đồng bào, quý đoàn thể, đảng phái và các cơ quan truyền thông góp phần phổ biến rộng rãi Bản Lên Tiếng và vận động mọi người vào ký tên tại địa chỉ : http://thanhnienconggiao.blogspot.com.au/p/banlentieng.html    
......

Tản mạn về trí thức và thời cuộc

Trước nay, trước mỗi kỳ đại hội đảng CS, thiên hạ hay bàn chuyện ông này, ông kia có tư tưởng cải cách, có khả năng thay đổi thể chế để dân chủ hóa đất nước. Thế rồi hết kỳ này đến kỳ khác đất nước vẫn chìm trong độc tài - đàn áp. Giờ nghĩ lại mới thấy thời cuộc đã làm cho những ưu tư, hy vọng về vận mệnh đất nước vỡ tan. Cộng đồng yếu đuối mới cần cá nhân anh hùng Có một thời, giới trí thức trong nước đã hy vọng và hết lời ca ngợi Võ Văn Kiệt như là một chính khách có tư tưởng tiến bộ và gần đây nhất, một số người đặt hy vọng vào Nguyễn Bá Thanh. Chưa nói đến thiện chí thực sự của họ, một cá nhân và một số ít người trong vây cánh của ông ta quả thật quá yếu để tin cậy, bởi không một cá nhân nào trong các chế độ độc tài có khả năng thoát ra khỏi guồng máy cai trị để tiến hành thay đổi thể chế nếu nó đi ngược lại ý chí của tập đoàn (chưa kể đến việc tập đoàn này đang bị khống chế bởi một đàn anh ngoại bang), dù đó là một cựu lãnh đạo hay là một lãnh tụ đương quyền; và càng quá phiêu lưu để giao phó vận mệnh đất nước trong tay một vài người. Bởi con người vốn dĩ không thể tuyệt đối tin cậy, đặc biệt khi họ có quyền lực mà ít chịu trói buộc. Một “cứu tinh” rồi sẽ trở thành một tên tội đồ nếu xã hội dân sự rã rời. Cái tâm lý sai lầm cố hữu về xã hội và chính trị khiến chúng ta luôn ngộ nhận. Người ta cứ nghĩ mọi thứ có thể giải quyết bằng một đề án chính trị áp đặt từ trên xuống, và mọi đề án chính trị quốc gia có thể được giải quyết với một cá nhân. Nói đến đây chắc nhiều độc giả liên tưởng đến Gorbachov. Thật ra, trường hợp này không mâu thuẫn với quan điểm của người viết. Tình thế Nga Sô lúc đó buộc đảng CS phải đi đến chỗ sụp đổ. Ông Gorbachov chỉ là người tuyên bố một sự kiện không thể đảo ngược. Cuộc cách mạng Nhung, với sự nổi lên của những người hùng như Gorbachov và Yelsin, đã xảy đến với một nước Nga kiệt quệ sau chiến tranh Lạnh và hầu như không có xã hội dân sự sau thời kỳ CS. Điều đó chỉ mang lại danh tiếng cho các cá nhân này nhưng không đem đến một tương lai đáng mơ ước cho nước Nga. Bởi khi các lực lượng dân sự yếu đuối thì một người hùng có thể mang đất nước ra khỏi, dĩ nhiên có khả năng đưa đất nước trở lại chế độ độc tài. Như chúng ta có thể thấy, một ý chí đầy cảm tính đã khiến Yelsin chọn Putin - một kẻ cực đoan, chống phương Tây - làm người kế tục ông, đã đẩy nước Nga vào một chế độ dân chủ giả hiệu như hôm nay. Người dân Nga chẳng có đóng góp nào cho những cuộc chuyển mình lớn lao của nước họ. Và hậu quả là họ tiếp tục không có tiếng nói đáng kể nào trong các vấn đề đất nước. Đồng ý, cá nhân vượt trội luôn có vai trò không thể chối cãi trong phong trào xã hội vì khả năng gắn kết những sức mạnh sẵn có và phát huy hiệu quả vận động xã hội, như trong bài viết gần đây nhất của tôi về người lãnh đạo. Nhưng đặt tất cả mọi hy vọng và toàn toàn dựa giẫm vào một cá nhân không phải là tâm lý của một dân tộc trưởng thành. Bởi một dân tộc trưởng thành cần một lãnh đạo chứ không cần lãnh tụ. Chính trị là tất cả? Không thể phủ nhận chính trị là quan trọng, bởi nếu nó không quan trọng thì nó đã không tồn tại từ khi con người được tổ chức thành xã hội cho tới bây giờ. Nó quan trọng đến nỗi mọi nỗ lực gạt bỏ quyền lực chính trị (nhà nước) ra khỏi xã hội dù chỉ trên lý thuyết (chủ nghĩa Marx) cuối cùng đã đưa đến một “siêu nhà nước” trong thực tế. Thế nhưng, từ khi nhà nước xuất hiện, chúng ta nhận thấy toàn khối xã hội cơ bản được chia thành hai phía: người được/bị cai trị và người cai trị, xã hội và nhà nước, dân sự và chính trị. Hệ thống chính trị giúp xã hội được điều hành một cách văn minh, quy củ và giữ chức năng trọng tài cho mọi tranh chấp xã hội. Nhưng để giữ cho xã hội hài hòa, cân bằng, đảm bảo tự do cá nhân, tất yếu không thể để nhà nước lấn át xã hội. Thế nhưng, từ lịch sử bị cai trị chuyên quyền, người Việt Nam coi chính trị là cái gì đó vượt lên trên xã hội, tách khỏi xã hội và độc tôn. Nhưng, chính trị chỉ là một trong nhiều mảng hoạt động trong xã hội con người và tương tác trực tiếp với những cái còn lại. Nhà nước là một hệ thống nên/phải bị kiểm soát bởi sức mạnh dân sự. Khi nhận thức được rằng, ngoài quyền lực chính trị còn có quyền lực kinh tế và quyền lực dân sự, chúng ta sẽ không quá đề cao chính trị và coi nó là đáp án cho mọi vấn đề. Gần đây, tôi được hỏi rằng: khi tôi lên tiếng đấu tranh, tôi có mong cầu một vị trí chính trị trong tương lai? Dù vô tình hay hữu ý, cách suy nghĩ này xuất phát từ tâm lý coi quyền lực chính trị là độc tôn. Vấn đề không phải ở chỗ người ta cho rằng: những người dấn thân và lên tiếng nên có vị trí xứng đáng; mà vì người ta quá đề cao quyền lực chính trị. Tất nhiên những người can đảm và có thực tài nên được trọng dụng, nhưng tại sao không phải ở chỗ nào khác mà là trong hệ thống chính trị? Chỉ có nắm quyền lực chính trị mới là chỗ đứng thích đáng cho người tài đức? Không nơi đâu khác ngoài chính trị, nơi mà một cá nhân có thể trở nên hữu ích và tỏa sáng? Đến đây tôi nhớ đến một nhân vật rất nổi bật trong phong trào Otpor ở Serbia - Srdja Popovic. Sau khi chế độ Slobodan Milosevic sụp đổ, anh ta được bầu vào Quốc hội Serbia. Nhưng sau đó ít lâu, anh ta rời khỏi chính trường và thành lập một tổ chức phi chính phủ ở Belgrade. Sự ra đi ấy có thể được suy đoán với nhiều lý do nhưng không thể bỏ qua một lý do quan trọng – đó là sự trưởng thành trong tâm lý và nhận thức của giới trẻ Serbia: chính trị không là tất cả! Vì coi chính trị là tối cao và là cứu cánh, người Việt Nam vẫn chưa thể tìm thấy sức mạnh thực sự ở chính mình và ở cộng đồng quanh mình khi giải quyết các vấn đề quốc gia, mà luôn trông ngóng vào một chính khách “vĩ đại” làm thay tất cả cho mình. Nhưng làm sao cá nhân nào đó lại thực hiện tốt khát vọng của chúng ta hơn là chính chúng ta? Thực ra, tình trạng chính trị chỉ là biểu hiện của năng lực dân sự. Không thể có chính trị tốt nếu quần chúng chỉ là những con người bạc nhược. Quả thật, không phải ngoài chính trị ra, không còn “đất dụng võ” cho những người tài năng mà vì chúng ta chưa mở rộng tâm trí và cả tâm lý để nhìn thấy một nơi như thế. Hình như đối với chúng ta, tất cả những gì đáng vinh danh và mong ước đều nằm ở chính trị bởi từ trước đến nay, chúng ta chưa hề được sống trong một không gian khác, một không gian đối trọng với quyền lực chính trị. Chính nơi ấy, một cá nhân không chỉ tỏa sáng mà còn tỏa sáng độc lập, không bị không chế và cũng không cần dựa giẫm vào hào quang chính trị. Sức mạnh dân sự yếu kém, trí thức bị khinh miệt Tâm lý dựa giẫm và giao phó đưa đến hai hệ lụy nghiêm trọng. Thứ nhất, sự tuân phục và phụ thuộc vào quyền lực chính trị khiến cho cả xã hội, đặc biệt là giới trí thức, không nhận thức được vị trí quan trọng của mình trong việc giải quyết các vấn nạn xã hội. Điều này tạo điều kiện cho chế độ độc tài cai trị tùy tiện và vô thời hạn. Thứ hai, nếu một nguyên nhân nào đó khiến chế độ độc tài sụp đổ, thì sự yếu kém của các thế lực dân sự sẽ khiến đất nước gặp rất nhiều trở ngại trong việc xây dựng dân chủ, mà trường hợp xấu nhất có thể xảy ra là, sự xuất hiện một chế độ độc tài mới. Người dân ít học lơ là chuyện xã hội thì đã rõ; giới trung lưu trí thức thì làm ngơ, hoặc có quan tâm nhưng im tiếng, hoặc dựa vào quyền lực chính trị để tiến thân. Sự dựa giẫm vào chính trị tỏ ra đặc biệt nguy hiểm, khi địa vị và sự vinh quang của giới trí thức trong xã hội được ban phát bởi Nhà nước thì không thể nào có suy nghĩ và hành động độc lập hay đối kháng. Cuộc cách mạng Pháp đẫm máu đã không mang lại tự do thực sự cho người Pháp cũng bởi trước đó, giới trung lưu và quý tộc Pháp chỉ là một tập đoàn người tập trung quanh vương miện vua Pháp, ca ngợi và hưởng lợi từ đó. Hiện nay, Việt Nam không có giới trung lưu theo đúng tinh thần: mãnh mẽ, độc lập và có năng lực đối kháng với nhà nước. Không ngẫu nhiên và vô lý khi cả Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và những người CS nói chung khinh miệt trí thức. Bởi vì đối với họ, trí thức vừa có quá nhiều chữ để có thể bị lừa gạt lâu dài, nhưng cũng quá nhu nhược để là những đối thủ xứng tầm với họ.Tại sao trung lưu trí thức trong các xã hội tự do là lực lượng tiên phong cho các giá trị dân chủ tiến bộ, còn thân phận trí thức Việt Nam lại rẻ rúng như thế? Phải chăng khi còn mang tâm lý xem chính trị là tất cả, các công dân chưa thể thoát khỏi thân phận thần dân? Phải chăng khi trí thức chưa nhận thấy vai trò to lớn của mình là đảm đương và lãnh đạo khối dân sự, kiềm chế khối chính trị; mà chỉ bám vào chính trị để “vinh thân phì gia” thì chính trị sẽ còn kiêu ngạo và mặc sức tung hoành? Phải chăng khi khối hoạt động dân sự vẫn yếu đuối, và trí thức chỉ là người đi bên lề mọi quyết định quan trọng của quốc gia; thì trí thức - trung lưu vẫn bị coi thường và con đường đi đến Tự do của dân tộc sẽ vô vàn khó khăn? Thay lời kết Đất nước đang đối mặt với những bế tắc và khủng hoảng. Kinh tế đang kiệt quệ. Đảng CSVN đang mạnh tay đàn áp đối kháng để giành ưu thế thời gian cho một cuộc đào thoát lớn của họ. Vận mệnh nước nhà sẽ giao vào tay ai nếu không đặt lên vai mọi tầng lớp dân chúng, đặc biệt là tầng lớp trung lưu trí thức? Đây chính là cơ hội để giới trí thức dành lại trọng trách, khẳng định vai trò và mở rộng tầm vóc của mình. Vị trí cao quý nhất cho những người trí thức không nhất thiết phải là trong một thế lực chính trị mà là trong xã hội dân sự đang nhen nhóm hình thành. Người trí thức phải nhận lấy vai trò và vinh quang của một thế lực dân sự có khả năng kìm chế quyền lực chính trị. Còn gì quan trọng và vinh dự hơn vai trò kiểm soát nhà nước? Còn gì nổi bật hơn vị thế “lương đống” cho toàn khối dân sự? Còn gì đáng mong ước hơn tư cách độc lập và không bị ràng buộc bởi bất cứ thế lực chính trị nào để chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia? Để rồi từ đó, bắt đầu một giai đoạn lịch sử hoàn toàn mới cho Việt Nam, trí thức giờ đây không còn chịu thân phận bề tôi mà mạnh mẽ sánh ngang với quyền lực chính trị, để thực hiện những nhiệm vụ mà lịch sử và quốc gia giao phó. Trút bỏ được sự ràng buộc với chính trị và tâm lý e dè đối với quyền lực chính trị, tầng lớp trí thức Việt Nam sẽ là Hercules, có sức mạnh nâng đỡ cả dân tộc. Huỳnh Thục Vy Buôn Hồ ngày 23 tháng 1 năm 2013 Nguồn Facebook Jane Hoang    
......

Vài nét về Hiến pháp Mỹ

Cách đây 230 năm, năm 1783, cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ giành được thắng lợi – đây là thành công đầu tiên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của toàn thể loài người bị áp bức trong thời đại tư bản chủ nghĩa!Một Hiến pháp có trước… nhà nước Điều “lạ kỳ” là sau thắng lợi đó, những nhà cách mạng Mỹ không thành lập một chính quyền cho tương xứng với công lao của những người đã khai sinh ra nền độc lập; hầu như họ không quan tâm đến việc ai sẽ giữ chiếc ghế nào, “ăn chia” ra sao chiếc bánh lợi quyền béo bở mà phải mất bao xương máu, suốt 10 năm trời mới giành được (17.12.1773-4.9.1783): Cách hành xử của những nhà cách mạng Mỹ chưa hề có tiền lệ – ai về nhà nấy, sau khi đã làm trọn bổn phận công dân, không cần biết đến chuyện nên (phải?) khen thưởng ai, như thế nào đối với sự “có công với cách mạng”! Ý định đó của sự ấu trĩ của lòng tốt nhanh chóng bị thực tế tàn nhẫn của xã hội sau chiến tranh giày xéo, tình trạng vô chính phủ nhanh chóng xảy ra, tiểu bang nào cũng muốn giành cho mình sự độc quyền cao nhất, có lợi nhất, khiến cho 13 tiểu bang gây ra bao cảnh huynh đệ tương tàn, và “nước” Mỹ, theo cách nhận xét của George Washington, “giống như một lâu đài được xây bằng cát”. Muốn khắc phục tình trạng đó, giải pháp duy nhất là phải thành lập một chính quyền, đây là điều mà đến năm 1787, hầu như ai cũng biết. Nhưng, chính quyền đó sẽ ra sao? Nó giống với mô hình Pháp hay Anh? Những bậc tiên tổ của nhà nước Mỹ tương lai giật mình bởi họ đoan quyết rằng phải thành lập một mô hình nhà nước hoàn toàn mới, không giống với bất kỳ ai; và, quan trọng nhất, nó phải là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Sáu chữ đó là sáu chữ vàng bởi nó trở thành nền tảng, cội nguồn, nguyên tắc bao trùm mọi nguyên tắc trong suốt quá trình soạn thảo Hiến pháp (HP). G. Washington, nguyên là Tổng Tư lệnh quân Cách mạng trước đây, được mời giữ ghế chủ tọa Hội nghị Lập Hiến. 55 con người trẻ tuổi (đa số dưới 40 tuổi, riêng A. Hamilton, vào năm 1787, chỉ mới 30 tuổi; J. Madison mới 36 tuổi – họ được coi là những cha đẻ của HP Mỹ) chính là các tinh hoa chính trị được tập hợp từ các tiểu bang, về sau được ca ngợi đó là những người tinh anh nhất, “gần như là thánh thần” của nhân loại vào cuối thế kỷ 18. Những gì lịch sử ca ngợi về tài năng của 55 người đó không hề quá lời: Chẳng hạn, Benjamin Franklin (1706-1790) là một người đa tài: thợ in, chủ tòa báo, thẩm phán, Chủ tịch Hội Triết học Mỹ, thống đốc tiểu bang, nhà ngoại giao, thương gia giàu có, người thành lập Đại học Pensylvania, người phát minh ra cột chống sét, ống thông tiểu, đàn harmonica, kính hai tròng, công ty cứu hỏa tư nhân và, ông nói thành thạo 5 ngoại ngữ… Tài năng, nhân cách và tầm nhìn vĩ đại đã được cộng hưởng để làm ra bản HP đầu tiên trong lịch sử loài người mà hầu như, không có bất kỳ một lỗi văn bản lớn nào! 55 “cha đẻ” của nhà nước Mỹ, trong đó nổi bật nhất là Alexander Hamilton (hình của ông được khắc trên tờ 10 USD), James Madison (người có hình trên tờ 50 USD) và Benjamin Franklin (trên tờ 100 USD)… Ngày 25.5.1787, Hội nghị Lập pháp được khai mạc tại Philadelphia– “thành phố của tình huynh đệ”. Gần bốn tháng ròng rã, những cuộc tranh luận quyết liệt đã nổ ra và tận cho đến lúc đặt bút ký (17.9), nhiều đại biểu vẫn còn chất chứa những bất đồng. Bản dự thảo và những bất đồng đó còn được 5 triệu người dân xem xét kỹ lưỡng trước khi được Quốc hội chính thức thông qua vào năm 1789. Nhìn chung, HP Mỹ đã được làm ra trên cơ sở những định hướng tìm tới sự hoàn hảo có thể; được cụ thể hóa thành nhiều nguyên tắc do nhiều đại biểu đề xuất, được A. Hamilton và J. Madison diễn đạt phần nào qua những bài báo rồi tập hợp thành tác phẩm Liên bang thư tập (The Federalist Papers).Những nguyên tắc lập phápChúng ta muốn tạo dựng một nền tảng (HP) sẽ trường tồn qua mọi thời đại, vậy thì, phải dự liệu đủ những thay đổi mà các thời đại đó sẽ tạo ra. Nguyên tắc này khẳng định rõ những điều không bao giờ thay đổi như quyền tư hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm; quyền sống, quyền tự do và quyền kiếm tìm hạnh phúc như Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ ra; quyền người dân ủy nhiệm cho chính quyền, nhân dân có quyền bầu lên và bãi nhiệm chính quyền đó… Tất nhiên, có rất nhiều điều sẽ thay đổi nên HP dự liệu các khoản bổ sung – Tu Chính Án (Amendment, TCA), chẳng hạn, TCA 22, thông qua năm 1951, quy định tổng thống không được làm quá hai nhiệm kỳ.Việc thành lập một chính quyền thích hợp phải do chính người dân lựa chọn thông qua sự biểu quyết rộng rãi nhất. Không một ai có quyền áp đặt mô hình nhà nước không tương thích với mong muốn và lợi ích của người dân. Sau rất nhiều tranh cãi, nhân dân Mỹ đã chọn mô hình nhà nước tam quyền phân lập; theo đó, một trong ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, luôn bị hai cơ quan kia giám sát.Xu hướng sửa đổi HP để mưu đồ quyền lực nhiều hơn cho một vài cá nhân là xu hướng lạm quyền của mọi quyền lực; vì thế, phải thiết lập một cơ chế sao cho có thể ngăn ngừa mọi ý đồ thao túng và sửa đổi HP. Theo nguyên tắc này, quyền tham gia của mọi công dân là tối hậu chỉ khi nào có trên 2/3 thượng nghị sĩ hoặc thống đốc bang yêu cầu thì việc xem xét sửa đổi HP mới được đặt ra. Quy định này có nghĩa là, nếu muốn xóa bỏ quyền được trang bị vũ khí, phải có ít nhất 67 TNS hoặc 34 thống đốc bang yêu cầu.Xu hướng lạm quyền và lộng quyền là thuộc tính tất nhiên của con người, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho đủ khả năng để ngăn chặn mọi ý đồ lạm quyền đó. Ngoài cơ cấu tam quyền phân lập, HP Mỹ còn định rõ cơ chế các thành viên của Tòa án Tối cao, các thẩm phán của tòa án khu vực trong toàn liên bang, được giữ quyền trọn đời, nếu không xin nghỉ hưu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (tâm thần, bệnh suy giảm trí nhớ…). Như vậy, tòa án sẽ không phải chịu bất kỳ áp lực nào từ phía chính quyền hoặc cử tri!Đảng phái là cội nguồn của chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa bè phái, đến lượt nó, chủ nghĩa bè phái là cội nguồn làm vẩn đục HP. Vì thế, cơ cấu tổ chức chính quyền không cho phép bất kỳ đảng phái nào có thể can thiệp vào bộ máy một cách trực tiếp. Mỗi đảng phái, trước HP, chỉ là một tổ chức công dân, chịu sự điều chỉnh, giới hạn của luật pháp.Đa số người dân là thờ ơ với chính trị, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho hạn chế đến mức thấp nhất sự vô trách nhiệm của người dân đối với việc bầu ra chức vụ lãnh đạo cao nhất. Nguyên tắc này khẳng định cách bầu cử, theo đó, tổng thống sẽ được quyết định bởi số đại cử tri tương đương với số lượng nghị sĩ của mỗi tiểu bang.Các tiểu bang lớn luôn có xu hướng chèn ép các tiểu bang nhỏ hơn, vì thế, cơ chế tổ chức nhà nước phải hạn chế đến mức thấp nhất sự chèn ép này. Đây là lý do để các tiểu bang dù lớn hay nhỏ đều có hai thượng nghị sĩ trong thượng viện. Bất kỳ một đạo luật nào dù Hạ viện đã thông qua (nơi các bang lớn có lợi thế) đều phải được Thượng viện chuẩn y, và ngược lại.Các cơ quan tư pháp dễ bị mua chuộc và lạm dụng, vì thế, phải có thiết chế cho người dân được quyền giám sát, quyết định trực tiếp đến các phán quyết tối thượng của tòa án. Nguyên tắc này đề ra cơ chế thành lập bồi thẩm đoàn (The Jury), do người dân bầu ra. Các viên chức của ba cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp không được tham gia vào bồi thẩm đoàn. Phán quyết của bồi thẩm đoàn về có tội hay không, mức án, là tối thượng.Việc thay đổi hay ban hành các điều luật mới luôn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người dân. Do đó, phải thiết lập cơ chế để hạn chế đến mức thấp nhất sự ban hành hay thay đổi một đạo luật, ngăn chặn mọi xu hướng tắc trách khi ban hành các văn bản luật pháp. Nguyên tắc này bảo đảm sai sót ít nhất (hầu như chưa xảy ra, cho đến thời điểm này) về việc ban hành đạo luật mới. Khi một đạo luật được khởi xướng ở Thượng viện chẳng hạn, nó sẽ được trình cho Tiểu ban Tư pháp xem xét, sau đó trình lên Thượng viện. Nếu được thông qua, sẽ tiếp tục được chuyển sang Tiểu ban Tư pháp Hạ viện, rồi toàn thể Hạ viện; cuối cùng mới được trình lên tổng thống. Đạo luật được thông qua, sẽ mang tên người đề xuất – vừa để vinh danh vừa để tăng tính trách nhiệm của dự luật. Nếu tổng thống phủ quyết, trình tự sẽ được làm lại từ đầu.Quân đội, cảnh sát là công cụ của chính quyền nên phải tuân thủ các mệnh lệnh của chính quyền. Và, để ngăn ngừa sự lộng quyền, độc tài hóa, các quân nhân và cảnh sát đang tại ngũ không được phép tham gia vào cơ quan lập pháp. Nguyên tắc này mặc nhiên khẳng định rằng quân đội hay cảnh sát nếu họ vào thượng viện hay hạ viện, không có quyền phản kháng chính quyền, không có quyền được luận “tội” chính quyền, tức là không bảo đảm được năng lực tác chiến, vì khi luận “tội”, họ đang chống lại chính quyền. Quân nhân hay viên chức cảnh sát, muốn vào nghị viện, phải ra khỏi quân ngũ… Trên đây là vài khái lược về sự hình thành và các nguyên tắc lập pháp của nhà nước Mỹ – nhà nước hiện đại đầu tiên trong lịch sử loài người – một mô hình nhà nước chưa thể tìm thấy sự đối sánh nào khả dĩ hiệu quả hơn. Đó cũng là mô hình nhà nước chưa hề có tiền lệ với bản HP cho đến nay là độc nhất vô nhị, trường tồn, bất chấp sự thay đổi về thời gian và không gian. Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang chuẩn bị bước qua một thời khắc trọng đại bằng việc lấy ý kiến toàn dân để sửa đổi Hiến pháp 1992. Rất mong mỏi rằng việc lấy ý kiến đó không phải là chuyện hình thức, bởi một sự thật giản dị: Nếu ngay cả HP cũng chỉ là bàn để cho vui thì không có cái gì trên đời này có thể được coi trọng! Một bản Hiến pháp khoa học, nhân văn, phù hợp ý nguyện của toàn dân, xu thế của mọi thời đại, chắc chắn là nguyên tắc, điều kiện đầu tiên cho sự phát triển vững bền… Không phải ngẫu nhiên mà Lời Tuyên thệ của Tổng thống Mỹ chỉ có một ý ngắn gọn là BẢO VỆ HIẾN PHÁP. Một khi HP được soạn thảo hoàn chỉnh thì mọi cố gắng của công dân – kể cả TT, chỉ duy nhất một vấn đề là bảo vệ để thực thi đúng như HP đặt ra, không cần bất kỳ một sự thêm, bớt nào bởi những thêm hay bớt đó đều làm vẩn đục HP! Huế, 24.1.2013H. V. T.http://www.boxitvn.net/bai/44649            
......

Quan Nhất Thời Dân Vạn Đại

Mong muốn sự ổn định và an toàn cho bản thân là tâm lý chung của con người. Nhưng không phải vì vậy mà chúng ta ngại sự thay đổi, nhất là lại theo chiều hướng tiến bộ. Khi cái cũ đã trở nên lạc hậu thì tất phải cải sửa để tạo nên cái mới tốt đẹp và tiến bộ hơn. Không nên vì sợ sự thay đổi mà có kiểu lý luận ngược với quy luật. Ví như có mụ dì ghẻ, thấy cô gái con chồng lớn lên ngày càng xinh đẹp. Phần vì ghen ghét, phần vì không muốn cô gái có hạnh phúc, mụ tỉ tê – “Con ơn, đừng có lấy chồng làm gì, vừa phải mang nặng đẻ đau lại chịu nhiều đau khổ vì chồng con ạ…”. Tuy mụ ta nói vậy nhưng con gái lớn lên thì phải lấy chồng, rồi sinh con đẻ cái để tiếp nối đời sau, đó là một quy luật tự nhiên của cuộc sống, làm sao có thể ngăn được?… Xã hội con người cũng vậy, khi một chế độ nhà nước đã trở nên lỗi thời thì phải thay đổi để tiến tới mô hình nhà nước tiến bộ và bền vững hơn. Người ta vẫn thường gọi đó là cách mạng xã hội. Các cuộc cách mạng là một nhu cầu và thuộc tính của xã hội, giống như con người khi thấy đói thì ăn, thấy lạnh thì mặc ấm vậy. Những kẻ cầm quyền, mặc dù biết được sự sụp đổ tất yếu của chế độ thối nát hiện thời, nhưng để bảo vệ quyền lợi mà chúng thường có kiểu lý luận ngược đời như mụ dì ghẻ nói trên. Họ đã quên rằng: sự thay đổi là tất yếu, cách mạng là một quy luật. Nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay, dựa vào tâm lý sợ hãi của dân chúng, mà nhồi nhét cho họ tư tưởng ngại thay đổi. Họ làm như kiểu, nếu thay đổi chế độ thì tất cả công ăn việc làm hiện nay của người dân sẽ mất hết, tất cả sẽ đói khổ và thất nghiệp. Vì thế mà nhân dân cần bảo vệ chế độ độc tài Cộng Sản, còn nhà nước thì thẳng tay đàn áp những ai có tư tưởng thay đổi và cách mạng. Ngoài thành phần đặc quyền đặc lợi, còn người dân thì chẳng ai tin vào điều đó. Họ đã quá khổ thì còn mong gì duy trì chế độ bất công hiện thời? Sự thay đổi nay là mong muốn và ước mơ của toàn thể người dân rồi. Tôi có hai anh bạn, một anh làm nghề sửa xe máy, một anh làm giò. Cả hai người này cũng chẳng ai tin vào kiểu lý luận của nhà nước, nói chung là họ không sợ sự thay đổi. Một hôm tôi hỏi vui anh sửa xe máy: - Nếu chế độ Cộng Sản sụp đổ, anh có sợ mất nghề sửa xe máy không? Anh bỉu môi: - Thì tôi lại làm nghề sửa ô tô, càng sướng hơn chứ sao? Tôi mỉm cười thú vị. Quả đúng như thế thật, nghề nghiệp thì còn đó chứ mất đi đâu được, mà lại còn tốt hơn nữa chứ. Có đâu như nhà nước rêu rao? Lúc đó xã hội tốt đẹp hơn, cán bộ ít tham nhũng và cửa quyền thì đời sống của dân sẽ nâng cao. Lo gì họ không có xe tốt xe đẹp để mang đến cho mình sửa. Quả câu trả lời của anh cũng thật lắng đọng. Người dân nước mình thường vậy, họ không có kiểu lý luận như mình, nhưng nói câu nào cũng chí lý. Đó một phần vì họ thông minh, phần vì bị áp bức nhiều nên sợ cũng đã quen, cho nên thường nói kiểu ẩn ý rồi tuỳ người nghe hiểu vậy. Anh bạn thứ hai thì làm giò để mang ra chợ bán. Vợ chồng anh chí thú làm ăn nên kinh tế cũng khá giả, mỗi ngày anh tiêu thụ cũng hết cả tạ giò. Anh này có tư tưởng tự do nên thường phê phán chính quyền, công khai bày tỏ sự ủng hộ đối với những người hoạt động dân chủ. Anh lại là người Công giáo nên bị chính quyền để ý dữ lắm. Có hẳn cả một tay công an nằm vùng để mà theo dõi anh (hẳn mọi người vẫn biết ở ViệtNamcó an ninh tôn giáo?). Vì bị theo dõi chặt nên nhiều khi anh không tránh được bực dọc. Cũng không thể tránh cái bóng của mình được mãi, một lần tôi tình cờ được chứng kiến cuộc đối đầu của anh với tay công an nọ. Có thể nói đây là một cuộc đối đầu mang tính lịch sử, một bên đại diện cho chính quyền Cộng sản bảo thủ, một bên đại diện cho tư tưởng dân chủ tiến bộ. Hôm ấy sau khi ăn sáng xong, anh ghé vào quán nước bên cạnh. Đang ngồi nhẩn nhơ thì thấy một người có dáng quen quen cũng ghé vào ngồi cạnh, sau khi châm điếu thuốc hút hắn hất hàm hỏi anh: - Lâu nay anh có hay liên lạc với mấy tay phản động không? Vốn đã ghét cái bóng bất đắc dĩ này, lại nghe hỏi vậy, anh bạn tôi nóng tiết quay sang nhìn thẳng vào mặt tay công an mà nói lớn: - Mày nói ai là phản động? Thoáng bất ngờ vì bị phản ứng dữ dội, hắn đỏ mặt nói: - Thì…mấy tay hôm nọ rải truyền đơn chống chính quyền đó… Nghe hắn nói vậy, anh tiếp: - Bạn của tôi toàn là người tốt, chẳng có ai là phản động cả, kẻ nào phản động thì tự biết lấy!… Hắn không lý luận với anh nữa, mà quay sang khuyên giải: - Dù sao tôi cũng khuyên anh không nên đi lại với những thành phần như vậy, không để bọn phản động lôi kéo. Mà anh thử nghĩ xem, nếu thay đổi chế độ thì anh còn được yên ổn làm ăn như thế này không?… Lần này vì không nhịn được cái kiểu lý luận của tay công an nọ, anh đứng dậy chỉ thẳng vào mặt hắn nói lớn: - Nếu chế độ này thay đổi, thì tao làm giò vẫn hoàn làm giò, mày công an vẫn làm công an. Chỉ khác có điều là lúc ấy mày không đi theo dõi và bắt những người như tao nữa. Mà mày sẽ đi bắt bọn cướp của giết người, bọn tham nhũng… Thấy không lý luận được với anh, tay an ninh nọ vội lên xe máy cút thẳng. Tôi thì thấy cảm phục anh bội phần, vì anh đã nói được điều mà nhiều người không dám nói. Quả thực như vậy, cha ông ta có câu : «Quan nhất thời – Dân vạn đại». Vả lại «Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân» mà. Lại nữa «Hết quan hoàn dân», liệu kẻ nào còn dám nghênh ngang? Chỉ có dân là vạn đại, xưa cũng như nay, lịch sử đã mấy ngàn năm chứng minh như vậy rồi. Minh Vănhttp://www.vietthuc.org/2013/01/26/quan-nhat-thoi-dan-van-dai/
......

Đọc “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức

Huy Đức, tên thật là Trương Huy San, sinh năm 1962 tại Hà Tĩnh, năm nay 51 tuổi. Khi những chiếc xe tăng đầu tiên của quân đội Cộng sản Bắc Việt xô sập cổng Dinh Độc Lập tại Sài gòn và chấm dứt cuộc nội chiến ông mới lên 13, một tuổi còn quá nhỏ để hiểu ý nghĩa lịch sử của nó. Ông nhập ngũ năm 17 tuổi và trở thành sĩ quan, công tác một thời gian tại chiến trường Cambodia, trước khi trở về làm báo. Năm 2005,  ông được chính quyền Hà Nội gởi đi tu nghiệp tại Maryland, Hoa Kỳ. Năm 2006 về nước, tiếp tục làm báo. Năm 2012 ông lại được gởi qua đại học Harvard, một đại học nổi tiếng tại Hoa Kỳ để nghiên cứu về “phân tích chính trị”.  Gởi học viên đi tu nghiệp tại các nước tư bản là một phần trong chương trình đào tạo chính quy các nhà lãnh đạo tương lai tại Trung quốc khi thế giới bước vào kỷ nguyên “toàn cầu hóa” (1). Ông Huy Đức đang ở Hoa Kỳ khi cho xuất bản bộ sách “Bên Thắng Cuộc”             Theo tác giả, khi có cơ hội tiếp cận với miền Nam, ông –cũng như bà Dương Thu Hương – nhận thấy miền Nam không giống gì với những điều đảng Cộng sản Việt Nam đã dạy dỗ ông. Từ năm 1980, vừa làm báo ông vừa để tâm thu thập tài liệu để viết một tài liệu về cuộc chiến Việt Nam để tự trả lời các thắc mắc của chính mình đối với các hiện tượng chính trị và xã hội trước mắt. Và công việc biên soạn này trở thành một thúc bách khi tình hình khối Cộng sản quốc tế biến chuyển một cách căn bản .             Tại Liên bang Xô viết, Gorbachev đề ra chương trình cởi mở chính trị “glasnost” và cải tổ hành chánh “perestroika” đưa đến sự sụp đổ của Đông Âu. Năm 1986 tại Đại Hội 6, đảng Cộng sản Việt Nam quyết định “đổi mới”. Và cuối thập niên 1980  Liên bang Xô viết sụp đổ, đảng Cộng sản Liên xô bị giải tán.             Huy Đức có cơ hội và được phép sưu tầm tài liệu cũng như tiếp xúc và phỏng vấn các nhân vật chính yếu của chế  độ cho thấy anh được khuyến khích và giúp đỡ. Một luồng tư tưởng mới hay một sáng kiến ở sau lưng dự án?             Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” hoàn tất năm 2012 được Huy Đức trình bày thành 2 cuốn. Cuốn I “Bên thắng Cuộc: Giải phóng”, cuốn II “Bên Thắng Cuộc: Quyền bính”. Hai cuốn sách gộp lại dày 1000 trang cỡ chữ 11, gồm 22 Chương, 195 Danh Mục Tác phẩm và 52 Hồi ký, Bản thảo truyền tay trong nước được dùng để tham khảo, với 1262 mục chú thích . Phần chú thích (Cuốn I 82 trang, cuốn II 66 trang) tổng cộng 148 trang là một phần không thể tách rời với bộ sách. Tác giả để riêng ra để cho phần trình bày có tính liên tục.             Bộ sách của Huy Đức là một tác phẩm đồ sộ. Đồ sộ ở bề dày của nó đã đành, nó còn “đồ sộ” ở chỗ tác giả  của nó là một người Cộng sản nhưng không viết để ca ngợi chiến thắng và tuyên truyền cho tính vô địch của chủ thuyết Mác- Lê Nin.             Cuốn sách là một tài liệu lịch sử mặc dù tác giả không trình bày dưới lăng kính của một nhà viết sử. Tác giả đóng vai một bác sĩ giải phẫu mổ xẻ một cơ thể, trình ra những sự kiện lịch sử có chứng liệu. Trong đó những nhân vật lịch sử suy nghĩ, hành xử và thao tác trước thực tế khách quan.             Cuốn sách trình bày một cuộc sống lịch sử có tính nhân sinh sống động. Qua đó người đọc đôi khi thấy quy luật của cuộc sống át hẵn quy luật lịch sử. Ông Võ Văn Kiệt, ông Đỗ Mười, ông Lê Duẫn …, ông Nguyễn  Văn Thiệu, ông Kissinger … , ông Võ Nguyên Giáp , ông Văn Tiến Dũng …  tuy vẫn còn là những Thủ tướng, những Tổng Bí thư, Tổng thống, Cố vấn chính tri. …, những ông Tướng … nhưng chính yếu dưới ngòi bút của Huy Đức là những con người bằng xương bằng thịt lấy những quyết định lịch sử của mình liên quan đến cái sống và cái chết của hằng trăm ngàn người khác như một con người trước thực tế sinh động và hạn chế của nó.             Những ai quan tâm đến những biến chuyển của lịch sử diễn ra trên đất nước chúng ta trong 60 năm qua tìm thấy qua bộ sách “Bên Thắng Cuộc” một bức tranh hậu trường trọn vẹn bên phe xã hội chủ nghĩa. Tác giả gạn lọc và trình bày một bức tranh nối kết  sự kiện này với sự kiện khác một cách nhân quả (causal). Đối với các nhà nghiên cứu, cuốn sách cung cấp những sử liệu về người và việc từ trước đến nay không có sẵn  sàng như vậy.             Cuốn “Bên Thắng Cuộc” là một cuốn sách nói về những cay đắng của người thắng cuộc. Thắng xong mới thấy mình mới là kẻ bại trận. Cuốn sách cũng chứa đựng những oái oăm của cuộc sống . Chỉ riêng mối tình của Lê Duẫn với bà Nguyễn Thụy Nga người vợ thứ do Đảng cưới cho ông tại Cà Mâu năm 1948 trong thời gian chống Pháp đã có đủ chất liệu cho một thiên tình sử. Ông Duẫn có những ngày hạnh phúc với bà Nga khi ông còn lãnh đạo phong trào Cộng sản ở miền Nam trước Hiệp Định Geneve năm 1954. Năm 1957 khi ông được điều ra Bắc trở thành Bí thư thứ nhất của đảng với quyền uy chính trị chỉ sau ông Hồ Chí Minh ông đã không bảo vệ nổi bà Nga trước lối sống công thức giữa một thủ đô vừa lấy lại trong tay người Pháp và áp lực của người con gái lớn của bà vợ cả. Bà Nga được gởi đi học và sống một mình ở Trung quốc 5 năm, sau đó trở lại miền Nam tham gia cuộc đấu tranh chống chính quyền miền Nam. Vợ ông Võ Văn Kiệt, bà Trần Kim Anh và hai con nhỏ bị bom chết năm 1966 trên đường di chuyển từ Bến Cát đến căn cứ Củ Chi ông Kiệt gặp khó khăn trong đời sống gia đình cho mãi đến năm 1984 khi cưới bà Phan Lương Cầm, con ghẻ tướng Phan Tử Lăng và vẫn không yên với dư luận vì bà Cầm quá mới! Tách chúng ra khỏi cuốn sách đó là những mối tình rất con người. Nó bị cọ xác và đầy đọa bởi chiến tranh, phân ly, ghen tuông, quyền lực và phong tục tập quán.             Tôi còn nhớ một bi kịch xẩy ra tại trại cải tạo Lam sơn, trong tỉnh  Khánh hòa khi tôi đang bị giam tại đó cuối năm 1975 giữa một cán bộ Cộng sản và một Trung úy quân đội Việt Nam Cộng Hòa trẻ tuổi. Trong một buổi lên lớp khi người cán bộ xỉ vả học viên là phản bội tổ quốc, viên Trung úy đứng lên nói, anh không phản bội ai cả. Anh nói: “Nếu Mẹ tôi sinh tôi ra trên vĩ tuyến 17 thì bây giờ tôi cũng đang đứng chỗ của anh và có thể đang mắng nhiếc anh là phản quốc.” (2)              Trong thời gian sau cuộc cách mạng tháng 8/1945, người Pháp trở lại, nhưng một số vùng như Thanh-Nghệ -Tỉnh, Bình Định-Phú Yên, Cà Mâu -Đồng Tháp vẫn nằm trong vòng kiểm soát của phe kháng chiến do đảng Cộng sản lãnh đạo, và nhiều thanh niên vì điều kiện địa lý này đã ở bên này hay bên kia và có khi anh em một nhà biến thành kẻ thù bắn giết nhau. Bên thắng hay bên thua chỉ là ngẫu nhiên của lịch sử và may mắn hay rủi ro của từng số phận. Cái còn lại là cái tâm.             Nhưng có cái tâm tốt chưa chắc vượt ra khỏi nghịch cảnh. Sau năm 1975 ông Võ Văn Kiệt giữ chức vụ lãnh đạo tại Sài gòn- Gia Định ông cũng phải ngăn sông cấm chợ để cho dân Sài gòn nằm trên vựa lúa mà đói. Guồng máy buộc ông làm vậy nếu ông không muốn bị kết án là phản cách mạng, phản bội nguyên tắc kinh tế tập trung xã hội chủ nghĩa! Nhưng ít nhất ông Kiệt còn trăn trở tìm lối thoát ra khỏi cái gông tự tròng vào cổ mình của đảng.  Bên cạnh còn biết bao kẻ tầm thường tin tưởng tuyệt đối chủ thuyết Mác Xít: Đỗ Mười, Võ Chí Công, Đào Duy Tùng, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh … Thật khó mà định giá những nhân vật như Hồ Chí Minh, Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Lê Đức Thọ … để biết họ muốn gì. Họ là những tay “ma nớp” quyền lực như một thú vui trong khung cảnh lịch sử mà họ đang sống?             Huy Đức vẽ con người rất con người và các sử gia nếu muốn  nghiên cứu các lãnh tụ Cộng sản Việt Nam thì bộ sách của Huy Đức là một nguồn tài liệu phong phú muôn màu muôn vẻ.             Nhưng nét nổi bật nhất của bộ sách là đường nét ngây ngô của bộ máy Đảng. Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, ngăn sông cấm chợ, sở hữu công của tư liệu sản xuất, đất đai thuộc về toàn dân là những nhát búa đảng Cộng sản tự đập vào chân mình.                  Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” cho thấy trong thập niên 1980 đảng Cộng sản Việt Nam đã vùng vẫy để thoát hiểm trước cơn giông tố đang làm lung lay tận gốc phong trào cộng sản thế giới. Gorbachev tại Liên xô. Đặng Tiểu Bình ở Trung quốc với “mèo trắng mèo đen mèo nào cũng tốt miễn là bắt được chuột”. Thắng cuộc, nhưng Việt Nam phải “đổi mới” để tồn tại. Nhưng “đổi mới” mà không có chính sách. Chỉ có những bước mò mẫm trong sương mù của “kinh tế thị trường” không định hướng,  ngoại trừ “định hướng xã hội chủ nghĩa” để níu kéo lĩnh vực quốc doanh cứu đảng.             Kết quả duy nhất của sự đổi  mới mà vẫn duy trì chế độ độc đảng là làm cho dân “có gạo ăn” nhưng không xây dựng được tiềm năng của quốc gia. Chính sách của quốc gia dựa vào trí tuệ giới hạn nếu không muốn nói là kém cỏi của “Bác”, của anh “Ba”, anh “Sáu”, anh “Mười” … một cách rất là tùy tiện.             Bộ sách của Huy Đức có một nét đặc thù là không những bày ra cái yếu kém của chủ nghĩa Mác, mà còn bày ra cái yếu kém của người Việt Nam. Người Việt Nam thông minh, nhưng thiếu cái nhìn lớn và vọng ngoại. Dân khổ triền miên vì vậy.             Nhìn bộ sách đồ sộ của Huy Đức khó mà nghĩ một cách đơn giản rằng đó là thành quả của một cá nhân. Anh Huy Đức dù xông xáo cũng khó tiếp cận với tài liệu nhất là tiếp cận phỏng vấn các nhân vật đang nắm quyền lực mà thói quen sinh hoạt của đảng là mật, cái gì cũng là mật.             Năm 1967 bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Robert McNamara trong khi điều hành cuộc chiến Việt Nam nhận ra sự phi lý của cuộc chiến mà quốc gia và cá nhân ông đang vướng vào, ông kín đáo cho lập một Ủy ban nghiên cứu các biến chuyển từ năm 1945 dẫn đến cuộc chiến tranh. Tài liệu nghiên cứu được gọi là “Hồ sơ của Lầu Năm Góc” (The Pentagon Papers). Bộ sách của Huy Đức có nét tương tự của Pentagon Papers. Phải chăng mục đích của bộ sách là thu thập dữ kiện một cách khách quan để tìm ra nguyên ủy của các mâu thuẫn ngự trị trên đất nước Việt Nam? Cái khác bề ngoài phải chăng là công việc truy tìm này được giao phó cho Huy Đức như một nghiên cứu cá nhân?             Bộ sách của Huy Đức phanh phui ra các dữ kiện tự nhiên từ việc này dẫn đến việc khác cho thấy tại sao chúng ta là nạn nhân. Nạn nhân của hoàn cảnh lịch sử, nạn nhân của các tranh chấp quốc tế, và trên hết là nạn nhân của chính tầm nhìn kém cỏi của chúng ta.             Nếu tài liệu “The Pentagon Papers” đã giúp cho nhân dân Hoa Kỳ  vượt qua “Hội chứng Việt Nam” để nhanh chóng hóa giải căng thẳng và sự chia rẽ trong xã hội do cuộc chiến Việt Nam gây ra thì bộ sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức cũng có thể là một liều thuốc hóa giải sự chia rẽ dân tộc Việt Nam giữa người thắng kẻ thua.             Câu hỏi then chốt là chúng ta đã sẵn sàng để hòa giải với nhau chưa?             Trong phần kết thúc cuốn sách tác giả kết luận: “Giá như không phải là ý thức hệ mà tự do và hạnh phúc của nhân dân là nền tảng hình thành chính sách của đảng Cộng sản Việt Nam, đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và lãnh đạo, thì người dân đã tránh được chuyên chính vô sản, tránh được cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, tránh được “Nhân Văn Giai Phẩm, tránh được biết bao cuộc binh đạo xung đột trong nội bộ gia đình”.             Và giờ đây đảng Cộng sảnViệt Nam vẫn còn duy trì Điều 4 Hiến pháp nắm trọn quyền lãnh đạo đất nước, đảng vẫn chưa trả quyền tự do ngôn luận cho dân, đảng vẫn còn ràng buộc với ý thức hệ Mác xít chưa chịu trả quyền tư hữu và quyền sở hữu đất đai lại cho dân thì rõ là chưa có cơ hội hòa giải dân tộc .             Nhưng con đường thiên lý nào cũng phải bắt đầu bằng dặm đầu tiên. Bộ sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức là bước bắt đầu và là một  bước tích cực của quá trình hoà giải dân tộc.   Trần Bình Nam Jan 23, 2013binhnam@sbcglobal.netwww.tranbinhnam.com  Chú thích:  (1)  Theo The Life of the Party: The Post Democratic Future Begins in China của Eric X. Li – “Foreign Affairs” Jan-Feb. 2013(2)  Cán bộ trại đã phạt nhốt viên Trung úy vào thùng sắt, loại connex quân đội Mỹ dùng chuyên chở quân dụng.
......

THƯ GỞI CÁC BẠN ĐẤU TRANH DÂN CHỦ-NHÂN QUYỀN TRONG NƯỚC

Tôi là người đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam, đã từng bị kết án 4 năm tù giam và cũng mới mãn hạn tù. Hiện đang sống tại Việt Nam và tiếp tục lựa chon con đường đấu tranh cho một Việt Nam tự do. Tôi viết lại những gì mà tôi đã đi qua trong 4 năm để các bạn đang đấu tranh cho tự do Việt Nam thêm thông tin và kinh nghiệm khi phải đối mặt với công an trong quá trình bị khởi tố tạm giữ, tạm giam và khi bị đưa đi trại giam ‘’cải tạo” của nhà nước Việt Nam. Việc đối mặt với từng giai đoạn ấy hết sức khó khăn, đấu trí, đấu lý và sức bền của lòng can đảm mỗi cá nhân đã dấn thân vào con đường này. Bạn đang đấu tranh bí mật. Bạn đang làm việc trong bí mật. Đó cũng là một việc rất tốt cho bạn và cho những người hợp tác làm việc chung với bạn. Điều quan trọng là giữ cho mình và cho người. Các bạn đấu tranh trong âm thầm thì ít người biết đến nhưng tôi cho rằng, nó cũng rất hiệu quả. Mục đích cuối cùng của chúng ta là Việt Nam tự do Để có được như vậy thì có rất nhiều con đường khác nhau và khả năng đóng góp cũng khác nhau để đến đích .Đấu tranh bí mật thì các bạn không bị theo dõi và việc viết bài hay kết nối thêm bạn bè vào quá trình nhóm nhỏ rất tốt. Ở trạng thái đấu tranh bí mật này thì các bạn ít đối mặt với công an, thế nhưng các bạn phải có thêm kinh nghiệm của những người đi trước, làm sao các bạn tránh được những cạm bẫy của an ninh mật vụ, đang giăng ra chờ đón những người hoạt động đòi tự do dân chủ nhân quyền mắc vào. Công an có thể kéo những mẻ lưới để đưa cả nhóm các bạn vào tù. Đấu tranh bí mật các bạn cần tiếp xúc với những người đã từng bị bắt để thêm kinh nghiệm phòng ngừa và thường xuyên liên lạc với họ để thêm chỉ dẫn khi cần thiết bằng con đường email hoặc trực tiếp qua chat ’’voise’. Bạn nên có thêm kiến thức về an ninh điện tử để phòng tránh bị an ninh mạng đột nhập vào máy tính, đánh cắp thông tin trong máy tính của bạn và cài gián điệp mạng (virus) trong máy tính nhằm thu thập thông tin hàng ngày của bạn. Hiện nay an ninh Việt Nam đã phát triển hơn trước và cũng tinh vi hơn trước. Trước kia để theo dõi ai đó thì họ có thể đóng giả người này người kia để tiếp cận bạn hoặc đến dình mò nhà bạn nhưng ngày nay không cần làm như vậy. An ninh mạng có thể làm hết việc đó thông qua nghe lén điện thoại, định vị bạn đang ở đâu trên bản đồ [kể cả trường hợp bạn tắt máy], rồi việc theo dõi qua internet, việc an ninh có thể cài gián điệp máy tính bằng cách gửi cho bạn một bức thư và vô tình bạn tò mò đọc thư đó chưa xong, thì phần mền gián điệp đó đã ở trong máy của bạn rồi. Sau đó bạn liên lạc với ai và làm gì….. an ninh mạng đều biết hết và họ sẽ lên kế hoạch bắt và điều tra bạn. Mặc dù thông tin nghe lén và thông tin lấy được trong máy tính của bạn không đưa ra làm căn cứ hoặc bằng chứng buộc tội, nếu họ đưa ra vấn đề đó thì chính họ đã vi phạm pháp luật về đời tư,-một trong những vấn đề của nhân quyền. Thế nhưng họ nghe lén và theo dõi qua máy tính của bạn để nắm bắt được những kế hoạch của bạn để từ đó triển khai giăng lưới bắt bạn. Bạn hoạt động công khai. Hoạt động công khai là bạn phải đối mặt trực diện với công an,công an thì vô cùng gian dối. Lúc đầu có thể ngăn chặn bạn dù việc ngăn chặn đó là vi phạm nhân quyền được qui đinh tại điều 68 hiến pháp 1992. Công an có thể bằng nhiều thủ đoạn để đạt mục đích kể cả bắt chấp luật pháp. Tôi khẳng định tất cả công an việt nam không làm theo luật pháp mà làm theo mệnh lệch cấp trên, dù mệnh lệch đó vi phạm pháp luật. Vì thế câu hỏi ở đây là công an làm theo ‘’luật hay lệnh’’ thì họ sẽ nói là làm theo lệnh của cấp trên, vậy cấp trên là ai?...... đến ông bộ trưởng bộ công an… rồi mệnh lệch của bộ chính trị … rồi chỉ thị của lãnh đạo đảng nhà nước và tóm lại tất cả làm theo lệnh của cấp trên. Vậy còn những qui định của luật ra sao? Lẽ thường thì mọi công an phải làm theo luật, nếu cấp trên của mình ra lệnh mà mệnh lệnh đó vi hiến thì nhất định không làm.[Điều này chỉ có ở các quốc gia dân chủ] Khi mà bạn bị công an triệu tập [hoặc giấy mời] thì bao giờ buổi đầu tiên làm việc thì công an cũng ve vãn bạn như rất thân tình và tình cảm đầy trách nhiệm với bạn và với quốc gia. Đó là màn chào hỏi đầu tiên, sau đó rồi có thể mời ăn, mời uống để nhằm mục đích đánh vào tình cảm của bạn. Bạn thấy họ tử tế, tốt bụng. Sau lần mở màn đó là làm việc lấy lời khai [biên bản làm việc]. Ở giai đoạn này bạn hay bị mắc lỗi những câu hỏi của công an đang dần đưa bạn vào những vi phạm pháp luật, nếu bạn không dứt khoát những gì bạn thuộc về quan điểm bằng những câu trả lời cứng dắn thì sẽ bị họ dần cho bạn vào vòng lao lý. Bạn nên nhớ rằng trong tình huống đó bạn có thể phát huy ‘’quyền im lặng’’, ’’không có nghĩa vụ trả lời’’ và yêu cầu công an đưa ra những bằng chứng hoặc chứng cứ. Sau đó mới trả lời và việc trả lời cũng lên rất dứt khoát với công an ghi biên bản là ’’trả lời câu nào thì được ghi câu đó’’ nếu nghi trong biên bản mà không đúng với trả lời thì bạn sẽ không ký vào biên bản đó khi kết thúc. Nếu biên bản kết thúc mà không có chữ ký của bạn thì biên bản đó coi như không có giá trị pháp lý. Mặt khác bạn lưu ý rằng bạn đang là công dân ’’đối với nhân dân thì phải kính trọng và lễ phép’’. Bạn không chấp nhận làm việc thiếu tôn trọng bạn vì ’’không ai có tội khi tòa án chưa tuyên’’. Trên thực tế thì 100% những bản án liên quan đến nhân quyền ở Việt Nam đều không có tội nhưng phải chịu tội vì bị cưỡng chế. Trong quá trình làm việc ở giai đoạn này bạn nhất quyết không nhu nhược với bản thân và với công an. Nếu bạn nhu nhược và khiếp sợ công an thì họ sẽ lấn tới và những trả lời [lời khai] của bạn sẽ là bằng chứng buộc tội bạn. Trong quá trình này bạn càng ít nói càng tốt vì nếu bạn càng nói sẽ càng làm cho bạn sơ hở, vì theo kinh nghiệm cho thấy nếu bạn nói 100 câu thì cũng có thể một câu hở [sơ suất]. Bạn trả lời với họ phải bình tĩnh và suy nghĩ về nhưng câu trả lời của mình. Bạn nên tìm hiểu thêm luật pháp liên quan lĩnh vực nhân quyền và luật tố tụng hình sự để khi bạn làm việc với công an bạn có lý luận. Bạn nên trao đổi thông tin với những người có kinh nghiệm trong việc này để được tư vấn trước khi bạn đi làm việc với công an. Sau những lần đi làm việc về, bạn nên tiếp tục trao đổi với những người có kinh nghiệm để được tư vấn tiếp cho buổi làm việc sau. Bạn bị khởi tố bắt tạm giữ. Các án an ninh thường ban đầu họ đều ra lệnh tạm giữ 9 ngày [3 lệnh]. Ở trong gia đoạn này hết sức quan trọng đối với bạn, bạn có thể được trả tự do về nhà nếu bạn thực hiện tốt nhưng nội dung sau. Tạm giữ có nghĩa là họ chưa có đầy đủ bằng chứng để buộc tội bạn. Họ bắt bạn chẳng qua thông qua một ai đó đã khai ra bạn và rồi họ ra lệnh khởi tố vụ án và bắt tạm giữ, tạm giam để điều tra. Nếu trong quá trình tạm giữ 9 ngày đó bạn giữ được lập trường ‘’im lặng’’ hoặc ‘’ không có nghĩa vụ trả lời ‘’ khi chưa đưa ra vật chứng và lời khai của nhân chứng khác đã khai ra bạn. Nếu có một nhân chứng bạn cũng có thể từ chối lời khai của nhân chứng đó hoặc một bị can khác. Trong 9 ngày tạm giữ này là thời gian điều tra sơ bộ ban đầu để rồi công an mới đề nghị viện kiểm sát ra quyết định tạm giam bạn hay trả tự do. Nếu có đủ bằng chứng và lời khai của bạn phù hợp với lời tố cáo hoặc một bị can khác đã khai ra bạn thì nhất định bạn sẽ có lệnh tạm giam 3 tháng hoặc 4 tháng . Vì thế bạn nhất định phải kiên cường vượt qua gia đoạn này. Bạn cũng không được ký bất kỳ văn bản nào của cơ quan công an trong thời gian tạm giữ. Nếu bạn mà nhu nhược với bản thân trong 9 ngày này bằng việc bạn thừa nhận tất cả nhưng gì ghi trong biên bản làm việc đó thì bạn sẽ bị tạm giam, mà tạm giam thì khả năng bạn sẽ có án tù. Trong thời gian này công an sẽ làm việc với bạn liên tục để tìm ra bằng chứng rồi ra quyết định tạm giam. Công an cũng sẽ tung ra hết những ‘’ nghiệp vụ’’ nhiều thủ đoạn khác nhau, có thể đến cả việc biệt giam và làm cho bạn khủng hoảng tinh thần và đưa tình cảm gia đình vào làm việc…… rồi ‘’nhận đi để được hưởng khoan hồng của đảng và nhà nước’’ rồi để sau này ‘’ có tình tiết giảm nhẹ tội’’ v v…v v… Có những công an trong quá trình điều tra nói với bị can: ‘’mày không có tội gì nặng đâu, mày còn trẻ chú không muốn bỏ tù mày vì thế khai hết ra đi, khai xong thì về, xong lúc nào thì về lúc đó, bố mẹ mày đang ở nhà khóc …mong mày về, con bạn người yêu mày nó nói mày không về nó đi yêu thằng khác….Đấy mày thấy không bao nhiêu người mong mày về, vậy khai đi, khai xong rồi về…’’ cứ như vậy để lừa con trẻ và những người tin vào lời nói đó. Khi khai xong vụ này thì công an lại nói tiếp, ‘’còn mấy vụ trước nữa chưa khai, khai đi….’’ và cứ thế ra nhiều hành vi trước đó nhiều tháng và nhiều năm. Khi khai ra quá nhiều vụ rồi thì công an nói: ’’mày nhiều tội như thế này thì chú không giúp được, việc này chú về đề nghị với cấp trên xem có giúp gì cho cháu không……’’ Sau đó là có kết luận điều tra và chuyển sang viện kiểm sát để đề nghị truy tố ra tòa và nhận án. Đó là những cách mà công an Việt Nam hay lừa cung. Minh Chinh [Tiếp phần sau sẽ kể về câu chuyện tạm giam,có an tù và đi trại giam ] Mong mọi người đọc được thư này phổ biến cho nhiều người cùng biết Cựu tù nhân chính trị tại Việt Namhttps://www.facebook.com/minh.chinh.94
......

Câu chuyện nhỏ của tôi

Viết sau những ngày mới ra tù. Tôi xin được phép kể vài mẩu chuyện nhỏ về việc nhà cầm quyền Việt Nam thực thi sứ mệnh bảo vệ nhân quyền cho một công dân như tôi: Kết tội: Tôi bị bắt với một lý do rất… cười: tọa kháng tại nhà với biểu ngữ (được phía Cơ quan An ninh điều tra kết luận rằng mang nội dung xấu): “Trường Sa - Hoàng Sa là của Việt Nam. Phản đối công hàm bán nước ngày 14/9/1958 của Phạm VănĐồng”. Hơn 16 tháng sau ra tòa, tôi nhận bản án 4 năm tù giam, thêm 3 năm quản chế về cái gọi là tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” mà không hề dính dáng đến việc “tọa kháng”, hành vi trực tiếp được nhà cầm quyền làm lý cớ bắt bỏ tù. Hai chứng nhân “quan trọng” được đưa từ Thanh Hóa vào làm công cụ buộc tội bị cáo. Ông Nhiểm, ông Kính trông tội nghiệp với bộ mặt méo mó, khắc khổ ngồi lọt thỏm, bị bao vây giữa vô vàn những mật vụ dưới hàng ghế dự khán, thay vì ở vị trí dành cho người làm chứng theo quy định một phiên tòa: “Nếu thời gian quay trở lại hoặc có cơ hội khác, tôi vẫn sẽ giúp đỡ họ - những ngư dân Thanh Hóa - dù tôi biết trước có thể những con người này sẽ quay lại kết tội tôi. Họ buộc phải làm thế. Và tôi sẵn sàng tha thứ cho họ.” Tôi đã nói những lời này trước tòa dành cho những ngư dân Thanh Hóa tôi đã gặp và giúp đỡ hồi cuối tháng hai năm 2008. Trong khuôn khổ bài viết ngắn này, tôi sẽ không tường thuật lại chuyến đi Thanh Hóa cùng Ngô Quỳnh. Bạn đọc nào quan tâm và muốn tìm hiểu sự thật, xin tìm đọc bài viết “Uất ức - biển ta ơi!”tôi viết năm 2008. Tôi tin rằng, nếu ai còn là người Việt Nam thì không thể không đau xót trước việc đồng bào mình bị bắt giết ngay trên lãnh hải của Tổ Quốc mình, cũng như không thể phủ nhận Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam. Chỉ vì vạch trần và tố cáo một sự thật bị Đảng và Nhà nước giấu nhẹm, chỉ vì đòi quyền lợi chính đáng cho những nạn nhân, ngư dân Thanh Hóa mà tôi và Ngô Quỳnh đã bị tước mất tự do - dù là một thứ tự do đang hấp hối. Biệt giam: Những ngày đầu, tôi bị giam chung với các nữ tù hình sự khác. Trong cuộc vật lộn mưu sinh, trở thành đủ lọai tội phạm (họ vẫn thường tự hào rằng phải rất bản lĩnh mới dám thách thức pháp luật) thì sự xuất hiện của một cô gái nhỏ bé bị gán tội “chống Nhà Nước…” là điều ngoài sức tưởng tượng. Từ ngạc nhiên, tò mò rồi thiện cảm, chúng tôi trở nên gần gũi với nhau. Được vài hôm, những ánh mắt thân thiện, cảm mến biến mất. Thay vào đó là thái độ dè dặt, lảng tránh pha chút sợ sệt. Chính sách cô lập bắt đầu có hiệu quả! Sắp đến giờ cơm chiều. Tiếng ổ khóa vang lên chát chúa. Tiếp đó là giọng nói lạnh tanh của quản giáo: “Phạm Thanh Nghiên chuẩn bị nội vụ!”. Mọi ánh mắt đổ dồn về phía tôi, lo lắng, thương cảm, hoảng hốt: “Chết rồi, bị đi ép cung rồi”, “chị ơi! Biệt giam rồi. ”, “khổ thân, người bé như cái kẹo, chịu sao nổi cháu ơi”. Mỗi người góp một tí, từ chai mắm, gói lạc, ít bột canh, cuộn băng vệ sinh… tất cả được đùm vào một túi ni-lông, ấn vội vào tay tôi. Tôi không đủ thời gian đùn đẩy. Nhận cũng tốt. Đây sẽ là vốn liếng giúp tôi “cầm cự”, chờ đợi đến lúc nhận được quà tiếp tế từ gia đình. Tôi không sợ biệt giam, không sợ bị ép cung. Tôi sợ những ánh mắt thương cảm của họ. Những tình cảm rất con người mà vì một sức ép đáng sợ nào đó, họ đã buộc phải thủ tiêu đi. Tôi bước ra cửa, không ngoái lại nhìn. Sau lưng, vài giọt nước mắt lặng lẽ rơi. Nhà tù, thì ra vẫn còn chỗ cho tình thương yêu và lòng nhân ái. Dẫn tôi đi là người cán bộ tên C. Sau này tôi được nghe nhiều chuyện về ông ta, chủ yếu thành tích làm giầu bất chính và đánh tù. Tôi cắp túi quần áo, chân đất đi trên những con hẻm nhếch nhác vì mưa phùn, qua những dãy nhà giam lạnh ngắt và cũ kỹ. Trong những bức tường lặng câm kia là những sự chờ đợi và tuyệt vọng. Chờ đợi để được phán xử không theo cách của con người, rồi hiến mình cho sự khổ ải và hao mòn trong các trại cải tạo. Khu giam giữ mới có khoảng sân khá rộng. Sau khi làm các thủ tục cần thiết, C giao tôi cho đồng nghiệp. Tôi đi theo K, cảm giác như đang bị nuốt vào một đường hầm. Lần đầu tiên kể từ khi bị bắt, tôi mới thực sự thấy hết cái âm u của chốn ngục tù. Chỉ khi dừng lại, tôi mới biết mình đang đứng trước một cánh cửa. Cửa mở, hai đồng tử của tôi giãn ra: đây là nơi dành cho con người ư? Cái gọi là buồng giam rộng chừng 6m2. Hai bệ xi-măng đối diện nhau (chừa một lối đi hẹp ở giữa, tù quen gọi là “xa lộ”) dùng làm chỗ nằm. Từ cửa đến chân bệ nằm còn khoảng trống nho nhỏ để đồ ăn. Trong buồng không có nhà vệ sinh nên phải dùng bô. Chỗ để bô cách chỗ để đồ ăn chừng 3 bước chân. Một trong hai bệ nằm có gắn cố định một cùm sắt, dùng để cùm chân những người tù bị kỷ luật hoặc tử tù chờ ngày thi hành án. Tôi vào sau L vài ngày, đương nhiên phải nằm chung với cái cùm. L thường mắng tôi vì tội hay cho chân vào cùm. Bảo tôi không chịu kiêng kỵ, có ngày bị cùm thật cũng nên. Hàng ngày tôi đi bộ dọc trên “xa lộ”, coi như tập thể dục. Đoạn đường ngắn mấy bước chân, đi vài vòng phải nghỉ một lần để khỏi chóng mặt. Mỗi ngày hai lần: sáng và chiều, công an mở cửa cho tù nhân ra ngoài làm vệ sinh cá nhân và lấy cơm. Mỗi lần chừng 20 đến 30 phút. Hầu như ngày nào tôi cũng phải đi cung nên mọi việc, từ giặt giũ, đổ bô, lấy cơm, rửa bát… L phải kiêm hết. Có hôm, chưa làm vệ sinh xong, điều tra viên đã đứng đợi ngoài cửa. Chắc chỉ có tù nhân lương tâm chúng tôi mới phải trải qua tình trạng ngồi bệ xí trong sự chờ đợi và thúc giục của cả cai tù lẫn điều tra viên mà thôi. Gần 4 tháng biệt giam, tôi phải đi cung hàng chục lần, chưa kể thời gian ở buồng chung hơn một năm. Chuyện này xin được kể trong một dịp khác. L có tật xấu, đi ngoài vô tội vạ, không theo giờ giấc. Nhiều hôm cứ đóng cửa buồng cô nàng mới đi, mỗi lần như thế lại chữa ngượng: “Em luyện mãi mà không được, cứ nhìn thấy công an là nó lại thụt vào. Hình như c*t sợ công an chị ạ”. Hai cái bô chứa đầy “sản phẩm” của L. Mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Đã thế, cô nàng còn lên lớp tôi: “Chị phải uống thật nhiều nước mới tốt cho sức khỏe, người đâu mà gầy đét, trông chán lắm”. Tôi bảo: “Có hai cái ngai vàng, mày ngự cả hai, chị uống nhiều nước thì chứa vào đâu?”. Cô nàng nhe hàm răng ám khói thuốc cười trừ. Nhìn L, tôi thấm thía hai câu thơ (được cho là của ông Hồ): “Cửa tù khi mở không đau bụng, đau bụng thì không mở cửa tù”. Cánh cửa sắt, may quá có sáu lỗ thông hơi (to bằng quả trứng chim cút) - thứ duy nhất làm chúng tôi tạm quên mình đang ở trong một cái hộp. Hàng ngày được ra ngoài, tôi thường vãi cơm ra sân để dụ lũ chim sẻ đến. Qua sáu cái lỗ thông hơi quý giá đó, tôi và L luân phiên nhau chiêm ngưỡng, ngắm nghía chúng. L ước: “Giá biết bay như chúng, em sẽ bay về ôm hôn thằng Cu cho thật đã”. Rồi như tiếc rẻ “Nhưng làm con chim bay được thì lại không lắc, không phê được. Làm người như em, tuy tù tội nhưng được biết mùi đời. Sướng thân! Như chị thì thiệt, chả biết đếch gì. Chán chết”. Tôi không thích tranh cãi với L những lúc như thế. Lũ chim vô tâm, chúng nhặt nhạnh những hạt cơm cuối cùng rồi bay đi, mặc kệ tôi ngẩn ngơ. Không có cách nào gọi chúng lại. Tôi tủi thân, đâm ra giận chúng, hôm sau không vãi cơm cho chúng nữa. Theo thói quen, lũ chim bay đến ngơ ngác, tìm kiếm rồi bỏ đi. Tôi buồn! Từ đó không dám tự trừng phạt mình nữa.  Một lần đi cung: Một vật gì giống như con rắn nằm lù lù giữa sân. Vừa nhận ra thứ đó dành cho mình, một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng. Sau cái rùng mình, mặt tôi nóng ran, hai thái dương giật liên tục. Không thể để cơn phẫn nộ được dịp bung ra. Tôi sẽ luồn chân vào đó. Phải nếm trải hết mọi cay đắng của người tù. Tôi đứng im, ngoan ngoãn cho K xiềng chân mình. Nét ái ngại lộ rõ trên gương mặt anh ta: “Chị Nghiên đi chậm thôi, sẽ đỡ đau”. Tôi hít một hơi thở sâu chờ K mở cửa. Ánh mắt tôi đập vào ánh mắt người điều tra viên. Dù cố tỏ ra tự nhiên, nhưng tôi biết anh ta chứ không phải tôi đang bị chi phối bởi cái xiềng chân. Tôi không đi chậm như lời khuyên của K. Bị thôi thúc bởi lòng kiêu hãnh, tôi bước thật nhanh bất chấp hai vòng xích đập vào mắt cá chân đau điếng. Tôi không cho phép anh ta có cơ hội thấy tôi trong bộ dạng chậm chạp và đáng thương. Chỉ thể hiện ở bước đi thôi chưa đủ, tôi bông phèng: - Này anh, giúp tôi một việc được không? - Việc gì chị? - Nhờ anh đăng ký với kỷ lục ghi-nét, công nhận tôi là người phụ nữ có cái lắc chân to và độc nhất thế giới nhé? Bị bất ngờ, anh ta im lặng. Sau một hồi, tính háo thắng trỗi dậy, anh ta trả đũa: - Nếu bây giờ tôi bắc thang cho chị trèo tường về, chị có về không? - Sao nghiệp vụ anh kém thế? - Gì cơ? - Tôi bảo nghiệp vụ anh kém vì anh đi điều tra tôi mà không hiểu gì về tôi. Này nhé, tôi vào đây một cách đường hoàng thì cũng đường hoàng rời khỏi đây. Không phải các anh tùy tiện bắt rồi thả vô tội vạ là được. Có lẽ anh ta thấy tiếc về câu hỏi vừa rồi. Một cán bộ trực trại và một điều tra viên khác đã chầu sẵn ở buồng hỏi cung. Chờ tôi ngồi xuống, trực trại rướn người qua mặt tôi, kéo thanh sắt vốn được bắt vít cố định nơi tay vịn, khóa lại. Động tác rất dứt khoát với vẻ mặt rất nghiêm trọng. Chắc đấy là thứ công cụ được phát minh ra để bảo vệ các nhân viên điều tra khi hỏi cung những tên tội phạm thuộc diện đặc biệt nguy hiểm. Thế ra, tôi được liệt vào loại “đặc biệt nguy hiểm” cơ đấy. Tôi quan sát việc liên quan đến mình như một kẻ thực sự bị thuần phục. Xong việc, viên trực trại lui về đứng phía sau tôi (chắc sẵn sàng tung đòn cứu đồng đội nếu đối tượng manh động). Hai điều tra viên đặt hồ sơ lên bàn:   - Chúng ta bắt đầu làm việc! Tôi lơ đễnh nhìn lên trần nhà. - Chúng ta làm việc thôi chị Nghiên. - Anh bảo gì cơ? Vẻ ngoan ngoãn lúc đầu của tôi khiến họ không chuẩn bị tâm lý đối phó cho sự phản công. - Chúng ta vào việc… - Làm gì có chuyện ấy. Các anh nghĩ tôi sẽ làm việc với các anh trong tình trạng này sao? - Đây là quy định của… - Là quy định của các anh thôi. Nguyên tắc của tôi là không làm việc với các anh trong tình trạng này. Hai điều tra viên nhìn tôi chằm chằm. Tôi tiếp tục nhìn lên trần nhà, lưng dựa ra sau, các ngón tay gõ gõ vào thanh sắt chắn ngang trước mặt, chân đung đưa khiến cái xiềng cọ xuống nền nhà phát ra thứ âm thanh khô khốc, nghe đến sốt ruột. Cuối cùng, một trong hai người điều tra viên phải ra hiệu cho trực trại mở xiềng chân và thanh sắt chắn ngang ra.  Tôi thôi nhìn lên trần nhà: - Đây sẽ là lần đầu và cũng là lần cuối tôi cho phép các anh làm thế. Nếu việc này còn tái diễn thì các anh sẽ chỉ nhận được một thứ duy nhất từ tôi, đó là sự im lặng. Mong các anh nhớ cho. Trở về buồng giam, tôi mệt mỏi nằm vật xuống. Nhìn L với đôi mắt đỏ hoe, tôi đâm cáu. Cô nàng mặc cho tôi mắng mỏ, cứ sấn vào xoa xoa bóp bóp chỗ đau cho tôi. Tôi hắt hủi cô nàng để khỏi phải thương hại mình. Tôi nghĩ đến chú Nghĩa, đến Ngô Quỳnh và các anh em khác bị bắt cùng đợt với tôi. Không biết họ bị đối xử ra sao? Nhưng tôi tin, dù ở trong hoàn cảnh nào thì những người anh em ấy (sẽ không cáu gắt bạn tù vô lối như tôi) mà sẽ ngạo nghễ và nở nụ cười nhân ái vì nhà tù là sự lựa chọn “bất khả kháng”, là cánh cửa duy nhất để đến với tự do.
......

Pages