Ôi! Barracuda

Ngày tôi lên mười tuổi, bố tôi phả vào tâm hồn trẻ thơ của tôi niềm kiêu hãnh dân tộc qua những quyển sách lịch sử nho nhỏ bằng lòng bàn tay. Bố tôi là một quân nhân phục vụ trong nghành an ninh quân đội. Những quyển sách ông đem về cho tôi là do Cục Chính Huấn xuất bản. Tôi đã say mê đọc nó; tôi ngưỡng mộ hình ảnh vị vua trẻ đời Trần, tôi hình dung ra cảnh nhà vua cởi ngựa đi trước xông pha tên đạn. Và tôi yêu lịch sử từ đó, tôi yêu hình ảnh của Phạm Ngũ Lão qua bài thơ "Tỏ Lòng" của ông. Hình ảnh người tráng sĩ cầm ngang ngọn giáo; xông pha trận mạc đã mấy mùa thu để bảo vệ giang san tổ quốc của mình. Rồi tôi đã khóc khi đọc thấy có đến tám ngàn người lính quyết tử, đã hy sinh trong trận đánh ở đồn Ngọc Hồi trước khi Vua Quang Trung đuổi 30 vạn quân Thanh ra khỏi Bắc Hà. Mãi sau này, tôi mới biết rằng ở tận miền Bắc cũng có một cậu bé yêu lịch sử và mơ màng sống với nó như tôi. Người lính nhiều khổ đau Lưu Quang Vũ, khi còn là một cậu bé cũng đã từng ra cửa bể Vân Đồn những ngày mùa thu biển lạnh. Vũ cũng mơ về thuở muôn trùng cờ xí, tiếng trống thúc trận và những người lính thú đời Trần như tôi. Những ngày ấy, áp đôi má trẻ thơ xuống bùn đất phù sa, có lẽ Vũ cũng nghe được tiếng rì rầm của đất, tiếng giáo gươm từ thuở ấy vọng về. Không hiểu sao, tôi thấy mình rất giống Lưu Quang Vũ ở một điều là tôi tin vào con người. Lưu Quang Vũ mất đã hơn ba thập niên, nếu ngày nay anh còn sống tôi không biết anh có còn tin vào điều đó hay không? Có người bảo rằng "sản phẩm tinh tuý nhất của một quốc gia chính là những người dân sống trên quốc gia đó" điều này quả thật đúng với người dân nước Nhật. Cụ Phan Bội Châu đã từng kể chuyện về một người phu xe cụ được gặp ở Nhật. Cụ Phan và cụ Tăng Bạt Hổ đến Đông Kinh để tìm gặp một người học sinh tên Ân Thừa Hiến. Khi người phu xe đưa hai cụ đến thì Ân Thừa Hiến đã không còn ở chỗ cũ. Người phu xe hứa đi tìm giúp địa chỉ mới của người học trò ấy cho hai cụ. Anh ta đi suốt buổi chiều mới tìm ra được, tuy nhiên khi cụ Phan tặng thêm tiền cho anh ta thì người phu xe từ chối mà bảo rằng: “Theo quy luật Nội vụ sảnh đã định thì từ ga Ðông Kinh đến nhà này, giá xe chỉ có ngần ấy, vả lại các người là người ngoại quốc, yêu mến văn minh nước Nhật Bản mà đến, vậy nên ta hoan nghênh các người, chứ không phải hoan nghênh tiền đâu. Bây giờ các người cho tôi tiền xe quá lệ, thế là khinh bạc người Nhật Bản đó.” Đáng quý thay, lời nói và tư cách của một người phu xe bình thường đã làm hai nhà cách mạng Việt Nam phải nể trọng. Và ngày nay, xuyên qua cách hành xử của người dân Nhật trong các vụ thiên tai, cả thế giới đã nghiêng mình trước văn hoá, và nhân cách của người dân nước này. Nhìn về nước ta ngày nay, mọi nền tảng về luân lý, đạo đức xã hội đã không được xây dựng mà còn bị phá hỏng. Khi tìm mọi cách tiêu diệt cho bằng được ý chí phản kháng của người dân, kẻ cầm quyền đang giết chết dần nội lực của dân tộc. Đất nước sẽ ra sao nếu người dân mặc nhiên chấp nhận thái độ ươn hèn nhu nhược trước ngoại xâm của lãnh đạo? Xã hội sẽ ra sao nếu người ta chỉ nghĩ đến mình, cứ điềm nhiên sống mặc cho những oan sai của luật pháp, mặc những bất công, tham nhũng thối nát của xã hội chung quanh? Từ rất lâu rồi, cha mẹ, thầy cô, học đường đã truyền dạy con em mình phải biết sợ, dạy các em sống ích kỷ, dạy các em ngậm miệng trước những điều sai trái để được yên thân? Triết gia Hegel bảo rằng: “giáo dục là nghệ thuật biến con người thành có đạo đức”; với sự giáo dục như trên, chúng ta mong chờ gì ở các thế hệ tương lai? Tác giả Andrew Matthews, một diễn giả tài năng đã kể lại câu chuyện của con cá barracuda. Đây là một cuộc thí nghiệm được thực hiện tại Viện Hải dương học Woods Hole. Cuộc thử nghiệm được tiến hành như sau: Người ta dùng một hồ nuôi cá bằng thuỷ tinh, họ ngăn chiếc hồ ra làm hai bằng một miếng kính trong suốt. Một bên họ thả con cá barracuda và bên kia là một con cá đối. Cá barracuda là loài cá ăn thịt cá đối, trong nháy mắt, con cá barracuda đã lao hết sức mình về phía con cá đối và nó đập đầu vào thành của tấm kính. Nó tiếp tục bị đập đầu như thế cho đến khi nó hình thành niềm tin là nếu săn bắt con cá đối nó sẽ bị đau như vậy và bỏ cuộc. Sau đó, người ta bỏ tấm kính ngăn ra; con barracuda cứ nằm lì bên phần này của hồ cá cho đến hết cuộc đời nó. Nó thà nằm chịu chết đói, trong khi đó con cá đối vẫn bơi tung tăng không cách xa nó là mấy. Con barracuda biết giới hạn của mình và nó sẽ không bao giờ vượt qua giới hạn đó. Câu chuyện của con cá barracuda có làm cho chúng ta đau đớn không? Hình ảnh chú cá barracuda sung mãn nằm bẹp dí một góc hồ làm chúng ta liên tưởng đến thân phận mình. Cho đến thời điểm này, sự ngang ngược và dã tâm xâm lược của Trung Quốc đã quá rõ ràng; nhưng số người tham gia vào những cuộc biểu tình phản đối của người dân trong nước vẫn còn quá giới hạn. Điều gì ngăn cản dân ta nói lên lòng yêu nước? Điều gì ngăn cấm dân ta bảo vệ lãnh thổ đất nước mình? Đâu rồi một dân tộc lẫy lừng đã từng đánh thắng một đội quân hung hãn đang làm rung chuyển một nữa thế giới? Đâu rồi những con người từng tự hào “từ ức triệu năm nay, không biết nhục, không biết thua, không biết sợ”[1]?! Nếu quả thật chỉ vì sợ hãi mà tám chục triệu người bỏ mặc vận mệnh quốc gia trong tay vài chục kẻ cầm quyền bạc nhược; thì cái tấm kính trong suốt kia là do chính tay chúng ta dựng lên đó thôi. Rồi các thế hệ tương lai cũng sẽ chấp nhận cái định mệnh đã được đặt để cho họ. Và cái giấc mơ về một xã hội công bằng, tự do, dân chủ sẽ chỉ thuộc về nơi nào khác, cho những người khác, không phải dân tộc mình. Câu nói của triết gia người Pháp Joseph de Maistre nghe mới thật cay đắng: "Dân tộc nào thì chế độ đó" (Every country gets the government it deserves). Cách đây hai năm, một youtube mang tên "Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi" được phát tán trên mạng. Cảnh một bầy sư tử hung bạo rượt theo bầy trâu nước và cuối cùng vồ bắt được chú nghé con. Tôi chắc ai coi youtube này đều cảm được nỗi sợ hãi của bầy trâu nước, và đều mừng rỡ khi chú nghé con yếu ớt thoát được nanh vuốt và trở về trong vòng bao bọc của bầy trâu. Không hiểu sao hình ảnh của chú nghé con ấy không rời khỏi tâm trí tôi. Sao mà chú giống tổ quốc tôi đến vậy! Chắc chú cũng đau đớn lắm, có ai cảm được nỗi đau của chú không? Bị cắn đầu, cắn đuôi, rức thịt rức da; tổ quốc tôi cũng vậy, thác Bản Giốc mất tức tưởi, Hoàng Sa mất đau đớn, ngư trường mất, Cao nguyên mất… Bầy trâu chắc nghe được tiếng rên của chú nghé con. Có ai nghe được tiếng kêu của tổ quốc tôi không? Một trăm năm nữa qua đi, các cô bé cậu bé sẽ nghĩ gì khi đọc lại lịch sử những năm tháng đen tối này? Chúng sẽ nghĩ gì về thế hệ cha anh của chúng? Câu chuyện về vị nguyên soái đòi được chém đầu trước khi hàng giặc sẽ chỉ là huyền thoại. Những buổi chiều chạng vạng cánh dơi, sẽ không còn cậu bé Lưu Quang Vũ nào tìm ra bãi sông, ngồi lắng nghe tiếng trống thúc trận; tiếng những hồn người xưa nói chuyện với cậu về những Đông bộ đầu, Chương Dương độ, Hàm tử quan… Ôi! “Bao gương mặt ngày xưa/Bây giờ ai nhớ nữa?”[2] - - - [1] Nhất định thắng - Trần Dần [2] Đất nước đàn bẩu – Lưu Quang Vũ
......

Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội và Sài Gòn ngày Chủ Nhật, 09.12.2012.

Bất kể tình trạng công an bao vây rất nhiều nhà yêu nước từ mấy ngày trước, cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lược vẫn diễn ra tại Sài Gòn và Hà Nội. Tin từ Hà Nội:   9h30′: Đoàn biểu tình khoảng 300 người đang đi trên đường Tràng Thi hướng về sứ quán TQ. 8h55’: Nhiều người tham gia biểu tình, có blogger Nguyễn Tường Vy cùng nhiều blogger khác đang ở đối diện Nhà Hát lớn, trên sân khấu vẫn đang có ca nhạc, có vài chục người đứng xem. 8h45′: Độc giả Mongun cho biết trong comment, “Nhà riêng bà Lê Hiền Đức ở số 7 ngõ 56 phố Pháo Đài Láng, HN có chốt gác suốt đêm qua. Lúc 23h00 bà đi ra khỏi nhà thì bị chặn lại, khiến bà phải quay về. Hai lần bà gọi taxi đều đến đón nhưng sau đó bị CS khu vực không cho dừng đỗ để bà lên xe. Sau khi ngồi tạm ở nhà hàng xóm chờ yên ắng trở lại thì vẫn thấy lính canh. Lúc 03h00, sau nhiều lần gọi taxi không dừng, bà đã ở lại trong nhà. Cụ bà Lê Hiền Đức cho biết CAHN sẽ hội ý để đưa bà ra Nhà Hát lớn sáng nay, mà không để bà đi một mình. Bà lê Hiền Đức tuyên bố: Nếu 09h00 không thấy bà ra được NHL Tp HN, khi ấy đã có chuyện xảy ra tại tư gia nhà bà“. Một độc giả nhắn tin từ cụ Lê Hiền Đức: “Bà khóa cửa nhà từ 3h15’, nhưng bọn ‘chó săn’ theo bà từng bước, bà đi vòng vèo mãi đến 5h bà quay về nhà và gọi điện cho bọn lãnh đạo, bà tuyên bố: ‘tao không phải là tội phạm, tao không bị quản chế, vậy không thằng nào ngăn được tao đi… tao thà chết VINH còn hơn sống NHỤC. Tao sẵn sàng đổ máu với bọn chó săn… Đến giờ này thì an ninh đang trao đổi để cử người cùng bà đến Nhà Hát lớn và đề nghị bà về sớm. Nếu đến 8h mà không trả lời và có người đưa bà đi thì ‘Bà sẵn sàng đổ máu’ với bọn này. Chúng nó đang điều y tế đến hỗ trợ”. - Từ trong nhà cụ Lê Hiền Đức thông báo đến nhà báo Trần Quang Thành: “Bây giờ là 8h sáng Chủ nhật 9/12, công an đủ loại đang bao vây dầy đặc nơi ở của cụ Lê Hiền Đức, không cho  cụ ra khỏi nhà để dến nhà hát lơn  tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lươc . Công an đã diều động cả xe cứu thương đến trước cửa nhà cụ Đức“. 8h15′: Có khoảng 10 xe CA bao quanh trước tượng Lý Thái Tổ, rất nhiều biển cấm quay phim, chụp ảnh. Khoảng 100 đoàn viên TN mặc đồng phục và hướng dẫn nhau tập thể dục trước tượng đài.  Trước tượng Cảm Tử cho TQ Quyết sinh, có 2 xe tải nhỏ của CS án ngữ. Có cả ông Cường, đội trưởng CA quận Hoàn Kiếm cùng hơn chục CA chìm, nổi. 8h05′: Nhà hát TP đã mở nhạc lớn, có hàng rào sắt bao quanh, vài chuc đoàn viên TN mặc thường phục lẫn với CA mặc sắc phục.  Một xe phát sóng truyền hình trực tiếp cho chỉ huy CAPT, 1 xe buýt đỗ ngay gần đấy có lẽ để bắt người. 7h55′: Quanh sứ quán TQ có đông CA và dân phòng nhưng chưa thấy CS cơ động. Có 2 xe buýt lớn đỗ trước tượng Lenin. Rất đông thanh niên tập trung ở Viện Bảo tàng Quân Đội, đối diện vườn hoa Lenin, có lẽ để phản biểu tình. 7h: “Có một vụ cháy rất lớn ở Dốc Đoàn kết, xe chữa cháy đang đổ dồn về”. Hy vọng không phải là một vụ “tự thiêu” tài sản để đổ thừa cho “các thế lực thù địch”, liên quan chuyện biểu tình hôm nay. 6h45′: “Tại Nhà hát lớn các kỹ thuật viên đã lắp loa thùng và đang thử nhạc.“ 5h55′: “Lúc 5h30 tại vườn hoa Lenin bà con vẫn tập thể dục, không có công an cảnh sát. Tại Nhà hát Lớn cũng không có công an ngoại trừ vài anh dân phòng ngồi gác cả đêm, không có rào chắn ở khu vực các ngã tư vào NHL.” 4h45′: 1 CTV cho biết, đã thấy xe ô tô chở đầy CSCĐ đủ trang phục đi qua ĐSQ Trung Quốc. 5h: Công an quận Hoàn Kiếm đã có những xe tải nhỏ chở hàng rào sắt. 4h15‘: CTV cho biết: “khu vực 46 Hoàng Diệu, không rào chắn. Trừ đầu Trần Phú vẫn có rào sắt như mọi khi”. by basamnews   Tin từ Sài Gòn: 9h: Có mặt GS Chu Hảo, Bùi Văn Nam Sơn, dịch giả Đôn Phước, Hoàng Dũng (boxit), Thế Thanh (SGTT), ông Huỳnh Tấn Mẫn lên diễn thuyết và hô khẩu hiệu, mọi người hô theo và hát theo. Lực lượng thanh niên áo xanh xông vào xô đẩy, và cuối cùng mọi người đã bị giải tán sau 10’. 8h55’: Hiện mọi người đã vào được trong hội trường, đang hát bài Tự Nguyện: “Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng… Nếu là người tôi sẽ chết cho quê hương”. 8h49′: SG đã bắt đầu. Ông Huỳnh Tấn Mẫm dẫn đầu, đã vào được Nhà hát Thành phố. 8h45′: Không vô được nhà hát. Mọi người tách ra làm 2 nhóm, 1 nhóm hiện đang đi trên đường Đồng Khởi gồm có ông Lê Công Giàu, Đinh Kim Phúc. 8h05′: 1 CTV cho biết, “GS Tương Lai và vợ chồng ông Tống Văn Công bị bắt vào CA phường Tân Phong, Quận 7″. 7h25′: GS Tương Lai, một trong 5 người ký tên đại diện cho 42 nhân sĩ trí thức trong bản Thông báo vừa gửi “Cấp báo. Ngày hôm qua Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP HCM Lê Minh Trí tiếp chúng tôi với thái độ rất hòa nhã. Những tưởng sau cái bắt tay nồng nhiệt với người đại diện cho chính quyền Thành phố, chúng tôi sẽ được tự do biểu thị lòng yêu nước của mình trước những hành động láo xược của nhà cầm quyền Trung Quốc, vi phạm trắng trợn chủ quyền của đất nước ta. Nhưng sáng nay, ngay bây giờ, trên đường đi đến Nhà hát Thành phố, chúng tôi bị an ninh vây quanh xe taxi, không cho chuyển bánh. Chúng tôi được biết các anh Lê Công Giàu, Lê Hiếu Đằng cũng đang bị an ninh vây chặt, không cho ra khỏi nhà. Vậy xin cấp báo cho công luận trong và ngoài nước được biết. Tương Lai”. 7h20′: Nhà thơ Đỗ Trung Quân nhắn tin: “Toi bi tum roi”. Ôi! Quê hương có còn những chùm khế ngọt nữa không anh? 6h50′: “Trước quảng trường Nhà hát lớn TP, người ta đang sắp xếp ghế ngồi”. Để phục vụ cuộc mít tinh phản đối Trung Quốc? 6h40′: Nhà thơ Đỗ Trung Quân từ KS Continental-Saigon điện thoại cho biết: “Khắp khu vực quanh Nhà hát Lớn TP đã bị rào chắn, công an dày đặc. Ngoài 2 vị Lê Hiếu Đằng, Lê Công Giàu, còn có ông Cao Lập đã bị công an chặn lối ra khỏi nhà. Ông Huỳnh Tấn Mẫm có thể đã thoát, gọi điện thoại ông không nghe, có lẽ để tránh bị công an dùng kỹ thuật định vị”. 5h45′: Ông Lê Hiếu Đằng, cựu Phó Chủ tịch MTTQVN-TPHCM, một trong 5 vị đứng tên đại diện trong bản Thông báo mít tinh, bị thành ủy “mời’ chiều qua, vừa gửi Email: “Hiện nay công an đang gác nhà tôi và anh Lê Công Giàu, không cho ra. Sẽ tìm cách thoát vòng vây. Ha ha … vui quá!”   (Cầu Nhật Tân). Công an giật xé các biểu ngữ chống Trung Quốc xâm lược.  
......

TÌNH THẾ QUÁ HIỂM NGHÈO, TỰ ĐẢNG LO KHÔNG NỖI ĐÂU !

Hào khí Diên Hồng làm nên chiến thắng trước quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Vụ căt cáp tàu thăm dò Bình Minh 02 mới đây là một trong chuổi hành động mà TC sẽ triển khai để chiếm đoạt biển Đông trên thực tế. Và Việt Nam đang đứng bên bờ vực của sự tồn vong. Theo thông tin từ tàu Binh Minh được các báo đăng tải chính thức thì vụ cắt cáp vừa rồi do các tàu đánh cá của TC vào tận vùng lãnh hải của ta gây ra. Điều đó có nghĩa là hàng vạn tàu đánh cá của TC đang ngang nhiên hoạt động trong phạm vi đường lưỡi bò phi pháp mà TC đơn phương áp đặt lên gần hết biển Đông, xâm phạm lên vùng lãnh hải của ta và đương nhiên xem Trường Sa là của họ. Như vậy đường lưỡi bò phi lý không còn là hình vẽ trên bản đồ nữa mà  đang từng bước được hình thành và cũng cố trên thực tế bằng nhiều biện pháp công khai và xảo quyệt của TC. Họ ngang nhiên đưa tàu giám ngư, hải giám, tàu đánh cá, tàu thăm dò, giàn khoan, phân lô lãnh hải của ta để gọi thầu thăm dò...để đến ngày 1.1. 2013 chính thức đưa tàu cảnh sát ra tuần tra và tuyên bố đuổi bắt, khám xét tất cả các tàu thuyền của VN ra biển của ta mà họ cho rằng xâm phạm lãnh hải áp đặt theo đường lưỡi bò của họ. Và đàng sau tất cả các tàu bè đó là tàu quân sự của họ. Chính vì lẽ đó mà vừa rồi mấy tàu đánh cá của họ ngang nhiên cắt cáp tàu Bình Minh mà các tàu bảo vệ của ta không dám đụng đến. Khi tàu cảnh sát TC tung ra tuần tra thì đừng hòng các tàu thuyền của ta ra khơi hoạt động và làm ăn gì nữa. Hàng hải, dầu khí, ngư nghiệp, tài nguyên....đều mất sạch. Như vậy, nếu không có gì thay đổi, thì đến ngày 1.1.2013, ta chính thức mất biển Đông trên thực tế. Một khi đã mất biển Đông thì nguy cơ mất nước cận kề. Việt Nam đang ở vào tình thế vô cùng nguy kịch. Đối phó trước hành động xâm lăng ngày càng leo thang và ngang ngược đó, đảng và nhà nước đã làm gì? Hầu như là hoàn toàn nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn đến kinh ngạc, vượt qua ngưỡng của lòng tự trọng và không biết đã chạm đến đáy chưa? Nếu như sự nhẫn nhịn ấy làm cho TC xót thương dừng lại việc chiếm đoạt biển Đông thì nhân dân sẵn sàng đồng tình ủng hộ. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại. Nhà cầm quyền VN càng nhẫn nhịn, TC càng lấn tới, và kết quả như ngày hôm nay ta đang thấy. Mất biển Đông đang trở thành hiện thực. Vì thế mà sự nhẫn nhịn của đảng và nhà nước cộng thêm việc bưng bít thông tin và hơn thế nữa là việc thẳng tay đàn áp những người yêu nước có hành động tích cực phản đối Trung cộng đã dấy lên trong lòng người dân sự nghi ngờ về động cơ nhẫn nhịn ấy. Do những tác động từ phía đảng và nhà nước, người dân hiện nay bị phân hóa thành các bộ phận theo các xu hướng sau đây: - Quá chán ngán vì mất lòng tin nên phó mặc cho đảng và nhà nước làm gì thì làm, TC làm gì thì làm, mọi chuyện đều gác ngoài tai. - Tin tưởng mù quáng vào đảng và nhà nước nên yên tâm phó thác cho đảng và nhà nước lo, tự dối lòng mình để được yên ổn lương tâm trước nguy cơ mất nước - Vì bị bưng bít thông tin, không được kích hoạt lòng yêu nước nên hoàn toàn thờ ơ trước thời cuộc, không hề biết gì, chỉ biết chăm lo riêng tư hoặc lo hưởng thụ cá nhân. - Bộ phận nhiệt tình yêu nước, thấy rõ âm mưu xâm lược của Trung cộng thì lại bị đàn áp nhiều quá nên cũng trở nên chán ngán, oán ghét và nghi ngờ xa lánh đảng và nhà nước. Tóm lại đứng trước nguy cơ mất nước mà hầu như toàn dân đều thờ ơ đứng ngoài cuộc, phó mặc cho giới cầm quyền muốn làm gì thì làm, không hề quan tâm tới. Nếu có ai đó còn quan tâm thì sự quan tâm ấy cũng hời hợt chuyển hóa thành những phản ứng mang tính đùa cợt, châm biếm, chua cay... Sức mạnh quân sự, âm mưu xảo quyệt của giặc là rất nguy hiểm nhưng vẫn không nguy hiểm bằng sự thờ ơ của lòng dân. Ta đang đứng trước sự hiểm nghèo cùng cực vì đang đối diện với cả hai. Không thể nào để chậm trễ hơn nữa, đã đến lúc đảng và nhà nước phải có những động thái kích hoạt lòng yêu nước của toàn dân. Hãy thôi bưng bít thông tin về nguy cơ mất nước, thôi cấm đoán người dân được bày tỏ thái độ trước quân xâm lược, thôi bắt bớ những người yêu nước tích cực... Đừng để cho người dân thờ ơ trước vận mệnh của đất nước. Tự đảng không đủ sức chống lại sự xâm lược của bọn bành trướng phương Bắc. Một khi toàn dân đoàn kết đứng lên thì  kẻ thù sẽ giảm đi sự nguy hiểm. Sức mạnh đánh giặc cũng ở trong dân và kế sách đánh giặc cũng ở trong dân. Xin hãy tin vào dân. Nhanh lên chứ không còn kịp nữa. nguồn:http://huynhngocchenh.blogspot.com/2012/12/
......

Luật sư Nguyễn Văn Đài viết cho các thanh niên Công giáo và Tin lành sắp bị đem ra xét xử

(TNCG) Ngày 18 tháng 9 năm 2012, Viện kiểm sát tối cao đã ký bản cáo trạng số 09/VKSTC-V2 để truy tố 14 thanh niên Công giáo và Tin lành với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” quy định tại điều 79 Bộ luật Hình sự. Sau khi nghiên cứu kỹ bản cáo trạng đã được đăng tải trên Internet. Với kinh nghiệm và sự hiểu biết của mình sau nhiều năm là luật sư trong lĩnh vực nhân quyền, tôi đưa ra quan điểm của mình về vụ án này như sau.   Bản cáo trạng dài 19 trang dựa trên kết luận của cơ quan điều trađã nêu lên những hành vi của 14 thanh niên Công giáo và Tin lành là tham gia các khóa huấn luyện về “đấu tranh bất bạo động”, kỹ năng thuyết phục người khác tham gia vào đảng Việt Tân, kỹ năng tuyên truyền về tự do, dân chủ và nhân quyền cho người khác. 14 thanh niên này đã tìm hiểu và tham gia vào đảng Việt Tân. Bản cáo trạng kết luận rằng những thanh niên này tham gia đảng Việt Tân nhằm lật đổ chính quyền Nhà nước Việt Nam. Bởi vậy họ đã vi phạm điều 79 Bộ luật Hình sự.   Như vậy theo cáo buộc của các cơ quan tư pháp của Việt Nam thì hành vi của 14 thanh niên Công giáo và Tin lành nói trên đã vi phạm pháp luật và cấu thành tội danh được qui định tại điều 79 Bộ luật Hình sự. Nhưng khi chúng ta đối chiếu hành động, việc làm của 14 thanh niên này với các qui định về các quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam 1992 thì chúng hoàn toàn phù hợp.   Theo qui định tại điều 69 Hiến pháp Việt Nam năm 1992, công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận tức là công dân có quyền tự do về tư tưởng, quan điểm, chính kiến chính trị. Đồng thời công dân cũng có quyền tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến chính trị của mình với người khác. Điều 69 Hiến pháp còn qui định công dân có quyền hội họp, lập hội tức là công dân Việt Nam có quyền hội họp với nhau để cùng nhau thảo luận về mọi vấn đề của đất nước. Họ cũng có quyền tham gia hay thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị.   Điều 52 qui định “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”; điều 63 qui định “công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,…” Như vậy rất rõ ràng là ở Việt Nam hiện nay có gần 90 triệu dân thì hơn 3 triệu công dân đã có quyền thành lập đảng và tham gia đảng Cộng sản và hơn 80 triệu công dân còn lại có quyền tham gia và thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị khác.   Mục đích của những công dân tham gia hay thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị là để thực hiện quyền công dân được tham gia quản lý Nhà nước và xã hội được qui định tại điều 53 Hiến pháp 1992. Và thực hiện quyền lực của nhân dân đối với Nhà nước được qui định tại điều 2 Hiến pháp 1992.   Điều 4 Hiến pháp qui định đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Điều này có đảm bảo quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng sản hay không?   Điều 53 Hiến pháp qui định “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật.” Như vậy về mặt lý thuyết thì điều 4 Hiến pháp không đảm bảo quyền lực tuyệt đối cho đảng Cộng sản trong trường hợp cuộc bầu cử quốc hội có rất nhiều ứng cử viên tham gia không phải là đảng viên đảng Cộng sản.Và nhân dân đã lựa chọn và bỏ phiếu cho đa số các ứng cử viên không phải là đảng viên đảng Cộng sản. Khi quốc hội mới nhóm họp, các đại biểu chiếm đa số không phải là đảng viên đảng Cộng sản sẽ tiến hành sửa đổi Hiến pháp.Và khi sửa đổi Hiến pháp, họ hoàn toàn có quyền sửa đổi hay hủy bỏ điều 4, cũng như thay đổi hệ thống chính trị tại Việt Nam.   Như vậy, qua các phân tích trên chúng ta thấy rằng việc quyết định ai, tổ chức, đảng phái chính trị nào là lực lượng lãnh đạo đất nước, hệ thống chính trị như thế nào là hoàn toàn do nhân dân quyết định thông qua bầu cử nếu Hiến pháp Việt Nam được thực thi dân chủ và công bằng trong thực tiễn.   Việc 14 thanh niên Công giáo và Tin lành đã tham gia các khóa học đấu tranh bất bạo động, tham gia vào đảng Việt Tân là họ thực hiện các quyền công dân đã được Hiến pháp Việt Nam 1992 qui định. Đấu tranh chính trị bất bạo động là hình thức đấu tranh hòa bình, phi bạo lực nhằm mục đích thay đổi đất nước, xã hội theo chiều hướng tự do, dân chủ và tiến bộ hơn. Hình thức đấu tranh chính trị bất bạo động được cộng đồng quốc tế ủng hộ.Những thanh niên nói trên thực hiện đấu tranh chính trị bất bạo động để phát huy quyền làm chủ đất nước của công dân.Để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh là phù hợp với Hiến pháp Việt Nam.   Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là khoảng 8 triệu tín đồ của Công giáo và Tin lành hy vọng rằng các cơ quan tư pháp của Việt Nam, chính phủ Việt Nam và đảng Cộng sản Việt Nam thay đổi nhận thức và quan điểm về pháp luật, chính trị để tôn trọng và bảo đảm các quyền con người được Hiến pháp qui định sẽ được thực thi trên thực tiễn.   Nhân ngày quốc tế Nhân quyền và Lễ Giáng sinh đang đến gần, những người Công giáo và Tin lành hãy đoàn kết và cùng nhau cầu nguyện để Thiên Chúa chúc phước và ban sự bình an cho những người anh em đang bị giam cầm và người thân của họ. Cầu nguyện cho đất nước được thay đổi và những người đang bị giam cầm được tự do.   Hòa bình, công lý và các quyền con  người phải được thực thi trên đất nước Việt Nam. Hà nội, ngày 6 tháng 12 năm 2012.   Luật sư Nguyễn Văn Đài.  http://thanhnienconggiao.blogspot.de/2012/12/luat-su-nguyen-van-ai-viet-...">http://thanhnienconggiao.blogspot.de/2012/12/luat-su-nguyen-van-ai-viet-...
......

Trung Quốc lùi bước trước sức ép của quốc tế nhưng vẫn lấn tới với VN tại Biển Đông ?

Theo hãng tin Reuters, vào hôm nay, 05/12/2012, ông Ngô Sĩ Tồn, lãnh đạo sở Ngoại Vụ tỉnh Hải Nam, kiêm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải, một cơ quan tham vấn cho chính quyền Bắc Kinh về Biển Đông, đã công nhận rằng: Các quy định mới về chận xét và xua đuổi tàu ngoại quốc - được tỉnh này thông qua vào hạ tuần tháng 11/2012 - chỉ là một sáng kiến cấp tỉnh chứ không phải là sáng kiến của Bắc Kinh. Ngô Sĩ Tồn nói rõ thêm là các quan chức tỉnh của ông « chắc chắn sẽ phải báo cáo lên trên và sẽ phải xin ý kiến…»  Như đã phát biểu gần đây với đặc phái viên nhật báo Mỹ New York Times, Ngô Sĩ Tồn đã nhắc lại rằng các quy định mới được cơ quan luật pháp Hải Nam thông qua vào tuần trước, một phần là nhằm đối phó với sự gia tăng của các tàu đánh cá Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa của VN, mà Trung quốc tiếm nhận là chủ quyền sau khi dùng vũ lực chiếm đóng từ ngày 19.01.1974. Nhưng trong một lập luận khác nhằm chia rẽ VN với các nước khác, Ngô Sĩ Tồn đã nhắc lại lời hứa của chính quyền Bắc Kinh: « Trung Quốc đã cam kết là tàu thuyền ngoại quốc luôn được hưởng quyền tự do lưu thông tại vùng Biển Đông, không hề bị ảnh hưởng của các quy định mới đó, cũng như không bị tác động của các tranh chấp chủ quyền ».  Theo một số nhà phân tích, sau hàng loạt các phản ứng quan ngại của Hoa Kỳ, Ấn Độ, Singapore, Indonesia, cho đến Việt Nam, Philippines,…và thúc giục Bắc Kinh làm rõ quy định khám soát tàu thuyền nước ngoài do tỉnh Hải Nam đưa ra, phải chăng những tuyên bố đầy tính trấn an trên đây của Trung Quốc có thể là dấu hiệu cho thấy là Bắc Kinh có phần lùi bước sau khi đã tung ra một quả bóng thăm dò ? Tưởng cũng cần nhắc lại, vào lúc 4 giờ 05 phút, rạng sáng 30/11, tàu Bình Minh 2 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) bị các tàu Trung Quốc phá hoại cáp thu nổ địa chấn tại gần vùng biển gần đảo Cồn Cỏ. Trên màn hình radar của tàu Bình Minh 2 có thể thấy rất rõ các chấm tròn, màu sáng, hiển thị hàng mấy chục tàu cá Trung Quốc "bủa vây" tàu Việt Nam. Theo Phó ban của PVN Phạm Việt Dũng, gần đây rất nhiều tàu Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lượt chiếc. Nhưng lần này là thủ đoạn mới, vừa đánh bắt hải sản trái phép, vừa cản trở, phá hoại tài sản của tàu Bình Minh 2 ngay trong vùng biển Việt Nam.
......

‘ HÃY NỔI GIẬN ! ’

‘Indignez-vous!’ hay hiện tượng Hessel ở Pháp. Tại sao vẫn chưa có « cách mạng mùa Xuân » ở VN? Một hiện tượng bất ngờ trong sinh hoạt văn hoá ở nước Pháp: một cuốn sách mỏng của của Stéphane HESSEL, ‘Indignez-vous!’ (Hãy phẫn nộ!) dự tính bán vài trăm bản, đã phá kỷ lục ấn hành: Trên bốn triệu cuốn và tiếp tục gây tranh luận sôi nổi. Tác giả, một ông già 93 tuổi, hô hào mọi người hãy nổi giận, hãy đứng dậy chống lại tất cả những bất công, những lộng hành của giới thống trị, tài chính hay chính trị đang đè nặng lên đầu mỗi người. Nổi giận, theo Hessel, là điều kiện tối cần để con người còn là con người, để xã hội khỏi phá sản. Hãy dẹp thói an phận thủ thường, thụ động, hãy đứng dậy cầm vận mệnh mình trong tay ! Người ta áp bức, bóc lột anh bởi vì anh chấp nhận. Khả năng phẫn nộ là điều kiện tối cần để anh trở thành, hay tiếp tục, là người có nhân phẩm và một quốc gia không trở thành một quốc gia chết.   Người Việt có , -hay còn - khả năng phẫn nộ hay không là câu hỏi và vài suy nghĩ vụn vặt trong bài này. Phải chăng cường độ phẫn nộ của dân Việt không đủ mạnh là một trong những lý do tại sao Việt Nam vẫn chưa có biến chuyển lớn như ở Trung Đông hay Bắc Phi ?   NHU CẦU PHẪN NỘ Cuốn sách mỏng của S.Hessel, do một nhà xuất bản bỏ túi, Indigènes, ở Montpellier, miền Nam nước Pháp (trong khi sinh hoạt văn hóa tập trung ở Paris), không một dòng quảng cáo, mới đầu bán ở những tiệm sách tỉnh lẻ, dần dần nhờ truyền miệng, trở thành một hiện tượng văn hoá xã hội, được dịch trên 30 thứ tiếng. Hessel từ chối nhận bản quyền, và nhà xuất bản hứa sẽ dùng số tiền bán sách để in những tác phẩm có thể giúp cải thiện xã hội.   Những tay nhà nghề trong giới ấn loát lắc đầu chịu thua : cuốn sách đứng đầu các danh sách best sellers từ gần một năm nay không phải là tác phẩm của những nhà văn ăn khách như Houellebecq, Jardin, Delerm, không phải là tiểu sử tài tử show biz, không phải sách dạy cách ăn uống cho khỏi mập, không phải là một chuyện tình ướt át, hay một tiết lộ động trời, thật hay bịa, không nói về cuộc đời tình ái náo nhiệt của DSK. Đó là cuốn sách rất khô khan của một ông già gần trăm tuổi hô hào dân chúng nổi giận, hô hào thanh niên đừng thụ động như những ông cụ non.   Hessel không phải là triết gia, không phải là nhà văn, cuốn sách rất mỏng của ông không phải là một tác phẩm lớn, nhưng cuốn “Indignez-vous” bán chạy như bánh mì, vì nó đáp ứng một nhu cầu người ta tưởng là thứ yếu : nhu cầu phẫn nộ .   Người ta mua tặng quà cho nhau nhân ngày Giáng sinh, ngày sinh nhật, trong đó nhiều người chưa hề mua, chưa từng mở một cuốn sách. Những phong trào phẫn nộ (les indignés) đã lan sang nhiều nước Âu Châu, như Hy Lạp, Tây Ban Nha (les indignalos) , hay phong trào Occupy Wall Street ở New-York, trước cửa những ngân hàng thủ phạm của cuộc khủng hoảng kinh tế làm thế giới điêu đứng.   Hessel là người suốt đời nổi giận. Sinh năm 1917 ở Đức, gốc Do Thái, quốc tịch Pháp đã tham gia kháng chiến chống phát xít Đức. Bị bắt giam ở nhà tù phát xít nổi tiếng Buchwall, bị kết án tử hình, ông tráo căn cước của một người tù vừa chết bị án nhẹ hơn và vượt ngục. Sau chiến tranh, ông trở thành đại sứ của Pháp ở Liên Hiệp Quốc và tham dự việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Về hưu, ông già Hessel là một khuôn mặt quen thuộc trong những cuộc biểu tình cho nhân quyền, biểu tình bênh vực người di dân, bênh vực Palestine mặc dầu ông gốc Do Thái. Ở đâu có phẫn nộ, có bất công, ở đó có ông già Hessel.   Sau khi cuốn Indignez-vous ! trở thành một hiện tương xã hội, người ta trách tác giả chỉ xúi thiên hạ nổi giận mà không có đề nghị gì cụ thể, Hessel viết một cuốn sách mỏng khác : Engagez-vous (2) (Hãy tham gia hành động!), trong đó ông đề nghị tranh đấu đòi thành lập Tổ chức Thế giới về môi sinh, và một Chính phủ toàn cầu (gouvernement mondial ). Một mơ ước hão huyền ( utopie )? Tất cả những thay đổi lớn trong lịch sử, theo Hessel, đều là những utopie khi khởi sự.   Cuốn thứ ba, le Chemin de l’Espérence (Con đường của hy vọng) (3), viết chung với nhà xã hội học hàng đầu của Pháp, Edgar Morin, trong đó hai ông già, tổng cộng 184 tuổi vạch ra con đường hy vọng để đi đến một tương lai tốt đẹp hơn.   IL FAUT VIVRE INDIGNE   Hessel nối tiếp truyền thống của trí thức Zola, Camus. Emile Zola viết : Il faut vivre indigné ! (phải sống phẫn nộ). Từ Zola, trí thức đích thưc là trí thức tham dự sinh hoạt xã hội, chính trị để cải thiện xã hội, không phải chỉ là những người có kiến thức. Ở Việt Nam, ngay cả kiến thức cũng không cần thiết. Trí thức chỉ cần có bằng cấp. Học gạo, học tủ, chong đèn học thuộc lòng, có xong cái bằng là trở thành trí thức, là khuôn vàng thước ngọc. Có bằng vừa vừa là trí thức vừa vừa, có bằng to hơn là đại trí thức… Trí thức vừa vừa được kính trọng vừa vừa, đại trí thức được kính cẩn tối đa.   Albert Camus nói trí thức cũng như mọi người, hơn mọi người chính bởi vì anh là trí thức, phải ghé vai gánh vác như mọi người, phải đổ mồ hôi chèo thuyền như mọi người. Khác hẳn hình ảnh trí thức ‘võng anh đi trước, võng nàng theo sau’ của người VN, có cái bằng bỏ túi là vinh hiển suốt đời, phó mặc chuyện đời cho thiên hạ.   Cuốn sách của Hessel ra đời trước khi cách mạng hoa lài bùng nổ ở Tunisie, mở đầu cho ‘mùa Xuân Ả Rập’ đang quét sạch những chế độ độc tài ở Bắc Phi và Trung Đông. Cùng một lúc, từ Đông sang Tây, thế giới đang chuyển mình, đang tìm một hướng đi mới. Đã tìm ra lối ra chưa, đã thoát khỏi đường hầm chưa là chuyện khác. Bước đầu là ý thức mình có quyền phẫn nộ, có bổn phận phẫn nộ, và sự phẫn nộ có thể thay đổi thời cuộc, có thể và đã lật đổ những chế độ độc tài đã ngự trị từ lâu và tưởng sẽ ngự trị mãi mãi, như ở Ai Cập, Tunisie, Lybie.   Trước đó vài tuần, ai dám tưởng tương Moubarak sẽ bị kết án khổ sai chung thân, ông Ali phải cuốn gói bỏ của chạy lấy người, Khadafi bị bắn chết . Trước đó vài tuần, họ nắm toàn quyền sinh sát, nắm quân đội, cảnh sát, hành pháp, lập pháp, tư pháp, nắm trọn kinh tế, tài chánh trong tay. Cái gì đã quét sạch tất cả: sự phẫn nộ của quần chúng, của những người hàng ngày chỉ biết an phận, cúi đầu .   Các chế độ độc tài không mạnh như người ta tưởng. Chỉ cần sự phẫn nộ của người dân, các lãnh tụ độc tài Trung Đông, Bắc Phi, một sớm một chiều, đã trở thành những con hổ giấy. TỪ MIẾN ĐIỆN TỚI VN   Tại sao có cách mạng ở Trung Đông, ở Miến Điện mà ở VN chưa có “cách mạng muà Xuân”, mặc dù đã hội tụ đủ mọi điều kiện : bế tắc chính trị, khủng hoảng kinh tế, sa đọa xã hội, và ghê gớm, khẩn cấp hơn nữa, hiểm họa mất nước?   Lấy thí dụ Miến Điện. Tại sao có thay đổi ở Miến Điện? Những yếu tố hiển nhiên: Miến Điện sẽ làm chủ tịch ASEAN 2014, tinh thần quốc gia gần như cực đoan của giới quân phiệt cầm quyền (độc tài, tham nhũng không thua ai, nhưng vẫn yêu nước) thấy hiểm họa Trung Cộng trước mắt. Giới quân phiệt muốn nhích lại với Tây phương, không thể không nhượng bộ, không thể tiếp tục giam tại gia bà Aung Suu Kyi, khuôn mặt khả ái, khả kính của nhân quyền ở Miến.   Rất nhiều người VN lên đường chống thực dân vì lòng ái quốc, nhưng đảng Cộng sản đã đưa VN vào quỹ đạo Nga, Hoa, nhất là Hoa, ngày nay tập đoàn lãnh đạo bắt buộc phải bám vào Trung Cộng để sống còn, để bảo vệ quyền lợi. Bi đát hơn nữa : có muốn ra khỏi quỹ đạo cũng quá trễ. Cái thòng lọng Tầu đã xiết chặt cổ.   Đó là những yếu tố chính trị. Yếu tố văn hoá : người VN không có truyền thống phản kháng. Văn hóa VN không phải là văn hóa phẫn nộ của Stéphane Hessel. Văn hoá VN là văn hóa “một sự nhịn, chín sự lành”. Cái văn hóa “tránh voi chẳng hổ mặt nào ” giúp con voi càng ngày càng thô bạo.   Cái thói quen chịu đựng, cộng thêm với văn hoá Khổng giáo, đúng hơn là Tống nho, coi vua là con trời, hơn cả cha mẹ, và “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, đã biến chúng ta thành những người thụ động.   Câu hỏi đặt ra : tại sao cách mạng ở Tunisie và Ai Cập mà vẫn không có biến chuyển ở VN. Hai dân tộc Tunisie và Ai Cập được coi là hai dân tộc thụ động nhất ở Bắc Phi và Trung Đông. Tôi nhớ một buổi trò truyện với một số người Tunisiens sống ở Paris. Tất cả đều có bằng cấp cao, theo con mắt VN, đó là những nhà trí thức. Khi tôi hỏi về tình hình chính trị ở Tunisie, không ai trả lời, lảng sang truyện khác. Sau bữa ăn, khi mọi người ra về, còn lại một người, Ahmed , ông ta cho hay là chính trị xứ ông ta nát bét, dân chủ chỉ là trò bịp, tham nhũng khủng khiếp. Tại sao vừa rồi ông ta không nói gì? Ahmed cười, hơi ngượng, nếu anh nào phát biểu bừa bãi, sẽ có đứa báo cáo tòa đại sứ và hết về nước nghỉ hè. Hai tuần sau, Bouazizi tự thiêu, ngọn lửa phẫn nộ bùng lên, gia đình tổng thống Ali bỏ của chạy lấy người. Ngọn lửa phẫn nộ vượt biên giới, tràn sang Ai Cập và Lybie.   Tại sao những dân tộc được coi là thụ động có cái khả năng phẫn nộ dữ dội như vậy, mà ở VN chưa có? Có một hiện tượng tạm gọi là hội chứng (syndrôme) Algérie. Lửa cháy chung quanh, nhưng Algérie chưa động tĩnh gì, vì dân Algérien đã mệt nhoài, cả về thể xác lẫn tinh thần, chỉ muốn được yên thân. Sau khi dành độc lập khỏi tay thực dân Pháp, đất nước rơi vào tay độc tài , tập đoàn của những lãnh tụ kháng chiến cũ, những người kháng chiến vì lý tưởng độc lập, tự do,công bình, nhân ái, khi nắm quyền làm ngược lại, chứng minh công thức “quyền lực đưa tới tham nhũng. Quyền lực tối đa, tham nhũng tối đa”. Algérie giống VN một điểm nưã: lực lượng công an cảnh sát hữu hiệu. Ở Alger, sau biến cố Tunisie, nhà nước huy động 35.000 cảnh sát bao vây, giải tán 500 người biểu tình. Một ông phẫn nộ, 70 ông cớm!   Algérie có thêm một đại họa : khủng bố Hồi giáo đã gây kinh hoàng và làm tê liệt đất nước. VN (lạy Chúa, lạy Phật) không có khủng bố Hồi giáo, nhưng có đại họa khác làm tiêu tan khả năng phẫn nộ: văn hoá chu di tam tộc. Người Cộng Sản đã khôi phục cái văn hóa của thời man rợ. Anh có tội - sợ mất nước là một cái tội, khóc với dân là một cái tội, nghĩ và đòi quyền sống là một cái tội - không phải chỉ có anh lãnh hậu quả, mà cả gia đình vợ con, cha mẹ, gia đình anh bị liên lụy. Anh có can đảm cùng mình, có coi nhẹ tù đầy và cái quý nhất của con người là mạng sống, anh cũng bó thay khi nghĩ tới cái vạ sẽ đổ xuống đầu những người thân. Cái văn hóa chu di tam tộc nó man rợ nhưng hiệu quả. Hiệu quả bởi vì man rợ. Ai có thể tưởng tượng điều đó ở thế kỷ 21?   Những kỹ thuật đàn áp ghê rợn, điển hình là cuộc Cải Cách Điền Địa đẫm máu, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, những Toà án Nhân dân (!) , những trại cải tạo sau 75, đã tiêu diệt tinh thần phẫn nộ của người Việt.   SỰ MÒN MỎI CỦA LÒNG TRẮC ẨN   Bà Aung San Suu Kyi, trong bài diễn văn cách đây ít ngày ở Oslo than phiền những đóng góp cho các chương trình nhân đạo càng ngày càng giảm bớt. Bà Kyi nói: sự giảm sút đóng góp là kết quả cuả “sự mòn mỏi cuả lòng trắc ẩn ”. Thế giới sẽ đi về đâu, xã hội sẽ đi về đâu nếu không còn lòng trắc ẩn?   Người ta ngỡ ngàng trước cảnh một em bé bị xe nghiến trước sự dửng dưng của mọi người ở bên Tầu. Còn VN? Những chuyện tương tự xẩy ra hang ngày. Một thí dụ, trong những thí dụ : Một bà già bị xe cán, nằm ôm cái chân gẫy, rên rỉ. Nhiều người muốn can thiệp. Người lái xe xuống xe, quát: “Đ. M. Có biết ông là ai không?” Mọi người nín khe, bỏ mặc bà già nằm rên rỉ. Người kể chuyện kết luận : chưa chắc gã lái xe là ông lớn hay con cháu ông lớn.   Còn đâu là lòng trắc ẩn? Không còn trắc ẩn, làm sao có phẫn nộ? Đó chắc chắn là cái di sản ghê rợn nhất của những năm Cộng sản. Biến con người thành thành vô tâm, vô cảm. Bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để sống, thờ ơ trước bất công, lãnh đạm trước cái đau khổ của người khác.Những đổ vỡ về chính trị, về kinh tế có thể hàn gắn trong vài chục năm. Sự sa đoạ về con người, băng hoại văn hoá phải nhiều thế hệ mới hy vọng cứu vãn được. Nếu bắt tay cứu vãn trước khi quá trễ. Trước khi bị diệt vong.   THÁI ĐỘ XẤU NHẤT LÀ SỰ THỜ Ơ   Trong bối cảnh đó, phải khâm phục những người dám bày tỏ sự phẫn nộ cuả mình ở trong nước. Những người đấu tranh cho dân chủ, cho nhân quyền, những Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, những Hà sĩ Phu, Nguyễn Đan Quế và rất nhiều người khác.   Phải khâm phục những người nông dân mất đất đã tay không đứng dậy. Phải khâm phục những giáo dân, Phật tử đã xả thân đòi tự do tín ngưỡng. Phải khâm phục những bloggers, những nhà báo, những nghệ sĩ đã có can đảm nói lên sự thực. Phải khâm phục những người đã tranh đấu cho công nhân, ở trong nước hay bị bán ra ngoại quốc.   Cái trở ngại cho họ không chắc đã là chính sách đàn áp của người cầm quyền. Cái trở ngại cho họ là sự thờ ơ, thụ động của người chung quanh. Nhiều người tiếc VN không có một người như Aung Suu Kyi. Nhưng nếu bà Kyi là người VN, có bao nhiêu người đứng sau lưng bà như dân Miến. Những Lê thị Công Nhân tranh đấu trong sự cô độc. Cái bản tính thờ ơ, cố chấp, nghi kỵ, ganh ghét của người Việt, ngay cả giữa những người hoạt động cho dân quyền ở VN, đã khiến chúng ta chưa có Aung San Suu Kyi hay Nelson Mandela.   Hessel viết “thái độ xấu nhất là sự thờ ơ” (la plus mauvaise attitude est l’indifférence) và nhắc câu nói của Jean Paul Sartre : mỗi người, với tư cách cá nhân, có trách nhiệm với xã hội ( vous êtes responsables en tant qu’individus).   Sự thờ ơ, với rất nhiều người Việt Nam, đã trở thành một đức tính, một thái độ khôn ngoan của những người từng trải. Người ta hãnh diện, khoe khoang cái túi khôn của mình và dè bỉu cái dại dột của người khác. Ở những nước tân tiến, những người dại dột, những người ăn cơm nhà vác ngà voi, là những tác nhân làm cho xã hội tốt đẹp hơn, công bình hơn, làm cho con người đối với nhau còn là con người.   Sống trong sự hoài nghi thường trực, với sự thờ ơ như một nhân sinh quan khả kính, với tính thụ động như một mục tiêu, lòng trắc ẩn mòn mỏi, với sự vắng bóng của phẫn nộ, bao giờ VN có cách mạng muà Xuân như ở Bắc Phi, Trung Đông, thay đổi chính trị như ở Miến Điện?   Stéphane Hessel nói nếu anh sống dửng dưng, hãy tìm một lý do để nổi giận. Lý do để nổi giận không hiếm: sự lộng hành của tài phiệt đã đưa tới khủng hoảng kinh tế, sự bất công xã hội càng ngày càng ghê rợn, môi trường bị phá hoại… Với người VN, khỏi cần tìm kiếm, những lý do để nổi dậy đếm không nổi : độc tài, nhân quyền, tự do bị chà đạp, nhân công bị bán ra nước ngoài,sống như nô lệ, phụ nữ bị gởi đi bán dâm kiếm ăn, nông dân bị cướp đất, và hiểm hoạ đất nước sừng sững trước mắt.   Vụ Hoàng Sa, Trường Sa đã gây phẫn uất trong mọi giới. Một cơn gió mới. Hy vọng sự phẫn nộ đó sẽ là động lực đưa đến thay đổi ở VN. Thay đổi hay mất nước. Thay đổi hay là chết.  TỪ THỨC     ( 1 ) INDIGNEZ VOUS. Stéphane Hessel. Ed Les Indigènes, Montpelliers, France. 2010. Phát hành: Harmonia Mundi. Bản tiếng Anh: Time For Outrage. Hardoven Editions. ( 2 ) Engagez-vous. Stéphane Hessel. Editions de l’Aube. France. 2011. ( 3 ) Le Chemin de l’Espérence. S.Hessel § Edgar Morin. Ed Fayard. Paris. France. 2011.
......

Học Đấu Tranh Bất Bạo Động là Một Cái Tội???

Cái lo sợ lớn nhất của gia đình những thanh niên Công Giáo và Tin Lành đang bị công an CSVN bắt trái phép từ hơn 1 năm qua và đang bị giam tại Nghệ An là con em của họ sẽ bị đưa ra xét xử trong phiên tòa “Bỏ Túi” vào cuối năm nay, theo lá thư gửi cho công luận vào ngày 30 tháng 11 vừa qua. Đây không chỉ là lời báo động mà còn là lời cầu cứu khẩn cấp với dư luận trong và ngoài nước trước những hành vi chà đạp nhân quyền một cách trắng trợn của nhà cầm quyền CSVN qua một số vụ xử gần đây như vụ xử Blogger Điếu Cày, Tạ Phong Tần, Phan Tấn Hải hay hai nhạc sĩ Trần Vũ An Bình, Việt Khang.   Xác suất CSVN xử “Bỏ Túi” rất cao. Lý do là bản Cáo Trạng của Viện kiểm sát nhân dân tối cao Hà Nội: http://thanhnienconggiao.blogspot.com/2012/12/cong-bo-ban-cao-trang-vu-bo-tui-xet-xu.html  không có bất cứ luận chứng nào đúng luật, khi quy kết việc các thanh niên Công Giáo và Tin Lành này tham gia khóa học về đấu tranh bất bạo động do đảng Việt Tân tổ chức là “hành vi phạm tội”   Dựa trên “hành vi phạm tội” này, Viện kiểm sát CSVN đề nghị xét xử dựa trên điều 79 Luật Hình Sự là “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” với mức án từ 5 năm đến hai mươi năm, chung thân hay tử hình.   Từ chỗ đi học “đấu tranh bất bạo động”, công an CSVN đã quy chụp thành tội “hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân”, quả là một sự gán ghép tùy tiện, phi lý và coi thường công luận.   Đấu tranh bất bạo động không phải là một chủ thuyết hay một phương thức nhằm lật đổ một chính quyền mà đơn thuần là những kỹ thuật giúp cho người dân thấp cổ bé miệng, vượt qua sợ hãi bị đàn áp, dám bày tỏ ý kiến phản đối của mình trước một vấn đề mà mình bất bình hay cho là bất công trong xã hội.   Sống trong những chế độ độc tài, do bị khống chế tư tưởng và o ép mọi mặt trong đời sống, người dân không dám bày tỏ ý kiến và tuân phục mọi mệnh lệnh phi lý từ bộ máy an ninh. Lâu dần đa số người dân chọn lối sống “mackeno” và trở thành vô cảm với mọi sự quanh mình, mặc tình để cho một thiểu số độc tài thao túng từ kinh tế, chính trị, giáo dục cho đến văn hóa, y tế, tôn giáo...   Đấu tranh bất bạo động là nhằm giúp cho những con người vô cảm biết rung động trước những khổ đau của đồng loại, giúp nhau thoát khỏi sự sợ hãi và chế ngự của bạo lực để nói lên khát vọng thay đổi tốt hơn cho xã hội, qua những phản ứng phi bạo lực như viết kiến nghị, viết thư phản đối, chất vấn và cao hơn nữa là tụ họp số đông để đòi hỏi chính quyền thỏa mãn các yêu sách chính đáng của người dân.   Đấu tranh bất bạo động đã có từ xưa và được người dân tại quốc gia Cộng sản ở Đông Âu (1989), Trung Á (2000) và nhất là tại Bắc Phi qua cuộc cách mạng Hoa Lài (2012) khai dụng để cùng nhau tụ họp chống tham nhũng, chống gia tăng vật giá, chống các hành động tra tấn chết người của công an v... v... để tạo áp lực thay đổi. Nếu hiểu rõ, chính quyền chỉ là phương tiện và người dân mới là cứu cánh, thì nguyện vọng chung của người dân luôn là lẽ chính đáng, và các cấp chính quyền phải thừa hành, tuân thủ.   Một chính quyền độc tài cố cưỡng lại ước muốn thay đổi của người dân, tiếp tục dùng bộ máy bạo lực đàn áp thô bạo thì hệ quả đương nhiên phải gánh chịu là sự thảm bại như chính quyền Mubarak của Ai Cập, Ben Ali của Tunisia, hay nhiều chính quyền độc tài tương tự trong giòng lịch sử của nhân loại.   Trong khi đó, cựu tướng Thein Sein, từng nằm trong nhóm quân phiệt Miến trước đây, đã thấy rõ sự bế tắc của guồng máy bạo lực quân phiệt Miến Điện nên sau khi được bầu làm Tổng thống vào đầu năm 2011, ông đã tuyên bố trả tự do cho các tù nhân chính trị, bãi bỏ kiểm duyệt báo chí và mở cuộc đối thoại với bà Aung San Suu Kyu, chấp nhận những thay đổi dân chủ hóa Miến Điện.   Nỗ lực của Tổng Thống Thein Sein – và tại một số chế độ độc tài khác như Ả Rập Saudi, Bahrain – là loại phản ứng tích cực đối với đấu tranh bất bạo động. Ông đã không làm như nhà cầm quyền CSVN là dùng điều 79 (hoạt động lật đổ chế độ) và điều 88 (tuyên truyền chống chế độ) để tiếp tục đẩy bà Aung San Suu Kyu và dân tộc Miến Điện ở vào thế đối đầu mà đã tự thay đổi, chọn tự do dân chủ và tôn trọng ước muốn của đa số dân chúng Miến làm nền tảng phục vụ.   Những thanh niên Công Giáo và Tin Lành đi học đấu tranh bất bạo động cũng chỉ là mong muốn Việt Nam sẽ có ngày chuyển hóa dân chủ như Miến Điện để mọi người dân Việt Nam được sống trong một xã hội tự do, dân chủ và hài hòa với lân quốc.   Đọc gần 20 trang bản cáo trạng, người ta chỉ thấy một dụng tâm duy nhất của Viện kiểm sát và công an CSVN là dựng ra vở kịch giả về cái gọi là ‘âm mưu chống chế độ” để tiếp tục đàn áp những thanh niên yêu nước.   Theo tin tức gia đình thì sinh viên Trần Minh Nhật và anh Đặng Xuân Diệu đã từ chối nhờ Luật sư vì họ “đã không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm”.  Đặc biệt thanh niên Đặng Xuân Diệu nói rằng:  “nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam, và đó là chuyện của họ; họ phải tự chịu trách nhiệm”,  mang ý nghĩa một bản cáo trạng của một công dân yêu nước đối với một thể chế cường quyền đang đi ngược lại với nguyện vọng của dân tộc và trào lưu văn minh của nhân loại.   Đúng như hai thanh niên Trần Minh Nhật và Đặng Xuân Diệu suy nghĩ, họ chưa hề có những hành động nào vi phạm điều 79 của Luật Hình Sự. Vì thế họ không cần Luật sư để biện hộ những gì mà họ đã không làm, không chủ trương như bản Cáo trạng gán ghép. Cảm phục khí khái của những thanh niên yêu nước bao nhiêu, người ta càng căm phẫn sự dối trá và xảo quyệt của bộ máy bạo lực CSVN bấy nhiêu.   Sau cùng, một trong những nguyên lý căn bản của đấu tranh bất bạo động là lòng dũng cảm. Bà Aung San Suu Kyu là tấm gương sáng chói của tinh thần này khi phải đối đầu với bạo lực trong 20 năm dài. Và bà đã chiến thắng! Chúng ta tin rằng những thanh niên Công Giáo và Tin Lành cũng như các nhà dân chủ Việt Nam dù có phải trải qua những năm tháng trong lao tù, sẽ mang lại chiến thắng sau cùng cho dân tộc, bởi chính họ là hiện thân của lòng dũng cảm.
......

Thương lái Tàu lại xúi dân chặt trộm đuôi trâu ?

Từ việc mua đuôi trâu, móng trâu, rễ hồi, ốc bươu vàng tới việc sẵn sàng thu mua phế liệu, đỉa, cá cơm với giá cực cao – những hành động tưởng như vô thưởng vô phạt nhưng lại ẩn chứa những dụng ý sâu xa của lái thương Trung Quốc. Gần đây, tại một số địa phương xuất hiện tình trạng kẻ gian chặt trộm đuôi trâu, bò để bán với giá cao cho các thương lái Trung Quốc với mức giá cao đã thúc đẩy nhiều trâu tặc chặt trộm đuôi trâu. Ngày 28/11, tin từ UBND xã Hải Ba, huyện Hải Lăng, Quảng Trị cho biết, con trâu cái khoảng 4 năm tuổi của vợ chồng ông Võ Viết Đốn, 58 tuổi và bà Nguyễn Thị Yến, 55 tuổi ở đội 5, thôn Phương Lang, xã Hải đã bị kẻ trộm chặt đứt đuôi khi đang được chăn thả trên đồng làng. Con trâu là tài sản lớn đối với những gia đình nông dân như chúng tôi, bình thường hiện nay mỗi con trâu như vậy có giá cũng trên 20 triệu đồng nhưng nếu đã bị chặt đứt đuôi thì chắc chắn giá bán giảm đi rất nhiều, đặc biệt sức khoẻ của nó khó có thể hồi phục. Cách đây hơn 10 năm, thương lái Trung Quốc dồn dập về các chợ nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao, thậm chí những cái móng từ 4 chân của một con trâu được bọn Tàu mua với giá hơn hẳn một con trâu. Và thế là nông dân Việt Nam và bọn “trâu tặc” ra sức chặt móng trâu đem bán,… vẫn còn lãi hơn một con trâu thịt mang bán ở chợ. Chỉ một thời gian rất ngắn, thương lái Trung Quốc đã triệt phá tan hoang sức kéo của nông dân nghèo Việt Nam. Tiếp đó, dân loan tin cho nhau, nườm nượp lái trâu từ bên Tàu tràn qua biên giới để “tiếp thị” bán trâu. Trong đó còn có cả kẻ tiếp thị bán trâu sắt (tức máy kéo). Đến lúc ấy dân tình vỡ lẽ mục đích mua móng trâu của thương lái Trung Quốc !
......

CSVN chống tham nhũng kiểu đánh trống bỏ dùi

Tin từ báo chí trong nước thì vào sáng Thứ Bảy 1/12 vừa qua, ông Nguyễn Phú Trọng tổng bí thư đảng CSVN đã có buổi tiếp xúc với cử tri ở đơn vị Hà Nội. Ông Trọng đã bị nhiều “cử tri” chất vấn về tình trạng tham nhũng là “một bộ phận không nhỏ” từng được ông cảnh cáo trước đây, bây giờ đang “nằm ở đâu” nhưng không được ông trả lời. Được biết, hầu như các báo lớn đều tường thuật những lời chất vấn của hàng chục “cử tri” về tình trạng tham nhũng vô cùng nghiêm trọng tại Việt Nam. Ðây là vấn đề từng có lần được nhiều đại biểu gọi là “quốc nạn” qua nhiều triều đại tổng bí thư với những luật phòng chống tham nhũng, nghị quyết hay chỉ thị buộc quan chức kê khai tài sản theo những chiến dịch rất rầm rộ rồi vẫn chẳng đi đến đâu. Trước những chất vấn, thúc giục, và đả kích chính sách chống tham nhũng kiểu “đầu to đít teo” hay “đánh trống bỏ dùi” của đảng và nhà nước CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng thanh minh cho kết quả chính sách chống tham nhũng “không kỷ luật được ai cả” là vì “kỷ luật mà không tính kỹ sẽ trở nên xấu, mai kia lại thù oán, đối phó, thành phe phái, làm rối nội bộ”. Lời thú nhận của ông tổng bí thư đảng CSVN tố cáo chế độ Hà Nội có những phe cánh trong nội bộ mà ngay cả tổng bí thư hay chủ tịch nước cũng phai “gờm,” không dám đụng chạm.
......

Phản ứng của lãnh đạo Hà Nội trước việc tàu Bình Minh 2 lại bị tàu Trung Quốc cắt cáp.

Sự kiện tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển Việt Nam, tiếp tục thủ đoạn uy hiếp, cắt cáp thăm dò địa chấn của tàu Bình Minh 02, vào sáng ngày 30/11/2012, đã được các trang mạng xã hội nhanh chóng loan tin. Nhưng mãi đến 4 ngày sau khi xảy ra vụ cắt cáp, lúc 13:40 trưa nay, 3/12/2012, tờ báo Năng Lượng Mới (PetroTimes) mới đăng bản tin nói về sự kiện trên. Nhưng chỉ sau vài tiếng đồng hồ, bản tin của PetroTimes và báo chí nhà nước về việc TQ 'cắt cáp' tàu Bình Minh 02 đã bị chỉnh sửa một cách đáng ngờ. Tờ báo thuộc Tập Đoàn Dầu Khí VN của ông đại tá công an Nguyễn Như Phong đã tự chỉnh sửa lại bản tin, chữ 'cắt cáp' bị thay bằng 'gây đứt cáp' ngay trong tựa đề. Tựa 'Tàu Trung Quốc lại cắt cáp tàu Bình Minh 02' đã bị sửa thành 'Tàu Trung Quốc gây đứt cáp tàu Bình Minh 02' Nội dung bản tin cũng đã bị chỉnh sửa lại một số chi tiết. Từ 'phá hoại' bị sửa thành 'gây đứt cáp'. Đồng thời đoạn văn dưới đây tố cáo thủ đoạn của TQ mạnh mẽ nhất trong bài cũng bị rút bỏ. Việc sửa tin cho thấy nhà cầm quyền Việt Nam dường như đang cố gắng làm nhẹ mức độ nghiêm trọng của sự kiện trên, giữa lúc một tướng Tàu là Sài Thiệu Lương đang thăm và làm việc tại VN. Cần nói thêm, việc TQ cắt cáp tàu Bình Minh 02 diễn ra chỉ 2 ngày sau khi tướng Phùng Quang Thanh tuyên xưng 16 vàng & 4 tốt với tướng Tàu là Vương Tây Hân hôm 28/11. Tuyên bố trong dịp này, họ Phùng đã không đưa ra được một lời phản đối nào về hành động xâm lấn của Trung cộng đối với biển đảo Việt Nam, mà chỉ biết ca tụng quan hệ quốc phòng Việt-Trung ngày càng phát triển và còn tỏ lòng biết ơn sự hỗ trợ của phía Trung Cộng đối với Việt Nam từ trước đến nay. Sang ngày 2/12, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã tiếp ông Lý Kiến Quốc, Uỷ viên Bộ Chính trị và Phó Trưởng ban Thường vụ của Quốc hội nước láng giềng tại Hà Nội. Vẫn trong tình trạng phủ phục, hèn nhát, ông Trọng cũng như các lãnh đạo Hà Nội đã không dám đề cập đến bất cứ một sự kiện nào trong các buổi gặp gỡ với phía Bắc Kinh. Đây không phải là lần đầu tàu của PetroVietnam hoặc tàu do công ty này thuê bị phía Trung Quốc cắt cáp. Hồi giữa năm 2011 tàu địa chấn Bình Minh 02 của PetroVietnam đang tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực các lô 125, 126, 148, 149 trên thềm lục địa miền Trung của Việt Nam thì bị ba tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp.
......

Đơn xin ra khỏi Đảng - Như lời chia tay buồn một đi không trở lại

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐƠN XIN RA KHỎI ĐẢNG Kính gửi : Đảng ủy XXX Đồng kính gửi : Chi bộ XXX Tôi tên là : Nguyễn Chí Đức Sinh ngày : 13/09/1976 Ngày vào đảng : 28/12/2000 ; chính thức : 28/12/2001 Ngày viết đơn : 13/09/2012 ; ngày ra khỏi Đảng : ? Nơi kết nạp: Đảng bộ trường Đại học Bách khoa Hà Nội ; Nơi ra khỏi đảng : ? Trước khi soạn thảo đơn xin ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), trong tôi là cả một quá trình dài suy nghĩ nghiêm túc trước khi quyết định. Bởi vì chủ nghĩa Cộng Sản là ý thức về chính trị đầu tiên mà tôi tiếp nhận qua việc được giáo dục trong môi trường XHCN. Ngay từ khi là sinh viên năm thứ nhất của trường Đại học Bách khoa Hà Nội, tôi đã phấn đấu không mệt mỏi cho đến năm cuối mới vinh dự được đứng trong hàng ngũ của ĐCSVN. Mất 4 năm phấn đấu để trở thành người đảng viên thì cũng phải hơn 8 năm (2004) tôi mới dứt khoát viết lá đơn này. Âu cũng là lẽ thông thường trong cuộc sống, khi tuổi trẻ con người ta dành tình cảm, nhiệt huyết cho một lý tưởng vì lý do nào đó mà giã từ không khỏi giằng xé về tư tưởng. Vì sao lại như vậy? Bởi vì dòng chảy xã hội không khô cứng như những cuốn sách lý luận giáo điều, thực tế không đẹp như những áng văn thơ mỹ miều ca ngợi chủ nghĩa Mác-Lênin. Có những bất công trong cuộc sống, nghịch lý trong xã hội, mâu thuẫn ngầm giữa một bộ phận không nhỏ các tầng lớp nhân dân với ĐCSVN, mối quan hệ thiếu minh bạch và bất tương xứng giữa ĐCSVN với Đảng Cộng Sản Tàu, các biến động chính trị trên thế giới mà khi quán chiếu theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam “soi đường chỉ lối” khiến tôi phải lấn cấn, có khi hoang mang cực độ. Hằng năm, theo thông lệ mỗi người đảng viên phải viết bản tự kiểm điểm. Mỗi lần như vậy, tôi đều viết cơ bản giống như nhiều đồng chí khác cho có chiếu lệ. Nhưng có lúc tôi tự hỏi: Những nỗ lực và thành tựu mà ĐCSVN đã đóng góp cho đất nước Việt Nam như ngày hôm nay phải chăng chỉ đi lại con đường của những người theo chủ nghĩa dân tộc, các đảng phái Quốc Gia khác đã từng lựa chọn trong quá khứ thậm chí trước khi cả ĐCSVN ra đời như trường hợp của nhà cách mạng Phan Bội Châu? Tại sao trên toàn thế giới ở các quốc gia nếu có đảng Cộng Sản hoạt động thì thực tế cho thấy những đảng này chỉ có chỗ đứng khiêm tốn trên chính trường? Có đảng Cộng Sản nào có khả năng cầm quyền để lập chính phủ mới sau mỗi mùa bầu cử trong hệ thống chính trị có sự ganh đua đảng phái? Trên đây chỉ là đơn cử một vài suy nghĩ trong quá trình tự nhận thức lại của tôi mà không dám bày tỏ cùng ai. Còn về mặt tổ chức, thời gian gần đây tôi tự nhận thấy mình có những hành động, phát ngôn, bài viết, gặp gỡ một số đối tượng trái với cương lĩnh, điều lệ Đảng. Mặc dù đã được Đảng ủy, chi bộ “giáo dục” và chiếu cố nhưng tôi cảm thấy thực sự mình không còn phù hợp để đứng trong hàng ngũ của ĐCSVN nữa. Nếu sự việc còn tiếp tục kéo dài thì điều đầu tiên tôi tự làm khổ và không sống thành thật với lương tâm của chính mình. Ngoài ra gián tiếp, tôi còn gây rắc rối cho những người xung quanh, những người mà tôi rất quí mến. Đó là lý do tôi viết lá đơn này! Tôi rất mong tổ chức Đảng cấp trên xem xét và chấp thuận cho tôi được ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam càng sớm càng tốt. Ban đầu, tôi có ý định nhân việc viết đơn xin ra khỏi ĐCSVN như một hành động “tự sát chính trị” nhằm góp ý nhằm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình kinh tế Việt Nam rất bết bát, niềm tin của dân chúng dành cho Đảng xuống rất thấp, biểu tình xảy ra tứ tung, bên ngoài thì ngoại bang hăm he đe đọa bờ cõi nhưng xét thấy điều này vượt quá khuôn khổ của một lá đơn xin ra khỏi Đảng. Hơn nữa, trong quá khứ đã có nhiều cựu tướng lãnh, lão thành cách mạng, trí thức tên tuổi có nhiều cống hiến cho chế độ đã viết thư ngỏ/phát biểu nhằm bày tỏ thiện chí xây dựng Đảng nhưng đều hoài công vô ích thì ý kiến của một đảng viên tầm thường như tôi chỉ tổ lố bịch thêm. Một lần nữa, tôi rất mong tổ chức Đảng cấp trên xem xét cho tôi được ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam càng sớm càng tốt dù được chấp thuận hay bị khai trừ cũng được. Những gì mà tôi được trưởng thành và học hỏi khi sinh hoạt ở các chi bộ Đảng qua các thời kỳ về đức tính kỷ luật, tự giác, bảo mật, tinh thần đồng đội không bao giờ tôi quên. Cũng như không bao giờ tôi quên và phủ nhận những tấm gương tiền bối của ĐCSVN dù nổi tiếng hay bình dân (chủ yếu thời kháng chiến chống Pháp) tuy đi theo chủ nghĩa Mác-Lê nin nhưng động cơ sâu thẳm và đầu tiên là yêu nước Việt Nam, thâm tâm họ cũng mong muốn đất nước được tốt đẹp hơn. Tuổi trẻ của họ rất can đảm dấn thân không hề vụ lợi, sợ hãi ngục tù, phần lớn cuối cuộc đời họ vẫn giữ được đức tính trong sạch, giản dị. Đó là những yếu tố căn bản cho người thanh niên có ý định góp phần cải tạo xã hội, tham gia các hoạt động chính trị nói chung. Tôi xin chân thành cảm ơn và cũng là lần cuối cùng nói lời cảm ơn tới các đồng chí! Hà nội, ngày 13 tháng 09 năm 2012 Người làm đơn (Đã ký tên và gửi đến nơi có thẩm quyền) NGUYỄN CHÍ ĐỨC http://donghailongvuong.wordpress.com/2012/09/13/don-xin-ra-khoi-dang-nhu-loi-chia-tay-buon-mot-di-khong-tro-lai/  
......

Bi kịch của cách mạng và hành động của chúng ta

(Trân trọng gửi đến các lão thành cách mạng, các tướng lĩnh, các đồng đội cựu kháng chiến và các bạn trẻ, hy vọng được chia sẻ và góp ý) Cách mạng Việt Nam, cuộc cách mạng được tiến hành bởi những người dâng hiến đời mình cho lẽ sống KHÔNG CÓ GÌ QUÍ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO, đã lâm vào một bi kịch thê thảm chưa từng thấy. Tôi không thể tin vào mắt mình khi đọc trên mạng lời tuyên bố “dõng dạc” ngay tại nhiệm sở của tên trung tá Vũ Văn Hiển, phó công an phường 6 quận 3 TP HCM :TỰ DO CÁI CON CẶC ! (xin bạn đọc lượng thứ, tôi cắn răng không viết tắt “c…”như thói quen bấy lâu, để tự buộc mình phải nuốt cho trọn nỗi đau nỗi nhục của một người cả đời từ thời trai trẻ đến nay gần 73 tuổi đã sống chiến đấu cho hai giá trị cao quý nhất: TỔ QUỐC và TỰ DO). Cũng theo tin trên mạng, Vũ Văn Hiển là kẻ đã ra lệnh xé áo hai mẹ con chị Dương Thị Tân – vợ và con blogger Nguyễn Văn Hải tức Điếu Cày, một cựu chiến binh, một nhà báo yêu nước mà tôi cảm phục, bị kết án tù 12 năm chỉ vì lên tiếng chống giặc bành trướng Trung Quốc. Tôi nghĩ, lời tuyên bố hỗn xược và trâng tráo của Vũ Văn Hiển văng vào mặt tất cả chúng ta, những người đã nguyện sống trọn đời vì nhân dân quên mình, trọn đời coi Tổ Quốc là trên hết, quyền dân là trên hết, trọn đời chiến đấu cho TỔ QUỐC và QUYỀN DÂN.Tôi cho rằng tên Hiển chỉ là kẻ phụt ra miệng cái tâm địa nhầy nhụa hiểm độc bấy lâu cố giấu kín của cấp trên và cấp trên của cấp trên hắn – lũ giặc nội xâm phản cách mạng, phản Đảng, phản dân, phản quốc cố thủ trong các cấp ủy Đảng và cơ quan Nhà nước, miệng hò hét “tăng cường sự lãnh đạo của Đảng” tay nắm chặt súng – còng – dùi cui – loa (hệ thống truyền thông độc quyền) và đồng thời vung tiền để chỉ huy Đảng, khống chế Đảng, ngồi xổm trên Hiến pháp và pháp luật, chà đạp công lý, cướp lột đất nước, cướp lột nhân dân, áp bức nhân dân, áp bức ngay cả các lão đồng chí tiền bối. Tận dụng tối đa cái lỗi hệ thống sai từ gốc đến ngọn (= chế độ toàn trị độc đảng độc tài đứng đầu là vua tập thể) như cựu chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An đã thẳng thắn kết luận, dựa vào công tác cán bộ nằm trong tay một người hoặc một nhóm người tiến hành trong vòng bí mật tạo ra một thứ chợ đen – đỏ mua quan bán chức, lũ giặc gian hiểm này mau chóng tích lũy được một khối tài sản bất chính khổng lồ, mau chóng cố kết thành nhóm lợi ích bất lương nằm ở cấp vĩ mô trong cỗ máy quyền lực và móc ngoặc với các nhóm lợi ích bất lương bên ngoài, chúng là đồng minh tự nhiên của thế lực bành trướng bá quyền Trung Quốc, đồng thời có những tên cố ý duy trì quyền lực phát- xít của chúng bằng cách cam tâm làm chư hầu, nô bộc cho giặc bành trướng. Chúng giương chiêu bài “sự lãnh đạo của Đảng” để dồn ép tròng níu toàn Đảng vào một cuộc tự sát về chính trị và văn hóa. Chúng làm nhục Đảng, làm nhục nhân dân, làm nhục thể diện quốc gia. Xin hãy cùng nhau nghe lão tướng lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh nói lên nỗi đau nỗi nhục của toàn Đảng toàn dân toàn quân: “mỗi khi đến tháng 2 hàng năm (kỷ niệm Trung Quốc xâm lược vào các tỉnh biên giới) không dám có phái đoàn lên thắp hương tượng trưng cho đồng bào chiến sỹ đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc; thậm tệ hơn, chỉ cách đây vài năm, trước cái ngày Trung Quốc đánh Việt Nam đúng một ngày, bà Phó chủ tịch Quốc hội còn mở tiệc chiêu đãi Đại sứ Trung Quốc (chiêu đãi mừng chính cái kẻ, vào đúng ngày này 30 năm trước, đã “quạt lửa” vào mặt chúng ta, thử hỏi có nước nào rửa cho sạch nhục?). Mỗi người Việt Nam yêu nước đều cảm thấy nhục nhã”. Chẳng lẽ chúng ta cứ cam chịu mãi nỗi đau nỗi nhục này ? Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều chung câu trả lời : không, dứt khoát không ! Vậy nên tôi nghĩ chúng ta hãy cùng nhau trao đổi ý kiến xem phải làm gì và làm cách nào để thoát nhục? Làm gì và làm cách nào có tính khả thi, tính hiệu quả để đẩy nhanh tốc độ thoát nhục? Bài viết này nhằm bày tỏ một số suy nghĩ riêng của tôi góp vào cuộc trao đổi ý kiến ấy.Xin cho phép tôi ghi một cách tản mạn, đôi khi có thể lặp lại để nhấn mạnh một số ý cũ đã từng nêu từ nhiều năm trước Muốn thoát nhục, phải có sức mạnh. Ta lấy sức mạnh nào để thoát nhục? Tôi nghĩ trước hết hãy lấy chính nỗi nhục làm sức mạnh, bắt đầu từ sức mạnh của từng người, những người không chịu nhục, từng người từng ngày tích cực chủ động tạo mối liên kết thành một khối hùng hậu những người không chịu nhục trong hầu hết hơn ba triệu đảng viên và gần 90 triệu người dân, cùng nhau chuyển nỗi nhục thành sức mạnh. Tôi xin phép nhấn mạnh lại mấy tiếng từng người từng ngày tích cực chủ động.Tôi tin rằng mỗi chúng ta hôm nay ít nhiều đều mang trong mình cái tâm thế của đứcTrần Hưng Đạo xưa, “đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa”, trước nỗi nhục này, ta quyết không thụ động trông chờ, càng không thể chấp nhận cái luận điệu ngụy biện lố bịch nhưng cũng rất gian manh “đã có Đảng và Nhà nước lo”của bè lũ phản quốc đè dân, ta không thể khoanh tay bó gối mặc cho bọn bành trướng ở Trung Nam Hải và bọn Việt gian tay sai của chúng dùng sợi xích “mười sáu chữ” – “bốn tốt” trói buộc đất nước ta ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc. .Có một trường hợp đặc biệt đáng chú ý về thế đứng thế tiến của chỉ một cá nhân công dân – cử tri, đó là công dân – cử tri Lê Anh Hùng. Theo nhận xét của riêng tôi, trong phạm vi thông tin mà tôi đọc được trên mạng, thì đây là lần đầu tiên dưới chế độ toàn trị độc đảng độc tài cực kỳ hà khắc luôn huy động cả một bộ máy khổng lồ từng ngày từng giờ bưng bít thông tin về những bê bối của giới chóp bu, có một công dân đơn độc dám đứng lên công khai tố cáo một vụ việc động trời chưa từng thấy. Xin trích (từ blog Lê Anh Hùng) : Hà Nội, ngày 7/11/2012 Lê Anh Hùng NỘI DUNG THƯ TỐ CÁO LẦN THỨ 67 Kính thưa quý vị, Kể từ ngày 21/4/2008 đến ngày 17/6/2012, tôi đã SÁU MƯƠI SÁU (66) lần gửi thư tố cáo những tội ác tanh tưởi của bè lũ Nông Đức Mạnh – Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải qua mạng Internet.Ngày 16/11/2011, tôi đã trực tiếp đến gửi thư tố cáo tại Phòng Thanh tra, Công an Quảng Trị. Ngày 23/3/2012, ngày 11/4/2012 và ngày 16/4/2012, tôi cũng đã chủ động đến gặp họ để làm việc thêm với họ về đơn thư tố cáo, đồng thời để thúc đẩy họ sớm trả lời đơn thư của tôi.Ngày 21/5/2012, tôi đã gọi điện gặp Thanh tra Công an Quảng Trị để hỏi về đơn thư tố cáo của tôi. Tuy nhiên, người ta cứ trả lời tôi quanh co, yêu cầu tôi phải cung cấp giấy tờ nọ, giấy tờ kia (không theo quy định nào của pháp luật) thì họ mới chịu “thụ lý” vụ việc.Ngày 6/6/2012, tôi đã gửi đơn thư bằng văn bản theo đường bưu điện đến 8 vị có trách nhiệm ở Trung ương (gồm Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch UBTW MTTQ Việt Nam Huỳnh Đảm, Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao Trương Hoà Bình, Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hoà Bình, Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra TW Ngô Văn Dụ) và gửi trực tiếp cho Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc.Ngày 22/6/2012, ĐBQH Dương Trung Quốc đã trao cho tôi văn bản xác nhận việc ông đã tiếp nhận đơn thư của tôi và chuyển cho ông Chủ tịch Quốc hội, kèm theo ý kiến của ông với tư cách Đại biểu Quốc hội. Ông nói với tôi là nếu lâu họ không trả lời thì cứ gọi điện giục ông để ông thúc giục họ phải trả lời đơn thư theo luật định. Toàn bộ hồ sơ tố cáo đều đặt công khai tại blog Lê Anh Hùng trên mạng internet, mọi người có thể mở đọc bất cứ lúc nào. Hồ sơ tố cáo này hiện đã đặt trên bàn làm việc của đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc và chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng. Tôi mong hồ sơ tố cáo này phải có trong tay tất cả các đại biểu Quốc Hội, lão thành cách mạng, tướng lĩnh, cựu chiến binh, cựu kháng chiến, công dân – cử tri và không thể thiếu được trong nội dung chất vấn của các công dân - cử tri đưa ra tại các cuộc tiếp xúc với đại biểu Quốc Hội. Ở nước ta, khối cử tri đông đảo nhất là nông dân (bao gồm ngư dân). Khối nhân dân đông đảo nhất này vốn là chủ lực quân của cách mạng nhưng khi giành được chính quyền thì “một bộ phận không nhỏ” trong giới cầm quyền (phần lớn đều xuất thân nông dân) trở thành bọn vua quan cách mạng, trắng trợn vỗ nợ quyền dân, bám ghế đè dân. Xin hãy cùng nhau đọc bức thư ngỏ ngày 27 tháng 11.2011 của nông dân Huỳnh Kim Hải ở Đồng Tháp mà tôi tin là đã nói lên tiếng nói chung của nông dân đồng bằng sông Cửu Long và cả nước, gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ tình cảnh nông dân : “Sản xuất đã tự bơi, còn việc tiêu thụ sản phẩm lại thê thảm hơn. Nông dân làm ra lúa gạo, nhưng không có quyền ấn định giá mua bán lúa gạo. Hiệp hội lương thực Việt Nam được Chính phủ giao độc quyền mua bán lúa gạo, lại luôn bán gạo xuất khẩu với giá rẻ nhất thế giới, rồi quay trở vào trong nước bày kế mua lúa tạm trữ, để ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân” (…) “Cơ chế mua bán lúa gạo hiện nay là bất nhân, bất trí và bất lương”. Bức thư ngỏ kết luận :“Chính phủ bỏ rơi nông dân” đồng thời kêu gọi : “Tổng bí thư hãy trả lại Hội nông dân cho nông dân và giúp đỡ Hội nông dân của nông dân hoạt động có hiệu quả trong cơ chế thị trường”. Đã hơn một năm trôi qua, không nghe không thấy một hồi đáp nào của Tổng bí thư với bức thư ngỏ hết sức quan trọng này. Tôi nghĩ những chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu yêu nước vì dân đang làm việc hay đã nghỉ hưu (nghỉ về mặt hành chính, chứ người chiến sĩ cách mạng thì không bao giờ tự cho phép mình nghỉ hoạt động cách mạng) có quan hệ gần gũi với Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chắc không thể không nỗ lực vận động Tổng bí thư khẩn trương chỉ đạo chính phủ bãi bỏ ngay lập tức cơ chế mua bán lúa gạo “bất nhân bất trí bất lương” hiện hành, thay bằng một cơ chế đem lại lợi ích cho nông dân.Nhưng hình như Tổng bí thư bất lực, thu mình nơi bàn giấy, cam chịu cảnh chính mình cũng bỏ rơi nông dân? Tuy vậy tôi vẫn tin rằng Tổng bí thư không thể không thấm thía lời trao gửi tâm huyết “TỰ CHỦ, DÂN CHỦ, GẮN BÓ MÁU THỊT VỚI NHÂN DÂN” mà lão tướng lão thành cách mạng Nguyễn Trọng Vĩnh đã trực tiếp nhắc nhở Tổng bí thư tại đại hội Đảng lần thứ 11. Đây cũng là lời nhắc nhở của toàn Đảng toàn dân toàn quân, của non sông đất nước trời biển Việt Nam, của hồn thiêng tất cả các chiến sĩ Việt Nam đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu trường kỳ cho Tổ Quốc và Quyền Dân. Tôi cũng tin rằng các lão thành, các tướng lĩnh luôn gần gũi vận động Tổng bí thư gấp rút tích cực chủ động tổ chức các cuộc tiếp xúc rộng rãi với cử tri nông dân ngư dân, trực tiếp bàn bạc với nông dân ngư dân các biện pháp làm cho người nông dân, ngư dân Việt Nam mau chóng dứt mình khỏi những cái vòi bạch tuộc của bọn ăn bám ăn cướp, đồng thời bàn bạc tiến hành cuộc vận động giải phóng sức sản xuất của nông dân ngư dân trên đồng ruộng và trên biển, trước hết trong hai ngành làm lúa và đánh bắt hải sản. Tôi hình dung cuộc giải phóng đầy hứng khởi này như sau: - Khẩn trương hình thành và phát triển các doanh nghiệp của nông dân với trình độ hiện đại sản xuất chế biến và tiêu thụ lúa gạo trên thị trường nội địa và thế giới. - Khẩn trương hình thành và phát triển các doanh nghiệp của ngư dân, đặc biệt là trên Biển Đông với trình độ hiện đại, với những đội tàu mạnh vừa đánh bắt xa bờ dài ngày vừa làm dịch vụ đánh bắt và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa và thế giới.Với những doanh nghiệp này, các đội tàu nhỏ của số đông ngư dân sẽ giảm được chi phí sản xuất, hoạt động thường xuyên và dài ngày trên ngư trường, có thị trường tiêu thụ ổn định, thu nhập tăng cao, cùng với hải quân là lực lượng hùng hậu vững vàng đáng tin cậy làm chủ biển đảo thuộc chủ quyền nước ta. - Đấu tranh yêu cầu Đảng phải chỉ đạo chính phủ mau chóng có những chính sách ưu tiên hỗ trợ đến tận tay nông dân ngư dân, đặc biệt quan tâm ngư dân hoạt động trên ngư trường Hoàng Sa Trường Sa, đồng thời vận động toàn dân cùng quan tâm hỗ trợ, đầu tư. - Vận động tổ chức các cơ sở đào tạo tiên tiến chuyên ngành ưu tiên đào tạo các thế hệ nông dân ngư dân hiện đại lấy sự nghiệp xây dựng và phát triển nền nông nghiệp ngư nghiệp hiện đại của gia đình và đất nước làm sự nghiệp suốt đời mình, chấm dứt tình trạng ly nông của lớp con em các gia đình nông dân ngư dân. Vận động tổ chức hỗ trợ nông dân ngư dân đi tham quan trực tiếp học kinh nghiệm làm ăn của nông dân ngư dân các nước trong khu vực và thế giới, chú trọng học hỏi kinh nghiệm và liên kết làm ăn với bà con nông dân ngư dân gốc Việt ở nước ngoài. - Vận động đấu tranh yêu cầu Đảng phải mau chóng “trả Hội nông dân về cho nông dân”; trong khi chờ đợi, nông dân ngư dân tích cực chủ động vận động đấu tranh giành quyền làm chủ trong Hội hiện hành bằng cách bầu những nông dân ngư dân giỏi nhất có năng lực quản lý Hội và phẩm chất đáng tin cậy nhất vào cương vị lãnh đạo Hội, chuyển từ Hội xin tiền Nhà nước thành Hội tự nuôi tự quản với chức năng nhiệm vụ hàng đầu là bảo vệ quyền lợi của hội viên; những người lãnh đạo Hội hưởng lương từ quĩ hội phí do hội viên đóng, chấm dứt tình trạng tệ hại lâu nay cơ quan lãnh đạo Hội tồn tại như một cái đuôi của Nhà nước làm theo lệnh của cái “chính phủ bỏ rơi nông dân”. - Vận động đổi mới tận gốc, thực chất là trở về với gốc, bản chất của khối liên minh công nông, đây vốn là, và phải xây dựng củng cố cho luôn luôn là khối liên minh chiến đấu chống lại ách áp bức bóc lột của các tập đoàn lợi ích bất lương cấu kết với bọn vua quan cách mạng phản bội công nông; lập quỹ nông dân ngư dân và nhân dân hỗ trợ công nhân đình công, hỗ trợ công nhân đấu tranh yêu cầu Đảng trả lại tổ chức công đoàn về cho công nhân, cán bộ công đoàn phải là những công nhân tiêu biểu về năng lực và phẩm chất, có quá trình thực sự lăn lộn đấu tranh giữa lòng phong trào do công nhân cử ra và bầu lên, họ hưởng lương từ quĩ do công nhân góp nuôi và làm nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của công nhân. 3 Vận động tiến hành tổng kết kinh nghiệm đấu tranh chính trị công khai hợp pháp trong quá khứ để vận dụng cho giai đoạn mới của cách mạng lập quyền dân hiện nay. Xin dẫn lại mấy ý kiến đặc biệt quan trọng phát biểu trong CUỘC GẶP MẶT CÁN BỘ NHÂN VIÊN BAN THÀNH PHỐ VÀ ĐẤU TRANH CHÍNH TRỊ KHU ỦY 5 LẦN I tại Đà Nẵng, ngày 21.05.1996 - của cố lão thành cách mạng Võ Văn Đặng, nguyên Khu ủy viên, trưởng Ban thành phố và đấu tranh chính trị Khu 5: “Đấu tranh chính trị chứa đựng bí ẩn của sức mạnh Việt Nam” - của cố đại tướng Chu Huy Mân, nguyên phó bí thư Khu ủy, chính ủy Quân khu 5: “Tổng kết đấu tranh chính trị không phải chỉ cho lịch sử mà cho hiện tại và tương lai, không ý thức đầy đủ vai trò của nhân dân thì tình hình sẽ xấu chưa biết tới đâu” Đã hơn 16 năm kể từ ngày đại tướng Chu Huy Mân phát biểu ý kiến trên đây, tình hình đất nước xấu tới đâu thì mọi người đã rõ. Tôi cho rằng không tiến hành tổng kết đấu tranh chính trị là hành vi vỗ nợ nhân dân, là một tội lớn đối với Nhân dân và Tổ Quốc. Trong khi những người lãnh đạo cố ý lẩn tránh tổ chức tổng kết, tôi nghĩ, dù muộn còn hơn không, tất cả các cán bộ và nhân dân đã tham gia đấu tranh chính trị trước kia cứ tích cực chủ động tự tiến hành tổng kết và vận dụng kịp thời vào cuộc đấu tranh vì Tổ Quốc và Quyền Dân hiện nay ngay trong nội bộ Đảng và các hội đoàn. Xin gợi ý mấy việc cụ thể cần làm ngay: - Lập các ban liên lạc tổng kết đấu tranh chính trị - Giới thiệu các tấm gương đấu tranh chính trị tiêu biểu (nhiều người đã hy sinh trong chiến tranh hoặc đã qua đời trong thời bình và bị lãng quên) để đề nghị phong anh hùng, tặng huân chương. Yêu cầu cơ quan lãnh đạo đặt ra một danh hiệu anh hùng phù hợp để phong cho những người xứng đáng trong đấu tranh chính trị (lâu nay chỉ đặt danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang” nên phải phong danh hiệu ấy một cách khiên cưỡng cho các anh hùng không thuộc biên chế lực lượng vũ trang như bác sĩ Đặng Thùy Trâm, nhà văn Chu Cẩm Phong, nhà thơ Lê Anh Xuân, chính là do “không ý thức đầy đủ vai trò của nhân dân” như đại tướng Chu Huy Mân đã chỉ rõ). - Vận động đấu tranh để thành lập “Hội những người Cựu Kháng chiến”. Lâu nay chỉ cho lập “Hội Cựu chiến binh” mà không cho lập “Hội những người Cựu Kháng chiến”cũng là một hành vi vỗ nợ nhân dân, là quay lưng lại với thực tiễn toàn dân kháng chiến bằng hai chân ba mũi giáp công. Lực lượng vũ trang công lao rất lớn nhưng phải luôn nhớ mình từ nhân dân mà ra, cội nguồn sức mạnh của mình là lòng dân, là tâm nguyện là ý chí vì nhân dân quên mình, chiến đấu và lập công trong thế trận chiến tranh nhân dân, công lao bao trùm là của mọi tầng lớp nhân dân, một nhân dân đã từng chiến đấu hy sinh như thế phải có quyền thành lập “Hội những người Cựu Kháng chiến”. Tôi cho rằng một số người lãnh đạo giữ cương vị trọng yếu ở cấp tối cao đã mê muội ngoan cố duy trì ngôi vị quyền lực “vua tập thể” theo con đường của chủ nghĩa Mao, bấy lâu luôn có hiểm ý chỉ một mực đề cao lực lượng vũ trang, cố ý lờ đi vai trò của nhân dân là nhằm thực hiện thủ đoạn chiến lược Mao-ít phản cách mạng: chính quyền trên đầu súng, súng chỉ huy Đảng (Bây giờ thì thêm cả tiền nữa, súng – loa – tiền chỉ huy Đảng). - Vận động đổi mới, nâng cao chất lượng và tự đổi mới, tự nâng cao chất lượng nội dung và phương thức công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng Quân đội nhân dân trên cơ sở lập trường Tổ Quốc trên hết Quyền Dân trên hết. Cùng với việc xác định dứt khoát rạch ròi đối tượng tác chiến của Quân đội như đã nêu ở phần trên, phải luôn xác định Quân đội chỉ có một lời thề “Trung với nước, hiếu với dân”. Lén lút áp đặt một cách phi pháp lời thề “Trung với Đảng”chính là một trong những thủ đoạn phản cách mạng rất thâm hiểm đưa quân đội xa rời lập trường Tổ Quốc trên hết Quyền dân trên hết. Trong tình trạng một “bộ phận không nhỏ” của Đảng, trước hết là những đảng viên có chức quyền ở cấp cao, trở thành trụ cột của bè nhóm lợi ích bất lương thì lời thề “Trung với Đảng” tất làm mục ruỗng tận gốc tinh thần chiến đấu của Quân đội, bản chất của lời thề này hiển nhiên là một xiềng xích chính trị tư tưởng phản dân hại nước ràng buộc người chiến sĩ QĐND vào vị trí canh giữ túi vàng két bạc cho một “bộ phận không nhỏ” trong giới cầm quyền có quyền lợi đối nghịch với quyền lợi của nhân dân. Đặc biệt trong tình huống rất đáng ngờ có nguy cơ tái diễn kịch bản hội nghị Thành Đô (1990) khi hai đảng cầm quyền Việt Nam và Trung Quốc lèo lái mối quan hệ “đảng anh em” chi phối mối quan hệ giữa hai đất nước xung đột trường kỳ (chưa biết đến bao giờ) về lợi ích quốc gia thành mối quan hệ nước lớn và chư hầu thì lời thề “Trung với Đảng”trở thành cái lẫy nỏ Trọng Thủy đánh tráo đặt vào tay Quân đội, tạo điều kiện cho giặc bành trướng bất chiến tự nhiên thành. Vì sự nghiệp bảo vệ và thu hồi toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải biển đảo của Tổ Quốc Việt Nam, vì xương máu của nhân dân và Quân đội ta, cần phải tích cực chủ động tiến hành cuộc vận động đấu tranh đòi loại bỏ ngay lời thề phi lý phi pháp này. - Vận động đổi mới, nâng cao chất lượng và tự đổi mới, tự nâng cao chất lượng nội dung và phương thức công tác chính trị tư tưởng trong lực lượng Công an nhân dân trên cơ sở lập trường Tổ Quốc trên hết Quyền Dân trên hết. Tôi tin rằng đông đảo anh chị em sĩ quan chiến sĩ Công an nhân dân đều là những người yêu nước tôn dân, phục vụ tận tụy nhưng lại chịu nhiều bất công và biết rất rõ tình trạng bất công thối nát trong nội bộ lực lượng, biết rõ sự sa đọa tham lam độc ác dối trá của thiểu số cấp trên đặc quyền đặc lợi. Khá nhiều anh chị em lâm vào trạng thái day dứt giữa lương tâm và công vụ, lòng đầy ứ bất bình và ghê tởm nhưng hàng ngày vẫn bị sai bảo làm những việc trái pháp luật trái đạo lý trái lương tâm. Anh chị em buộc phải cầm dùi cui chĩa vào mặt những người yêu nước đòi công lý mà trái tim vẫn đập cùng nhịp với trái tim của những người bị anh chị em chĩa dùi cui vào mặt. Tôi tin rằng anh chị em luôn nghe thấy lời nhân dân vận động, và cũng tìm cách vận động lẫn nhau cố tránh không tham gia các cuộc cưỡng chế cướp đất dân chỉ để làm đầy thêm túi vàng két bạc của bè nhóm lợi ích bất lương cấu kết với bè nhóm cầm quyền bất lương, không tham gia đàn áp nhân dân biểu tình yêu nước và đòi công lý, nếu cực chẳng đã phải làm theo những cái lệnh sai trái thì hãy chỉ làm chiếu lệ, cố tìm cách khéo léo nới lỏng ách kìm kẹp của bọn phát-xít đội lốt Đảng – Nhà nước, thầm lặng góp phần tạo thế cho nhân dân đưa phong trào đấu tranh tiến tới. - Vận động anh chị em cầm bút yêu nước tôn dân trong giới báo chí chính thống (thường gọi nôm na là báo Lề Đảng) cố gắng phấn đấu giữ vẹn lương tâm nghề nghiệp, ý chí của người chiến sĩ cầm bút, không uốn cong ngòi bút, tìm mọi cách linh hoạt, sáng tạo, táo bạo, khôn khéo từng ngày từng giờ từng phút tăng hàm lượng thông tin/sự thật trên mặt báo, đồng thời phơi dần ra trước công luận bộ mặt thật của những tên bồi bút đầu sỏ, những phần tử phản cách mạng ẩn náu trong Ban tuyên giáo trung ương, Bộ thông tin và một số tờ báo lớn hoạt động phá hoại có hệ thống chủ trương của Đảng nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng nói rõ sự thật, dân biết dân bàn.Vận động những anh chị em tâm huyết nhất, hăng hái nhất, đi đầu là các nhà báo – chiến sĩ kỳ cựu tập hợp lại, vừa thầm lặng vừa công khai lên tiếng yêu cầu/vận động Ban bí thư ra một chỉ thị mới cởi mở thông thoáng hơn hoặc chí ít cũng được như chỉ thị 15 của BBT khoá 6 để tạo chỗ dựa và thế đứng cho các tổng biên tập yên tâm tích cực chủ động nỗ lực thực hiện chủ trương nhìn thẳng vào sự thật nói đúng nói rõ sự thật dân biết dân bàn; minh bạch mối quan hệ làm việc giữa lãnh đạo Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ thông tin với các Tổng biên tập, bãi bỏ chỉ đạo bằng lệnh miệng, khi lãnh đạo Ban, Bộ ra lệnh cấm hoặc ngăn chặn tin bài thì phải bằng văn bản công khai và chịu trách nhiệm cá nhân về chỉ thị đó. Hình thành mối liên kết nghiệp vụ hiệp đồng tác chiến giữa bộ phận tích cực trong hệ Tuyên giáo và giới báo chí Lề Đảng với các trang web, blog nghiêm túc thiện chí của các công dân – cử tri – chiến sĩ tự do tự chủ cùng chung tâm huyết và ý chí nhìn thẳng vào sự thật chiến đấu cho Tổ Quốc và Quyền Dân. - Vận động anh chị em báo cáo viên yêu nước tôn dân trong hệ thống tuyên giáo tích cực chủ động dùng các buổi báo cáo thời sự để góp phần tham gia chiến đấu cho Tổ Quốc và Quyền Dân. - Vận động các nhà giáo yêu nước tôn dân tích cực chủ động dùng các buổi dạy chính thức và sinh hoạt ngoại khóa để góp phần truyền lửa chiến đấu cho Tổ Quốc và Quyền Dân lan tỏa đến từng sinh viên học sinh từ các trung tâm lớn tới tận thôn cùng xóm vắng. - Vận động các công dân – cử tri – chiến sĩ – nhạc sĩ – thi sĩ yêu nước tôn dân sáng tác về chủ đề TỔ QUỐC – QUYỀN DÂN, vận động phổ biến rộng rãi hàng ngày các sáng tác ấy bằng mọi phương tiện của nhà nước và nhân dân, vận động các nhà hằng tâm hằng sản yêu nước tôn dân trao quà tặng xứng đáng cho các sáng tác được công chúng yêu thích nhất. Trước mắt, khi chưa có sáng tác mới, chúng ta tích cực chủ động vận động nhau hàng ngày cùng hát những bài ca cách mạng cũ mà càng hát càng thấy hừng hực lửa cách mạng của hôm nay: “Diệt phát-xít, diệt loài chó đê hèn của chúng, tiến lên nền Dân chủ Cộng hòa! ” (Diệt phát-xít – Nguyễn Đình Thi), “Đứng đều lên, gông xích ta đập tan !” (Quốc ca – Văn Cao), “Dậy mà đi ! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!” (Dậy mà đi – La Hữu Vang) v.v…Tích cực chủ động vận động lớp trẻ mau chóng tự bứt phá khỏi cái thảm cảnh ròng rã đêm ngày hí hố nhảy hét hoặc xúm nhau ngồi thở than rên rỉ thân phận nhược tiểu và kiếp người rong rêu mà mấy thập niên qua bè lũ phản cách mạng trong lãnh đạo văn hóa cố ý lùa thanh niên vào. 4 Vận động thực hiện dân chủ công khai sinh hoạt Đảng, trước hết là dân chủ công khai công tác cán bộ. Đây là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là chủ trương đã có từ lâu của Đảng nhưng những người lãnh đạo do động cơ cá nhân vị kỷ bè phái luôn ngoan cố trì hoãn không chịu thực hiện. Toàn bộ tình trạng bê bối thối nát của bộ máy quyền lực hiện nay là bắt đầu từ sự bê bối thối nát trong công tác cán bộ (nằm trong tay một người hoặc một nhóm người tiến hành trong vòng bí mật mà cựu Trưởng Ban bảo vệ chính trị nội bộ trung ương Nguyễn Đình Hương đã thẳng thắn vạch rõ). Cần tích cực chủ động tiến hành một cuộc vận động sâu rộng trong toàn Đảng toàn dân đấu tranh đòi ngay từ bây giờ thực hiện dân chủ công khai công tác cán bộ chuẩn bị cho hội nghị (hoặc đại hội bất thường) giữa nhiệm kỳ sắp xếp lại nhân sự Ban chấp hành trung ương và Bộ chính trị. Hội nghị 6 BCH TW cho thấy ở Bộ chính trị mặt tích cực đã có dấu hiệu chớm vượt trội lên nhưng ở BCH TW mặt tiêu cực lại lấn lướt.Đa số ủy viên TW đã tỏ ra hữu khuynh, nương nhẹ với những sai phạm gây hại lớn cho dân cho nước của đông chí X (mọi người đều hiểu đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng). Thực chất đây là biểu hiện tự nương nhẹ với sai phạm của chính bản thân, từ đó nương nhẹ với nhau để cùng giữ ghế dưới cái vỏ mỹ miều – hài hước “ổn định chính trị”, “chấp hành nhiệm vụ Đảng phân công”. Cùng với việc chỉ ra những sai phạm nghiêm trọng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cần phải rà soát lại ngay toàn bộ quá trình tự rèn luyện của đảng viên Nguyễn Tấn Dũng, toàn bộ quá trình cất nhắc đề bạt người cán bộ này. Các thông tin của nhà báo cựu chiến binh Minh Diện công bố trên blog của nhà báo cựu chiến binh đại tá Bùi Văn Bồng cho thấy đây là một trường hợp đề bạt đặc biệt nhanh mà không thấy một đóng góp nổi bật nào của đương sự làm căn cứ. Đằng sau vụ đề bạt nhanh khác thường này là chuyện gì? Các đợt phong tướng trong quân đội và công an khá ồ ạt thời gian qua, liệu được mấy phần thực sự xứng đáng, liệu có xen vào động cơ hối hả tuyển mộ bè cánh của nhóm lợi ích bất lương? Cần đi sâu phân tích để rút ra bài học phản diện về công tác cán bộ, về chỉnh đốn xây dựng Đảng. Nếu Quốc hội thực sự là cơ quan đại diện cho quyền lợi của nhân dân, thực sự là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước thì khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không tự nguyện từ chức, việc biểu quyết miễn nhiệm đã diễn ra ngay lập tức tại kỳ họp vừa rồi, nhưng đây là một Quốc hội được nặn ra trong vòng bí mật từ bàn tay một người hoặc một nhóm người nên phải bó tay trước một cá nhân sai phạm nặng đang nắm giữ đầu mối trọng yếu về kinh tế – chính trị là điều khó tránh. “Ổn định chính trị” hiện nay rõ ràng chỉ là sự tồn tại trơ ì của một BCH TW nặng tiêu cực và một Quốc hội phần lớn là đảng viên – nghị gật lại được điều hành bởi một Chủ tịch vốn là Phó Thủ tướng ít nhiều đều có liên đới với các sai phạm của Thủ tướng. Tình hình hết sức nghiêm trọng này đặt ra yêu cầu gay gắt là phải tiến hành đại hội Đảng bất thường giữa nhiệm kỳ như cựu Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội Trần Quốc Thuận đã đề xuất và tôi nhiệt liệt tán thành. Với một BCH TW nặng tiêu cực như thế, muốn tiến hành chuẩn bị tốt cho đại hội bất thường giữa nhiệm kỳ phải vận động toàn Đảng toàn dân tích cực chủ động tham gia.Xin đề nghị mấy biện pháp: - Phổ biến chính thức và tiến hành tổ chức thảo luận ngay trong toàn Đảng toàn dân các bản ý kiến của các lão thành, các tướng lĩnh và đảng viên cao cấp đóng góp cụ thể cho các uỷ viên Bộ chính trị và BCH Trung ương trong dịp tự kiểm điểm vừa qua, thực hiện toàn Đảng toàn dân tham gia giúp Trung ương và Bộ chính trị đánh giá và lựa chọn cán bộ cao cấp.Trong khi chờ đợi sự tích cực chủ động của cấp trên, mọi cán bộ đảng viên và công dân – cử tri tích cực chủ động phổ biến và thảo luận các văn bản ấy. - Hiện nay có tình hình một số đảng viên tử tế chính trực trọn đời dốc lòng yêu nước vì dân thấy Đảng mất uy tín quá sinh ra chán Đảng, xấu hổ vì Đảng, bèn lẳng lặng nghỉ sinh hoạt đảng, thả nổi tổ chức đảng cho các cấp ủy mà đa số vướng tiêu cực thao túng khiến tổ chức đảng hầu như tê liệt sức chiến đấu, trở thành công cụ cho thế lực tiêu cực làm bình phong ẩn náu để kiếm chác. Do đó cần vận động các đảng viên yêu nước vì dân nói trên trở lại sinh hoạt đảng để khôi phục sức chiến đấu cho tổ chức đảng, nếu không thì rủ nhau vài ba chục người một cùng tuyên bố ra Đảng vì thấy Đảng hiện nay không còn là cái Đảng đã kết nạp mình khi xưa, đồng thời cùng nhau thành lập “Câu lạc bộ Cựu đảng viên yêu nước vì dân” để tiến hành cuộc vận động yêu nước tôn dân, lập quyền dân đưa đất nước tiến lên. Nhưng theo tôi, trong điều kiện hiện nay, vận động các đảng viên yêu nước vì dân trở lại sinh hoạt đảng vẫn dễ thực hiện hơn, có lợi cho cuộc đấu tranh lập quyền dân hơn là vận động tuyên bố tập thể ra Đảng, nhất là khi chuẩn bị cho đại hội Đảng bất thường giữa nhiệm kỳ. Phải cùng nhau nhất trí một phương thức vận động chuẩn bị sao cho những đảng viên được bầu làm đại biểu đại hội phải thật sự đại diện cho toàn thể đảng viên, thay đổi tận gốc tình trạng đại hội Đảng thực chất chỉ là đại hội của các quan chức trong Đảng mà nhân dân thường gọi mỉa mai là “đại hội của các đồng chí chưa bị lộ”, thay đổi tận gốc tình trạng công tác cán bộ bấy lâu nằm trong tay một người hoặc một nhóm người tiến hành trong vòng bí mật, những người được bầu vào BCHTW, BCT, BBT, vào Quốc Hội thường không thể hiện đầy đủ tính tiêu biểu cho vốn cán bộ của Đảng. - Vận động đổi mới/tái cấu trúc tổ chức Đảng. Tình trạng bấy lâu Đảng tê liệt sức chiến đấu, tê liệt sự lãnh đạo không những do “một bộ phận không nhỏ” đảng viên suy thoái về chính trị, tư tưởng và đạo đức với “bộ phận không nhỏ”đảng viên sa sút ý chí chiến đấu, mà còn do suy thoái khủng hoảng trầm trọng về tổ chức. Ở các đảng bộ thuộc cơ quan và doanh nghiệp nhà nước thì quan hệ cấp trên cấp dưới theo hệ thống công chức lấn át quan hệ về mặt Đảng và trên thực tế thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng theo đúng nghĩa là lãnh đạo bằng đường lối chủ trương đúng, bằng vận động giáo dục thuyết phục và bằng sự gương mẫu của người lãnh đạo, chỉ còn lại là sự chỉ huy độc đoán, mệnh lệnh áp đặt hoặc mặc cả thỏa hiệp móc ngoặc vì lợi ích vị kỷ. Trong hệ thống quan hệ ấy không thể nào có dân chủ, những phát biểu của TT Nguyễn Tấn Dũng vừa qua tại Quốc Hội về dân chủ chỉ là những lời sáo rỗng vô hồn dối trá nói một đằng làm một nẻo, tiến hành chỉnh đốn Đảng bằng phê bình và tự phê bình trong hệ thống quan hệ ấy là vô nghĩa, là trò xiếc về chính trị, trò đùa về văn hóa. Có thể nói tổ chức đảng của các quan chức đang làm việc trong biên chế không còn là đảng yêu nước vì dân nữa mà là đảng yêu ghế đè dân, trên thực tế là đảng của giai cấp mới – giai cấp quan liêu – thư lại câu kết với các nhóm lợi ích bất lương trong và ngoài Đảng đang nắm giữ mọi đặc quyền kinh tế – chính trị, dựa vào đó nó ngấm ngầm thiết lập và vận hành một thứ quyền lực siêu Đảng siêu Nhà nước. Giai cấp này vừa lợi dụng danh nghĩa và uy tín của bộ phận yêu nước vì dân trong Đảng vừa dần dần phát-xít hóa nội bộ Đảng, nó bịt miệng, áp bức ngay các đảng viên và cựu chiến binh yêu nước vì dân, từ đại tướng Võ Nguyên Giáp đến người anh hùng lấn biển Đoàn Văn Vươn. Đảng đang dần biến thành đảng của nó, hơn ba triệu đảng viên nếu không mau chóng tự bứt phá chuyển mình từ thụ động co thủ sang thế tích cực chủ động sẽ là con rối trong tay nó, nhà nước thực chất là nhà nước của nó, do nó, vì nó. Giai cấp này chỉ là số ít trong tổng dân số nhưng theo các nhà kinh tế tính toán sơ bộ thì tài sản (nhờ ăn bám, ăn cắp, ăn cướp mà có) của nó chiếm đến khoảng trên dưới 30% thu nhập của toàn bộ số công dân – cử tri còn lại. Giai cấp này đang tiếp tục hối hả trắng trợn vơ vét đồng thời mưu toan dùng chiêu bài “sự lãnh đạo của Đảng” để nặn ra và tiếp tục nặn ra hết khóa này đến khóa khác một Quốc hội gồm hầu hết là đại biểu đại diện cho đặc quyền giai cấp của nó. Theo sự quan sát suy đoán của riêng tôi thì nó cũng đang (hoặc có thể đã từ lâu) mưu toan ngấm ngầm chuẩn bị những phương án 1,2,3 v.v…rất màu mè hấp dẫn với khát vọng dân chủ hóa để đón lõng nhằm khi một tình thế mới không cưỡng được sẽ diễn ra ở một thời điểm nào đó thì Quốc Hội, Chính phủ, Quân đội, Công an, Tòa án, báo chí truyền thông vẫn chủ yếu nằm trong tay nó. Sự xuất hiện của tình trạng độc tài hậu cộng sản ở một số nước XHCN cũ buộc chúng ta cần mau chóng rút ra bài học cho cuộc cách mạng lập quyền dân. Mong các nhà quan sát chính trị và các nhà nghiên cứu (trong và ngoài Đảng) quan tâm cung cấp thông tin và hướng dẫn dư luận theo dõi vấn đề để tấn công mưu toan phản cách mạng này ngay từ trong trứng. Điều lệ Đảng qui định hoạt động của Đảng đặt dưới sự giám sát của nhân dân, nhưng làm thế nào nhân dân giám sát được các tổ chức Đảng kiểu đó? Mong rằng chúng ta, trước hết là các chuyên gia hàng đầu (trong và ngoài Đảng) về khoa học tổ chức cần bàn bạc mau chóng có biện pháp tái cấu trúc tổ chức Đảng để giải quyết tình trạng này. Tôi nghĩ một trong những biện pháp cần làm ngay là chấm dứt tổ chức Đảng trong các cơ quan thuộc hệ thống biên chế nhà nước, tất cả đảng viên chỉ sinh hoạt tại các tổ chức theo địa bàn cư trú trong sự giám sát của nhân dân chung quanh, những người hàng ngày thấy đảng viên sống ra sao. Các đảng viên được đề cử, hoặc tự ứng cử vào cấp ủy, làm đại biểu đi dự đại hội Đảng buộc phải qua (tạm gọi là) “sát hạch” của nhân dân bằng những cuộc gặp gỡ đối thoại nhận xét đánh giá thẳng thắn, công khai, ghi biên bản nghiêm túc và thông tin rộng rãi. Xin một lần nữa dẫn lại câu thơ của nhà thơ cách mạng Hồng Nguyên đã tạc vào lịch sử hình ảnh sinh hoạt chính trị – văn hóa của nhân dân ta nơi thôn cùng xóm vắng sau Cách mạng Tháng Tám : “Có nắng chiều đột kích mấy hàng cau/Có khai hội yêu cầu chất vấn”. Đấy, nhân dân ta, tận nơi thôn cùng xóm vắng, từng đã thể hiện tư thế con người tự do làm chủ đất nước trong những sinh hoạt chính trị – văn hóa đầy sức sống như thế, có khai hội là phải có yêu cầu, chất vấn, yêu cầu thật cụ thể, thật nghiêm khắc, chất vấn đến nơi đến chốn. Mặt khác, cần bãi bỏ qui định là đảng viên mới được bổ nhiệm vào các vị trí lãnh đạo thuộc hệ thống biên chế nhà nước, phải nhất thiết chỉ căn cứ vào thực chất năng lực và phẩm chất dù có là đảng viên hay không, phải thực hiện lựa chọn cán bộ bằng các cuộc tranh cử thi tuyển công khai, có như thế mới khắc phục được tình trạng vào Đảng để thăng quan phát tài, thậm chí “chạy” một chân đảng viên, một chân cấp ủy, tình trạng thối nát này đã diễn ra gần như phổ biến bình thường trong bóng tối từ nhiều năm qua. Không kiên quyết thực hiện biện pháp như nêu trên thì nghị quyết 4 về chỉnh đốn Đảng sẽ chỉ dừng lại ở những xác chữ trên giấy. Phải dành thời gian rộng rãi cho việc đề cử ứng cử đại biểu đại hội, những người ứng cử và được đề cử phải minh bạch trước công luận về lập trường Tổ Quốc trên hết Quyền Dân trên hết, minh bạch về nhân thân và tài sản, có chương trình hành động cụ thể tại đại hội. Phải dành thời gian rộng rãi để thực hiện các cuộc yêu cầu, chất vấn đến nơi đến chốn của cử tri đối với đề/ứng cử viên trước khi chốt danh sách bầu. Đối với 5 chức danh chủ chốt ở cấp tối cao là Tổng bí thư, Chủ tịch Quốc Hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng, Thường trực Ban bí thư, cần có ít nhất 2 – 3 ứng cử viên cho mỗi chức danh, cần sớm công bố danh sách cùng nhân thân, tài sản, năng lực, phẩm chất và chương trình tranh cử của 10 – 15 đề/ứng cử viên ấy để toàn Đảng toàn dân công khai nhận xét. Nên đặc biệt khuyến khích tự ứng cử. Tôi cho rằng phần lớn những người tự ứng cử là những người tích cực chủ động lo toan việc dân việc nước, coi trọng trách nhiệm mà mình tự nhận lãnh, tự tin vào năng lực phẩm chất tự trau dồi của mình, không dựa dẫm vào sự lăng-xê của tổ chức. Có một mắc míu ghê gớm về tổ chức, một khối u ác khổng lồ trên cơ thể hệ thống chính trị, là sự tồn tại nặng nề kỳ chướng triền miên của hai bộ máy quyền lực song trùng, hết sức cồng kềnh, lãng phí, phi lí (và có thể phi pháp nữa, bởi không hề có một căn cứ pháp lí mang tính thuyết phục nào đối với khoản chi vô cùng tốn kém không bao giờ được công khai minh bạch cho hoạt động của bộ máy Đảng). Tôi mong chúng ta tích cực chủ động khẩn trương tiến hành thảo luận rộng rãi tìm biện pháp tối ưu, hoạch định một phương án hành động cụ thể với bước đi thích hợp của toàn Đảng toàn dân xăn tay áo quyết gỡ bỏ khối u này theo hướng nhất thể hóa mà không để mắc bẫy của bè lũ phản cách mạng đang mưu toan Đảng hóa cơ quan Nhà nước (thực chất là phát-xít hóa Đảng đồng thời phát-xít hóa Nhà nước khi nhất thể hóa dưới cái vỏ “sự lãnh đạo của Đảng”). Cùng với việc vận động chuẩn bị tốt cho đại hội Đảng bất thường giữa nhiệm kỳ, trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ Quốc Hội khóa 13, chúng ta tích cực vận động đấu tranh đòi sớm thông qua vào kỳ họp đầu của năm 2013 “Luật về quyền Tự do biểu tình của công dân”, và khi chưa ra được luật thì đòi chính phủ có qui định tạm thời áp dụng sắc lệnh về biểu tình mà chủ tịch Hồ Chí Minh ban bố thực hiện năm 1946. Các cuộc biểu tình ôn hòa trật tự trên đường phố trên quảng trường và các cuộc “khai hội có yêu cầu, chất vấn” trong các hội đoàn và sinh hoạt của xã hội dân sự/công dân trên toàn xã hội chính là nơi nhân dân ta tự xây dựng người công dân – cử tri – chiến sĩ, tự đào tạo rèn luyện người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu của cuộc cách mạng lập quyền dân.Trong thực tế bộn bề phức tạp dồn dập bao thử thách hàng ngày hàng giờ của quá trình đấu tranh công khai họp pháp, tốc độ trưởng thành của người công – dân – cử tri – chiến sĩ, người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu sẽ ngày càng nhanh, mạnh. Cùng với những việc trên, tôi nghĩ ngay từ bây giờ chúng ta phải cùng nhau vận động bàn bạc chuẩn bị tốt cho Đại hội Đảng lần thứ 12 và cuộc bầu cử Quốc Hội khóa 14. Xin gợi ý mấy biện pháp sau : *Vận động bỏ ngay điều khoản hiệp thương tại Mặt Trận Tổ Quốc khi chốt danh sách ứng cử viên vào Quốc Hội vì điều khoản này vi Hiến, thủ tiêu quyền tự do ứng cử của công dân, và bỏ ngay qui định đảng viên muốn ứng cử Quốc hội phải thông qua tổ chức Đảng, vì qui định này tước quyền công dân của đảng viên, tạo chỗ dựa cho hoạt động bè phái phản cách mạng dùng tổ chức Đảng mà chúng thao túng dựng rào cản khiến những đảng viên không chịu làm nghị gật được nhân dân tin cậy không vào được Quốc hội; nếu qui định này chưa bị bỏ, các đảng viên tự thấy mình xứng đáng quyết tự nguyện gánh vác việc dân việc nước cứ mạnh dạn tuyên bố ra khỏi Đảng để tự ứng cử. Tích cực chủ động xây dựng những địa bàn dân cư có tỷ lệ công dân – cử tri – chiến sĩ cao để hậu thuẫn cho các ứng cử viên – chiến sĩ tự ứng cử vào Quốc Hội với tư cách một nghị sĩ – chiến sĩ chiến đấu cho Tổ Quốc và Quyền Dân. Vận động các cán bộ trung cao cấp tuy đã nghỉ hưu về mặt hành chính nhưng có sức khỏe, có lập trường Tổ Quốc trên hết Quyền Dân trên hết vững vàng kiên định, có phẩm chất liêm khiết, gắn bó máu thịt với nhân dân cùng bề dầy trải nghiệm và bản lĩnh chính trị đáng tin cậy tự ứng cử tham gia gánh vác việc dân việc nước tại Quốc Hội khóa 14. Vận động định ra chế độ lương thật cao cho các đại biểu Quốc Hội, tiền lương ấy phải đủ để bản thân và gia đình đại biểu sống ở mức dư dả và đủ để thuê một văn phòng riêng với bộ máy giúp việc riêng đảm bảo cho đại biểu tự mình thực hiện tốt nhất nhiệm vụ đại diện cho nguyện vọng, quyền lợi của cử tri và giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp. Đây là một trong những biện pháp thiết thực có tính hiệu quả nhanh mạnh để khiến mỗi đại biểu đương nhiên phải tự nguyện tích cực chủ động gắn bó với cử tri. Tóm lại là bằng mọi cách công khai hợp pháp linh hoạt sáng tạo, táo bạo và khôn khéo giảm tối đa nghị gật, tăng tối đa nghị sĩ – chiến sĩ trong Quốc Hội, theo hướng xây dựng Quốc Hội khóa 14 thành Quốc Hội 100% đại biểu thực sự đại diện cho quyền lợi của nhân dân, 100% hoạt động chuyên nghiệp, thiết lập cấu trúc tam quyền phân lập, hoàn thành việc trả món nợ Quyền Dân cho nhân dân. - Vận động đổi mới/cải cách tận gốc bản thân Đảng nghĩa là chuyển từ đảng của giai cấp thành đảng của dân tộc với hai phương án: chuyển toàn Đảng hoặc tách Đảng ra làm hai. Việc tách Đảng mới nghe qua thấy có vẻ ghê gớm, thực ra đơn giản chỉ là dũng cảm thẳng tay chấm dứt sự cù nhầy dai dẳng lẩn tránh một thực tế: dưới một danh xưng chung, từ lâu trong lòng Đảng đã hình thành hai bộ phận = hai đảng đối nghịch nhau về lý tưởng, về lẽ sống, lối sống, mức sống. Một đảng của đa số đảng viên yêu nước vì dân, thành tâm hiến mình cho lẽ sống không có gì quý hơn Độc lập Tự do, nguyện trọn đời vì nhân dân quên mình, trọn đời làm người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu, liêm khiết và tận tụy chiến đấu vì Tổ Quốc và Quyền Dân. Một đảng của thiểu số các quan chức sống phè phưỡn thừa mứa theo lẽ sống không có gì quí hơn chiếc ghế quan to, kết thành bè cánh khư khư bám ghế đè dân để duy trì suốt đời đặc quyền đặc lợi và cả đời con cháu được sống phè phưỡn thừa mứa bằng số tài sản kếch sù tích lũy siêu tốc bằng ăn bám, ăn cướp dưới mọi hình thái.Có thể gọi tên bản chất hai đảng là đảng yêu nước vì dân và đảng yêu ghế đè dân. Cả hai đảng đều nói phải giữ vững sự lãnh đạo của Đảng với động cơ ngược nhau. Đảng yêu nước vì dân “giữ vững sự lãnh đạo” là sự lãnh đạo của toàn đảng bằng đường lối đúng, bằng vận động, giáo dục, thuyết phục không phải nhờ dẻo miệng tuyên truyền mà nhờ sự gương mẫu của cán bộ đảng viên. Đảng yêu ghế đè dân giương chiêu bài “giữ vững sự lãnh đạo của Đảng” làm bình phong che giấu sự cai trị độc đoán độc ác của một số quan chức thoái hóa phát – xít hóa đè đầu cưỡi cổ đảng viên và nhân dân, dùng chiêu bài “giữ vững sự lãnh đạo của Đảng” làm tấm khiên chống đỡ búa rìu chỉ trích phê phán lên án trong nội bộ và công luận của toàn xã hội. Tách Đảng ra làm hai là biện pháp giải êm bài toán thoái hóa khủng hoảng toàn cục về tổ chức một cách hợp qui luật, là chủ động đáp ứng đúng một bước yêu cầu của thực tế khách quan về đổi mới/cải cách tận gốc hệ thống chính trị, chuyển mô hình chính trị kiểu xô-viết – thể chế toàn trị độc đảng độc tài sang thể chế dân chủ. Tách Đảng ra làm hai mới giữ vững được sự lãnh đạo của Đảng theo đúng nghĩa, mới phân định rạch ròi được người chiến sĩ cách mạng chân chính với bọn nhân danh cách mạng để làm vua quan cách mạng, mới đẩy lùi được và đi đến đánh bại hoàn toàn thủ đoạn chiến lược giương chiêu bài “sự lãnh đạo của Đảng” làm bình phong, làm lô cốt cố thủ cho thế lực phản cách mạng, phản Đảng, phản dân, phản quốc. Tách Đảng ra làm hai để từng bước tiến tới một thể chế chính trị đa nguyên đa đảng theo những chuẩn mực của các nền chính trị tiến bộ nhất trên thế giới, đảm bảo đạt được trọn vẹn và giữ vững đời đời ba mục tiêu Độc lập Tự do Hạnh phúc; Độc lập (và thu hồi toàn vẹn lãnh thổ) của Tổ Quốc, Tự do Hạnh phúc của từng con người. Với ý thức khoa học của một đảng khoa học, mọi đảng viên đều biết và có trách nhiệm buộc phải biết rằng độc quyền dẫn đến thoái hóa, độc quyền tuyệt đối dẫn đến thoái hóa tuyệt đối, tình trạng thoái hóa khủng hoảng trầm trọng mọi mặt mà nghị quyết TW4 đã thừa nhận chính là bắt nguồn từ độc quyền chính trị của Đảng. Mà độc quyền là cưỡng lại qui luật phát triển, là phản khoa học, phản tiến bộ cũng tức là phản động. Với ý thức khoa học của một đảng khoa học, mọi đảng viên đều biết và có trách nhiệm buộc phải biết rằng đa nguyên, đa dạng là bản chất của thế giới, của sinh hoạt xã hội trong đó có sinh hoạt chính trị; một thể chế thực sự dân chủ tất yếu phải có sự thi đua, tranh đua, cạnh tranh bình đẳng ôn hòa lịch sự văn minh tôn trọng lẫn nhau giữa các đảng chính trị đối sánh, đối trọng, đối lập để cho cử tri rộng đường lựa chọn. Với ý chí của một đảng cách mạng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng mọi ý kiến khác biệt, chúng ta không thể đồng ý với kiểu “giữ vững sự lãnh đạo của Đảng” bằng cách khăng khăng áp đặt thô bạo chủ trương duy ý chí không chấp nhận đa đảng, lại biến thành đề tài cấm kỵ không cho ai được bàn đến. Không, trái lại, chúng ta phải tích cực chủ động tiến hành những cuộc thảo luận bình đẳng bình tĩnh lắng nghe lẫn nhau về vấn đề rất quan thiết đến tương lai chính trị của Đảng và của đất nước này. Trách nhiệm chính trị của chúng ta không phải là bác bỏ đa đảng mà là buộc chúng ta phải nhìn thẳng vào vấn đề, cùng nhau thảo luận để tìm ra một phương cách tối ưu nhằm chuyển hệ thống chính trị toàn trị độc đảng độc tài sai từ gốc đến ngọn này sang thể chế chính trị dân chủ đa đảng sao cho êm thuận nhất, ít xáo trộn nhất, ít tổn thất nhất. Cần phải tích cực chủ động thảo luận xem phải tự đổi mới/cải tổ bản thân Đảng thế nào để vẫn được dân tín nhiệm trong cuộc thi đua, tranh đua, cạnh tranh bình đẳng ôn hòa lịch sự văn minh tôn trọng lẫn nhau giữa các đảng chính trị đối sánh, đối trọng, đối lập; được như thế mới là thực sự quang vinh, cái quang vinh mà các công dân – cử tri trao cho ta bằng lá phiếu tự do tự chủ chứ không phải ta tự gán cho mình một cách lố bịch bằng xác chữ vô hồn trên các băng rôn dùng tiền thuế của dân giăng lên khắp nơi khắp chốn. Vận động toàn thể các đảng viên yêu nước vì dân tích cực chủ động tiến hành bàn bạc để đi tới một đồng thuận chính trị chuyển (toàn Đảng hoặc tách ra thành Đảng khác) từ Đảng của giai cấp thành đảng của dân tộc : ĐẢNG LÀ TẬP HỢP TINH HOA TRÍ TUỆ VÀ ĐẠO ĐỨC CỦA DÂN TỘC, LÀ ĐẠI DIỆN TRUNG THÀNH QUYỀN LỢI TINH THẦN VÀ VẬT CHẤT CỦA TOÀN DÂN TỘC, trở lại với tên ĐẢNG LAO ĐỘNG VIỆT NAM, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ, khôi phục chính thể dân chủ cộng hòa đa nguyên đa đảng dựa trên nền móng pháp lý Hiến pháp 1946 được bổ sung để vượt lên những khiếm khuyết, và hoàn thiện theo những tiêu chí giá trị phổ quát của nhân loại, chuyển đường lối từ kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa rất mù mờ sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội-dân chủ rất rõ ràng cụ thể đã là thực tế phát triển lành mạnh bền vững tại nhiều nước trên thế giới trong đó có những nước là bạn thân thiết từ lâu giúp đỡ vô tư cho nước ta như Thụy Điển, Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch…(Năm 2005, Na Uy đứng đầu thế giới về chất lượng sống, đảng cầm quyền suốt 50 năm là đảng dân chủ xã hội Na Uy, vốn là đảng Lao động thời kỳ đầu theo Đệ tam quốc tế sau tách ra theo đường lối dân chủ xã hội. Xin mời vào trang mạng Bauxite Việt Nam đọc bài về đảng Lao động Na Uy của nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh). Đảng trao lại toàn bộ cơ sở, phương tiện vật chất mà Đảng đang sử dụng cho Nhà nước quản lý, Đảng hoạt động giữa lòng dân theo phương thức tự nuôi tự quản, đồng thời vận động tất cả các đoàn thể cũng chuyển sang hoạt động theo phương thức này. Hai việc lớn trước mắt Đảng cần tập trung là 1/vận động xây dựng và tự xây dựng người công dân – cử tri – chiến sĩ 2/vận động đào tạo và tự đào tạo người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu của cách mạng lập quyền dân, giới thiệu những chiến sĩ cách mạng ưu tú nhất ra ứng cử Quốc Hội làm những nghị sĩ – chiến sĩ, chiến đấu chuyển Quốc hội từ vai trò cây cảnh sang Quốc hội thực quyền, trả ngay món nợ Quyền Dân, cụ thể là thông qua ngay “Luật về quyền Tự do báo chí của công dân”, “Luật về quyền Tự do biểu tình của công dân”, “Luật về quyền Tự do hội họp, lập hội, lập nghiệp đoàn của công dân”, “Luật về quyền Tự do ứng cử bầu cử của công dân”, chính thức thiết lập hệ thống chính trị đa đảng, lưỡng viện, tam quyền phân lập, toàn bộ hệ thống chính trị làm chức năng đầy tớ của nhân dân. https://nguyentuongthuy2012.wordpress.com/2012/12/02/bi-kich-cua-cach-mang-va-hanh-dong-cua-chung-ta/#more-2921  
......

TUYÊN CÁO của Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất về tình hình Nhân quyền và Đất nước

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤTVIỆN TĂNG THỐNG Thanh Minh Thiền viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, Saigon ------------------------------------------- Phật lịch 2556 Số 10 /VTT/XLTV TUYÊN CÁO của Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhấtvề tình hình Nhân quyền và Đất nước   Hội Đồng Lưỡng Viện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và 20 Ban Đại Diện GHPGVNTN các Tỉnh, Thành trên Toàn Quốc, cùng Chư Tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Ni và Đồng Bào Phật Tử các giới, vân tập về chùa Giác Hoa để kỷ niệm thường niên thánh lễ Tổ sư Nguyên Thiều.   Trước linh đài chư vị Tổ Sư và Đức cố Đệ Tứ Tăng Thống, Hội Đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN cùng chung nhận định về những nghịch cảnh đang làm cho đạo lý suy đồi, nhân tâm ly tán, xã hội nhiễu nhương, dân chúng đói nghèo, mất tự do và quyền con người, khiến cho văn hóa và tín ngưỡng lâu đời của đất nước không thể phát huy. Nguyên nhân đưa tới hiện tình nguy kịch của nước ta xuất phát từ : Tình trạng nhân quyền ngày càng xấu tệ với những cuộc đàn áp, khủng bố, bắt bớ liên miên, đưa tới những án tù khắt khe, phi lý, giáng xuống thân phận những bloggers, những người sử dụng Internet, những nhà báo trung thực, những nhà hoạt động nhân quyền, dân chủ, điển hình qua các vụ xử Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, Phan Thanh Hải, Đinh Đăng Định, Việt Khang, Trần Vũ Anh Bình, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Lía, Lê Văn Sơn, Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, v.v… ; cũng như cuộc đàn áp tôn giáo có chủ trương và kế hoạch, nhắm chỉ vào toàn bộ các Giáo hội Hòa Hảo, Cao Đài, Thiên chúa giáo, Tin Lành, và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), mà các chùa viện thuộc 20 Ban Đại diện Giáo hội ở miền Trung và miền Nam đang gánh chịu, điển hình như chùa Giác Minh ở Đà Nẵng là một.   Tình hình đất nước ngày càng nguy ngập với cuộc xâm lăng tằm ăn dâu của chính quyền Cộng sản Trung quốc vào biển, đảo, lãnh thổ Việt Nam, thế mà Nhà nước CHXHCNVN chỉ nhu nhược phản ứng chiếu lệ, không đại biểu được khí thế quyết tâm của một Nhà nước chống xâm lăng dưới các triều đại Đinh Lê Lý Trần Lê. Sáu tháng sau ngày Bắc Kinh in hình Lưỡi bò chiếm toàn bộ Biển Đông trên hàng triệu Hộ chiếu Trung quốc phân phát cho nhân dân họ, người phát ngôn của Hà Nội mới lên tiếng phản ứng, mà phản ứng vì bị một hãng thông tấn quốc tế chất vấn !   Liên minh Bắc Kinh – Hà Nội dưới thời ông Hồ Chí Minh lãnh đạo đã mở toang cửa cho Hồng quân Trung Cộng xâm chiếm biển đảo Việt Nam từ năm 1958, qua Công hàm Phạm Văn Đồng dâng chủ quyền biển gửi Tổng lý Chu Ân Lai. Nhờ vậy Trung Cộng mới có cơ sở và lý do đặt vị trí chiến lược ở Nam Hải như một Địa Trung Hải của Á châu, làm trục thông Thái Bình dương và Ấn độ dương nhằm khống chế đại dương sang tới Phi châu và Đại Tây dương. Vừa qua tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung quốc lần thứ 18, “hòn đá tảng đại dương” này đã được ông Hồ Cẩm Đào xác định là Cường quốc Biển của Trung quốc.   Hạ tuần tháng 11, Bắc Kinh đã lưu hành bản đồ Tam Sa, đặt trụ sở hành chính và đặt quân đội đồn trú tại đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, nơi Trung Cộng xấm chiếm dưới thời VNCH năm 1974, thu tóm chủ quyền toàn bộ Hoàng Sa và TrườngSa. Tam Sa trở thành đảo pháo đài hòng tiến chiếm Việt Nam bằng đường biển trong tương lai không xa.   Cuộc xâm lăng nước Việt đang được Bắc Kinh chuẩn bị kỹ càng và toan tính như thế, nhưng bất chấp những kiến nghị báo động cứu nguy của hàng trăm nhân sĩ, trí thức trong nước, Nhà nước CHXHCNVN vẫn tụ thủ bàng quan, nếu không nói đồng lõa làm nội ứng cho thời kỳ Tân Bắc thuộc ở thế kỷ XXI.   Trước hiện trạng nguy kịch ấy, trong nhà “giả vờ” chưa rõ, nhưng ngoài ngõ đã hay : Các cường quốc trên thế giới đều vì lẽ phải và an ninh khu vực lên tiếng bảo vệ Biển Đông cho các nước ở Châu Á, nhưng CHXHCN Việt Nam không nắm lấy chiếc phao cứu hộ quốc tế này, cứ nhắm mắt đưa chân tiếp tục bó thân về với Thiên triều của “16 chữ vàng và 4 tốt”. Vừa qua tại Thượng đỉnh ASEAN ở Nam Vang, lại một lần nữa cho thấy sự im lặng câm như hến của Hà Nội, khi đặt vấn đề giải quyết Biển Đông song phương (theo luận điểm Bắc Kinh) hay đa phương (theo xu hướng mới của một số nước ASEAN và quốc tế), nói lên tính chất quy hàng Bắc Kinh, nhưng chẳng noi gương bảo vệ non sông của nước láng giềng Phi Luật Tân.   Trong khi ấy, gương nhân dân Tây Tạng bị chiếm đóng vẫn thoát ly sợ hãi, oanh liệt đấu tranh, không khuất phục bạo quyền. Trong ba năm qua, đã có 81 Tăng sĩ và Phật tử Tây Tạng tự thiêu phản đối xâm lược Bắc Kinh, quốc tế hóa tiếng nói anh dũng của nhân dân Tây Tạng bị chiếm đóng. Riêng trong tháng 11 này đã có 19 vụ tự thiêu với hàng nghìn sinh viên, dân chúng biểu tình bảo vệ dân tộc và Phật giáo.   Trong khi ấy, gương một nước độc tài quân phiệt như Miến Điện, từng đàn áp chư Tăng và nhân dân xuống đường đòi hỏi dân chủ, nay đã khởi sự tiến trình dân chủ hóa hầu thoát khỏi áp lực Trung Cộng, khiến thế giới tán dương.   Trước các nhận định trên, Hội đồng Lưỡng Viện xin khẩn thiết kêu gọi :   1. Các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước CHXHCNVN hãy thể hiện tinh thần bảo vệ lãnh hãi, lãnh thổ của toàn dân để có hành động ngăn ngừa cuộc xâm lấn đất và biển quê hương Việt mà tiền nhân tốn bao xương máu gầy dựng.   Hành động tức khắc là phải Quốc tế hóa Biển Đông. Tuyên bố Biển Đông cần giải quyết đa phương với các nước trong vùng, gồm Việt Nam, Phi luật tân, Mã lai á, Brunei, Đài Loan, Trung quốc. Đồng thời dùng Luật biển LHQ 1982, cùng với các điều ước ASEAN như DOC (Declaration of Conduct, Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông), và COC (Code of Conduct, Bộ Quy tắc hướng dẫn thực thi DOC) đưa vấn đề tranh cãi chủ quyền biển đảo Việt Nam với Trung quốc ra LHQ, như một xác định quốc tế về chủ quyền dân tộc.   Bước đầu hành động trên đây mới là công bố ý thức tới chủ quyền. Muốn thực sự bảo vệ chủ quyền cần đến sự hậu thuẫn và tham gia của 90 triệu dân bao gồm các thành phần dân tộc, các đảng phái và các tôn giáo. Phi tiến trình dân chủ hóa đa nguyên đất nước thì không thể nào hình thành được khối kết hợp dân tộc để cứu nguy quê hương khỏi thời kỳ Tân Bắc thuộc ở thế kỷ XXI.   2. Đồng bào các giới và đồng bào Phật tử hãy nghĩ tới tiền nhân gầy dựng non sông gấm vóc, mà chúng ta thừa hưởng ngày nay, để gạt phăng SỢ HÃI đang thành nhiễm tố trong máu người Việt hiện đại sau gần 70 năm bị áp đặt chính trị và ý thức hệ ngoại lai. Hãy kết đoàn đứng lên, gạt phăng những ý kiến dị biệt, bất đồng chủ thuyết hay riêng tư, nhỏ nhặt, để hướng tới đích lớn của người Kháng chiến Vệ quốc có truyền thống từ thời Hai Bà Trưng. Bằng ý chí và phương tiện của mỗi người, giành lại nhân quyền, dân chủ, tự do để giữ Nước cứu Người.   Gần bảy mươi năm qua, sự tuyên truyền dối gạt khổng lồ của bộ máy nhà nước làm phân ly người Việt thành cuộc nội chiến Nam Bắc, Quốc Cộng. Cho đến nay vẫn hằn ranh giới trong não trạng chúng ta, khiến chúng ta không nhận ra nhau, ngờ vực nhau, phân liệt nhau, khiến chúng ta không nhìn thấy con Người Việt có Bốn nghìn năm văn hiến và Hai nghìn năm lịch sử. Ở trong đám giặc mà tâm chí không đồng tâm, kiên định, thì làm sao phá vỡ ? Trong đám quân loạn tưởng cũng vậy.   Gạt phăng SỢ HÃI là vùi chôn vào nghĩa địa ý thức hệ ngoại lai làm điêu linh đất nước kể từ khi chủ nghĩa Cộng sản du nhập Việt Nam. Gạt phăng SỢ HÃI là mặc áo giáp của Tiền nhân, đầu đội Ý chí bất khuất, chân giẫm chông gai, nghịch cảnh để hoàn tất cuộc giải phóng nhân sinh và giải thoát tâm linh con người đang bị tha hóa.   Nước Việt là của trời Nam, biển Nam, rừng núi Nam. Nước Việt là của người dân Việt, chẳng ai có thể đang tâm ngoảnh mặt làm ngơ khi quân xâm lược đang tiến bước, đồng hành với một chính quyền nhu nhược làm nội ứng, lại còn được tiếp trợ bằng sự đồng lõa của một số sĩ phu sống trong do dự. Xin đồng bào hải ngoại hãy kết liên thành khối, nói chung tiếng nói quốc tế tại các diễn đàn và hội nghị trên thế giới, đừng để ngoại nhân thay ta nói không trung thực, như đã xẩy ra hai lần tại Hội nghị Genève 1954 và Hòa hội Paris năm 1973. Nhanh chóng triệu tập Đại hội Người Việt Năm châu, bao gồm các nhân sĩ, trí thức, mọi đoàn thể, tổ chức, đảng phái, tôn giáo, để vạch chung kế hoạch cứu nguy nước Việt.   Tuy không làm chính trị, nhưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ủng hộ mọi nỗ lực chính trị nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ truyền thống văn minh nòi giống, âu lo cho mỗi con người được sống đời no ấm, tự do, được hưởng trọn các quyền ghi trong Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị mà Việt Nam tham gia ký kết tại LHQ năm 1982. Và cùng với sự hậu thuẫn tinh thần của Giáo hội, hàng ngũ nam nữ Cư sĩ Phật tử có thể trực tiếp đóng góp vào công cuộc chung với tinh thần lợi tha bình đẳng.   Hạnh phúc có thể tái tạo, tự do có thể thiết lập, nô lệ có thể chấm dứt, ngoại xâm có thể ngăn ngừa. Xin đồng bào các giới, đồng bào Phật tử hãy cùng đứng lên hình thành Liên Minh Chống Ngoại Xâm, trong ngoài như một, chặn ngăn các nẻo dữ, dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, đánh lên hồi trống đại hùng khai mở bước ngoặt mới cứu nguy tình thế hiểm nghèo hôm nay.   Thanh Minh Thiền Viện, ngày 1.12.2012 Thay mặt Hội đồng Lưỡng Viện GHPGVNTN Đệ Ngũ Tăng Thống,(ấn ký)Sa môn Thích Quảng Độ  
......

Cuộc đua về bét: Myanmar và Việt Nam đi ngược chiều nhau về vấn đề nhân quyền

Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban Á Châu của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) Khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới thăm Myanmar hồi tháng Tư năm 2010, ông khẳng định với các nhà lãnh đạo hàng đầu rằng Việt Nam ủng hộ “lộ trình” dân chủ hóa của quốc gia này. Sau đó, ông phát biểu từ ghế chủ tịch đoàn trong lễ bế mạc Hội nghị Thượng đỉnh thường niên ASEAN lần thứ 16 tại Hà Nội rằng cuộc bầu cử sắp tới ở Myanmar cần diễn ra một cách “tự do và dân chủ, với sự tham gia của tất cả các đảng phái.”   Lời phát biểu đó thật sự ấn tượng, nhất là từ miệng nhà lãnh đạo một chính phủ độc đảng, nơi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) được Hiến pháp quy định rõ vai trò “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội,” và chính quyền kiểm soát chặt chẽ mọi cuộc bầu cử. Nhưng lời phát biểu trên của ông Dũng không gây được nhiều chú ý, vì nhiều sự lạ đời và đạo đức giả hơn thế từng được tuyên bố tại các hành lang cũng như trong các phòng họp của ASEAN nhiều năm qua. Đa số các quan sát viên cho rằng Việt Nam chỉ đơn giản là lại hành xử với vai trò lãnh đạo một nhóm trong ASEAN, được gọi là CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam) đều có chính quyền độc đoán hà khắc, luôn cùng nhau cố gắng hạn chế những ý kiến chỉ trích và tìm cách gỡ bỏ rào cản kinh tế của các đối tác đối thoại của ASEAN, như Úc, Canada, Mỹ và Liên minh Châu Âu nhằm vào Myanmar. Chỉ hơn sáu tháng sau, vào ngày mồng 7 tháng Mười Một năm 2010, Myanmar tổ chức bầu cử nghị viện, trong đó 25 phần trăm tổng số ghế được dành cho quân đội. Cuộc bỏ phiếu này không thể nói là tự do hay công bằng, do đã được dàn xếp trước để đảm bảo thắng lợi áp đảo của Hiệp hội Liên đoàn Đoàn kết và Phát triển, một tổ chức chính trị được quân đội hậu thuẫn. Vào thời điểm Thủ tướng Dũng đưa ra lời phát biểu nêu trên, Myanmar đang có bảng thành tích tệ hại – như quân đội nắm chính quyền suốt từ năm 1962, bà Aung San Suu Kyi, người được trao giải Nobel Hòa bình đang bị quản chế tại gia, hàng trăm tù nhân chính trị đang bị giam giữ, các cuộc biểu tình bị đàn áp dã man, luật pháp hà khắc, các quyền dân sự và chính trị luôn bị đè nén, khiến quốc gia này trở thành “trường hợp cá biệt,” thậm chí ngay cả khi so với các nước láng giềng trong khối ASEAN. Vì vậy, ít người có thể hình dung được, chỉ hai năm sau đó, các nhà hoạch định chính sách và giới báo chí lại phải công khai so sánh Việt Nam với Myanmar để xem quốc gia nào đáng bị gọi là quốc gia vi phạm nhân quyền tệ nhất ASEAN – một biệt danh chẳng ai muốn có. Đương nhiên, đây là một động thái ít nhiều mang tính chất trò chơi ngoại giao, vì đối với các nạn nhân thì bị vi phạm nhân quyền, dù ở đâu cũng tệ cả. Nhưng khi Myanmar đang hướng tới chiếc ghế chủ tịch ASEAN vào năm 2014, những người quan tâm về nhân quyền trong khu vực đương nhiên tự vấn rằng liệu có thể diễn ra một cuộc đua giữa Myanmar và Việt Nam để tránh làm kẻ đội sổ, dẫn đến những cải thiện về thành tích nhân quyền ở cả hai nước này hay không.  Những tiến bộ của Myanmar Dù còn rất nhiều việc phải làm, nhưng Myanmar dưới chính quyền của Tổng thống Thein Sein đã có những bước tiến quan trọng để thay đổi bảng thành tích cũ vốn rất tồi tệ về nhân quyền của mình. Nổi bật nhất là việc dỡ bỏ những hạn chế và cho phép bà Aung San Suu Kyi cùng các cộng sự trong Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (LĐQGDC) ra tranh cử trong cuộc bỏ phiếu ngày mồng 1 tháng Tư năm 2012. Có tổng số 43 thành viên của LĐQGDC trúng cử, chỉ tương đương với gần 7 phần trăm số ghế trong nghị viện. Tuy nhiên, thắng lợi đó là một bước khởi đầu quan trọng cho cuộc bầu cử năm 2015, khi có 75 phần trăm tổng số ghế trong Nghị viện sẽ được định đoạt bằng lá phiếu. Nhưng cũng có nhiều bước cải cách ở Myanmar chỉ mang tính hình thức, theo kiểu tay này đưa thì tay kia giật lại. Ví dụ như hơn 600 tù nhân chính trị, trong đó có các nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng như Min Ko Naing và các nhà hoạt động khác, từng lãnh đạo cuộc nổi dậy vì dân chủ năm 1988, danh hài Zargana và các lãnh tụ dân tộc thiểu số như nhà lãnh đạo dân tộc Shan, Khun Htun Oo – được thả, một động thái được quốc tế hoan nghênh. Nhưng rất ít người trong số đó được phép ra khỏi Myanmar – nghệ sĩ Zargana là trường hợp ngoại lệ, vì chính quyền Myanmar từ chối cấp hộ chiếu cho họ. Chính quyền Myanmar cũng vẫn im hơi lặng tiếng về trường hợp của hàng trăm tù nhân chính trị khác, không được nổi tiếng bằng số người nêu trên, hiện đang còn trong vòng kiềm tỏa của hệ thống ngục tù bí hiểm của quốc gia này. Tổ chức Hỗ trợ Tù nhân Chính trị (HTTNCT) có trụ sở tại Thái Lan, do những cựu tù nhân chính trị Myanmar đang sống lưu vong thành lập, cho biết hiện có ít nhất 394 tù nhân nữa đang bị giam giữ, chưa tính 424 trường hợp khác đang được HTTNCT xác minh, tính đến ngày mồng 1 tháng Chín năm 2012. Một nhóm khác ở Yangon, Mạng lưới Cựu Tù nhân, đã tiến hành phỏng vấn những người mới ra tù và ước tính hiện có tới 445 tù nhân chính trị đang bị giam giữ. Những người quan sát hiểu biết tình hình nhận xét rằng có nhiều khả năng tù nhân chính trị người dân tộc thiểu số không nằm trong bất kỳ danh sách nào, nhất là những người Hồi giáo Rohingya từ các bang Arakan và Kachin ở các vùng xa xôi phía Bắc, và họ cũng cần phải được phóng thích. Để giải quyết tận gốc vấn đề này, và đảm bảo rằng tất cả các tù nhân chính trị đều được thả hết, chính quyền Myanmar cần chấp thuận việc thành lập một ủy ban kiểm tra có thành phần quốc tế tham gia để thống kê tổng số tù nhân chính trị đang bị giam giữ một cách triệt để và độc lập. Chính quyền Myanmar đã ký các thỏa thuận ngừng bắn với nhiều nhóm sắc tộc tự trị có vũ trang, kể cả nhóm Liên minh Dân tộc Karen (LMDTK), là nhóm đã tiến hành một trong những phong trào nổi dậy lâu nhất trên thế giới. Ông Aung Min, đại diện cho Văn phòng Tổng thống, đã gặp gỡ các lãnh tụ dân tộc thiểu số, các nhà hoạt động dân chủ lưu vong, các tổ chức phi chính phủ và nhiều tổ chức khác để thúc đẩy hòa giải với hàng loạt cuộc họp, điều mà chỉ hai năm trước đây không ai có thể tưởng tượng nổi. Các nhân vật lưu vong lâu năm, như nhà hoạt động công đoàn Maung Maung, cựu lãnh đạo sinh viên Naing Aung và Moe Thee Zun và nhà hoạt động chính trị quốc tế Thaung Htun đã được phép trở về Myanmar. Các thỏa thuận ngừng bắn với các nhóm sắc tộc thiểu số vẫn còn mong manh, và chưa dẫn đến việc cắt giảm quân số ở các vùng dân tộc thiểu số hay các cuộc đàm phán có trọng lượng để hòa giải lâu dài. Các vấn đề chính trị quan trọng như phân quyền, quan hệ giữa các bang và nhà nước liên bang, và việc chịu trách nhiệm về những vi phạm nhân quyền trong quá khứ chưa được đặt lên bàn đàm phán. Quân đội vẫn tiếp tục cưỡng ép lao động không công, tham gia các vụ tống tiền và lạm dụng, nhất là đối với những người dân thường thuộc các sắc tộc thiểu số. Và ở bang Kachin, nơi tiếp tục diễn ra các cuộc giao tranh khốc liệt giữa Quân đội Kachin Độc lập và lực lượng của chính quyền Myanmar, không có mấy thay đổi rõ rệt trong chiến thuật của Quân đội Myanmar nhằm mục tiêu vào dân thường và gây ra những vụ lạm dụng nhân quyền trầm trọng. Một dấu hiệu khả quan hơn là Myanmar đã ký kết thỏa thuận có tính ràng buộc, kèm theo kế hoạch hành động chi tiết, với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về việc chấm dứt lao động cưỡng ép, và với tổ công tác Liên Hiệp Quốc về chấm dứt sử dụng trẻ em làm chiến binh. Ngày mồng 3 tháng Chín, Quân đội Myanmar thả đợt đầu tiên gồm 42 chiến binh trẻ em về cho cha mẹ và người thân chăm sóc. Một loạt các văn bản pháp luật cũng được sửa đổi để đảm bảo các quyền tự do rộng hơn, ví dụ như cho phép tụ tập ôn hòa nơi công cộng và thành lập các công đoàn. Ngày 20 tháng Tám, chính quyền tuyên bố chấm dứt kiểm duyệt trước khi xuất bản, một bước tiến quan trọng đặt nền móng cho tự do báo chí – mặc dù cũng trong ngày đó, Bộ Thông tin Myanmar ra hướng dẫn chi tiết cho hoạt động truyền thông, trong đó có điều khoản nghiêm cấm phê phán chính phủ hay các chính sách của chính phủ. Rõ ràng là vẫn còn nhiều việc phải làm, vì hàng loạt quy định pháp luật hà khắc từng được sử dụng để đối phó với các nhà hoạt động chính trị vẫn còn nguyên hiệu lực – có thể kể tên một số ít trong đó như: Đạo luật về Hội họp Bất hợp pháp [Unlawful Association Act], Luật Bảo vệ Nhà nước [State Protection Law] và Đạo luật về Tình trạng Khẩn cấp [Emergency Provisions Act]. Vẫn có những rủi ro về nguy cơ đảo ngược tiến trình cải cách, đặc biệt là khi xem xét vai trò của Quân đội Myanmar trong lịch sử, và quyền lực được Hiến pháp 2008 trao, khiến quân đội tiếp tục nằm ngoài tầm kiểm soát của một chính phủ có danh nghĩa dân sự. Tuy vậy, chính quyền của Thein Sein có vẻ đã đáp ứng được phần lớn những mong đợi của cộng đồng quốc tế về đường lối dân chủ hóa. Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Canada đua nhau đình chỉ hoặc gỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế kéo dài nhiều năm qua, bất chấp sự phản đối của các nhà vận động nhân quyền ở Myanmar và quốc tế, vốn nhận định rằng một tiến trình gỡ bỏ từng bước sẽ giữ được sức ép tốt hơn để đảm bảo các bước cải cách phải được duy trì. Trên thực tế, các thay đổi nói trên đã tạo đà cho những cải cách bền vững hơn, nhưng đồng thời cũng gây ra tâm lý siêu lạc quan kiểu “cơn sốt vàng” trong một bộ phận của cộng đồng quốc tế về một “đất nước Myanmar mới.” Liệu Quân đội Myanmar có chấp nhận tiếp tục lộ trình đó hay không vẫn còn là câu hỏi lớn, nhất là nếu và khi tiến trình cải cách bắt đầu động chạm đến các thỏa thuận làm ăn giữa các sĩ quan quân đội cùng các thương gia bè phái nhiều vây cánh. Phe cứng rắn và bảo thủ trong quân đội vẫn còn quyền lực để có thể kìm hãm, thậm chí đảo ngược những nỗ lực cải cách. Tuy nhiên, với việc Tổng thống Thein Sein sẽ nắm quyền đến năm 2015, giới đầu tư nước ngoài đang đặt cược rằng cỗ xe cải cách sẽ tiếp tục tiến lên phía trước.  Bước thụt lùi của Việt Nam Như đã phân tích ở trên, Myanmar vẫn còn rất nhiều việc dang dở phải làm, dù đã có xu hướng đi lên xét về góc độ tôn trọng nhân quyền. Trong khi đó, Việt Nam đang lún nhanh hơn vào bãi lầy phát triển kinh tế và nhân quyền. Phải chứng kiến những bước tiến hướng tới cải cách của Myanmar chắc hẳn gây cảm giác không mấy dễ chịu cho một số nhà lãnh đạo ở Hà Nội. Dù gì chăng nữa, suốt hơn một thập kỷ qua, Myanmar luôn dễ dàng giành danh hiệu quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng nhất trong khối ASEAN. Đây quả là một thành tích đáng kể trong nhóm các quốc gia, được các nhà phê bình đặt cho cái tên thích hợp là “câu lạc bộ các nhà độc tài” từ khi được thành lập vào năm 1967, gồm năm nhà lãnh đạo độc tài của Philippines, Indonesia, Singapore, Malaysia và Thái Lan, sau này gộp thêm Thủ tướng Hun Sen của Campuchia, và các nhà lãnh đạo chuyên chế từ Việt Nam, Lào, Singapore, Brunei và Malaysia. Nhưng giờ đây, khi Myanmar đang thực hiện cải cách, giới ngoại giao và tài trợ quốc tế ở Hà Nội đang tự hỏi liệu Việt Nam có được phong là “ca nhân quyền tuyệt vọng nhất” của ASEAN hay không? Không có gì lạ khi giới lãnh đạo chóp bu ở Hà Nội không mấy dễ chịu trước viễn cảnh bị soi gáy như thế. Dù chính phủ cả hai quốc gia đều có bảng thành tích nhân quyền tệ hại, nhưng kể từ sau năm 1988, Việt Nam và Myanmar được đối xử khác hẳn, với rất nhiều ưu đãi được dành cho Việt Nam. 1988 là một năm đầy sự kiện với cả hai quốc gia. Myanmar đàn áp dã man những người biểu tình dân chủ ở Rangoon và các thành phố khác vào tháng Chín năm 1988, giết chết khoảng 3000 người theo ước tính hoặc nhiều hơn thế, và buộc hàng ngàn người khác phải chạy trốn vào rừng hay xa hơn nữa. Ngay hôm trước ngày khởi đầu chiến dịch đàn áp, các tướng lĩnh Myanmar thành lập một chính quyền quân phiệt mới, gọi là Hội đồng Khôi phục Trật tự và Luật pháp Liên bang (HĐKPTTLPLB). Nhưng sức ép quốc tế bắt đầu gia tăng sau khi bà Aung San Suu Kyi bị quản chế tại gia vào năm 1989 và đảng của bà không được nhận bàn giao quyền lực dù đã thắng áp đảo trong cuộc bầu cử nghị viện năm 1990. Đầu tư nước ngoài càng ngày càng bị thắt chặt, hạn chế và kiểm soát vì các nhà hoạt động nhân quyền quốc tế và phong trào dân chủ nội địa của Myanmar thúc đẩy chính sách gây sức ép và cấm vận, và cuối cùng giành được sự ủng hộ của nhiều chính phủ phương Tây. Trong cùng năm đó, Việt Nam tuyên bố bắt đầu rút quân khỏi Campuchia, và hoàn tất việc rút quân vào năm 1989, khởi đầu cho tiến trình chấm dứt nội chiến ở Campuchia đánh dấu bằng việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris, và bình thường hóa quan hệ Hoa Kỳ – Việt Nam vào năm 1995. Một sự kiện khác không kém phần quan trọng là việc Hà Nội triển khai chính sách đổi mới, nhằm mở cửa nền kinh tế, khiến nhiều tập đoàn lớn của Hoa Kỳ hào hứng đầu tư vào Việt Nam đã tạo sức ép thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Việc thiếu vắng một nhân vật đối lập có khả năng tập hợp được mọi người như Aung San Suu Kyi đặt các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam vào thế cực kỳ bất lợi, giữa lúc các nhà đầu tư đang hăm hở tin rằng Việt Nam sẽ là con hổ kinh tế mới ở Châu Á. Các tập đoàn nước ngoài đổ xô đến tìm kiếm lợi nhuận từ nguồn nhân công giá rẻ và một lực lượng lao động cần cù. Cơn sốt này đã gạt ra ngoài lề những mối quan ngại lớn về nhân quyền liên quan đến Đảng Cộng sản Việt Nam và thái độ không chấp nhận bất kỳ một hình thức đối lập nào của đảng này. Từ khi đất nước được thống nhất vào năm 1975, ĐCSVN chưa hề ngần ngại vi phạm nhân quyền khi thấy vị trí hay đặc quyền của mình bị thách thức. Sau khi Thủ tướng đương nhiệm Nguyễn Tấn Dũng lên nắm quyền vào năm 2006, có thể thấy rõ sự gia tăng của những xu hướng sau đây. Một là, chủ nghĩa bè phái và tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước cùng nạn dịch thâu tóm đất đai của những nhà đầu tư trong và ngoài nước nhiều vây cánh đã đổ thêm dầu vào ngọn lửa phẫn nộ của người dân đối với các quan chức ĐCSVN đã và đang lợi dụng chức vụ để làm giàu cho bản thân. Hai là, ông Dũng đã sử dụng các đồng minh trong Bộ Công an (BCA) cố gắng bưng bít mọi tiếng nói bất đồng chính kiến, và nhờ mối quan hệ chặt chẽ với bộ này đã khiến ông ta trở thành một trong những thủ tướng nhiều quyền lực nhất trong giai đoạn gần đây.Và ba là, khi các tiếng nói thách thức nền chính trị độc đoán và chủ nghĩa tư bản bè phái xuất hiện ngày một nhiều, chính quyền gia tăng đàn áp các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến, khiến nhân quyền càng bị coi thường. Trong khi lạm phát tăng cao, dẫn đầu là giá thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác, tốc độ đầu tư chậm lại vì nhu cầu hàng xuất khẩu Việt Nam ở các thị trường Châu Âu và Bắc Mỹ đang yếu đi do nền kinh tế gặp khó khăn, ngày càng có nhiều bức xúc với chính phủ, để rồi vấp phải sự đối phó của một nhà nước chỉ biết chăm chăm lo ổn định trật tự. Kết quả là những người cầm bút, viết blog độc lập, các nhà lãnh đạo tôn giáo và các nhà hoạt động từng thắc mắc về chính sách nhà nước, phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức, chống lại việc tịch thu và cưỡng chế đất đai, đòi hỏi tự do thực hành tín ngưỡng hay đòi hỏi các giải pháp dân chủ thay thế nền cai trị độc đảng, thường xuyên bị công an sách nhiễu, theo dõi gắt gao, giam giữ không cho tiếp xúc với bên ngoài tới một năm hoặc lâu hơn mà không được tiếp cận nguồn hỗ trợ pháp lý, và bị xử trong các phiên tòa một-ngày, với mức án tù ngày càng nặng hơn vì những tội danh mơ hồ về an ninh quốc gia. Đàn áp có tính sáng tạo Các điều luật về an ninh quốc gia được đặt tên như trong tiểu thuyết của George Orwell. Điều 79, có nội dung cấm “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân,” có thể mang đến án tử hình. Điều 87, “phá hoại chính sách đoàn kết,” hay điều 88, “tuyên truyền chống nhà nước” có thể đưa người vi phạm vào tù từ 15 đến 20 năm. “Phá rối an ninh” theo điều 89 có thể dẫn đến 15 năm tù. Kể cả khi rời khỏi đất nước, chính quyền cũng không tha thứ cho kẻ vi phạm và có thể xử tới án tù chung thân theo điều 91, “trốn ra nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân.” Và nếu không khép được vào tội nào khác, vẫn còn có điều 258 có thể dùng trong mọi trường hợp để xử tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước,” với mức án lên tới bảy năm tù. Xem xét www.hrw.org/node/104318">http://www.hrw.org/node/104318" target="_blank">hồ sơ nhân quyền của Việt Nam cho thấy các điều luật nói trên thường xuyên được sử dụng để hình sự hóa các quyền tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa, đưa đến các án tù lâu năm cho các nhà hoạt động; tra tấn trong giai đoạn tạm giữ trước khi xét xử là chuyện thường xảy ra; có các chiến dịch được dàn dựng bài bản để đe dọa và sách nhiễu các nhà hoạt động; kiểm duyệt báo chí rộng khắp và ngày càng gia tăng nỗ lực nhằm giám sát và hạn chế những ý kiến phê bình trên mạng internet; thường xuyên chà đạp quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo; www.hrw.org/node/101490">http://www.hrw.org/node/101490" target="_blank">sử dụng có hệ thống lao động cưỡng ép trong các trung tâm cai nghiện ma túy và các trại được gọi là cải tạo. Hoạt động của các nhà tù và hệ thống trại giam của Việt Nam, nhất là ở các vùng xa, vẫn còn là điều hết sức bí ẩn, khiến việc thống kê tổng số tù nhân bị giam giữ vì lý do chính trị trở nên rất khó khăn, nhưng Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ước tính con số này phải lên tới hàng trăm. Trong năm 2011, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền ghi nhận được chính quyền Việt Nam đã xử ít nhất 33 nhà bất đồng chính kiến và hoạt động các mức án tù lâu năm, kèm theo các hình phạt bổ sung như quản chế hoặc hạn chế ngặt nghèo quyền tự do đi lại sau khi được thả. Những người này bị truy tố chỉ vì đã thi hành các quyền tự do được ghi nhận trong Điều 69 của Hiến pháp Việt Nam và các điều 18 (tự do tôn giáo và tín ngưỡng), 19 (tự do ngôn luận), 21 (quyền nhóm họp ôn hòa) và 22 (tự do lập hội) của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, đã được Việt Nam tham gia ký kết từ ngày 24 tháng Chín năm 1982 nhưng thường xuyên lờ đi không thực thi. Ngoài các vụ trên, danh sách vẫn còn dài nữa – Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đang giám sát thêm 49 trường hợp khác hiện đang bị giam giữ chưa xét xử vì các lý do chính trị và tôn giáo, trong đó có hai nhạc sĩ, bốn blogger, ba mươi lăm nhà hoạt động tôn giáo, hai nhà hoạt động vì quyền lợi người lao động và bốn nhà hoạt động vì quyền lợi đất đai. Chính sách đàn áp thể hiện rõ trong các trường hợp như vụ xử tù www.hrw.org/node/107406">http://www.hrw.org/node/107406" target="_blank">bốn thanh niên Công giáo trước đó chưa được ai biết đến ở thành phố Vinh miền trung thuộc tỉnh Nghệ An, với lý do họ phát tán truyền đơn “dân chủ.” Họ bị tạm giam từ năm đến mười tháng, sau đó bị kết án lên đến ba năm sáu tháng tù giam tại phiên tòa vào ngày 24 tháng Năm. Cũng có những vụ đang còn dở dang như vụ www.hrw.org/node/110281">http://www.hrw.org/node/110281" target="_blank">ba blogger công dân nổi tiếng gồm www.hrw.org/news/2010/10/22/vi-t-nam-ph-i-tr-t-do-cho-c-c-blogger-v-nh-n...">http://www.hrw.org/news/2010/10/22/vi-t-nam-ph-i-tr-t-do-cho-c-c-blogger..." target="_blank">Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày), www.hrw.org/node/101673">http://www.hrw.org/node/101673" target="_blank">Phan Thanh Hải (blogger Anhbasg) và www.hrw.org/node/101673">http://www.hrw.org/node/101673" target="_blank">Tạ Phong Tần, những người cùng nhau thành lập www.hrw.org/node/106476">http://www.hrw.org/node/106476" target="_blank">Câu lạc bộ Nhà báo Tự do năm 2007, rồi chẳng bao lâu sau đó bị chính quyền đàn áp. Một diễn tiến bi thảm của vụ này là vào tháng Bảy, thân mẫu bà Tạ Phong Tần, cụ Đặng Thị Kim Liêng, đã tự thiêu để phản đối sự sách nhiễu của lực lượng an ninh đối với con gái và gia đình bà, khiến phiên tòa xử họ lại phải hoãn thêm lần nữa. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã nhắc đến vụ việc này khi bà phát biểu tại cuộc họp báo trong www.hrw.org/node/109031">http://www.hrw.org/node/109031" target="_blank">chuyến thăm Hà Nội vào tháng Bảy năm 2012 rằng “chúng tôi quan ngại về sự cản trở quyền tự do ngôn luận trên mạng và phiên tòa sắp tới xử những người sáng lập nhóm gọi là Câu lạc bộ Nhà báo Tự do.” Nhưng các tù nhân chính trị khác, như www.hrw.org/node/106723">http://www.hrw.org/node/106723" target="_blank">nhà thơ và nhà vận động chống tham nhũng Nguyễn Hữu Cầu, năm nay đã 65 tuổi, dường như đã bị phần lớn thế giới bên ngoài lãng quên. Ông đã phải ở tù 35 năm kể từ năm 1975 – lần đầu từ năm 1975 đến 1980 trong một trại cải tạo, lần thứ hai từ năm 1982 đến giờ do đã phanh phui các vụ tham nhũng của quan chức địa phương. Dù ông đã mất gần hết thị lực và thính lực, nhưng chính quyền không đưa ra dấu hiệu nào thể hiện ý định sẽ thả ông. Những người khác, như linh mục Công giáo Nguyễn Văn Lý, do quá nổi tiếng nên các nhà ngoại giao nước ngoài còn được phép thỉnh thoảng đến thăm. Cha Lý đã bị đột quỵ nhiều lần trong tù vào năm 2009, khiến tay và chân bên phải bị liệt, nhưng www.hrw.org/node/100749">http://www.hrw.org/node/100749" target="_blank">chính quyền từ chối phóng thích ông trước hạn tám năm tù giam vì lý do sức khỏe.  Kiểm soát các hội đoàn Chính quyền Việt Nam không hề giấu giếm nỗ lực để bảo đảm mọi tổ chức, hội đoàn phải hoạt động dưới sự kiểm soát của nhà nước. Vì lý do đó, các đảng chính trị lưu vong, những người lao động muốn thành lập công đoàn riêng tách khỏi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam do nhà nước quản lý, và những người viết blog như nhóm Câu lạc bộ Nhà báo Tự do luôn phải đi giữa các làn đạn sách nhiễu, bắt bớ và tù đày. Ví dụ như, vào ngày 17 tháng Tư, công an bắt Nguyễn Quốc Quân, một công dân Mỹ và là ủy viên trung ương của đảng đối lập lưu vong Việt Tân, khi ông đang nhập cảnh vào Việt Nam và truy tố ông theo điều 84 bộ luật hình sự về tội hoạt động khủng bố. Tuy nhiên, sau khi công bố tội danh ban đầu trên báo chí, chính quyền lại thôi không truy tố ông về tội khủng bố mà áp dụng điều 79, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.” Chính quyền dành sự quan tâm và “chăm sóc” đặc biệt đối với các nhóm tôn giáo độc lập đứng tách khỏi các định chế tôn giáo đã đăng ký và chịu sự kiểm soát của nhà nước. Trong năm vừa qua, các chi phái không được công nhận của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, các nhà thờ Tin lành tại gia ở Tây Nguyên và các vùng khác, các chùa Phật giáo Khmer Krom và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) đều bị chính quyền truy bức. Trong năm 2011, các giáo xứ Công giáo tổ chức lễ thắp nến cầu nguyện trước www.hrw.org/reports/2011/05/26/vi-t-nam-ng-i-u-v-i-nh-ho-t-ng-ph-p-l-c-h...">http://www.hrw.org/reports/2011/05/26/vi-t-nam-ng-i-u-v-i-nh-ho-t-ng-ph-..." target="_blank">phiên tòa xử nhà hoạt động pháp lý và bất đồng chính kiến Cù Huy Hà Vũ thu hút được hàng ngàn người tham gia, không khỏi khiến chính quyền giật mình. Các vị chức sắc tôn giáo bị quản chế tại gia gồm có Đức Tăng thống GHPGVNTN Hòa thượng Thích Quảng Độ, hai lãnh đạo Phật giáo Hòa Hảo Lê Quang Liêm và Võ Văn Thanh Liêm. Trong tháng Bảy năm 2011, các vị chức sắc Công giáo Dòng Chúa Cứu thế, cha Phạm Trung Thành và cha Đinh Hữu Thoại bị cấm rời khỏi Việt Nam. Ngoài ra, hàng chục người Thượng ở Tây Nguyên từng tham gia vào phong trào nhà thờ Tin lành Đềga vẫn đang bị cầm tù. Những người hoạt động tôn giáo thường bị xử các mức án nặng nề. Ví dụ như, vào ngày 13 tháng Chạp năm 2011, www.hrw.org/node/103580">http://www.hrw.org/node/103580" target="_blank">các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Lía và Trần Hoài Ân bị xử tổng cộng tám năm tù giam, cộng thêm năm năm quản chế. Vào ngày 26 tháng Ba năm 2012, một phiên tòa xử mục sư Tin lành Nguyễn Công Chính 11 năm tù về tội “phá hoại chính sách đoàn kết” theo điều 87 bộ luật hình sự. Có ít nhất 35 nhà hoạt động tôn giáo khác đang bị tạm giam chờ xét xử. Chìa khóa của việc vận động mọi người tham gia vào các vấn đề như cưỡng chế đất đai, tự do tôn giáo, nhân quyền hay đa nguyên chính trị, chính là khả năng chia sẻ thông tin. Hệ thống kiểm duyệt của nhà nước đối với đài phát thanh, truyền hình và báo in từng khiến cho việc này rất khó thực hiện ở Việt Nam, cho đến khi giải pháp thông tin điện tử được mở ra qua mạng Internet. Ước tính khoảng 34 phần trăm người dân Việt Nam đang sử dụng mạng Internet, tính đến tháng Hai năm 2012, khiến cuộc chiến về tự do ngôn luận giờ đây chủ yếu diễn ra trên mạng. Trong khi Myanmar đang ngày càng cởi mở hơn về mạng Internet, chính quyền Việt Nam lại có động thái siết chặt bằng một www.hrw.org/node/109031">http://www.hrw.org/node/109031" target="_blank">dự thảo nghị định làm gióng lên hồi chuông báo động của các công ty Internet toàn cầu như Google và Yahoo cũng như những người vận động cho tự do ngôn luận. Dự thảo nghị định này có thể được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét trong kỳ họp sắp tới, thể hiện ý định áp đặt bàn tay kiểm soát mạng Internet với lý do quen thuộc là an ninh quốc gia, qua những quy định nghiêm cấm một số nội dung, với ngôn ngữ lỏng lẻo và mơ hồ. Cái bẫy lớn được giăng sẵn cho các blogger và các nhà vận động trên mạng với các quy định cấm chống đối chính quyền, hay đăng tải các thông tin gây “phương hại đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” hay “phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” hoặc “gây hận thù, mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc và tôn giáo.” Nếu như thế vẫn chưa đủ, thì các thông tin bị coi là “xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm cá nhân” sẽ được vận dụng để khép tội hình sự. Trước thực tế nhu cầu sử dụng Internet đang phát triển nhanh, kể cả nhu cầu sử dụng các mạng xã hội phổ biến như Facebook, mà người dùng Internet ở Việt Nam có thể truy cập được bằng cách lách qua hệ thống tường lửa do chính quyền dựng vẫn còn nhiều sơ hở, và không khí sôi nổi của các diễn đàn bình luận và trao đổi về các vấn đề gai góc đối với nhà nước, có lẽ một cuộc đụng đầu lớn sẽ xảy ra trong tương lai không xa. Ai thắng ai?  Khởi đầu thập niên này, Việt Nam và Myanmar vẫn là đồng minh lâu năm, cùng tâm đắc với câu cửa miệng của ASEAN là “không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau” và cùng phải chịu những lời chỉ trích từ nước ngoài về hồ sơ nhân quyền. Nhưng giờ đây, hai nhà nước càng ngày càng như hai con tàu ngược chiều đã vượt qua điểm gặp nhau giữa đại dương, mỗi bên đi theo hướng trái ngược nhau về nhân quyền. Đến năm 2015, khi cuộc bầu cử toàn quốc ở Myanmar mở ra khả năng chuyển giao quyền lực thực sự bằng hòm phiếu, có lẽ Thủ tướng Dũng sẽ hối tiếc về lời phát biểu của mình năm 2010, với chủ đích khích lệ Myanmar đi theo con đường dân chủ hóa – nhất là khi chính người dân Việt Nam sẽ thắc mắc bao giờ thì Việt Nam sẽ thực hiện được điều đó. Nguồn: www.hrw.org/news/2012/11/07/race-bottom-burma-and-vietnam-head-opposite-...">http://www.hrw.org/news/2012/11/07/race-bottom-burma-and-vietnam-head-op..." target="_blank">www.hrw.org/node/111819">http://www.hrw.org/node/111819  
......

Ý tưởng về CLB Huynh Đệ Lầm Đường Lạc Lối

Kính gửi Ban Biên Tập các trang blog, website giúp đỡ nhân dân lầm than!   Xin quí độc giả xa gần thứ lỗi về câu chuyện cá nhân của tôi dưới đây: Kể từ ngày 13/09/2012, tuy tôi đã làm đơn xin ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) nhưng tổ chức của ĐCSVN nơi tôi gửi đơn vẫn chưa có hồi đáp và trả lời dứt khoát bằng văn bản. Dĩ nhiên về mặt hình thức, tôi vẫn phải chờ quyết định chính thức để trở thành người Tự Do trong khuôn khổ dưới gầm trời Cộng Sản Việt Nam. Thực tế điều này với tôi không còn quan trọng cho dù bất luận lý do nào thì tôi cũng không bao giờ đi sinh hoạt, đóng đảng phí cho đảng này nữa.   Tuy nhiên vấn đề tự do tư tưởng, tự do tìm kiếm những người anh-em có cùng tâm trạng, hoàn cảnh là một nhu cầu rất tự nhiên của con người trong cuộc sống. Điều này cũng tựa như những nhóm hội tự phát hay có tổ chức cùng chung một tiêu chí trong xã hội. Trường hợp của tôi ở một khía cạnh nào đó khá giống tâm trạng của những người “nghiện ma túy” cần tái hòa nhập sau khi đi trại cai nghiện trở về với cộng đồng. Chính vì vậy qua bài viết này tôi mong mỏi tìm gặp, giao lưu với những anh chị em đã từng là đảng viên ĐCSVN mà viết đơn từ bỏ hay âm thầm ra khỏi tổ chức này.   Bên cạnh đó, nếu ai có nhu cầu cần giúp đỡ, chia sẻ những kinh nghiệm làm sao ra khỏi ĐCSVN không bị hụt hẫng, bị gia đình - thân hữu ở cơ quan (ví dụ: quân đội, công an, tuyên giáo) xa lánh thì hãy nhanh chóng liên lạc với tôi. Nói một cách khác chúng ta “bắt sóng” để tìm đến nhau, cùng sinh hoạt trong một mái ấm CLB “Bạn giúp Bạn” nhằm vượt qua những trắc trở trong cuộc sống phải đối mặt sau khi ra khỏi ĐCSVN và sự dằn vặt về tư tưởng bấy lâu nay hay những biểu hiện khó khăn khác.  (Lưu ý: ở đây tôi không tính đến những thể loại đảng viên ra khỏi ĐCSVN vì tham nhũng, phản nước-hại dân, chạy quyền-chạy chức, tham ô-hủ hóa...)   Các anh, các chị, các bạn của tôi ơi!   Nếu mọi người không thực lòng tin tưởng vào chủ thuyết Cộng Sản mà vẫn phải nói/viết/giơ tay ủng hộ những chỉ thị, nghị quyết của ĐCSVN thì khổ tâm, đau đớn trong tâm can làm sao. Còn nếu như chúng ta không cảm thấy chán chường thì chúng ta hoặc là người bàng quan, vô cảm hoặc chúng ta quá giỏi nhẫn nhục chung qui cũng chỉ vì miếng ăn, vật chất tầm thường.   Hoặc giả nếu bạn cảm thấy còn có những thần tượng, anh hùng khác mà bạn ngưỡng mộ hơn Hồ Chí Minh và muốn đi theo lý tưởng của thần tượng đó nhưng không dám phát biểu, bày tỏ thái độ công khai thì bạn cũng đang lừa dối chính mình. Không gì đau khổ hơn bằng việc cả cuộc đời phải sống trong sự dối trá với lương tâm của mình. Đối với cá nhân tôi điều đó là không thể và không bao giờ lặp lại sai lầm một lần nữa.   Trong khuôn khổ bài viết này tôi không thể giãi bày hết tâm tư cùng các bạn cũng như trình bày một kế hoạch dài hơi, có qui củ cho những người tạm gọi đã từng “lầm đường, lạc lối” như chúng ta. Vả lại khiến cho độc giả phải bận tâm vào chuyện mà họ đã rất rầu lòng trong cuộc sống vì họ tuy không phải là đảng viên của ĐCSVN nhưng đâu đó trong số họ lại phải chịu oan trái, tai bay-vạ gió do đảng này đã gây ra dù trực tiếp hay gián tiếp.   Xin chân thành cảm ơn mọi người đã quan tâm.  Mọi chi tiết xin liên hệ:   Họ tên: Nguyễn Chí Đức Địa chỉ: F503 nhà A1 ngõ 1 phố Khâm Thiên – Hà Nội Facebook: www.facebook.com/donghailongvuong">http://www.facebook.com/donghailongvuong">www.facebook.com/donghailongvuong Email: donghailongvuong@gmail.com">mailto:donghailongvuong@gmail.com">donghailongvuong@gmail.com Một số bài viết trên blog: http://donghailongvuong.wordpress.com/">donghailongvuong.wordpress.com     Kính đề nghị mọi người là bạn bè, thân hữu hay có ai quí mến tôi xin không thêm nick này trên Facebook trong danh sách bạn bè và tôi sẽ không trả lời bất kì tin nhắn nào nếu như không phải là cựu/đương đảng viên của ĐCSVN. Chủ ý của tôi nhằm dành riêng cho những con người “lầm đường lạc lối” còn đang băn khoăn, lưỡng lự trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia hay đơn giản hơn trở thành 1 người Tự Do Tư Tưởng. Xin mọi người tiếp tay nhằm chia sẻ thông tin cho tôi biết để tìm gặp những trường hợp dưới 60 tuổi ở ngoài đời đã từ bỏ ĐCSVN công khai hoặc âm thầm vì lý do nào đó không truy cập Internet hay ẩn danh.   Một lần nữa xin chân thành cảm ơn mọi người đã bớt chút thời gian đọc bài này!   ——————————————————————-  Chú thích ngoài lề bài viết: Trong bài viết này và những bài viết cũ của tôi rất thường lặp cụm từ ĐCSVN vì tôi không muốn viết tắt như rất nhiều người cẩu thả hay có chủ ý để rồi mặc nhiên thành một danh từ “độc quyền” ưu ái như: Đảng, Đảng Ta. Điều này nhằm phân biệt và tạo sự công bình về mặt từ ngữ cho các đảng phái trong quá khứ và tương lai trong sinh hoạt chính trị tại Việt Nam.  http://donghailongvuong.wordpress.com/2012/12/01/y-tuong-ve-clb-huynh-de...">http://donghailongvuong.wordpress.com/2012/12/01/y-tuong-ve-clb-huynh-de...
......

QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU

Việc nhà nước Việt Nam coi giáo dục là quốc sách hàng đầu cũng chẳng phải vấn đề gì mới vì xưa đến giờ chính quyền Việt Nam vẫn luôn nói như vậy và cả thế giới gần như tuyệt đại đa số các nước đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thể hiện trong bài phát biểu nhậm chức hoặc diễn văn tống tiễn năm cũ, chúc mừng năm mới của các lãnh đạo quốc gia từ Mỹ đến Pháp, từ Trung Quốc đến Thái Lan, Việt Nam cũng như Singapore hay Anh Quốc ..v..v.. Vấn đề là quốc sách hàng đầu ấy được thực hiện như thế nào ở Việt Nam? Xin thưa, người ta đã làm nhiều lắm. Toàn là sáng tạo. Luôn là đoàn kết. Sự đồng lòng nhất trí luôn có được từ trên xuống dưới để thực hiện các chính sách nhà nước đưa ra. Cho dù ban đầu có người nọ người kia có các ý kiến phản biện, đôi khi khá là gay gắt nhưng vì cực hiếm khi có ai dám nói điều mình nghĩ một cách ngay thẳng về những vấn đề cơ bản quan trọng nhất nên chung cuộc các chính sách quyết định vẫn được đưa ra và thi hành bởi kết quả nhất trí. Buồn nhất là ngay cả những người phản đối quyết liệt nhất một chính sách nào đó của nhà nước thì đa phần cuối cùng cũng biểu quyết thông qua. Điều đặc biệt này đã trở thành nét đặc thù của giới chính khách Việt Nam. Tiến sỹ Trần Nhơn, một cựu chính khách và lão thành cách mạng cộng sản đã viết trong bài thơ Khi quốc sách chìm trong quốc nạn, in trên báo Tổ quốc số 144 ngày 15.10.2012: Độc tố Mác Lê Mao toàn trị Đang mỗi ngày phát tán di căn Các chức sắc “cựu, nguyên” góp ý Dễ gì dốc cạn nỗi băn khoăn? Ông chú thích “Nhiều vị chức sắc “cựu, nguyên” thấu hiểu được vấn đề, nhưng vì là nguyên, là cựu nên phải rất lựa lời, tránh những điều cốt lõi nhất được cho là nhạy cảm, tế nhị, nói sao cho dễ lọt tai, và để lần sau được mời tham gia góp ý kiến tiếp.” Quả vậy, khi vấn đề cốt lõi nhất đã bị tránh đi, rồi ai cũng tự chụp lên đầu mình cái mũ khôn ngoan, vẫn trung thành với đảng chứ không phải là bọn phản động đòi dân chủ đa nguyên thì những điều mà họ nói, cách mà họ nói chỉ còn tác dụng trang trí thêm cho nền “dân chủ tập trung” của Việt Nam, góp phần củng cố vị trí độc tôn của đảng cộng sản và chế độ độc tài của nhà nước Việt Nam hiện nay. Nền giáo dục của Việt Nam hoàn toàn nằm trong cái khối u khổng lồ và hôi thối của chủ nghĩa Mác Lê Mao này. Mọi cách chữa trị cải tạo nó từ trước đến nay đều chỉ là những ý kiến và biện pháp sao cho điều cốt lõi vẫn phải được giữ nguyên, là: mục tiêu, phương pháp giáo dục, lãnh đạo giáo dục và người làm giáo dục, tất cả vẫn phải và chỉ được tồn tại và phát triển trong cái khối u độc tố Mác Lê Mao ấy. Cuối cùng và đặc biệt nhất là tất cả những chính sách giáo dục đã được ban hành đều thành công tốt đẹp mỗi khi các cấp cơ quan nhà nước tổng kết về tình hình giáo dục. Những tổng kết thắng lợi vẻ vang này mặc kệ và bất chấp tất cả sự dối trá, tha hóa biến chất rõ ràng của nghành giáo dục đến nỗi những em bé học tiểu học còn biết tự tay cầm phong bì tiền để “kính biếu” cô giáo. Đến nay, sau hơn nửa thế kỷ chính quyền cộng sản cai trị trên đất nước Việt Nam tất cả những trí thức lớn danh tiếng của đất nước đều phải đồng lòng nhất trí mà thừa nhận rằng văn hóa Việt Nam đã và đang suy đồi, vong bản, bế tắc và ngớ ngẩn chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Vì đâu nước Việt Nam chúng ta lại trở nên như vậy khi mà chúng ta vẫn luôn tự hào là một dân tộc có truyền thống hiếu học với lịch sử bốn ngàn năm văn hiến. Đến thời thuộc địa, Việt Nam là nơi có những thành phố thịnh vượng và đẹp nhất đông nam á. Từ khi cộng sản cầm quyền cai trị thì nhân dân ta luôn đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hết cuộc cải cách này đến cuộc cải cách khác trong mọi lĩnh vực mà cuộc cải cách nào cũng thành công tốt đẹp mỹ mãn hoặc hơn cả mỹ mãn. Thậm chí sự thành công ấy của Việt Nam đã biến Việt Nam thành anh hùng của thế kỷ, thành lương tâm của thời đại, đến nỗi ông cựu Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khi đương nhiệm năm 2008 còn cười tươi như hoa mà phát biểu “Rất nhiều người nước ngoài ước mong được đến Việt Nam sinh sống.” Những ngôn từ ở trên có lẽ khiến quý vị có cảm tưởng đang nghe một cái băng rè. Đúng vậy. Cái đoạn băng ấy đã in vào cuộc đời tôi, không chỉ là tuổi thơ, thời đi học, mà ngay đến tận bây giờ. Không chỉ riêng tôi, mà hàng triệu học sinh và người dân Việt Nam đang bị tẩy não, nhồi nhét để trở thành những con gà công nghiệp được nhuộm đỏ từ đầu đến chân, hoặc là những con gà chọi nếu như người đó “chẳng may” lại có những năng khiếu đặc biệt được chọn làm gà chọi của nền giáo dục cộng sản Việt Nam. Nền giáo dục ấy đã tạo ra những người có bằng cấp nhưng kiến thức trống rỗng, lệch lạc và phiến diện với một phông văn hóa nghèo nàn, lạc hậu, ngô nghê và đầy tự ti khi có dịp bắt buộc phải thể hiện nó ra với bạn bè thế giới. Từ khi còn bé thơ, thậm chí còn chưa biết nói sõi, trẻ em Việt Nam đã được dạy sùng bái lãnh tụ bằng những bài hát, bài thơ ca ngợi đảng cộng sản và Hồ Chí Minh. Sự dạy ấy phải nói đúng là sự nhồi sọ và tẩy não được thực hiện trường kỳ cho đến mãi mãi (nếu như cái chế độ độc tài cộng sản vẫn chưa sụp đổ). Đồng thời với những bài hát, bài thơ ấy là muôn vàn cách mà nhà cầm quyền dùng để dìm nát, tiêu diệt tinh thần cầu thị tiến bộ thật sự ở con người, đó là tinh thần dân chủ. Từ đó, nền giáo dục Việt Nam chỉ còn có thể đào tạo ra những con người có thể có kiến thức, có chuyên môn nhưng thiếu văn hóa và không có tính độc lập. Con người ấy dù có tài giỏi đến đâu trong địa hạt chuyên môn của mình nhưng luôn bị lệ thuộc và sai khiến bởi nhà cầm quyền, thậm chí ngay cả trong lĩnh vực chuyên môn của mình. Từ gốc rễ, người dân Việt Nam đã không có tự do tư tưởng vì tư tưởng đã được đảng cộng sản chọn giùm học thuyết cộng sản chủ nghĩa xã hội của Các Mác Lê Nin Mao Trạch Đông. Cái lần chọn ấy, cộng sản đã quyết chọn một lần cho mãi mãi, chọn một lần cho tất cả, có chết cũng không thay đổi. Cho dù những đồng đảng khác đã chết sặc từ lâu với cái học thuyết ấy, chết đau đớn, chết hổ thẹn, chết nhục nhã, chết trơ trẽn, chết mà không ai thương vì thương không nổi nhưng cộng sản Việt Nam vẫn quyết tâm quyết tử đeo bám cái chủ nghĩa dị hợm bệnh hoạn ấy đến cùng. Giờ đây học thuyết ấy còn được bổ sung thêm cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh. Cái tư tưởng này theo lời chính Hồ Chí Minh đã nói, rằng “Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng của Mao Trạch Đông.”. Nếu không thích hoặc muốn thay đổi thì chỉ có con đường duy nhất là trở thành “phần tử phản động, thế lực thù địch” trong mắt nhà cầm quyền. Buồn thay! Tiếc thay! Hận thay! Ở Việt Nam, nền giáo dục - lĩnh vực quan trọng nhất trong sự phát triển con người và xã hội lại lấy chủ nghĩa Mác Lê Mao, tư tưởng Hồ Chí Minh làm tư tưởng duy nhất của giáo dục, tuyệt đối không được có bất kỳ một tư tưởng nào khác dù chỉ là manh nha, bóng gió xa xôi. Sự thảo luận-cốt lõi của một nền giáo dục chân chính, của khoa học thật sự, đã bị triệt tiêu từ gốc rễ khi con người bị hoặc tự trói chặt mình trong một thứ tư tưởng duy nhất là Mác Lê Mao Hồ, cái thứ tư tưởng mà không có tư tưởng gì còn tốt hơn là có nó. Tôi không thấy một tia sáng nào trong nền giáo dục Việt Nam khi mà nhà cầm quyền cùng với đám văn nô bồi bút là những kẻ trí thức lưu manh giả hiệu đã tiến sâu thêm vào sự độc tài trong giáo dục khi họ đưa cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh thành một môn học chính quy trong nhà trường, tồi tệ hơn nữa nó còn là môn học bắt buộc phải đạt trên 5 điểm thì mới đủ điều kiện thi tốt nghiệp đại học. Với một số trường, khoa chuyên nghành nhân văn, xã hội, nó còn là môn thi bắt buộc trong kỳ thi tốt nghiệp. Không có tự do tư tưởng thì không có tự do thảo luận. Thảo luận mà không được tự do thì thảo luận để làm gì? Thật ra ở Việt Nam, có mấy khi thảo luận thật sự là thảo luận. Thảo luận chỉ là để a dua nịnh bợ, để nhất trí trăm phần trăm với những gì “trên” đã thả xuống.     Nguồn: Facebook Ngô Duy Quyền    
......

Đại sứ Úc tại VN thăm HT Thích Quảng Độ

Sáng thứ năm 29 tháng 11 năm 2012, ông Hugh Borrowman, Đại sứ Úc tại Việt Nam đã từ Hà Nội vào Sài Gòn vấn an Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện. Ông Hugh Borrowman, Đại sứ Úc tại Việt Nam (phải) và Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ tại Thanh Minh Thiền Viện, sáng thứ năm 29 tháng 11 năm 2012. Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ đã dành cho Đài Á Châu Tự Do một cuộc phỏng vấn đặc biệt nhân sự kiện này. Trình bày tình hình Giáo hội Ỷ Lan: Kính bạch Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ. Được tin ông Hugh Borrowman, Đại sứ Úc Đại Lợi tại Việt Nam, đến thăm Đức Tăng Thống hôm thứ năm 29.11 tại Thanh Minh Thiền Viện, kính xin Đức Tăng Thống hoan hỉ cho biết nội dung cuộc gặp gỡ này? HT Thích Quảng Độ: Thưa cô Ỷ Lan và quý khán thính giả của Đài Á châu Tự do. Hôm qua ông Đại sứ Úc Đại Lợi có đến thăm tôi. Hiếm khi được gặp các vị ngoại giao nước ngoài như thế. Do đó, khi gặp được những dịp may như vậy, tôi nói rõ về tình hình của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong 37 năm qua. Sau 1975, Giáo hội bị một cái Pháp nạn rất nặng nề, đó là dưới chế độ Cộng sản từ khi mà họ toàn thắng trong miền Nam này cho đến bây giờ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vì không chịu khuất phục những bất công của họ, cho nên họ cứ tiếp tục đàn áp cho đến giờ phút này. Họ chưa chấm dứt sự kỳ thị, đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Cho nên những hoạt động của Giáo hội từ ba mươi mấy năm nay rất khó khăn. Thuyết pháp, giảng đạo không được, mở trường dạy học không được, nhất là sau khi họ đã lợi dụng được một số các Sư lập ra cái Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện nay nằm trong Mặt trận Tổ quốc và dưới sự lãnh đạo của Mặt trận. Họ có một Ủy ban Tôn giáo, tất cả các hoạt động của Giáo hội Phật giáo mà người ta thường gọi Giáo hội Quốc doanh đều do Cộng sản kiểm soát và chỉ huy hết, không có một cái gì gọi là tự trị hay độc lập cả. Bởi vậy cho nên đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất là họ rất có ác cảm. Nếu có một cơ hội nào dẹp bỏ được là họ sẽ áp dụng đấy thôi. Cho nên Giáo hội càng ngày càng khó khăn. Như hôm qua tôi mới được biết tin họ lại có cái Nghị định 92 gì đây này, mới nhất về tôn giáo đó. Chắc là còn gay gắt, nghiêm khắc hơn là các nghị định trước đây. Cái vấn đề thứ hai tôi trình bày với ông Đại sứ là vấn đề Dân chủ, Tự do. Cái nhu cầu dân chủ hóa Việt Nam là một nhu cầu rất cần thiết, không phải riêng cho Giáo hội mà cho toàn dân. Bởi vì toàn dân đang bị đàn áp. Ai thuận theo Cộng sản thì tương đối còn được dễ sống, còn ai không đồng ý với những đường lối chính sách của họ thì bị đàn áp đây. Gần đây bao nhiêu người đã bị đưa ra tòa, bị tống giam tù, cả thế giới biết rồi. Trong đó có rất nhiều thanh niên, chứ không như trước đây là những người lớn tuổi đâu. Thanh niên nam nữ, nhiều tuổi nhất là 20 tuổi cũng bị tù hết cả. Cho nên tôi có trình bày với ông Đại sứ cái nhu cầu dân chủ hóa Việt Nam của chúng tôi là nhu cầu cấp thiết nhất bây giờ để cho dân tộc Việt Nam có thể sánh vai với các dân tộc trên thế giới cùng nhau tiến bộ đến một nền văn minh nhân loại thật sự. Chứ còn dưới cái chế độ độc tài toàn trị như bây giờ người Việt Nam không tiến lên được, rồi bị tụt hậu đấy thôi. Tôi cũng có nói với ông Đại sứ Úc rằng là cái nguyện vọng của người dân Việt Nam như thế. Tự mình thì có thể khó khăn lắm, thực sự ra chúng tôi vẫn ý thức rằng phải tự người Việt Nam đã, rồi sự giúp bên ngoài là phần phụ trợ thôi, chứ không phải phần chính. Nhưng nếu được sự giúp đỡ của các nước dân chủ tiến bộ trên thế giới trong đó có nước Úc mà giúp một phần, có thể cái việc dân chủ hóa Việt Nam được dễ dàng chút nào không. Vấn đề biển đông Ỷ Lan: Bạch Đức Tăng Thống, còn vấn đề gì khác nữa không? HT Thích Quảng Độ: Vấn đề thứ ba đây cũng rất quan trọng, là vấn để Biển Đông. Bây giờ Việt Nam đã mất một phần rồi, đảo Hoàng sa, 8 đảo ở Trường Sa. Bây giờ Trung quốc đã lập Trung tâm huyện Tam Sa rồi, rồi đặt cơ quan hành chánh, quân sự để mà điều khiển cái vùng biển đó. Rồi dân chài của mình ra đánh cá thì họ bắt, họ giết, họ giữ bao chục năm nay rồi, thì tình hình đó rất nghiêm trọng. Tôi cũng nói với ông Đại sứ rằng cái Biển Đông không chỉ riêng quan trọng với Việt Nam, mà nó còn liên hệ … bây giờ thế giới thu hẹp lại lắm rồi. Không ai có thể sống cô lập được, không một nước nào có thể cô lập, độc lập mà sống được, cái thuyết nhân duyên của nhà Phật, cái này liên hệ với cái khác, mối liên quan chằng chịt với nhau không ai sống độc lập riêng rẻ mà tồn tại được. Thành ra cái Biển Đông tuy rằng lãnh thổ của Việt Nam nhưng mà toàn các nước vùng Thái Bình dương, Ấn Độ dương cũng có liên hệ, mà trong đó cũng có nước Úc. Bây giờ giả dụ như Trung quốc họ chiếm được toàn thể Biển Dông, họ làm chủ biển Malacca là con đường thông thương giữa Thái Bình dương và Ấn Độ dương thì nước Úc cũng không tránh khỏi cái sự ngăn trở. Cho nên đây là một cái việc chung, tôi có trình bày hết với ông Đại sứ như thế, cái tầm quan trọng của Biển Đông. Bây giờ chỉ có cái mong muốn là làm thế nào để dân chủ hóa được Việt Nam để rồi liên kết với tất cả các nước dân chủ trên thế giới, trong đó có nước Úc, thì tất cả liên minh dân chủ có thể giúp đỡ thì có thể giữ được Biển Đông. Còn riêng Việt Nam bây giờ thì tôi không có hy vọng gì. Ngay trong cái Đại hội Thượng đỉnh mới nhất cách đây mấy hôm trong tuyên bố chung, ông Hun Sen, Thủ tướng của Kampuchia ông nói rằng vấn để Biển Đông là không quốc tế hóa được. Việt Nam ngồi đó nhưng cũng im lặng, không dám phát biểu gì. Riêng ông Tổng thống Aquino III của Philippines là ông phản đối. Như thế chứng tỏ Việt Nam quá yếu rồi, không dám nói nữa. Còn mới nhất đây là giấy Thông hành họ in cái Lưỡi Bò nữa này, Passport họ in Lưỡi Bò, thì không biết Việt Nam đối xử ra làm sao? Bây giờ họ xin nhập cảnh visa vào Việt Nam đây, với cái Lưỡi Bò đấy mình có cho nhập cảnh hay không? Việt Nam có cho vào không? Có nhận cái visa nhập cảnh cái đó không? Mà nếu visa nhập cảnh cái đó thì coi như Việt Nam tự dâng nước mình cho Tàu rồi. Đó là những vấn đề mà tôi thảo luận, tôi trình bày với ông Đại sứ Úc như thế. Ỷ Lan: Kính bạch Đức Tăng Thống, xin hỏi một câu hỏi chót. Tháng 8 vừa qua thì Đại sứ Mỹ đến vấn an Hòa thượng, rồi bây giờ Úc Đại Lợi. Như vậy thì Đức Tăng Thống bay giờ hết quản chế rồi, muốn tiếp ai thì tiếp? HT Thích Quảng Độ: Đâu có tiếp ai thì tiếp, bây giờ Công an ngồi kèm… này bây giờ Công an họ vào quét chùa (cười) họ quét hộ sân chùa bao cửa chùa đó… ông công an ngoài ngõ đó. Thanh Minh giờ oai không?! Công an vào quét hộ sân chùa đó. Bao nhiêu chục năm nay thì cứ có một cái phòng trên lầu một đây này, cứ ở đây thôi. Chỉ có một tháng, bây giờ thì hai tháng một lần đi bệnh viện vậy thôi. Có ai ra vào gì đâu, mà mình có đi đâu được đâu? Mà đi đâu bệnh viện thì họ theo. Cũng như bây giờ ăn có một bữa, sáng ở dưới bưng lên. Ở ngoài cái cửa ra vào có cái ghế đẩu để đó, ăn xong để đó, dưới bếp họ lên họ đưa xuống, rồi họ khóa cửa sắt lại (cười). Cầu thang lên tôi có cái cửa sắt y như nhà tù vậy. Như vậy là hai mươi mấy năm nay rồi, từ ngày ở Bắc về. Đâu có ai cho thuyết pháp? Bây giờ tôi chỉ thuyết cho tôi thôi. Không được tụng kinh cho người khác, không được giảng đạo, chỉ có quyền tụng kinh cho mình thôi. Họ đã quy định rõ ràng. Ở đây là ở nhờ, chùa của Hòa thượng Thích Thanh Minh, Hòa thượng lấy tên Hòa thượng đặt tên chùa. Tôi từ suốt từ ngày đi tu sáu mươi mấy năm nay chỉ đi ở nhờ không thôi. Tôi mới thực sự là người vô sản chính cống đấy, hơn cả Đảng Cộng sản, hơn cả ông Marx Lenine đấy. Ông Marx Lenine có đất, có tài sản, chứ ông Sư Quảng Độ chẳng có tấc đất nào, mà tấc đất cắm cái dùi cũng không có. Cho nên Cộng sản bỏ tù tôi là bỏ bậy thôi. Tôi bây gờ rất là giải thoát. Thật sự vậy, không có cái gì ràng buộc. Ỷ Lan: Xin cám ơn Đức Tăng Thống. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/australian-ambassador-visit-t-q-d...  
......

Bản Lên Tiếng của Thân Nhân, Gia Đình Các Thanh Niên Công Giáo Sắp Bị Đưa Ra Tòa Xét Xử Vụ Án “Bỏ Túi”

Kính gởi: Quý vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, Quý vị lãnh đạo các đoàn thể, tổ chức người Việt trong và ngoài nước, Các cơ quan thông tấn, truyền thông trong và ngoài nước, Các tổ chức đấu tranh bảo vệ nhân quyền, dân chủ trên khắp thế giới, Chúng con là người nhà của các Thanh niên Công Giáo và Tin Lành đã bị Công an Việt Nam bắt cóc, giam cầm trái pháp luật trong hơn 01 năm qua. Chúng con xin tri ân toàn thể quý vị, đã nổ lực bằng sự lên tiếng và vận động kêu gọi trả tự do vô điều kiện cho con em chúng con trong hơn 1 năm qua. Việc làm của quý vị đã giúp chuyển tải đến toàn thế giới về sự vi phạm trắng trợn nhân quyền, nhân phẩm của nhà nước Việt Nam đối với những người con yêu nước của Tổ Quốc Việt Nam. Kính mong quý vị tiếp tục thực hiện những việc làm mang nhiều ý nghĩa này. Sự lên tiếng của quý vị đã mang lại nhiều sự an ủi, động viên và làm cho chúng con yên tâm, tự tin hơn để tiếp tục đấu tranh đòi tự do cho con em mình. Để chuẩn bị cho phiên toà “Bỏ Túi” xét xử các thanh niên yêu nước sẽ diễn ra từ đây đến cuối năm. Chúng con kính xin quý vị cầu nguyện cho con em của chúng con can đảm, kiên cường và khôn ngoan trước cường quyền “hèn với giặc, ác với dân” của nhà nước cộng sản Việt Nam. Chúng con kính xin quý vị phổ biến rộng rãi thông tin về phiên toà “Bỏ Túi” bất công và phi pháp này đến nhiều người, nhiều nơi. Đối với các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, chúng con đề nghị gởi phóng viên đến hiện trường, nhiều phần tại thành phố Vinh, Nghệ An, để lấy thông tin. Ngoài ra, kính mong đồng bào người Việt Nam ở nước ngoài vận động các chính phủ để toà đại sứ gởi nhân viên sứ quán đến tham dự phiên toà. Chúng con cũng mong mỏi có được nhiều các cơ quan quốc tế đấu tranh cho nhân quyền, gởi người đến tham dự phiên toà, để thấy rõ bản chất vi phạm nhân quyền, các công ước quốc tế của nhà nước Việt Nam. Chúng tôi tha thiết kêu gọi các tổ chức nhân quyền và cộng đồng những người yêu chuộng công lý và sự thật tại Việt Nam và khắp nơi trên thế giới tổ chức cầu nguyện, cùng lên tiếng yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam trả tự do cho các Thanh niên này và các tù nhân lương tâm khác. Xin các Blogger, các phóng viên và các cơ quan truyền thông tiếp tục đưa tin, viết bài đấu tranh cho người thân của chúng con. Chúng con thành kính tri ân! Nghệ An, ngày 30 tháng 11 năm 2012. Các gia đình đồng ký tên Nguyễn Thị Hoá mẹ của Phêrô Nguyễn Đình Cương Đặng Xuân Hà anh trai của Đặng Xuân Diệu Thái Văn Hoà anh trai của Thái Văn Dung Trần Khắc Hiển anh trai của Trần Minh Nhật Hồ Thị Thuyền chị gái của Hồ Văn Oanh Trần Thị Liệu mẹ của Nguyễn Văn Oai Nguyễn Văn Chắc bố của Nguyễn Văn Duyệt Hồ Đức Hiền bố của Hồ Đức Hoà Đỗ Văn Phẩm
......

Suy nghĩ về về bản chất dân chủ của bầu cử

Lê Quang Việt (LCST) - Điểm 3 Điều 21 Tuyên ngôn thế giới nhân quyền mà Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1948 đã nêu rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực của nhà nước. Ý chí này thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, tổ chức theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quyền lực của nhân dân là tối thượng. Bản thân nhà nước không “tự nhiên” có quyền mà do nhân dân ủy quyền; quyền lực của người cầm quyền có thể bị tước bỏ, quyền lực của nhân dân thì không ai có thể tước bỏ nó đi được. Điều đáng nói ở đây là, mặc dù hành vi bầu cử rất đơn giản, nhưng vai trò, ý nghĩa của bầu cử lại rất to lớn, là hoạt động cụ thể và thiết thực nhất của quyền lực nhân dân. Dân chủ xét dưới góc độ tổ chức bộ máy nhà nước có nghĩa là nhân dân chính là chủ thể của quá trình tổ chức. Trong thế giới hiện đại, chính quyền thành lập không qua bầu cử - như bằng đảo chính quân sự - dù nhằm mục đích gì (kể cả được coi là chính đáng, như chính quyền cũ quá thối nát), thường không được các quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận, hoặc nếu có thì sự thừa nhận cũng hết sức dè dặt. Ngược lại, một chính quyền do người dân thành lập thông qua bầu cử theo những nguyên tắc tiến bộ: tự do, công bằng và trung thực, thì về nguyên tắc, chính quyền đó được coi là hợp pháp và được sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế. Ý chí nhân dân là vấn đề quan trọng nhất của bầu cử bởi vì chỉ khi bầu cử mang ý chí nhân dân thì ý nghĩa dân chủ đích thưc của nó mới đạt được. Như vậy, chỉ bằng ý chí nhân dân thể hiện trong bầu cử, chính quyền mới được hợp pháp hóa.  Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình. Trong nhà nước dân chủ, bầu cử được tiến hành để xác định quyền cho những người đại diện nắm giữ những cương vị chính trị. Một vấn đề quan trọng của Luật Hiến pháp là việc nhân dân lựa chọn đại diện của mình để giữ những chức vụ đại biểu ở trung ương và địa phương. Vì thế việc phản ánh trung thực ý chí của nhân dân là vấn đề cốt lõi của mọi cuộc bầu cử. Như vậy, ý chí của nhân dân chính là nền tảng của quyền lực nhà nước. Thông qua bầu cử, nhân dân chọn lựa cho mình người đại diện và ủy thác quyền lực cho họ. Nói cách khác, cơ quan đại diện nhận quyền lực từ nhân dân và thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực (chủ quyền nhân dân) trong bộ máy nhà nước. Chính vì lẽ đó, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp được cộng đồng quốc tế công nhận.Vậy những yếu tố nào cần có để cuộc bầu cử mang đúng bản chất dân chủ thiết thực? Có thể cho rằng, đã nói đến bầu cử như là cách thức thành lập các chức danh nhà nước quan trọng theo ý chí của các thành viên của cộng đồng xã hội thì bầu cử chỉ có ý nghĩa nếu như nó được tiến hành tự do, công bằng, công khai, mở rộng, khách quan và chính xác. Những thuộc tính phải có của bầu cử nêu trên có mối quan hệ chặt chẽ và là cơ sở của nhau, đôi khi giao nhau vì có chung những biểu hiện và suy cho cùng, cũng là để cho cuộc bầu cử thực sự dân chủ: kết quả của bầu cử là sự thể hiện ý chí chung của nhân dân, không phải ý chí nhà nước hay bất kỳ tổ chức nào đang tồn tại, kể cả các tổ chức có vai trò quan trọng trong hệ thống chính trị. Các yêu cầu cơ bản bảo đảm ý chí nhân dân trong bầu cử đã được nhân loại quan tâm trong nhiều thập niên và đã được đúc rút, tổng kết. Đó là việc phải duy trì các nguyên tắc bầu cử một cách thực chất bao gồm: phổ thông, bình đẳng và bỏ phiếu kín. Điều 25 Công quốc tế về quyền dân sự - chính trị 1966 khẳng định lại một lần nữa quan điểm công dân có quyền và cơ hội để “bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình”. Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền văn minh tiến bộ và do đó cũng có tính phổ biến nhất trong thời đại ngày nay. Sự xuất hiện của một chính quyền mới hay nói cụ thể hơn là những người đại diện mới do dân thành lập theo định kỳ, qua một cuộc bầu cử công khai, rộng rãi và khách quan được coi là việc trao quyền hợp pháp, được đón nhận một cách tự nhiên trong hoạt động chính trị và trong quan hệ quốc tế. khi nào các quyền con người được tôn trọng và có cơ chế bảo vệ và thực thi trong một xã hội dân sự phát triển và một nền pháp quyền vững mạnh thi bầu cử nhất định sẽ đúng bản chất dân chủ. Nhận thấy rằng, khi tương quan lực lượng chính trị xã hội chỉ được đánh giá đúng, khách quan nếu bầu cử công khai, không gian lận. Đã gian lận trong bầu cử thì không thể nói đến ý chí nhân dân. Ở các quốc gia phát triển và trong thể chế chính trị đa nguyên đa đảng, nếu như ý chí của nhân dân được phản ánh trung thực, kết quả bầu cử là thước đo của sự phát triển và giá trị của các xu hướng chính trị, phục vụ nhu cầu thông tin chính trị của mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội. Bầu cử là phương thức hợp pháp hóa chính quyền văn minh tiến bộ và do đó cũng có tính phổ biến nhất trong thời đại ngày nay. Sự xuất hiện của một chính quyền mới hay nói cụ thể hơn là những người đại diện mới do dân thành lập theo định kỳ, qua một cuộc bầu cử công khai, rộng rãi và khách quan được coi là việc trao quyền hợp pháp, được đón nhận một cách tự nhiên trong hoạt động chính trị và trong quan hệ quốc tế. Hà Nội, Ngày 29 tháng 12 năm 2012 Lê Quang Việt Nguồn: http://luatcuasuthat.blogspot.com.au/2012/11/suy-nghi-ve-ve-ban-chat-dan...
......

TUYÊN BỐ PHẢN ĐỐI NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC IN HÌNH "LƯỠI BÒ" LÊN HỘ CHIẾU CÔNG DÂN

Chúng tôi, những người ký tên vào Tuyên bố này, cực lực phản đối hành động khiêu khích mới của nhà cầm quyền Trung Quốc cho in đường 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông (thường gọi là đường “lưỡi bò”) lên hộ chiếu cấp cho công dân nước mình. Hành động được tính toán này cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc ngoan cố tiếp tục thực hiện mọi thủ đoạn nhằm thôn tính Biển Đông, mở đường cho những bước leo thang mới của Trung Quốc trực tiếp xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước có liên quan trên Biển Đông, uy hiếp nghiêm trọng hòa bình và ổn định trong khu vực. Bước đi mới này bóc trần sự giả dối của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi nói tại Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như tại Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 7 mới đây về hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước, đặc biệt là các nước ven Biển Đông. Đã có nhiều nước trên thế giới nghiêm khắc lên án những hành động trái luât pháp quốc tế này của nhà cầm quyền Trung Quốc và không chấp nhận hộ chiếu của công dân Trung Quốc có in hình xâm phạm chủ quyền nước khác.   Chúng tôi ủng hộ tuyên bố ngày 22-11-2012 của người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN, trong đó nêu rõ: “Việc làm trên của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan đến Biển Đông”. Chúng tôi đồng tình với những việc làm của các nước trên thế giới lên án bước leo thang mới này của Trung Quốc trong việc thực hiện mưu đồ bành trướng.   Chúng tôi đòi nhà cầm quyền Trung Quốc phải:   - tôn trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền của các quốc gia có liên quan trên Biển Đông,   - từ bỏ mọi âm mưu “bẻ từng cái đũa trong bó đũa” chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông cũng như mọi việc làm cản trở sự thông qua Quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC) mà tất cả các quốc gia liên quan phải tôn trọng trên Biển Đông.   Chúng tôi cùng nhân dân cả nước kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển và hải đảo của nước mình trên Biển Đông, đồng thời đoàn kết và cùng hành động với nhân dân các nước hữu quan đấu tranh cho hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển trên Biển Đông.   Chúng tôi luôn luôn coi trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, mong nhân dân Trung Quốc hiểu đúng sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế về biển, không bị lừa mị và kích động bởi chính sách bành trướng của nhà cầm quyền mang danh chủ nghĩa dân tộc.   Chúng tôi, những người ký đầu tiên vào tuyên bố này mong đồng bào ở trong và ngoài nước tham gia ký tên để biểu thị sự đoàn kết nhất trí của dân tộc ta kiên quyết chống mọi hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia.   Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25.11.2012   ĐỒNG KÝ TÊN: Ký tên và danh sách ký tên quý độc giả có thể vào Links bên dưới:http://boxitvn.blogspot.de/2012/11/thong-bao-ve-viec-tiep-nhan-chu-ky-vao.html#more
......

Tàu Trung Quốc lại cắt cáp tàu Bình Minh 2 của Việt Nam ?

Một nguồn tin còn đang được kiểm chứng, vào lúc gần 8 giờ sáng hôm nay, thứ sáu 30.11.2012 tàu  Trung cộng lại xâm nhập sâu vào lãnh hải VN cắt cáp tàu thăm dò Bình Minh 2. Blogger Mạnh Quân đã thông báo tin này trên internet. Sau đó cũng có tin trên trang mạng anh Ba Sàm cho biết các nhân viên đi trên tàu hộ vệ của tàu Bình Minh vừa báo về cho biết tàu này lại vừa bị tàu của phía Trung Quốc cắt cáp. http://anhbasam.wordpress.com/">http://anhbasam.wordpress.com/ http://huynhngocchenh.blogspot.de/">http://huynhngocchenh.blogspot.de/ Việc cắt cáp tàu Bình Minh 2 là có thật. (Petrotimes) - Ngày 30/11/2012, trên vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Nam, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đang làm nhiệm vụ lại bị các tàu Trung Quốc xâm hại, phá hoại cáp thu nổ địa chấn. Đây là một thủ đoạn mới của Trung Quốc khi cho tàu cá vừa đánh bắt hải sản trái phép vừa cản trở, xâm hại hoạt động hợp pháp của PVN trên vùng biển Việt Nam. Phóng viên Petrotimes đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Việt Dũng, Phó trưởng ban Tìm kiếm Thăm dò - phụ trách Văn phòng Biển Đông của PVN về vụ việc nghiêm trọng này. PV: Theo một số nguồn tin, tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của PVN lại bị cản trở khi đang làm việc ở vùng biển Việt Nam. Xin ông cho biết thông tin cụ thể? Ông Phạm Việt Dũng: Vào lúc 4 giờ 5 phút ngày 30/11/2012, khi tàu Bình Minh 02 đang di chuyển từ tuyến PVN12-R009 về tuyến PVN12-R005 ở khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ để chuẩn bị khảo sát. Có rất nhiều tàu cá Trung Quốc đang hoạt động tại đây. Khi các lực lượng chức năng phát tín hiệu cảnh báo và yêu cầu các tàu cá ra khỏi khu vực làm việc của tàu Bình Minh 02, một cặp tàu kéo dã cào mang số hiệu 16025 và 16028 của Trung Quốc đã chạy qua phía sau tàu Bình Minh 02 và gây đứt cáp địa chấn của tàu Bình Minh 02 cách phao đuôi khoảng 25m. Vị trí cáp bị đứt có tọa độ là 17º26 Bắc và 108º02 Đông, cách đảo Cồn Cỏ 43 hải lý về phía đông nam và cách đường trung tuyến Việt Nam - Trung Quốc 20 hải lý về phía tây. PV: Xin ông cho biết đôi nét về nhiệm vụ của tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 và những khó khăn khi thực hiện nhiệm vụ này? Ông Phạm Việt Dũng: Từ tháng 5/2012 đến nay, tàu Bình Minh 02 tiến hành đề án khảo sát địa chấn 2D liên kết các bể trầm tích trên thềm lục địa Việt Nam. Tàu địa chấn Bình Minh 02 bắt đầu khảo sát các tuyến liên kết ở bể Cửu Long, sau đó là bể Nam Côn Sơn, bể Phú Khánh và hiện nay đang đang khảo sát các tuyến liên kết ở bể Sông Hồng tại khu vực ngoài cửa vịnh Bắc Bộ. Thời gian gần đây, có rất nhiều tàu cá Trung Quốc xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, với số lượng rất lớn, tập trung ở khu vực từ Cồn Cỏ đến Nam Tri Tôn, có ngày lên tới hơn 100 lần chiếc. Các tàu chấp pháp của Việt Nam đã yêu cầu các tàu cá Trung Quốc rút ra khỏi vùng biển Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều tàu cá Trung Quốc vẫn cố tình quay trở lại xâm phạm vùng biển Việt Nam. PV: Vậy phía PVN đã có những phản ứng như thế nào trước vụ việc này, thưa ông? Ông Phạm Việt Dũng: Ngay sau khi xảy ra sự việc, PVN đã chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và tàu Bình Minh 02 nhanh chóng khắc phục sự cố, sửa chữa cáp địa chấn để sớm tiếp tục công việc. Đến 14 giờ ngày 1/12/2012, anh em đã khắc phục xong sự cố cáp địa chấn và tàu Bình Minh 02 đã tiếp tục công tác khảo sát bình thường. Việc tàu cá Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm vùng biển Việt Nam đánh bắt hải sản, không những vi phạm chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam mà còn cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam và làm ảnh hưởng đến hoạt động trên biển của PVN. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam kịch liệt phản đối hành động xâm hại tàu Bình Minh 02 của tàu cá Trung Quốc và kiến nghị các cơ quan chức năng yêu cầu phía Trung Quốc giáo dục công dân Trung Quốc tôn trọng vùng biển Việt Nam, không làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các tàu Việt Nam, trong đó có các tàu khảo sát của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. PV: Xin cảm ơn ông. Tiến Dũng (thực hiện)www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap-tau-bi...">http://www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap...">www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap-tau-bi...">http://www.petrotimes.vn/news/vn/bien-dong/tau-ca-trung-quoc-gay-dut-cap...  Anh Ba Sàm bổ sung: hồi 17h5‘ cùng ngày, trang PetroTimes đã sửa lại cái tựa cùng một số chi tiết trong nội dung bài, như bỏ đi đoạn “Đây là một thủ đoạn mới của Trung Quốc khi cho tàu cá vừa đánh bắt hải sản trái phép vừa cản trở, xâm hại hoạt động hợp pháp của PVN trên vùng biển Việt Nam.” Còn chữ “phá hoại“ thì được sửa thành “gây đứt“ v.v.. Rõ ràng đã có sự chỉ đạo ở trên muốn làm nhẹ vụ việc này. Chúng tôi đã chụp lại toàn bộ bản gốc ban đầu của bài báo, đăng lại ở cuối trang. http://anhbasam.wordpress.com/2012/12/03/1436-tau-trung-quoc-lai-cat-cap...  
......

Đối phó với Trung Quốc bằng cách nào

Trước những hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với các nước trong khu vực, đã đến lúc phải nhìn vấn đề một cách cụ thể hơn, ngay cả tình huống chiến tranh sẽ được Trung Quốc tiến hành. Đài Á châu Tự do đưa ra hai câu hỏi cho ba nhân sĩ trí thức hải ngoại nhằm tìm hiểu thêm nguyện vọng của một số lớn người Việt trước tình hình căng thẳng và rất nguy hiểm cho đất nước hiện nay. Ba vị khách mời là Giáo sư Vũ Quốc Thúc hiện sống tại Pháp. Giáo sư đã giảng dạy tại Đại học Luật Khoa Sài Gòn và từng giữ chức Quốc Vụ Khanh từ năm 1968 cho tới 1972 dưới chính phủ của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Khách mời thứ hai là TS Phùng Liên Đoàn chuyên viên về hạt nhân. Trước năm 1975 ông làm việc tại Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, sau năm 75 ông là Tổng giám đốc công ty tư vấn Professional Analysis có văn phòng tại Nevada và Tennessee chuyên tư vấn các vấn đề về nhà máy hạt nhân. Người thứ ba là ông Ngô Nhân Dụng, trước năm 1975 ông là giáo sư văn chương ở các trường Chu Văn An, Nguyễn Du. Sau năm 1975 ông giảng dạy tại các trường Võ Bị Hoàng Gia St. Jean, đại học Concordia, đại học McGill và đại học Québec tại Montréal (UQAM) về môn Tài chánh xí nghiệp. Hiện nay ông là cây bỉnh bút của Nhật báo Người Việt Tại California. Việt Nam cần làm gì? Mặc Lâm: Thưa giáo sư, theo ông thì Việt Nam cần tập trung vào điều gì nhất trong chiến lược lâu dài nhằm đối phó với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông? Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Theo tôi thì Việt Nam chúng ta phải tìm cách thay đổi thể chế của mình đã. Trước hết mình phải làm thế nào cho mỗi người Việt Nam trong hay ngoài nứơc đều hãnh diện mình là người Việt Nam. Chuyện làm tôi bận tâm nhất là một phần lớn người Việt ở hải ngoại không muốn về nước nữa. Trong khi đó lại có xu hướng người trong nước, nhất là người trẻ lại muốn được ra hải ngoại để sung sướng hơn. Chuyện Biển Đông một khi chúng ta thống nhất, đoàn kết, một lòng một dạ thì ta không sợ ai cả. Một khi nhất trí thì mình sẽ bảo vệ đất nước một cách dễ dàng còn nếu chia rẽ trong nội bộ thì ngoại quốc sẽ lợi dụng tình trạng đó để xâm chiếm lãnh thổ của mình. Phải thống nhất nhân tâm. Khi toàn dân đồng lòng và lúc đó các đường lối được áp dụng chỉ chú trọng tới quyền lợi tối thượng của dân tộc chứ không riêng cho ai cả. Mặc Lâm: Cũng câu hỏi này xin được dành cho nhà báo Ngô Nhân Dụng. Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Đối với vần đề Biển Đông tôi nghĩ chính quyền Việt Nam ngay bây giờ nên tìm cách quốc tế hóa vấn đề này. Đưa vấn đề này ra trước nhất tại Đông Nam Á và thứ hai là đưa ra trên các diễn đàn và các tòa án quốc tế để yêu cầu Trung Quốc phải giảm bớt những hành động có tính cách xâm lược, đè nén đối với người dân Việt Nam chứ không phải đối với chính quyền Việt Nam. Đây là một việc cần làm ngay nhưng muốn cho công cuộc bảo vệ chủ quyền của nước ta ở Biển Đông hữu hiệu và lâu dài thì chuyện đầu tiên là Việt nam phải mạnh lên. Muốn mạnh lên thì Việt Nam cần phải đạt tới tỷ lệ tăng trưởng mỗi năm 9-10%. Việc phát triển kinh tế đó không phải là việc một chính quyền có thể một mình đứng ra làm đựơc mà cần phải có sự tham gia của toàn dân. Mà muốn toàn dân tham gia thì cần phải cải tổ không những cơ cấu kinh tế hiện nay quá chú trọng đến quốc doanh mà cần phải cải tổ cả chính trị để cho dân chúng có được tiếng nói về việc điều khiển công việc quốc gia thì lúc bấy giờ dân mới có thể giàu, nước mới có thể mạnh được. Mặc Lâm: Và xin TS Phùng Liên Đoàn cho ý kíến. TS Phùng Liên Đoàn: Theo tôi nghĩ mình là nước nhỏ, yếu mà lại gần Trung Quốc nhất nên họ sẽ đối xử với mình bằng nhiều chuyện như đã rồi. Giống như những trận đánh tại biên giới hay Hoàng Sa, Trường Sa thành ra mình phải hết sức mềm mỏng và phải tìm rất nhiều người bạn quốc tế. Phải biến vấn đề này thành vấn đề quốc tế chứ mình không thể cứng được bởi vì Việt Nam chỉ thiệt mà thôi bởi vì không có lợi gì trong cuộc đọ sức không cân xứng này. Nếu chiến tranh xảy ra... Mặc Lâm: Bằng kinh nghiệm của mình thì theo quý vị, người Việt hải ngoại có sẵn lòng để đóng góp tiền bạc, trí tuệ thậm chí xương máu khi có chiến tranh xảy ra với Trung Quốc hay không? TS Phùng Liên Đoàn: Cả hai ba triệu người Việt ở hải ngoại, bất kể làm việc bằng đầu óc hay chân tay họ luôn luôn có những bầu máu nóng yêu nước nhưng đóng góp bằng cách nào thì đó là một vấn đề khác. Vì đóng góp kể cả xương máu thì phải về Việt Nam đầu quân nhưng sự thực vấn đề liên lạc giữa chính phủ Việt Nam và người hải ngoại rất rời rạc không có một điều gì để thúc đẩy cho người Việt hải ngoại về Việt Nam thực hiện điều đó. Hai nữa đóng góp ở ngoại quốc thì bằng tiền bạc hay vận động những cơ quan bạn bè hay chính phủ của nước sở tại thì tôi nghĩ người Việt có thề làm được nhưng phải có tổ chức. Tổ chức ra sao, đóng góp cách nào thì cần phải có sự liên lạc rất là thân thiện giữa chính phủ và kiều bào. Nhưng hiện giờ chính phủ Việt Nam không màng gì tới ý nghĩ và sự đóng góp của người Việt trong nước. Một số nhỏ làm việc trong tư cách lãnh đạo nhưng quyết định tất cả các công việc hệ trọng của đất nước thành ra làm nản lòng những người muốn đóng góp trí tuệ cũng như sức lực, tiền bạc, xương máu cho đất nước. Mặc Lâm: Xin được quay lại với giáo sư Vũ Quốc Thúc. Giáo Sư Vũ Quốc Thúc: Đó là bổn phận chứ không phải chuyện sẵn lòng hay không sẵn lòng một khi đã coi mình là dân Việt Nam. Nếu có xảy ra chiến tranh với Trung Quốc thì bằng mọi cách phải chống lại kẻ ngoại xâm. Nhưng điều trước tiên là ở trong nước phải làm thế nào để đoàn kết toàn dân. Hơn tám chục triệu người trong nứơc sẽ bị trước tiên nếu Trung Quốc xâm lăng. Rồi những người ở hải ngoại cũng sẽ về đóng góp lúc đó sẽ có những người cho rằng tôi không phải là dân Việt Nam nữa thì những người đó phải có sự chọn lựa. Trái lại nếu bảo rằng Việt Nam không thay đổi nên tôi chẳng về, thế thì mình đã quên tư cách người Việt Nam của mình thì hà tất phải bàn về thái độ đó nữa vì người ta đã chọn lựa rồi. Mặc Lâm: Và nhà báo Ngô Nhân Dụng, ông nghĩ thế nào? Nhà báo Ngô Nhân Dụng: Bất cứ ai là người Việt Nam, phần lớn người Việt ở nước ngoài đểu có tấm lòng thiết tha đối với tổ quốc vì vậy họ lúc nào cũng sẵn sàng đóng góp. Họăc là hiểu biết, họăc là tiền bạc, sức lực vào việc bảo vệ chủ quyền của nứơc Việt Nam. Nhưng tất nhiên người ta cũng phải dè dặt và chỉ góp công vào nếu người ta thấy việc góp công đó đưa tới sự phồn thịnh thật sự cho đất nứơc. Đưa tới được một nước Việt nam trong đó người dân được tự do phát triển. Điều kiện để cho tất cả mọi người Việt Nam hải ngoại tham gia vào việc bảo vệ tổ quốc là phải có một nước Việt Nam thật sự tự do và độc lập. Mặc Lâm: Xin cảm ơn ba vị khách mời, cám ơn quý thính giả đã bỏ công theo dõi chương trình lấy ý kiến này. http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-to-cope-w-cn-threat-ml-11282012152946.html
......

Đập thủy điện Đăk Mek 3 vỡ vì dùng bê tông... đất trộn cát

Liên quan đến vụ vỡ đập thuỷ điện Đăk Mek 3 gây thiệt hại hàng trăm triệu đồng và làm chết một công nhân, theo báo Dân Trí, trong cuộc họp báo sáng nay 29/11, UBND tỉnh Kon Tum nhận định: Chủ đầu tư đã thi công đập sai so với hồ sơ thiết kế cơ sở. Ông Bùi Văn Cư - Phó Giám đốc Sở Công thương - giải thích, đơn vị tư vấn đã đề xuất với chủ đầu tư rằng với loại đập bê tông trọng lực thì phải dùng bê tông đá hộc, vữa mác 150 và bơm liên tục để tạo nên một thân đập có kết cấu vững chắc. Song tại hiện trường, đơn vị thi công lại cho chở đất, đá cuội, sỏi dưới lòng suối để đổ vào bên trong thân đập.  Ông Cư còn cho biết thêm, phần thượng lưu của thủy điện bị vỡ gần hết. Trong thiết kế cơ sở, đập thủy điện Đăk Mek 3 có tổng chiều dài 165m, do đó thông tin công an huyện Đak Glei đo đạc phần bị vỡ là 109m là hoàn toàn có cơ sở. Trong khi đó, chủ đầu tư lại đưa ra con số: phần đập bị vỡ là 60m, chiều dài của đập là 80m, không hiểu có dụng ý gì? ông Cư khẳng định: "Đối với công trình thủy điện nhỏ do tư nhân làm chủ đầu tư, mọi khâu từ thiết kế, thi công đến giám sát đều do chủ đầu tư quyết định. Do vậy, không ai kiểm soát được chủ đầu tư chi thực tế bao nhiêu tiền để xây dựng công trình. Chủ đầu tư nói chi phí xây dựng là trên 200 tỷ đồng nhưng thực tế họ làm hết bao nhiêu chỉ họ mới biết. Và chuyện cơ quan chức năng không có hồ sơ thi công là chuyện bình thường".   Dư luận cho rằng dù bất cứ lý do gì, từ sư vô trách nhiệm của chính quyền đến văn hóa tham lam, rút ruột công trình, „ăn thiệt, làm dối“ của chủ đầu tư, thì những thiệt hại nếu có sự cố xảy ra, chỉ có người dân là lãnh đủ.
......

Trung Quốc đòi khám xét tàu thuyền ở biển Đông

Hôm Thứ Tư 28/11/2012, tờ Trung Quốc Nhật báo, bản Anh ngữ đưa tin nhà cầm quyền tỉnh Hải Nam hôm thứ Ba 27/11/2012 đưa ra Quyết định bắt đầu từ tháng 1.1.2013 cảnh sát biên phòng tỉnh Hải Nam, được lệnh khám xét và có quyền nắm quyền khống chế tàu và các phương tiện liên lạc của các tàu bị coi là “xâm nhập bất hợp pháp vùng biển chủ quyền” , mà Bắc Kinh xem là lãnh hải của mình ở biển Đông hoặc ra lệnh cho những tàu đó đổi hướng hoặc ngừng chạy. Quyết định còn nhấn mạnh cảnh sát biên phòng còn tăng cường tuần tra các vùng biển thuộc cái gọi là thành phố Tam Sa và phối hợp hoạt động với các hoạt động tuần tiễu thường xuyên trên biển Đông để bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển. Rõ ràng, quyết định nói trên nhắm phần lớn vào tàu thuyền Việt Nam và Philippines.   Hành động này được tiếp theo các hành động như xây dựng cơ sở Radar quân sự, phi đạo cho phi cơ, thành lập thành phố Tam Sa, thành lập Bộ chỉ huy quân sự Tam Sa đặt ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, xây dựng hạ tầng cơ sở, đường xá, nhà cửa, nhà máy lọc nước, nhà máy “xử lý” rác, nhà bưu điện, cơ sở khí tượng ở Phú Lâm, cho in bản đồ thành phố TamSa, in hình đường lưỡi bò trên hộ chiếu của công dân Trung quốc,… chứng tỏ chủ trương bá quyền bành trướng của Bắc Kinh trước sau như một, dù có thay đổi lãnh tụ.   Cho tới nay, Bắc Kinh luôn rêu rao rằng không muốn gia tăng căng thẳng với các nước chung quanh. Nhưng trong thực tế vẫn tiếp tục các hành động lấn tới, đẩy thêm áp lực.   Với việc cứ khư khư ôm16 chử vàng và 4 tốt của lãnh đạo CSVN, không biết rồi đây ngư dân VN, thậm chí kể cả các tàu hải quân hay tàu “công vụ”, cảnh sát biển Việt Nam hoạt động trong những vùng biển mình tuyên bố chủ quyền nhưng nằm trong cái “Lưỡi Bò” sẽ ra sao.
......

Đảng là bà của luật pháp

Chúng ta thường xuyên nghe cụm từ “Đảng và Nhà nước”. Tại sao phải đưa từ Đảng vào cụm từ đó và đứng trên Nhà nước, làm nhà nước mất thiêng, vừa tốn kém giấy mực vừa gây nhầm lẫn cho quốc tế ? (vì đảng tiếng anh còn có nghĩa là bữa tiệc)   Phải dùng cụm từ đó là vì nhân dân Việt Nam đang “một cổ hai tròng”, có 2 bộ máy song trùng đè đầu cưỡi cổ. Cứ bên Chính phủ có một “Bộ” là bên Đảng có một “Ban”. “Ban” chỉ đạo còn “Bộ” thực hiện. Dân phải kiếm tiền nuôi hai người tự nhận là lãnh đạo cỡi trên lưng, thỉnh thoảng lại có một cái bóng nằm giữa cũng tự xưng là lãnh đạo.   Công khai lấy tiền của dân   Điều 46 điều lệ của Đảng cộng sản, có quy định là: “tài chính đảng gồm các nguồn thu từ: Đảng phí, hoạt động kinh tế của Đảng và ngân sách Nhà nước”. Đảng phí thì ít, hoạt động kinh tế thì lỗ, thậm chí phải bù thêm. Phần nhiều nhất, quan trọng nhất cho hoạt động của đảng là là đến từ ngân sách Nhà nước.   Khi cần tiền thì đảng sang Bộ tài chính lấy và hầu hết chi bằng tiền mặt. Hoạt động của Đảng có ghi ra thành mục, tương ứng với các dòng vốn chi cho các hoạt động đó nhưng một số cơ quan của trong ngành an ninh, nội chính còn lấy lý do bảo mật thậm chí không ghi hạng mục và hạn mức, tự “vẽ” dự án, chuyên án cho riêng mình để chi tiêu.   Cho đến nay dân chưa bao giờ được nhìn thấy báo cáo kiểm toán công khai xem cơ quan Đảng đã sử dụng bao nhiêu tiền của dân và chi tiêu về vấn đề gì ?. Người dân không ai biết được ngoại trừ bộ phận kinh tài của đảng, và các đơn vị đi thanh tra, kiểm tra với nhau. Kiểm toán Nhà nước thì cũng đưa thông tin nhỏ giọt và có mục đích riêng.      Tại sao nhân dân lại phải đóng thuế nuôi đảng ? Có người đã hỏi điều này ở đại hội thì ông Đỗ Mười khi đó là tổng bí thư trả lời là: “Đảng lãnh đạo dân thì nhận lương của dân là hợp lý”. Nhưng dân có cần đảng lãnh đạo không khi họ đã có Nhà nước ?. Nghiêm trọng hơn là sau này nếu có một đảng nào đó lên lãnh đạo rồi học theo cách đảng Cộng sản cũng đòi tiền ngân sách thì sao ?   Tóm lại ta có thể hình dung Mẹ Việt Nam hằng ngày, bán mặt cho đất bán lưng cho trời, nhưng lại phải cõng trên lưng 2 người rất béo, rất khỏe và ông nào cũng đòi lãnh đạo. Một ông thì lãnh đạo bằng Nghị quyết còn ông kia thì bằng Luật pháp, mẹ giống như con trâu đã bị xâu mũi kéo cày, hai bên 2 dây thừng, thỉnh thoảng ông lãnh đạo này lại giật sang bên trái, lúc thì ông khác ghì về bên phải.   Đảng là “bà” của luật   Một điều tréo cẳng ngỗng nữa là Quốc hội làm ra luật và Điều 4 Hiến pháp cũng quy định là đảng hoạt động “trong khuôn khổ Hiến Pháp và pháp luật”.Nhưng quốc hội lại phải dựa vào Nghị quyết để làm luật. Đảng nằm trong luật, luật nằm trong Nghị quyết nhưng Đảng lại “đẻ” ra Nghị quyết. Điều đó nghĩa là Đảng là “bà”, luật là “cháu” nhưng bà lại nằm trong bụng cháu.   Điều này dẫn đến sự thất bại thảm hại về thực tiễn. Lý do là thực tiễn rất sinh động và đời sống xã hội phải thay đổi luôn luôn. Như Tố Hữu đã nói cái “hòn máu đỏ” vô tổ quốc, vô gia đình (không quê hương sương gió tơi bời) đó cũng phải lớn lên, thay đổi, chạy theo để “rượt đuổi” thực tiễn phát triển xã hội và ban hành ra “Nghị Quyết” mới, từ Nghị quyết đó lại đi xây dựng Luật mới. Như vậy là bắt đầu lại khởi tạo một vòng tròn lập quy ngẫu hứng và nhiều khi mang tính phản động cao.   Đất nước đã có luật thì cứ theo luật mà làm, sao lại còn phải có Nghị Quyết. Chính việc ban hành các Nghị quyết đã thể hiện rõ tính chất lâm thời của đảng. Cứ tưởng có cả Nghị Quyết và cả Luật thì chắc ăn nhưng thực ra chính là nơi tạo ra khe hở. Sau đây là ví dụ thoát hiểm.   Đồng chí X thắng hai kiện tướng   Đồng chí X vừa là một uỷ viên BCT vừa là Thủ tướng, ngài tồn tại với 2 tư cách và chuyên môn khác nhau, thậm chí đôi khi trái ngược nhau. Với tư cách là ủy viên BCT, đồng chí X cùng 13 người khác ra một Nghị quyết. Sau đó đồng chí X dựa vào Nghị quyết để thực hiện với tư cách là Thủ tướng. Khi hậu quả xảy ra, lẽ ra đồng chí X, với tư cách là ủy viên BCT thì phải “chịu trách nhiệm chính trị theo nghị quyết” và với tư cách là Thủ tướng ông phải“chịu trách nhiệm pháp lý theo luật”   Thế nhưng ông đã thắng cả 2 cửa. Trong Đảng Đồng chí X bảo tôi làm theo “quy định của pháp luật” và chịu trách nhiệm pháp lý vì Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp Luật. Ông cũng không quên giải trình về sự liên quan của 13 vị khác trong một trách nhiệm pháp lý chung theo luật định. Nhưng khi ở diễn đàn quốc hội, nơi dân chúng quan tâm và bàn về Luật và trách nhiệm pháp lý thì Đồng chí X lại khẳng định là mình theo đảng, làm theo Nghị quyết của Đảng và “chịu trách nhiệm chính trị với đảng”.   Điều này làm cho chúng ta nhớ lại một câu chuyện là cậu bé đánh thắng cả 2 nhà quán quân. Một kiện tướng cờ và một kiện tướng bài Poker. Chính cậu bé thách đấu cả 2 và khi cậu bé chạy đi chạy lại giữa 2 toa tàu là lúc cậu dùng kiến thức của kiện tướng này để đánh với người kia và ngược lại.   Đồng chí X đã dùng kiến thức kinh tế, pháp lý của mình để nói rất đúng trong  nội bộ đảng về Luật, sau đó lại chạy sang Quốc hội để đáp lại quốc hội tại diễn đàn chung theo Nghị quyết.   Phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật   Hiến pháp và Pháp luật phải đại diện cho công lý, là nền tảng vững chắc cho đất nước và con người phát triển. Nó không phải là một ông kễnh với bộ não của một cậu bé vừa muốn nhận mình là khiêm tốn lại thích phán ra những điều kinh thiên động địa cho mai sau.   Và để không còn một cổ hai tròng, để đảng không còn lấy tiền dân chi tiêu cho riêng mình, không còn ai làm sai và thoát hiểm nữa thì Quốc hội phải độc lập làm ra luật, chính phủ thực thi luật và tòa án đứng ra canh giữ luật đó. Các cơ quan phải độc lập và đối trọng lẫn nhau thì mẹ Việt Nam mới đỡ bị một lúc 2 kẻ xâu mũi dắt đi lung tung theo chủ trương đầy ngẫu hứng như kẻ say rượu.     nguồn:http://lequocquan.blogspot.ca/2012/11/
......

Những tấm hộ chiếu và nỗi nhục của người Việt

Tấm hộ chiếu bành trướng và những phản ứng Mấy hôm nay, không chỉ ở Việt Nam mà cả thế giới xôn xao về tấm hộ chiếu Trung Cộng vẽ đường lưỡi bò chiếm 80% Biển Đông, phần lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ, Đài Loan, Nam Hàn vào hộ chiếu cấp cho công dân họ đi khắp thế giới. Đây là một đòn bẩn, nhằm buộc các nước vào thế khó, nếu đóng dấu chứng thực vào tấm hộ chiếu này, nghĩa là công nhận phần lãnh thổ tham vọng đó thuộc Trung Cộng. Nói đến những đòn bẩn của anh bạn 16 chữ vàng và 4 tốt của đảng và nhà nước ta, thì kể suốt ngày không hết. Không chỉ chuyện bây giờ mà từ ngàn xưa đến nay vẫn thế, ai mà không biết. Dù với thời đại nào, chính thể nào ở Trung Hoa, thì âm mưu bành trướng bá quyền vẫn là một hằng số, không thay đổi. Vấn đề biết vậy, nhưng hành động với nó ra sao, là điều cần bàn. Tấm hộ chiếu bành trướng vẽ đường lưỡi bò Khắp nơi trên thế giới, những phản ứng mạnh mẽ đã được đưa ra: Ấn Độ quyết định cấp thị tờ thực khẳng định phần lãnh thổ tranh chấp là của mình. Còn Philippines thì Bộ trưởng Ngoại giao chính thức gửi công hàm ngoại giao đến Bắc Kinh và gọi bản đồ là “tuyên bố vô lý về không gian hàng hải và là vi phạm luật pháp quốc tế”. Ngoài ra, còn Đài Loan cũng lên tiếng phản đối điều này. Ở Việt Nam, người dân mới tá hỏa tam tinh chỉ biết tin đó khi Người phát ngôn BNG trả lời câu hỏi của một phóng viên tọc mạch về cái hộ chiếu bành trướng. Thậm chí, còn được nghe rằng đã gửi công hàm phản đối đến Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội. Thế rồi báo chí tung tin rằng “cửa khẩu quốc tế Lào Cai đã đóng dấu hủy vào 111 hộ chiếu của công dân Trung Quốc có in hình đường lưỡi bò khi nhập cảnh vào VN”. Thực chất là chỉ đóng dấu hủy vào những thị thực mà Việt Nam đã cấp, đã dán vào cái hộ chiếu có hình lưỡi bò, chứ đâu dám đóng dấu hủy vào hộ chiếu của anh bạn vàng(!) Thậm chí, ngày hôm nay, báo chí Việt Nam còn hớn hở đưa tin “Mỹ không chứng thực hộ chiếu “đường lưỡi bò” của Trung Quốc”. Nhưng thực chất chỉ là ‘Mỹ không thừa nhận “lưỡi bò” trên hộ chiếu TQ” chứ không phải không cấp thị thực như báo chí đã loan tin trước đó. Thực ra, anh bạn vàng thâm hiểm phương Bắc đâu cần sự công nhận ngay bằng lời của Mỹ, Anh hay Pháp hoặc bất cứ nước nào. Nó cứ âm thầm để đó, đến một lúc nào đó cần thiết sẽ đưa ra lu loa rằng anh đã đóng dấu vào đây là công nhận cái này. Bài học về công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng vẫn còn đó. Mà việc này, đâu có ảnh hưởng gì đến Mỹ mà Mỹ phải không chứng thực. Những kẻ mất nhà, mất nước hẳn hoi còn ú ớ không dám kêu lên, thì vạ gì nước Mỹ phải làm điều đó? Thế rồi, báo chí “lề trái” lại tọc mạch khui ra rằng cái hộ chiếu bành trướng đó, Trung Cộng đã thực hiện từ đời tám hoánh nào rồi, tức là cách đây tận nửa năm. Cảm giác gì với tấm hộ chiếu bành trướng? Những người hô Trường Sa – Hoàng Sa là của Việt Nam đã bị coi là “thế lực thù địch” của nhà nước(!) Thử nghĩ xem, khi một tên cướp đến nhà bạn, mang trên tay tờ giấy xác nhận ngôi nhà, mảnh vườn ông cha bạn để lại và hiện bạn đang ở là của nó. Bạn sẽ nghĩ gì và bạn sẽ làm gì? Nếu không thẳng tay tát vào mặt nó, thì ít nhất bạn sẽ xé nhỏ tờ giấy vứt vào mặt nó, đuổi thẳng cổ nó ra khỏi cửa mà rằng: “Cút ngay, bọn ăn cướp”. Ở đây, mấy tháng qua, nhà nước ta vẫn để những kẻ đó vào đất nước mình, nghênh ngang đi lại như không. Động tác chỉ có thể làm là cấp một tờ thị thực rời khác cho chúng vào ra mà thôi. Còn mọi thông tin khác thì bịt mất. Trong nửa năm qua, các cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Trung cộng, các cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng nghĩ gì khi cầm trên tay tấm bản đồ hình lưỡi bò để đóng dấu xác nhận lên đó khi người Trung Quốc đưa đến cho họ? Họ có thấy vinh quang khi Tổ Quốc đang ngang nhiên bị cướp trắng trợn bằng văn bản trước mặt mình? Nếu họ thấy căm phẫn, bất bình chắc chắn sẽ không phải đến tận bây giờ nhân dân mới biết được âm mưu và thủ đoạn của bọn bành trướng đối với đất nước, Tổ Quốc chúng ta qua câu hỏi của một phóng viên nào đó với Người phát ngôn? Còn nếu họ không thấy sự bất bình hoặc căm phẫn thì họ là ai? Cư dân mạng chỉ biết kêu lên rằng Nhục. Mà không thể nói là không nhục nhã, khi tên cướp xông vào tận nhà đưa giấy cho anh, bắt anh công nhận nhà đất của anh là của nó mà anh phải im lặng, phải nghiến răng âm thầm chịu đựng. Nỗi nhục đó to lớn biết nhường nào. Nhà thơ Đỗ Trung Quân kêu lên trên mạng xã hội: “Nếu thiếu mồi nhậu đi xin: Không nhục, nếu thiếu tiền uống rượu xin hỏi bạn: Không nhục, nếu thiếu tiền đổ xăng xin bạn: Không nhục, nếu bạn không cho phải nằm nhà: Không nhục. Nhưng nó in đường lưỡi bò mà im re hay chỉ thều thào mấy câu lấy lệ: Quá Nhục”. Thì ra vậy, người dân Việt Nam thấy nhục, thấy căm phẫn, thấy bất bình khi cầm tấm hộ chiếu bành trướng của ngoại bang muốn ăn cướp cả Tổ Quốc mình. Chợt nhớ lời Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn: “Trông thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ… Nay các ngươi: nhìn chủ nhục mà không biết lo, thấy nước nhục không biết thẹn; làm tướng triều đình phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc Thái thường để đãi yến ngụy sứ mà không biết căm”. Đã hơn 700 năm, sao lời Hịch như vẫn còn tính thời sự hôm nay? Thế mới biết người xưa đâu có vô cảm, vô liêm sỉ như người nay. Lại nhớ chuyện cầm tấm hộ chiếu TGM Giuse Ngô Quang Kiệt tại UBND Tp Hà Nội Còn nhớ, cách đây không lâu, sau buổi họp với UBND Thành phố Hà Nội, Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt đã đơn sơ nói lên tâm sự của mình, ngài nói: “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như một anh Nhật nó cầm cái hộ chiếu là đi qua tất cả mọi nơi, không ai xem xét gì cả. Anh Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Còn người Việt Nam chúng ta thì tôi cũng mong đất nước lớn mạnh lắm và làm sao thật sự đoàn kết, thật sự tốt đẹp, để cho đất nước chúng ta mạnh, đi đâu chúng ta cũng được kính trọng”. Thế rồi báo chí nhà nước, Thông tấn xã Việt Nam đăng tin buổi họp kết quả tốt đẹp… Nhưng chỉ chưa đầy 24 giờ sau, hệ thống báo chí được huy động tối đa ra sức cắt xén câu nói của ngài thành “chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam” để thóa mạ, để vu cáo, để đánh đòn hội đồng và kích động cơn lên đồng khát máu tập thể đối với Ngài. Thậm chí, nhà cầm quyền Hà Nội còn tổ chức hàng đoàn, hàng đống các lực lượng để bao vây, để cô lập Tòa TGM Hà Nội và tập thể giáo dân cả đêm kêu gào “giết, giết Kiệt”. Nhân dân lại oằn lưng trả tiền cho những hành động chống lại nhân dân này. Nguyễn Chí Đức, người đảng viên Cộng sản đã công khai ra khỏi đảng kể với tôi trong một lần đi biểu tình rằng: “Bọn được huy động chống lại người biểu tình yêu nước hôm nay, cũng như em ngày trước thôi. Chính em cũng đã được trả tiền để đi bao vây Tòa TGM Hà Nội, gọi là quần chúng tự phát”.  Không thể nói gì hơn màn truyền thông vu cáo đầy máu và bạo lực này của hệ thống tuyên truyền dối trá trong nhà nước Cộng sản. Trần Đăng Tuấn: “… cả sông máu Việt đã đổ ra, cả núi xương Việt đã chất chồng để có độc lập tự do” Người ta thấy trong sự kiện đó, những nhà báo tỏ rõ sự uất ức nhất khi “nước Việt Nam bị coi thường”(sic) đã không ngừng lu loa, kêu gào và lên giọng cao đạo, giảng giải về truyền thống yêu nước, về Tổ Quốc, về “cái tổ” của mình bị vấy bẩn như Trần Đăng Tuấn, Nguyễn Năng An và đám bồi bút… Thế nhưng, Trời có mắt. Những trò bỉ ổi đó nhanh chóng bị bóc trần và có tác dụng ngược lại. Những báo, đài, những tờ báo, cái loa to mồm thóa mạ Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã nhanh chóng hiện nguyên hình là tay sai của giặc Tàu khi Tổ Quốc bị xâm lăng, là những “Lưỡi bò” trong lòng nước Việt. Điều này được chứng minh rất rõ ràng là khi đất nước đã chính thức bị xâm lược bằng đội quân bành trướng đem quân đội, vũ khí vào lãnh thổ của Tổ Quốc, tất cả những nhà báo, những nhà văn, những nhà truyền hình luôn mạnh mồm về tự hào là con người Việt Nam, là Người Việt, là Tổ Quốc thiêng liêng, dân tộc vĩ đại… đã lặn mất tăm. Thậm chí, người to mồm nhất như Trần Đăng Tuấn cũng đã lặn đi để tìm vào một lĩnh vực béo bở hơn là “Cơm có thịt”. Xin thưa rằng nếu đường lưỡi bò của Trung Cộng thành hiện thực, và sau đó là lãnh thổ Việt Nam biến thành “một phần không thể tách rời” của lãnh thổ Trung Quốc, thì khi đó ngay cả đất còn không có ở, lấy đâu ra cơm với thịt. Ngày xưa Trần Quốc Tuấn đã chẳng từng nói thế này sao: “Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh. Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng; vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc. Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc; chó săn tuy hay không đuổi được quân thù. Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết; giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai”. Nếu như đội ngũ lính tráng, khí tài này được điều động để bảo vệ non sông(!) Những câu nói hào sảng rằng “Hôm nay, người Việt ra nước ngoài được cầm quyển hộ chiếu Việt Nam trên tay là do cả sông máu Việt đã đổ ra, cả núi xương Việt đã chất chồng để có độc lập tự do” (Trần Đăng Tuấn – Gửi ông không muốn làm người Việt). Hôm nay, chẳng lẽ Trần Đăng Tuấn không biết rằng cái “núi xương Việt” đó đã nhanh chóng vô nghĩa khi đất nước bị anh bạn vàng 4 tốt biến thành của họ đơn giản lắm, nhẹ nhàng lắm trong sự câm miệng của chính ông? Nỗi nhục khi cầm tấm hộ chiếu ra nước ngoài bị kỳ thị, chắc cũng sẽ không bằng người Việt cầm tấm hộ chiếu Việt Nam bị bất thình lình cấm xuất cảnh để nhìn cảnh ngược lại, bọn cầm hộ chiếu lưỡi bò cứ ung dung ra vào Việt Nam như chỗ không người. Nỗi nhục khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam ra nước ngoài bị phân biệt, kỳ thị… có lẽ giờ đây cũng chẳng thấm vào đâu so với nỗi nhục cầm tấm hộ chiếu bành trướng ghi rõ lãnh thổ đất nước mình là của nó mà vẫn phải im lặng, không thể “ẳng” lên một tiếng. Sao không ẳng lên một tiếng, hỡi các “nhà báo, nhà đài yêu nước” tưng bừng ăn lương của nhân dân? Sao không ra những lời tuyên bố mạnh mẽ, sắt máu, sao không đưa đám công an, cảnh sát, chó và vũ khí ra ngăn chặn những tên xâm lược, hỡi các nhà lãnh đạo đã từng xua quân đi chiếm đất đai của dân, của các tôn giáo? Có nỗi nhục nào lớn hơn? Hà Nội, ngày 27/11/2012. Kỷ niệm một năm biểu tình yêu nươc ủng hộ Thủ tướng bị đàn áp. J.B Nguyễn Hữu Vinh http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/11/27/noinhuc_hochieu/m
......

Giấc mơ làm giàu từ bất động sản đã tan vỡ ở Việt Nam

Hãng tin kinh doanh Bloomberg vừa có bài viết dài nói về các giấc mơ làm giàu từ bất động sản đã tan vỡ ở Việt Nam. Bài viết mở đầu với vẻ ngoài bóng nhoáng của tòa tháp đôi thuộc Tập đoàn Ðiện lực CS Việt Nam EVN mà khi tới gần người ta sẽ thấy cửa vào ngổn ngang gạch đất trong khi nhiều cửa sổ chưa được lắp đặt. Ðây được xem là một trong những ví dụ về sự phát triển dựa vào tín dụng dễ dãi và đầu cơ bất động sản hiện đang treo trên đầu các ngân hàng. Bloomberg nói các nhà hoạch định chính sách đã tăng lãi suất trong năm 2010 và 2011 để hạn chế cho vay sau khi làn sóng tín dụng trong các năm trước đó khiến Việt Nam có mức lạm phát cao nhất Châu Á. Và nhiều doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả và chuyển tiền sang phát triển bất động sản đã trở thành nạn nhân của đợt siết chặt tín dụng. Tình trạng bi đát trong lĩnh vực bất động sản tạo nguy cơ các nhà đầu tư rời bỏ dự án và ngân hàng gánh lấy khoản nợ khó đòi. Bloomberg dẫn lời Bộ trưởng Xây dựng Trịnh Ðình Dũng nói tại Quốc hội hôm 31/10 rằng cho vay trong lĩnh vực bất động sản ở mức hơn 200.000 tỷ đồng, tức khoảng gần 10 tỷ đô la, tính tới 31/8/2012. Trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam có chỉ số tồi tệ nhất ở Châu Á trong năm 2011, giảm 23% kể từ mức cao nhất đạt được hôm 8/5. Các nhà phân tích được Bloomberg dẫn lời nói nợ xấu ở Việt Nam có thể cao hơn nhiều so với mức 8,8% mà Hà Nội đưa ra. Thậm chí Fitch Ratings nói hồi tháng Ba năm nay rằng con số thực tế có thể cao gấp ba hay bốn lần.
......

Trung Quốc phát hành bản đồ Tam Sa

Sau khi lưu hành hộ chiếu mới có in bản đồ hình lưỡi bò xác định chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông và đã bị một số nước Đông Nam Á phản đối, Bắc Kinh lại tiếp tục ngang ngược leo thang bằng việc phát hành bản đồ chính thức đầu tiên của thành phố Tam Sa trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm của Việt Nam), thuộc quần đảo Hoàng Sa. Thành phố Tam Sa được Trung Quốc thành lập hồi tháng 7.2012 để quản lý hành chính các quần đảo và vùng biển lân cận trên Biển Đông bao gồm cả Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Báo chí Trung Quốc nói đây là bản đồ đầu tiên chứa đựng các thông tin địa chất về thành phố Tam Sa và các quần đảo ở Biển Đông toàn diện, chính xác, và cụ thể. Bản đồ thành phố Tam Sa do một đơn vị chuyên nghiên cứu vẽ bản đồ và định vị thuộc quân đội Trung Quốc kiểm định và được Tổng cục Báo chí và Xuất bản Trung Quốc phê duyệt. Bản đồ tập hợp hình ảnh chụp từ vệ tinh toàn bộ khu vực biển Đông ghi chú các vị trí địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, giao thông đường biển-đường bộ, sân bay, bến tàu, cùng các đường biên giới hành chính của thành phố Tam Sa và các đảo ở Biển Đông.  
......

NHỮNG TÍN HIỆU LẠC QUAN TỪ QUỐC NỘI

Thời gian gần đây công luận trong nước và thế giới đặc biệt quan ngại về những vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống và tầng suất ngày càng cao của nhà nước cộng sản Việt Nam. Nhiều cá nhân và tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam cũng như các tổ chức Theo Dõi Nhân Quyền Human Rights Watch, Tổ Chức Ân Xế Quốc Tế Amnesty International… đều cảm thấy ái ngại khi trước bản án mà tòa án của công sản Việt Nam vừa tuyên phạt hai nhạc sỹ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình vào ngày 30 tháng 10 vừa qua cũng như về vụ bắt giữ nữ sinh Nguyễn Phương Uyên hai tuần lễ trước đó.    Người ta cảm thấy ái ngại khi mức án dành cho hai nhạc sỹ trẻ quá nặng chỉ bởi cơ quan cảnh sát điều tra, viện kiểm sát nhân dân cũng như hội đồng xét xử nhận định rằng ca từ trong những những nhạc khúc của hai nhạc sỹ trẻ này khiến cho người dân chán ghét chế độ.   Ngay trước thềm phiên xử, vào chiều ngày 29 tháng 10, Tổ chức Ân xá quốc tế đã kêu gọi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trả tự do ‘ngay lập tức và vô điều kiện’ cho hai nhạc sỹ này.      Ông Rupert Abbott, một nhà nghiên cứu về Việt Nam của Ân Xá Quốc Tế, nói: “Chỉ vì làm nhạc mà bị đối xử như vậy thì thật là lố bịch. Hai nhạc sĩ này là những tù nhân lương tâm, bị giam cầm chỉ vì đã hành xử quyền tự do phát biểu một cách ôn hoà bằng cách viết nhạc và hoạt động bất bạo động, và họ phải được trả tự do. Nhà cầm quyền Việt Nam phải tuân thủ những bổn phận của họ theo hiến pháp và luật quốc tế là phải tôn trọng quyền tự do phát biểu của người dân, bao gồm cả việc dùng âm nhạc và những phương tiện khác. Thật lố bịch khi đối xử như vậy với những người này chỉ vì họ sáng tác các bài hát,” ông Rupert cũng đã phát biểu phát biểu trong thông cáo rằng: “Đây là những tù nhân lương tâm. Họ bị bắt giữ chỉ vì họ đã thực hiện quyền tự do ngôn luận một cách hòa bình bằng những bài hát và những hành động phi bạo lực. Thay vì cố gắng bịt miệng giới trẻ Việt Nam, chính phủ nước này nên cho phép họ bày tỏ ý kiến và có tiếng nói trong quá trình phát triển của đất nước,”      Ngay sau phiên tòa phi nhân bản này, một phát ngôn viên của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Christopher Hodges, nói trong một thông cáo rằng: "Việc kết án tù này là hành động mới nhất trong một loạt các động thái của chính phủ Việt Nam nhằm hạn chế tự do ngôn luận. Chính phủ Việt Nam phải trả tự do cho nhạc sỹ Việt Khang cũng như tất cả các tù nhân lương tâm và tuân thủ ngay lập tức các bổn phận quốc tế của mình."   Với trường hợp bắt gian nữ sinh Nguyễn Phương Uyên, Ông Abbott nói: “Những phát biểu ôn hoà nhưng không hợp quan điểm với nhà nước đang bị đàn áp một cách đáng ngại. Chẳng hạn như một vụ bắt giữ khác xẩy ra vào ngày 14 tháng 10 năm 2012 khi công an bắt cô Nguyễn Phương Uyên, 20 tuổi, cùng với 3 sinh viên khác tại Tp. HCM. Trong khi những sinh viên kia sau đó được trả tự do thì Nguyễn Phương Uyên tiếp tục bị giam giữ và bị chuyển đến trại giam tại Long An. Cô bị cáo buộc tội phát tán truyền đơn chỉ trích Trung Quốc và nhà cầm quyền Việt Nam.  Lúc đầu nhà nước chối không bắt giữ Cô, nhưng sau đó đã thông báo cho gia đình biết là, giống như hai nhạc sĩ nói trên, Cô đang bị điều tra về tội tuyên truyền chống nhà nước theo Điều 88 Luật Hình Sự.”  Ông Abbott kết luận rằng: “Thay vì nỗ lực bịt miệng những người trẻ, nhà cầm quyền Việt Nam nên cho phép họ phát biểu quan điểm và được quyền góp ý trong việc định hướng và phát triển đất nước. Hai nhạc sĩ và sinh viên trẻ này phải được trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện”.     Gần đây nhà nước cộng sản Việt Nam đã đệ nộp hồ sơ xin ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc UNHRC đã khiến cho nhiều cá nhân tổ chức và các cộng đồng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại thực sự lo lắng, bởi nhiều người tin rằng nếu đắc cử, trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc UNHRC thì cộng sản Việt Nam càng có điều kiện để vi phạm nhân quyền để đàn áp những tiếng nói bất đồng chứng kiến. Nhưng với những vụ bắt bớ gần đây, những phiên tòa bất công và phi nhân gần đây chúng ta có đủ cơ sở để thấy rằng thật khôi hài khi Việt Nam đã tự ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ, và chúng ta cũng có đủ cơ sở để tin chắc rằng Việt Nam sẽ không bao giờ đủ điều kiện để trở thành thành viên của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc khi điều 4 hiến pháp vẫn còn tồn tại và khi lực lượng “công an nhân dân vẫn còn là thanh gươm bảo vệ chế độ”.    Chắc nhiều người vẫn còn nhớ mốc thời gian mà Việt Nam được kết nạp vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO vào năm 2006 và trở thành thành viên chính thức một năm sau đó vào năm 2007, thì đều nhớ rằng trong những năm phấn đấu để được gia nhập tổ chức này, cộng sản Việt Nam đã lừa được cộng đồng quốc tế về những cải thiện nhân quyền bằng cách giả vờ nhượng bộ hoặc giả vờ làm ngơ trước một số hoạt động đấu tranh dân chủ, khiến ngay cả nhiều người trong nước cũng lầm tưởng rằng cộng sản Việt Nam đã bắt đầu biết tôn trọng những tiếng nói đối lập, khiến nhiều tổ chức xã hội lần lượt ra đời như Khối 8406, Công Đoàn Độc Lập, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông và không lâu sau khi trở thành thành viên của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới, cơ quan an ninh của CSVN đã khủng bố trắng đối với tất cả các tổ chức dân chủ vừa hình thành, bắt giam và kết án tất cả những sáng lập viên của các tổ chức với những bản án rất nặng. Với cú lừa này, nhà nước cộng sản Việt Nam vừa lừa được cộng đồng quốc tế để được gia nhập khối WTO, vừa lừa được những người yêu nước vì “cất được một mẽ lưới bội thu”. Lần này nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam vừa vận động hành lang để ứng cử vào Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, vừa thẳng tay đàn áp dân chủ, kết án tù những người yêu nước. Hết phiên tòa này đến phiên tòa khác liên tục diễn ra và tất cả các bản án đều vượt xa mức dự kiến của nhiều người, là một hình thức để đe dọa để khủng bố tinh thần những người còn ý định dấn thân. Nhưng nhiều người vẫn tiếp tục dân thân, dù họ biết cái giá của sự dấn thân là tù đày, lao lý. Đó là một tín hiệu đáng mừng từ quốc nội. Chế độ cộng sản vốn độc tài chuyên chế, họ không chấp nhận sự đối kháng dưới bất cứ hình thức nào, cho nên họ ra sức nhồi sọ con người ngay từ thuở mới lọt lòng. Từ những nhà trẻ, mẫu giáo, trẻ thơ đã được nghe hát ru và được học những bài hát ca ngợi đảng, các ngợi bác. Đến tuổi cắp sách đến trường thì các em lại phải sinh hoạt trong các đội nhi đồng cứu quốc, đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, rồi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh… đây là nơi mà thanh thiếu niên được nhồi sọ, được xích hóa bằng chính sách mưa dầm thấm lâu để khi trưởng thành, không có bất cứ tác động nào có thể làm thay đổi được não trạng của họ rằng “Bác Hồ là vĩ đại, đảng cộng sản là quang vinh muôn năm, chủ nghĩa Mác-Lê là bách chiến bách thắng”.   Vẫn chưa hết, ngoài việc việc sinh hoạt đoàn đội là hoạt động thường kỳ và có chủ trương, định hướng của đảng và nhà nước trong phạm vi trường học cho đến các địa phương, thì nhiều chương trình vui chơi giải trí trên hệ thống truyền hình xuyên quốc gia cũng được đầu tư rất lớn tạo một sân chơi mở cho thanh thiếu niên như một hình thức ru ngủ thế hệ trẻ để các em bằng lòng với thực tại, mà không có bất cứ một suy tư gì về hiện tình đất nước và cũng không có bất cứ một thái độ phản kháng nào đối với chính sách cai trị của đảng và nhà nước cũng như với thực trạng đời sống xã hội ở quê nhà. May thay chính sách tuyên truyền, nhồi sọ, xích hóa thế hệ trẻ đã không còn tác dụng nữa, thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay đã không ngoan hơn nhiều bậc cha ông trước đây, các em không còn mê cuồng cộng sản và cũng chẳng sùng bái Hồ Chí Minh hay các lãnh tụ của cộng sản nữa. Những sân chơi mà đảng và nhà nước dùng để lôi cuốn để ru ngủ các em cũng đã không còn mấy tác dụng nữa. Nhiều thanh niên cũng đã biết chọn lựa cho mình một hướng đi mới hầu có thể tìm được lối thoát cho dân tộc. Nhiều đảng viên trẻ noi gương một số đảng viên lão thành có liêm sỷ, đã mạnh dạn trả lại thẻ đảng, xin ra khỏi hàng ngũ đảng, chối bỏ những đặc quyền đặc lợi của một đảng viên trong việc thăng tiến để họ có thể sống thật với con người thật của họ, không phải đeo mặt nạ mà có thể sống đúng với lương tri của một con người. Đây là một tín hiệu vui nữa cho đất nước cho dân tộc. Những phiên tòa và những bản án mà chế độ cộng sản tuyên phạt cho các bạn trẻ là 17 sinh viên Công Giáo và Tin Lành hôm 26 tháng 9, rồi bản án mà chế độ cộng sản vừa tuyên phạt hai nhạc sỹ trẻ hôm 30 tháng 10 vừa qua là một nỗi đau không riêng cho gia đình và thân nhân của họ, mà là một nỗi đau chung cho cả dân tộc Việt Nam bởi có đâu trên hành tinh này mà con người ta lại bị tù đày lao lý chỉ vì muốn cho đất nước ngày một phồn vinh, xã hội ngày một tốt đẹp hơn? Dù vậy, từ đó chúng ta cũng thấy được một tín hiệu vui từ quốc nội, đó là thế hế trẻ Việt Nam hiện không còn bị ru ngủ, không còn bị nhồi sọ nữa và cũng không còn cầu an hưởng lạc nữa, nhất là không còn quá úy kỵ cộng sản nữa. Những tín hiệu đó cho chúng ta một niềm hy vọng và một niềm tin mãnh liệt là “còn da, lông mọc, còn chồi, nãy cây”. Nguyễn Thu Trâm, 8406
......

Trung Quốc rất HÈN!

Nếu việc tranh chấp lãnh thổ với nhiều nước láng giềng gần đây đã khiến hình ảnh Trung Quốc trở nên “xấu xí” trong mắt cộng đồng quốc tế thì việc in bản đồ Trung Quốc trên hộ chiếu vừa qua khiến hình ảnh Trung Quốc trở nên tồi tệ. Các nước có quyền lợi liên quan như Việt Nam, Philippines đều lên tiếng phản đối quyết liệt. Ấn Độ ngay lập tức có hành động đáp trả bằng cách sử dụng trên hộ chiếu những vùng mà Trung Quốc và họ đang tranh chấp. Tại Việt Nam , theo Trung tá Trần Việt Huynh – đồn trưởng đồn biên phòng cửa khẩu Lào Cai cho biết việc Trung Quốc cấp hộ chiếu điện tử in đường lưỡi bò bao trùm lên cả các phần lãnh thổ của Việt Nam là việc làm sai trái, không đúng với luật pháp quốc tế. Bên phía Trung Quốc vẫn chưa thu hồi những hộ chiếu đó lại nhưng vì mối quan hệ của 2 nước và tạo điều kiện cho việc nhập cảnh, đồn biên phòng không cấp thị thực vào hộ chiếu mà cấp thị thực rời. Với những hộ chiếu không có đường lưỡi bò, mọi hoạt động vẫn diễn ra bình thường. Có thể nói, hành vi in hình lưỡi bò vào hộ chiếu là hành động ngang ngược sau hàng loạt các hành động trắng trợn xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra là vì sao Trung Quốc lại có chủ trương như vậy? Họ sẽ được gì sau những hành động thâm độc này? Về câu hỏi thứ nhất, có lẽ không khó để có câu trả lời. Đó là việc lưu hành hộ chiếu có in bản đồ đường lưỡi bò là bước leo thang mới trong mưu đồ đen tối của Trung Quốc. Họ muốn dùng mọi thủ đoạn lấn dần từng bước để áp đặt đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, bất chấp luật lệ quốc tế và phản đối của các nước khác. Nói như TS Nguyễn Quang A thì đây là “Một bước đi rất hiểm độc trong số hàng ngàn các hành động thâm độc khác”. Họ muốn đặt Việt Nam ta và các nước có liên quan vào thế của sự việc đã rồi. Vậy họ sẽ được gì? Tất nhiên là họ mong muốn được tất cả những phần lãnh thổ của ta và các nước liên quan mà họ nói là “vùng tranh chấp”. Thế nhưng tất nhiên là không thể có điều đó. Nhân dân và Chính phủ Việt Nam cũng như nhân dân và chính phủ các nước liên quan không để cho họ làm điều đó. Không chỉ Ấn Độ, Việt Nam, Philippines mà sắp tới, các nước như Malaysia, Brunei cũng sẽ kiên quyết phản đối hành động phi pháp này. Đặc biệt, cả Đài Loan cũng phản đối hành động này của Trung Quốc. Và hậu quả là “gieo gió tất sẽ gặt bão”. Họ đang tự tách ra khỏi một cộng đồng đoàn kết, gắn bó trong một thế giới luôn lấy sự đoàn kết để phát triển. Nói cách khác, những mưu đồ thâm hiểm của họ sẽ mang lại cho họ sự cô lập trên trường quốc tế. Nhân loại tiến bộ sẽ nhìn họ với sự cảnh giác cao độ. Đó là bi kịch đối với một quốc gia dù có to lớn đến đâu. Rồi đây, các thế hệ tương lai của họ sẽ phải trả giá cho những việc làm sai trái từ thế hệ hôm nay. Tuy nhiên sẽ là điều may mắn nếu như đây không phải là chủ trương của Nhà nước Trung Hoa mà chỉ là của cấp bộ như phỏng đoán của GS . Shi Yinhong. Ông Shi Yinhong, giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Nhân dân Bắc Kinh cho rằng việc in yêu sách chủ quyền trên hộ chiếu có thể làm cho vấn đề “vốn đã rắc rối lại càng phức tạp thêm”. Giáo sư Shi Yinhong cho rằng quyết định cho phát hành này có lẽ đã được cấp bộ đưa ra chứ không phải là cấp Nhà nước Trung Quốc. Người Việt Nam chúng ta có câu: “Tham thì thâm”. Thói tham lam và “văn hóa bành trướng” sẽ mang lại hậu quả như thế nào không phải là điều khó đoán.  Nước Việt Nam có thể nhỏ về địa lý nhưng ý chí quật cường thì không bao giờ nhỏ. Không có bất cứ ai có thể “bắt nạt” được một dân tộc quật cường. Có một điều khó giải thích là trong tấm hộ chiếu phi pháp đó không có phần lãnh thổ tranh chấp với Nhật Bản. Nơi mà chỉ cách đây ít lâu, họ đã lớn tiếng phản đối việc Chính phủ Nhật mua lại những hòn đảo này và cả hai bên đã mang cả tàu chiến đến đây. Vì sao vậy? Chỉ có hai lý do. Thứ nhất là Trung Quốc đã chính thức công nhận Senkaku là lãnh thổ của Nhật Bản. Hai là hành vi mà như người Việt Nam ta có câu: “Sơn lở tùy mặt, ma bắt tùy người”, hay nói một cách khác là văn hóa “bắt nạt”? Đó là “văn hóa” của kẻ võ biền và trọc phú chứ tuyệt nhiên không phải cách hành xử của người quân tử. Trong khi trả lời AFP, một quan chức ngoại giao Nhật Bản đã nói: “Chúng tôi xác nhận các quần đảo tranh chấp trên Biển Đông xuất hiện trong bản đồ in trong hộ chiếu mới của Trung Quốc. Tuy nhiên, không có Senkaku. Vì vậy, chúng tôi không đưa ra bình luận hoặc phản đối". Một câu trả lời đầy ẩn ý và hết sức khéo léo của một nhà ngoại giao lão luyện. Nó giống như một thông điệp gửi đến Trung Quốc rằng “Hãy thử động đến Senkuka xem…”. Nói thẳng ra, đối với Nhật Bản, Trung Quốc hành xử không thể nói khác:HÈN! Có lẽ không chỉ khiếp nhược trước đồng YÊN, Trung Quốc vẫn ám ảnh bởi THANH KIẾM SAMURAI mà họ đã phải nếm trái 70 năm trước.   Bùi Hoàng Támhttp://trannhuong.com/tin-tuc-14353/trung-quoc-rat-hen.vhtm">http://trannhuong.com/tin-tuc-14353/trung-quoc-rat-hen.vhtm
......

Cai tù cố ý hại TS. Cù Huy Hà Vũ

Hôm 25/11/2012, luật sư Nguyễn Thị Dương Hà đã chính thức gửi đơn yêu cầu 'khẩn trương điều tra' về việc cán bộ trại giam 'cố ý hãm hại' chồng mình là Tiến sỹ Cù Huy Hà Vũ.   Lá đơn có nhắc lại lời tố cáo trước đó của tiến sỹ Hà Vũ về việc cán bộ trại giam số 5 tên Lê Văn Chiến đã có hành vi 'cố ý giết công dân Cù Huy Hà Vũ' với nội dung chính như sau: Cửa buồng giam ông Vũ chỉ cách bệ ông Vũ nằm 30cm nên việc cán bộ trại giam mở toang cửa buồng giam vào buổi sáng tất gây gió xộc thẳng vào đầu ông Vũ và có thể làm ông Vũ chết, nhất là trong khi ông Vũ bị bệnh tim, cao huyết áp, đau nửa đầu mà trời thì đã trở lạnh. Do đó, bản thân ông Vũ và gia đình ngay từ năm 2011 đã yêu cầu Giám thị không cho cán bộ trại giam mở toang cửa buồng giam ông Vũ để tránh gây nguy hiểm đến tính mạng ông Vũ. Thế nhưng, cán bộ trại giam Lê Văn Chiến vẫn liên tục mở toang cửa buồn giam và kết quả là sáng 11/11/2012, ông Vũ đã bị gió lùa, đầu đau nhức, huyết áp vụt tăng cao; ông Nguyễn Đình Dặm, người tù duy nhất ở cùng với ông Vũ phải kêu cấp cứu nhưng suốt buổi sáng hôm đó không có cán bộ nào đến, phải đến tận chiều hôm đó, khi tù nhân đến đưa cơm mới nhắn gọi được bác sĩ . Như vậy, cán bộ trại giam Lê Văn Chiến đã cố ý giết ông Vũ bằng cách mở toang cửa buồng giam để gió lùa xộc thẳng vào người và đầu ông Vũ. Do đó, ông Vũ đã viết đơn tố cáo với Giám thị về hành vi giết người này của cán bộ trại giam Lê Văn Chiến đồng thời yêu cầu Giám thị áp dụng biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hành vi giết người này...” Lá đơn đưa ra yêu cầu khẩn cấp cách ly cán bộ trại giam Lê Văn Chiến khỏi ông Cù Huy Hà Vũ, và “Khẩn trương điều tra hành vi cố ý hãm hại ông Cù Huy Hà Vũ của cán bộ Trại giam số 5 Bộ Công an Lê Văn Chiến.”   Ảnh: Basam Theo Ls Dương Hà, sở dĩ phải làm đơn là vì trước đó Trung tá Bùi Duy Vân có hứa trước mặt bà và một trung tá khác là Nguyễn Hiếu Lượng và cả Ls. Hà Vũ  rằng việc thuyển chuyển cán bộ Lê Văn Chiến không làm ở buồng giam LS. Vũ nữa chỉ là trong tầm tay của ông ấy thôi; yên tâm về không cần đơn thư gì nữa. Ông hứa vào ngày hôm sau sẽ không để cán bộ Lê Văn Chiến đến sớm để mở toang cửa ra như vậy. Tuy nhiên ngày 25.11, sau nhiều lần xin được gọi điện (vì tiêu chuẩn chỉ được mỗi tháng gọi về 5 phút), Ls Hà Vũ gọi điện về cho biết dù ông Trung tá Bùi Duy Vân đã có hứa, nhưng ông Lê Văn Chiến ngày nào đến làm việc cũng mở toang cửa.  Vì thế Ls. Dương Hà phải gửi ngay đơn đề nghị khẩn trương điều tra việc cán bộ trại giam số 5 cố ý hãm hại chồng bà, tiến sỹ luật Cù Huy Hà Vũ.
......

Hai thanh niên Công giáo từ chối luật sư cho phiên tòa sắp diễn ra

VRNs (27.11.2012) - Nghệ An - Việc không cần luật sư trước một phiên tòa mà những người bị xét xử biết là sẽ bị đối xử cách bất công là một khẳng định về tình trạng pháp chế XHCN VN đang trở nên đáng xấu hổ với mọi người dân, nhất là với giới trẻ Việt Nam. Trong khoảng 3 năm độ lại đây, nhà cầm quyền VN đã thực hiện rất nhiều cuộc bắt bớ, bỏ tù vô pháp luật gây bức xúc trong dư luận. Đặc biệt là vụ công an bắt bớ hàng loạt các thanh niên, trong số đó, đa phần các thanh niên này là những người Công Giáo thuộc giáo phận Vinh, Nghệ An. Chuyện bắt người không tuân thủ pháp luật, mà mang tính chất du côn, du đảng do công an và an ninh Việt Nam là thủ phạm. Việc biệt giam không cho người thân thăm gặp hoặc rỉ tai, tung tin bẩn thỉu nhằm bôi nhọ những người bị bắt giữ cũng như việc hăm doạ người thân, v.v… từ phía công an đã được nhiều người vạch rõ, lên tiếng chỉ trích. Nhân dịp phiên tòa sắp diễn ra, chúng tôi xin được đề cập đến hai trường hợp bị nhà cầm quyền đem ra xét xử với tội danh cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, theo điều 79 BLHS. Một cáo buộc rất nặng nề, nhưng hai anh đã từ chối luật sư biện hộ. Đó là anh Fx. Đặng Xuân Diệu và Paul Trần Minh Nhật. Sở dĩ hai anh quyết định như thế bởi theo thông tin từ người thân và luật sư cho biết, đối với sinh viên Trần Minh Nhật (năm nay Nhật 24 tuổi), lí do Nhật từ chối luật sư chỉ là “không muốn trút gánh nặng lên vai cha mẹ nghèo, hơn nữa Nhật không có tội nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì tùy thích”. Còn đối với anh Đặng Xuân Diệu (năm nay anh 33 tuổi) thì lí do anh từ chối luật sư thật đáng nể phục: “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lí tốt đẹp ngàn đời của dân tộc VN và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”. Vì không có điều kiện để thăm hỏi tất cả các gia đình, người thân của những thanh niên còn lại, nên chúng tôi chưa có thêm thông tin gì về họ. Tuy nhiên, việc từ chối luật sư và thách thức nhà cầm quyền Việt Nam của hai anh Nhật và Diệu đã làm nhiều người thêm lòng cảm phục các anh. Anh Trần Minh Nhật, là một sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, với tuổi đời còn rất trẻ. Một người trẻ đã bị bắt cóc và biệt giam trong hơn 1 năm qua dưới bàn tay được biết đến là độc ác, xảo quyệt của những viên an ninh được huấn luyện bài bản với lập trường “chỉ biết còn đảng còn mình” và sẳn sang dung bạo lực, nhưng đã không đánh gục được anh Nhật. Điều này không làm cho những người quan tâm và cổ vũ cho công lý, sự thật đang theo dõi vụ án tự đặt ra cho mình những câu hỏi để suy nghĩ sao? Đối với chúng tôi, anh Nhật là một người trẻ đầy khí phách và bản lĩnh, chúng tôi khâm phục và ngưỡng mộ anh! Anh  Fx.Đặng Xuân Diệu, là người có sự hiểu biết sâu rộng hơn và luôn sống theo sự thật nên việc từ chối luật sư của anh cũng là điều dễ hiểu. Có lẽ anh đã biết và hiểu rõ về các phiên tòa có án “bỏ túi” của chính quyền VN đối với những ai không ngoan ngoãn tùng phục họ. Theo chúng tôi lý do để anh từ chối luật sư là do anh hiểu một đất nước mà nền pháp trị đang bị vi phạm nghiêm trọng bởi nhà cầm quyền. Tròng lần tiếp xúc luật sư, anh Diệu đã yêu cầu luật sư: “Trước tòa, luật sư phải tố cáo cách bắt bớ và giam giữ trái pháp luật của công an VN đối với tôi, nếu không làm được điều đó thì tôi không cần đến luật sư”. Anh biết anh đang làm những việc đúng với lương tâm của một người yêu nước trước những vấn nạn đang đẩy đất nước vào ngõ cụt. Những vấn nạn được xuất phát từ cái chủ nghĩa Mác – Lê lỗi thời, thứ chủ nghĩa mà đảng cộng sản VN “kiên quyết đi theo” đã dẫn đến tình trạng ‘hèn với giặc, ác với dân’, tham nhũng hối lộ tràn lan, nhân quyền và dân quyền bị vi phạm nghiêm trọng, đạo đức xã hội đang bị đảo lộn, bệnh vô cảm đang ngày một lên ngôi... TRước khi bị bắt, anh Diệu đã trao xe lăn cho những người khuyết tật, kêu gọi để giúp đỡ những học sinh nghèo hiếu học, chôn cất những trẻ thơ bị chính cha mẹ mình giết hại, cứu trợ đồng bào bị thiên tai lũ lụt…, là những việc làm có ý nghĩa cho con người và xã hội. “Sau cơn mưa, trời lại sáng”. Chúng tôi tin như vậy! Chúng tôi mong ước ngày chế độ này đem các anh ra xét xử, là ngày tuổi trẻ Việt Nam lại thấy có thêm những gương sáng phản chiếu, đánh động mạnh mẽ đến tuổi trẻ Việt Nam, mở ra sự dấn thân và tiếp tục con đường mà những người con ưu tú của dân tộc đã và đang đi, là con đường vinh quang, con đường sẽ dẫn đến những thay đổi tốt đẹp cho quê hương, dân tộc. Anthony Thiên Ân http://www.chuacuuthe.com/?p=41967
......

VÀNG, ĐÔ và ĐÀO TẨU

 VÀNG Cái gì quý người ta thường ví như vàng. Đây là kiểu ví von truyền thống đã thành một thành ngữ của Việt Nam, và không chỉ của riêng Việt Nam, mà còn là chung của thế giới. Thậm chí ví von nghĩa bóng người ta cũng dùng đến vàng, như nguyên tắc vàng, ông bạn vàng, khu đất vàng, thời điểm vàng, đám cưới vàng ..v..v.. Còn ở Việt Nam hiện nay vấn đề gì nổi trội vì sự khó khăn, khó đoán biết, liên tục thay đổi thì người ta nói là “nóng như thị trường vàng” hoặc “điên như giá vàng”. Răng lại có cớ sự như rứa ở cái đất nước Việt Nam nghèo nàn lạc hậu này ? Từ khi nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam quyết định mở cửa và cởi trói cho nền kinh tế từ đầu thập niên 90 thế kỷ trước sau gần nửa thế kỷ vừa đóng cửa vừa lấy còng số 8 trói chặt nền kinh tế để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa thì các nhà lãnh đạo vĩ đại của cộng sản hơi choáng váng vì thấy dân vẫn cất giấu được khá nhiều vàng. Lãnh đạo cộng sản tưởng rằng sau những vụ cướp vĩ đại mà họ đã làm như vụ Cải cách ruộng đất, Cải tạo tư sản, Cải tạo công thương nghiệp-là những vụ lớn, và vô vàn những vụ nhỏ mang tính chất thường xuyên mà các cấp địa phương, cấp nhỏ hơn đên nay vẫn làm hàng tháng, hàng ngày để cống nạp lên cấp to hơn, thì tưởng rằng vàng trong dân đã được moi gần cạn hết rồi. Ấy vậy mà đến cuối mùa hè năm 2008 khi lạm phát phi mã bộc lộ và thấm thía đến từng người dân để mở đầu cho thời kỳ suy thoái kéo dài đến tận bây giờ thì giá vàng tăng đến 60% chỉ trong vòng 2 tháng từ khoảng 1,8 triệu đồng/chỉ tăng vọt lên 2,9 triệu đồng/chỉ. Thành ngữ “điên như giá vàng” phổ biến từ đấy.  Ngộ nhất là mùa hè năm ấy ở trong tù, tù nhân khố rách chúng tôi cũng bàn tán xôn xao và theo dõi sát sao giá vàng từ sáng mở mắt dậy đến tận đêm có kẻng báo ngủ gõ đinh tai nhức óc, thì giá vàng hôm nay thế nào, lên bao nhiêu rồi cứ gắn chặt vào mồm vào miệng để hỏi nhau, kể cho nhau, buôn dưa lê với nhau. Đến bản tin tài chính trên tivi thì cả phòng im phăng phắc, các đôi tai lừa ve vẩy lắng nghe tin. Tự khắc mà chăm chú tập trung hết chỗ nói!  Tại thời điểm cuối năm 2008 đó việc giá vàng tăng vọt và sau đó không bao giờ hạ xuống nữa có nguyên nhân là do khi ấy hậu quả tai hại của nền kinh tế nội lực yếu, vốn phần lớn là đầu tư nước ngoài còn phần vốn trong nước lại chủ yếu là vốn đối ứng được chuyển từ “giá trị quyền sử dụng đất” góp vào, và nền kinh tế vừa được vu cho là kinh tế thị trường lại vừa được chỉ đạo dẫn dắt theo chủ nghĩa xã hội, có thể hiểu ngắn gọn là kinh tế tư bản kiểu cộng sản. Trong nền kinh tế này, cái phần thị trường lại chính là tư bản kiểu nguyên thủy man rợ mà chính phe cộng sản (Không biết họ có thực học và thực hiểu về kinh tế tư bản không?) luôn vu cho các nước tư bản là như thế: người bóc lột người, tàn phá thiên nhiên, khai thác tận diệt tài nguyên, lừa đảo chộp giật đủ kiểu. Phần định hướng xã hội chủ nghĩa thì là: kiên định quyết tâm bất chấp mọi thủ đoạn đảng cộng sản phải lãnh đạo mọi mặt nền kinh tế tức là tất cả các tổ chức kinh doanh sản xuất đều phải có sự cho phép của đảng cộng sản khi thành lập, khi đang hoạt động và ngay cả khi phá sản.  Ngoài ra đảng cộng sản có lãnh đạo tuyệt đối mọi tổ chức kinh doanh của nhà nước và áp đặt tất cả tổ chức kinh tế quốc doanh này phải là chủ đạo. Từ đó trút vô tội vạ vốn từ ngân sách nhà nước do nhân dân còm cõi lầm than đóng thuế vào các tập đoàn, tổng công ty nhà nước như vào một cái thùng không đáy để các thể loại nhân sự của những tổ chức kinh tế quốc doanh từ tổng giám đốc tới nhân viên bảo vệ đều 100% phải là con cháu người quen của các tầng tầng lớp lớp đảng viên cộng sản làm sếp to, sếp nhỏ của cơ quan ấy mới được vào làm. Cái nền kinh tế như thế, sau 20 năm sung sướng xả hơi vật vả kiếm tiền cho hả, cho bõ để bù lại gần 40 năm bị cùm, bị trói, bị bịt mắt ấy thì đến năm 2008-như một kết thúc tất yếu, bộc lộ hết bản chất nửa dơi nửa chuột của mình ra và cả nước chính thức bước vào thời kỳ suy thoái thật sự do chính mình gây ra-chứ không do giọng điệu tuyên truyền láo lếu nhảm nhí ra ra đêm ngày là do suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam. Suy thoái kinh tế thế giới nói chung ảnh hưởng đến Việt Nam đương nhiên là điều tất yếu, nhưng nó chỉ là một phần mà không phải là nguyên nhân chính khiến nền kinh tế Việt Nam như thế này.  Và khi ấy người dân lại càng tin, càng muốn cất trữ tài sản mà mình làm ra vào một thứ có giá trị bền vững và phổ biến nhất – là vàng. Ngoài ra cần phải nói thêm rằng người Việt Nam từ trước đến giờ vẫn có thói quen cất trữ tài sản vào vàng như vậy. Ấy là do trong lịch sử Việt Nam, có thể nói chưa bao giờ nước ta được lãnh đạo bởi những vị vua sáng suốt tài giỏi thương dân đến mức coi sự thịnh vượng và tiến bộ của dân chúng là thành công, vinh quang và hạnh phúc của người cầm quyền. Có thể nói gần như tất cả những vị vua của Việt Nam trong quá khứ và hiện nay nếu nói điều ấy thật lòng thì cũng chỉ ở mức muốn dân chúng đủ ăn đủ mặc để an phận làm con dân mà thôi.  Đến giữa năm 2011 thì nền kinh tế bắt đầu rơi vào vùng đáy của suy thoái và không ai biết được khi nào sẽ thoát khỏi suy thoái khi mà các dấu hiệu thì rất nhiều người thấy, và cũng nhiều không ít hơn số ấy là dự đoán của các chuyên gia hàng đầu của rất nhiều trường phái học thuật tài chính kinh tế, nhưng tựu trung lại cũng chỉ là vấn đề niềm tin và đạo đức, rằng “Khi nào mọi thứ trở lại/về giá trị thực của nó thì kinh tế sẽ phục hồi.”. Chân lý này thường bị quên trong nhiều trường hợp, và đặc biệt hay bị quên trong lĩnh vực kinh tế. Tất nhiên những lãnh đạo cộng sản chóp bu hoàn toàn nhận thấy rõ điều ấy, thậm chí còn nhận thấy trước dân chúng rất nhiều. Do đó, một mặt họ vẫn tiếp tục ngu dân, mỵ dân bằng những bài tuyên truyền nhảm nhí, một mặc ra sức thu vén tư lợi bất chính bằng việc in tiền khống. Không gì thu lợi được nhiều hơn từ bóc lột và tận thu cùng kiệt sức lực và tài sản của dân.  Và, vàng chính là thứ mà người dân tích lũy nhiều nhất công sức lao động của mình vào để tránh lạm phát ăn mòn tài sản của họ. Nhu cầu chính đáng này là phổ biến và bình thường ở một đất nước mà việc thanh toán chủ yếu bằng tiền mặt và niềm tin của của người dân vào nền kinh tế và giá trị đồng tiền là rất kém. Do vậy, phải tìm mọi cách để lấy được vàng của dân ra, vì vàng thì chính quyền không sản xuất khống được như là việc in tiền-suy cho cùng cũng chỉ là tờ giấy, mà lại là giấy nội địa, loại giấy có mặt ông Hồ to tướng mà chỉ cần sang tới Thái Lan thôi đã chẳng ai thừa nhận, không còn chút giá trị nào.  Thế là Nghị định 24/2011 ra đời, hiệu lực tháng 5.2012 đến nay mới chỉ 6 tháng mà đã làm thất điên bát đảo thị trường vàng Việt Nam vốn đã không ổn định, thì nay nhờ có chính phủ trứ danh của ông Dũng mà trở nên quái đản dị thường chưa từng thấy. Xin điểm ngắn gọn vài hậu quả của chính sách chống vàng hóa trong giao dịch mua bán và ổn định thị trường vàng của chính quyền cộng sản Việt Nam: -         Hoàn toàn không có bất kỳ một dấu hiệu nào là thành công nhỏ nhoi trong việc chống vàng hóa trong các giao dịch mua bán; -         Hoàn toàn không có bất kỳ dấu hiệu nào là thị trường vàng được ổn định, mà chỉ có: -         Trước thì giá vàng trong nước cao hơn thế giới khoảng 500.000-1.000.000 đồng/lượng giờ thì đã cao hơn 3.000.000 đồng/lượng (*); -         Chỉ trong 5 tháng Ngân hàng nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng từ trong dân (*); -         Thị trường vàng trong nước không còn liên thông với thế giới, tức là không còn thể hiện sự liên quan bình thường với thị trường vàng thế giới, Việt Nam một mình một kiểu không giống ai; -         Nhãn hiệu vàng SJC bỗng dưng-bằng một mệnh lệnh hành chính nhà nước, trở thành thương hiệu vàng quốc gia, và tăng giá một cách kỳ lạ, trở nên kiêu kỳ và khó tính trong cả việc bán đi và mua lại vàng của chính mình sản xuất; -         SJC thu lợi số tiền khổng lồ mà không ai bên ngoài có thể thống kê được. Số lợi khổng lồ không chính đáng này đến từ chênh lệch giá vàng và việc mua rẻ, ép người dân phải bán lại giá rẻ có khi lên tới 500.000 đồng/lượng vàng cũ của chính mình sản xuất ra, với lý do mà bất kỳ một nhân viên thu mua vàng nào của SJC cũng luôn leo lẻo mỗi khi gặp khách đến bán vàng là “Túi chân không bị rách, có hơi ẩm, vàng méo, vàng xước, chữ/hoa văn chỗ nọ chỗ kia không rõ  ..v..v.. Bớt 300.000 đồng/500.000 đồng (so với giá niêm yết). Không bán thì thôi.” Tự tin như đinh đóng cột! Tất nhiên nếu khách bán thì số tiền chênh lệch ấy nhân viên trực tiếp mua không “ăn” một mình, SJC cũng không thể “ăn” một mình, mà tất cả bọn họ từ kẻ lãnh đạo ăn trên ngồi tróc đêm ngày ủ mưu bày kế bóc lột dân ra lệnh, đến các đại gia giám đốc quản lý tập đoàn này, còn các nhân viên trực tiếp cấp dưới thì đương nhiên cũng có những phần thưởng theo khoán, theo chỉ tiêu, định mức thu mua. -         Thị trường vàng trở nên quái đản chưa từng thấy với chênh lệch giá giữa nhãn hiệu SJC cao hơn khoảng 5% so với vàng cùng loại của nhãn hiệu khác. Đây là một con số rất lớn đến mức kinh dị chưa từng có đối với mặt hàng đặc biệt này; -         Dân chúng đổ xô đi bán vàng nói chung, và riêng với các nhãn hiệu không phải là SJC; -         Nghị quyết 21/2011 của quốc hội yêu cầu bảo đảm giá vàng trong nước sát với giá vàng thế giới, thành vô nghĩa. Chính phủ hoàn toàn coi thường quốc hội. .v.v.  Và cuối cùng thì không thể khác những điều như ông nghị Nguyễn Trí Dũng-Nhóm tư vấn chính sách vĩ mô-Ủy ban Kinh tế quốc hội nói “Nhu cầu tích lũy tài sản bằng vàng để tránh lạm phát bào mòn tài sản tích lũy là nhu cầu chính đáng của người dân. Trước kia ngân hàng chưa huy động vàng người dân vẫn tích lũy, nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng.” (Báo Tuổi trẻ, thứ 7, 17.11.2012, page 7)  Vậy là sao? Tiếc là ông Trí Dũng này, nếu tôi đoán không nhầm, lại quá lịch sự không đúng chỗ, khi ông không nói thẳng ra rằng “nếu đồng tiền cứ mất giá thì người dân vẫn phải giữ vàng và sẽ tìm được cách giữ vàng, chính quyền đừng hòng moi được hết vàng của dân, nhá !”  Giả thuyết của tôi hoàn toàn phù hợp với phát biểu của ông nghị Nguyễn Văn Tuyết-Bà Rịa Vũng Tàu rằng “Thống đốc trả lời khôn cũng tốt nhưng đừng nghĩ là dân không biết gì.”.  Đúng vậy! Có thể dân-trong đó có tôi, chưa biết sự thật là gì (vì được che giấu quá kỹ), chưa biết tốt đẹp, thịnh vượng, văn minh là như thế nào nhưng chắc chắn chúng tôi biết rằng cái hiện tại của đất nước này, của chính quyền cộng sản Việt Nam này là độc tài, là gian dối, là ngu dốt. Vì vậy, mà tận sâu trong lòng người dân Việt Nam giờ đây quá chán ngán tất cả những gì cộng sản nói, bằng chứng là học sinh Việt Nam bây giờ coi môn lịch sử chỉ là môn học nhảm nhí, thậm chí không cần học, thậm chí ngay cả ông bộ trưởng giáo dục Việt Nam còn xưng xưng phát biểu rằng “50% học sinh thi tốt nghiệp trung học môn sử dưới 2 điểm, là bình thường.”  Kết thúc phần Vàng, xin trích 2 phát biểu: -         Ông nghị Trần Du Lịch phát biểu tại phiên chất vấn thống đốc Nguyễn Văn Bình sáng 13.11.2012 “Qua phần trình bày của thống đốc, dường như muốn tiêu diệt thị trường vàng, chứ không muốn bình ổn thị trường vàng.” -         Thống đốc Nguyễn Văn Bình “Sau 6 tháng thực hiện nghị định 24, nhà nước đã thu mua được 60 tấn vàng.” phát biểu cùng buổi sáng hôm ấy tại quốc hội.  Vô cùng sung sướng và mãn nguyện!   ĐÔ LA Câu chuyện của đô la ở Việt Nam hiện nay cũng thú vị không kém câu chuyện của vàng. Chỉ khác là việc nhà nước thắt chặt việc mua bán ngoại tệ đã có từ rất lâu, nhưng làm thì đì đùng, vì thật ra là không làm nổi, không muốn làm. Chính thế mà nhiều người dân bị mất tiền oan khi đi mua bán ngoại tệ, vừa mất số tiền đem mua, bán, vừa bị phạt thêm một số tiền rất lớn, nên uất ức vô cùng. Giới công an, quản lý thị trường và nhất là các thể loại trinh sát liên ngành chỉ việc thỉnh thoảng phố hợp với nhau đi rình ở các hiệu vàng, các điểm mua bán ngoại tệ tư nhân mà ai cũng biết, rồi thích bắt ai là bắt, hoặc bắt theo chuyên án để vớ được quả “bẫm” mà chia nhau.  Việc thắt chặt mua bán ngoại tệ, mà chủ yếu là đô la khác với vụ quản lý vàng ở trên là chính quyền không thể bỗng dưng chọn một loại ngoại tệ nào để làm đối tượng siết được vì nó có sẵn rồi, chỉ vài loại như thế, như thế, mà mình lại chẳng thể tác động gì vào nó, không in khống được, không làm giả được, cũng không làm nó tăng hay giảm giá trị được, vậy phải làm cách nào đây để thu gom được thật nhiều ngoại tệ, càng nhiều càng tốt. Thế là chính quyền, với công cụ quyền lực trong tay, nghĩ ra ngay những mệnh lệnh hành chính cho đám lâu la bộ sậu hùng hổ thực thi.  Ngày 29.08.2011 Ngân hàng nhà nước ban hành thông tư 20 về mua bán ngoại tệ tiền mặt của cá nhân với tổ chức tín dụng được phép. Những quy định của thông tư cực kỳ nhiêu khê và còn có dấu hiệu của “nước đái chuột”. Mỗi ngày mỗi người được mua tối đa là 100 đô la cho một ngày đi công tác, du lịch, khám chữa bệnh, công tác, thăm viếng ..v..v.. và chỉ được mua tối đa cho 10 ngày, với điều kiện phải trình bày lý do bằng văn bản có các giấy tờ khác chứng minh kèm theo. Đối với doanh nghiệp thì khỏi phải nói về những nhiêu khê khốn khổ trong hành trình đi mua đô la của họ.  Ngược lại với thủ tục áp cho người mua ngoại tệ cực kỳ quan liêu, nhiêu khê, theo đúng cái cách mà chính quyền cộng sản này luôn đối xử với dân là “Chúng mày cần nhưng bọn ông đếch cần.”, thì dân tình ngây ngô được khuyến khích đem hết ngoại tệ ra mà bán cho ngân hàng, không hạn chế số lượng, thậm chí bán cả ngoài giờ và ngay tại nhà dân thì nhân viên ngân hàng cũng sẽ rất vui lòng vác bị đến mua luôn và ngay. Còn với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì thậm chí ngân hàng còn có sáng kiến và lạm quyền tự động giữ lại đô la của doanh nghiệp mà bên phía nước ngoài trả cho doanh nghiệp trước đó qua các LC tại ngân hàng và bắt doanh nghiệp muốn lấy được số tiền chính đáng của mình phải mất rất nhiều thời gian công sức cho các thủ tục quan liêu hành dân, đến mức gần như tất cả các doanh nghiệp đều phải cho nhân viên ngân hàng ăn của đút để giải quyết cho họ được rút ngoại tệ của họ ra.  Thiết nghĩ, xin nhắc lại chút ít rằng tất cả các ngân hàng nội địa Việt Nam dù là tư nhân (nguồn gốc thành lập) hay quốc doanh được cổ phần hóa thì đều có cổ đông lớn nhất là phe cánh, bè nhóm của các thể loại lãnh đạo chóp bu cộng sản.  Ví dụ: Ngày 31.08.2012, tại Huế, công an đã bắt 1 vụ mua bán ngoại tệ trái phép của ông Lộc-người bán 10.000 đô la Mỹ với bên mua là hiệu vàng Phước Lộc trên đường Mai Thúc Loan-tiền để mua là 209 triệu đồng. Người bán và mua bị tịch toàn bộ số tiền này, ngoài ra còn bị phạt mỗi người một số tiền khổng lồ là 80 triệu đồng. Báo Thanh tra điện tử đăng ngày 17.10.2012, ngoài ra bài viết còn nhấn mạnh “Theo các điều tra viên, việc mua bán ngoại tệ trái phép này nhằm thu lợi bất chính. Do thủ đoạn, hành vi hết sức tinh vị nên lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và chức vụ công anh thành phố Huế đã phải mất nhiều thời gian mới bắt được.”  Ở Việt Nam, lên tiếng đòi tự do ngôn luận, viết báo đòi tự do lập hội, đi biểu tính đòi tự do yêu nước còn bị chính quyền vu cho là “để kiếm tiền, nhằm thu lợi bất chính” thì việc mấy người trên bị đối xử như tội phạm bắt quả tang, bị tịch thu hết cả tiền bạc, rồi còn bị xử phạt là cũng đúng thôi. Nhưng cái “đúng” này nên nhớ là đúng với nhu cầu ăn cướp, đúng với cách hành pháp hành dân, bẫy dân của chính quyền cộng sản Việt Nam, chứ hoàn toàn không phải là sự đúng đắn và phù hợp với nhu cầu thực tế và hành xử bình thường có đạo lý của xã hội và người dân Việt Nam. Bằng chứng là ai biết về vụ việc này ngay khi nó xảy ra và bây giờ khi kiểm chứng bài viết này thì chỉ đều thấy phẫn nộ chính quyền cộng sản Việt Nam là một lũ cướp đê tiện, và xót xa oán thán thay cho 2 công dân kia.  Khỏi phải nói sau 1 năm thực hiện thông tư 20 nêu trên, các ngân hàng đã moi được của dân  bao nhiêu đô la! Ý quên, mua ạh !   ĐÀO TẨU Khi quyết định đào tẩu, có 3 điều quan trọng phải nghĩ kỹ: 1-    Đào tẩu sang nước nào? 2-    Đào tẩu khi nào? 3-    Đem theo gì khi đào tẩu? Đối với lãnh đạo cộng sản cao cấp kiêm tư bản đỏ ở Việt Nam hiện nay thì các câu trả lời đương nhiên là: 1-    Đào tẩu sang các nước tự do, dân chủ. Thật đáng tiếc cho họ các nước cộng sản ruột thừa anh em chi sống chí chết của họ lại chẳng có đồng chí nào là tự do, dân chủ cả, nên đành phải vác cái mặt trơ trẽn méo mó cô hồn dị hợm đào tẩu sang các nước tư bản giẫy chết vậy. 2-    Đào tẩu khi thời điểm thuận lợi, nhất là việc chuẩn bị tài lực cho cuộc sống sau đào tẩu đã chuẩn bị xong. Nhưng ôi chao! Cái việc này lại hay bị kéo dài vì lòng tham của bọn chúng là vô đáy, với lại mọi sự trên đời này nào có mấy khi như ý mình. Sự không như ý ấy vừa đến từ những rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, vừa đến từ tình đồng chí cộng sản-cái thứ tình mà ngày hôm trước còn ôm hôn nịnh bợ nhau không biết ngượng như mất trí thì ngay hôm sau đã có thể ra lệnh bắt nhốt nhau, đấu tố nhau và cả giết nhau nhân danh sự “cải tạo”. 3-    Hành trang đem theo khi đào tẩu đương nhiên là một lý lịch mới (Con em cộng sản đi du học còn làm hẳn bộ lý lịch và cả cha mẹ mới, bất chấp tự trọng và tình cảm tự nhiên của con người, huống hồ là đào tẩu!) và thật nhiều, thật nhiều tiền và kim loại quý dễ quy đổi và sử dụng được như tiền. Vậy, tiền ấy là tiền nào, kim loại ấy là kim loại gì mà ở đâu, lúc nào cũng có giá trị ổn định nhất so với các loại tiền và kim loại quý khác?  Ấy là vàng và đô la. Vàng ở đâu cũng là vàng. Đô la ở đâu cũng là đô la. Giá trị luôn được bảo toàn gần như tuyệt đối bằng nhau ở mọi nơi có sử dụng vàng và đô la trên thế giới này (Tất nhiên có thể có xê dịch chút ít, nhưng đảm bảo là rất ít!).  Do vậy, với một chính quyền đã thối nát đến tận cùng, nền kinh tế đã be bét, rách bơm không che giấu vào đâu được nữa, cộng sản chỉ còn trông mong vào sự khiếp sợ của ngươii dân mà nỗi sợ ấy đã được dày công gieo mầm nuôi dưỡng trọn vẹn 3 thế hệ trong hơn nửa thế kỷ qua, để vơ vét nốt được ngày nào hay ngày ấy, rồi đánh bài chuồn. Quá trình chuẩn bị đào tẩu đã được chuẩn bị chu đáo từ lâu dưới mọi hình thức mua bất động sản, chứng khoán, đầu tư trực tiếp kinh doanh, cho con cái du học, kết hôn với người có quốc tịch nước ngoài, đem đô la, vàng kiếm được bất hợp pháp ra gửi ở nước ngoài.  Vàng, đô la ấy kiếm thêm, moi thêm ở đâu ra bây giờ? Đầu tư nước ngoài đã chựng lại vì bộ mặt lật lọng tham nhũng phơi lộ bầy hầy nhớp nhúa đến nỗi tài nguyên thiên nhiên và giá lao động rẻ mạt cũng không còn hấp dẫn như trước nữa rồi. Dân thì cũng đã khôn ra một tí, có bị chính quyền lừa mỵ đến mấy cũng đã bình tĩnh hơn mà suy xét sáng suốt cất giữ bảo tồn tài sản của mình vào những thứ đáng quý và thực chất, và đặc biệt là có giá trị ổn định khi giao dịch toàn cầu.  Ấy là vàng và đô la.  Bỗng dưng lại tưởng tượng có một tên cộng sản tư bản đỏ nào đó lại dựng ngược lên “Ờh đấy! Bọn tao đào tẩu thì phải cần vàng, cần đô la chứ. Dở người mà mang theo tiền đồng Việt Nam để làm giấy lộn àh. Lũ dân đen chúng mày thì đi đâu, cứ yên tâm mà dùng tiền Việt, nhá! Có bao nhiêu vàng, đô hãy mang ra đây, ông có nhà máy ông in tiền đồng ông đổi cho. Chúng mày mà không đổi đúng đầu nậu nhà ông là ông tịch thu hết đấy, nhân danh nhà nước hẳn hoi, nhá! ”  Lê thị Công Nhân Hà Nội, 20.11.2012 http://viet-luan.com/231112/VangDoDaoTau.html">http://viet-luan.com/231112/VangDoDaoTau.html
......

Vỡ đập thủy điện Đăk Mek 3

Chuyện khó tin nhưng chủ đầu tư lại khẳng định nguyên nhân khiến đập thủy điện dài 80m, cao 20m ở huyện Đăk Glei (Kon Tum) sụp đổ một đoạn 60m, làm một người chết, là do tài xế chạy xe ben Dongfeng của Trung Quốc chở 60 tấn, quá tải va vào. Dù vụ vỡ đập thủy điện Đăk Mek 3 dưới chân núi Ngọc Linh (xã Đăk Choong, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum) xảy ra ngày 22.11 nhưng mọi thông tin hầu như bị bịt kín cho tới ngày 25.11.    Ông Trần Văn Bình, một người dân sống gần thủy điện Đăk Mek 3, nói: “Kinh hoàng lắm. Chiều 22-11, khi tôi đang đưa con ra phía hạ nguồn đập thủy điện tắm thì nghe một tiếng ầm lớn. Mọi người đang tắm dưới sông tưởng động đất xảy ra. Nhưng khi nhìn về phía đập thủy điện đang thi công thì thấy khói bụi bay lên mù trời. Tôi tìm cách vào bên trong coi thử nhưng bảo vệ không cho vào, sau đó chỉ biết rằng có người chết”.  Đập dài 80m, 60m vỡ vụn hoàn toàn   Ảnh: Hữu Khá - TTO Theo quan sát của PV Tuổi Trẻ Online (TTO), hiện trường đập thủy điện đổ nhào. Từng khối bêtông lớn gãy, nằm chỏng chơ dưới sông. Tấm bạt che làm nơi mổ tử thi nạn nhân vẫn còn hương, đèn. Mặt đập phía thượng nguồn đổ gãy, từng cây thép lớn nằm la liệt, cong vẹo. Đất đá bên trong đổ văng ra xa mấy chục mét. Trên đống đất đá, một chiếc xe ben đã bị móp méo.   Theo ông Lê Bá Thanh - giám đốc Công ty cổ phần thủy điện Hồng Phát Đăk Mek (chủ đầu tư), sự cố vỡ đập xảy ra lúc 17 giờ 30 ngày 22-11. Khi công nhân của các đơn vị đang thi công chèn đá vùng thân đập thì xảy ra sự cố khiến đập vỡ về phía thượng lưu. Lúc xảy ra sự việc, một tài xế đang đứng cạnh bị vùi xuống vực sâu.   Cũng theo ông Thanh, đập có thiết kế dài khoảng 80m, cao 20m nhưng hiện tại hơn 60m đập đã vỡ hoàn toàn. Nguyên nhân vỡ đập, theo ông Thanh lý giải, do một chiếc xe ben khi chở đá đã va vào thân đập khiến đập vỡ dây chuyền.   Ông Thanh nói công trình của ông có mua bảo hiểm, khi sự việc xảy ra chỉ có một người chết, không có ai bị thương. Tuy nhiên, trưởng trạm y tế xã Đăk Choong Cao Văn Dương nói có một người bị thương nhưng sau đó không rõ đi đâu.   Chiều 25-11, ông Nguyễn Quang Oánh - phó chủ tịch UBND huyện Đăk Glei - cho biết ông có nắm thông tin về vụ vỡ đập thủy điện Đăk Mek 3. Sau khi sự cố xảy ra, huyện đã cho lực lượng vào nắm tình hình hiện trường, tuy nhiên đây là việc của chủ đầu tư, sự cố vừa xảy ra chỉ là tai nạn lao động. Ông Đỗ Hoàng Liên Sơn, giám đốc Sở Xây dựng Kon Tum, cho biết sự cố vỡ đập xảy ra tại thủy điện Đăk Mek 3 chủ đầu tư chưa báo cáo nên ông chưa nắm được.   Nói về chất lượng công trình thủy điện, ông Sơn bình luận: “Vì chủ đầu tư và đơn vị thi công là một nhà cả nên chưa chắc họ đã thi công đúng theo thiết kế được duyệt. Giám sát cũng do một đơn vị của chủ đầu tư thuê luôn. Về tiến độ công trình, chủ đầu tư làm mình không nắm được nên các công trình này cũng chưa tổ chức giám sát”. Dự án thủy điện Đăk Mek 3 Khởi công tháng 3-2009, dự kiến phát điện đầu năm 2013 với công suất 7,5MW, vốn đầu tư hơn 200 tỉ đồng. Công trình do Công ty cổ phần tư vấn thiết kế Nam Việt (trụ sở tại TP.Sài Gòn) thiết kế và Công ty thi công cơ giới Hồng Phát thi công.  
......

Đợi về hưu rồi ta lên tiếng - âu cũng là một nét văn hóa của nhà sản.(**)

Hà nội, ngày 12.11.2012Với người dân và truyền thông Việt Nam ông Đặng Hùng Võ, cựu thứ trưởng bộ Tài nguyên Môi trường là một người khá quen. Quen vì ông là người tử tế và có trình độ - một sự lạ và hiếm trong giới chính khách Việt Nam. Chưa kể ông còn là người gần gũi với báo chí và công chúng, yêu thích các phương tiện giao tiếp hiện đại trên Internet. Nhưng vừa rồi, ông có làm một chuyện “lạ”, thật là lạ, bởi trước ông chưa ai làm như vậy, là còn vì việc ông làm lại liên quan mật thiết và trực tiếp tới những người dân khiếu nại, tố cáo, chống lại chính quyền cưỡng chế đất đai trong dự án khu đô thị mới rất cao cấp là Ecopark, còn gọi là “vụ Văn Giang”. Chiều ngày 8.11.2012 ông Võ gặp một số người dân và luật sư của họ để đối thoại về một số vấn đề mà người dân thắc mắc. Nơi gặp là một phòng tiếp dân ở trụ sở bộ Tài nguyên Môi trường. Trước đó nhiều ngày báo chí đã đồng loạt đưa tin về việc “lạ” và “hot” này. Nội dung chủ yếu là các quan chức thuộc hàng cao nhất của bộ như thứ trưởng, chánh văn phòng … chỉ ra sức nhấn mạnh rằng đây hoàn toàn là cuộc gặp của cá nhân ông Võ, do ý tưởng và tổ chức của riêng ông Võ, bộ chỉ cho mượn địa điểm vì dù sao thì ông Võ cũng từng là thứ trưởng của bộ, và một ý nữa cũng được nhấn mạnh không kém là ý kiến của ông Võ chỉ là cá nhân, hoàn toàn không phải ý kiến của bộ. Việc các quan cứ nhấn mạnh, nói đi nói lại ý đó làm người dân cảm tưởng họ sợ dân nghĩ rằng họ cũng có ý tưởng “dân chủ vượt rào” như vậy thì khốn cho họ. Ấy là chưa kể 99% mọi người đều đoán được nội dung chính mà ông Võ sẽ “đối thoại” chính là lý giải, thanh minh, vớt vát chút gì đó về vai trò của ông ta trong vụ việc này, tạm hiểu là nhận lỗi, nhận sai ở một mức độ nào đó.  Nội dung quan trọng nhất của cuộc gặp là câu hỏi tại sao thời hạn xét duyệt giao đất cho chủ đầu tư chỉ vỏn vẹn mất có 3 ngày-một khoảng thời gian nhanh tới mức không tưởng. Cụ thể là từ khi Ủy ban tỉnh Hưng Yên ký trình việc giao đất – ngày 28.6.2003, đưa lên Bộ Tài nguyên Môi trường duyệt, ký trình – ngày 29.6.2003, đưa lên Thủ tướng ký duyệt ngày 30.6.2003 – ngày cuối cùng Luật đất đai 1993 còn hiệu lực. Ông Võ giải thích rằng “Vì đây là dự án trọng điểm. Khi cuộc sống cần thì không thể chờ luật. Tôi quan niệm như vậy khi đứng trước dự án dù bà con có thể cho rằng tôi sai. Đó là con đường chiến lược, mang lại lợi ích cho Hưng Yên, Hà Nội và ngay cho người dân Văn Giang. Khi ký trình tôi đã cân nhắc kỹ, nếu dừng lại dự án sẽ phải chậm 1,5-2 năm vì phải làm lại từ đầu. Ký thì chắc chắn có điều tiếng. Nhưng nếu phân tích lịch trình toàn bộ như trên thì thấy hợp lý thôi.” (**)  Thật ngạc nhiên và vui sướng siết bao khi nghe một quan chức – dù là cựu quan chức đi nữa nói rằng “Khi cuộc sống cần thì không thể chờ luật.”. Nhưng cần phải nói rõ là cuộc sống của ai cần, của chủ đầu tư, của doanh nghiệp, của các quan chức nhà nước hay của người dân bị thu hồi đất. Những người nông dân này rất tha thiết được nhà nước lấy đất của mình rồi giao cho người khác đến nỗi chờ không nổi Luật Đất đai mới có hiệu lực sao? Có lẽ nào họ khát khao điều ấy đến nỗi dù Luật Đất đai mới chỉ một ngày nữa là có hiệu lực nhưng vẫn chờ không nổi, muốn làm ngay để được nhận tiền đền bù thấp hơn, được thỏa thuận ít hơn, được bình đẳng ít hơn với chủ đầu tư, với chính quyền sao ? Dân gì mà cứ như một lũ thiểu năng trí tuệ và yếu hèn đến vậy? Lẽ nào trong mắt quan chức cộng sản Việt Nam dân đều là như thế ? Ngay cả một vị quan chức được coi là tử tế thuộc “hàng Top” của chính quyền Việt Nam cũng nghĩ về dân mình như vậy thì nhà nước này, chính quyền này mạt vận là cũng đúng thôi.  Ngày trước khi còn là luật sư, khi đi lấy giấy chứng nhận người bào chữa, một thủ tục mà chẳng có người dân hay vị luật sư nào lại muốn cả thì cũng phải mất ít nhất là 3 ngày. Nhưng thường thì hiếm có ai lấy được tờ giấy vớ vẩn có tác dụng duy nhất là thể hiện quyền uy và sự quan liêu của các vị quan nhà nước đúng hạn. Chả có cuộc sống ngheo khó, tối tăm, trăm thứ bề bộn lo toan nào của người dân mà cần đến cái giấy chứng nhận người bào chữa đó. Vậy mà ra trước quốc hội, dù nhiều người lên tiếng phải bỏ nó đi, nhưng các quan nhà nước vẫn quyết tâm giữ bằng được cái thủ tục phản động ấy. Tất cả cũng chỉ để duy trì quyền lực không chính đáng của công chức nhà nước, gây phiền nhiễu và hạ thấp vị thế của luật sư. Đặc điểm nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vạn lần hơn hơn tư bản là luật sư là những người  bị giới nhân viên nhà nước làm việc trong ngành kiểm sát, tòa án và đặc biệt là công an ưu tiên ghét số 1, thậm chí bị coi như kẻ thù không đội trời chung. Những nhân viên nhà nước này quên mất mình là công bộc của dân. Thậm chí họ còn coi họ là bố dân. Các đương sự, bị cáo, bị hại ..v..v.. chỉ được phép đặt niềm hy vọng vào họ và chỉ có họ mới có thể mang đến chút ánh sáng cuối đường hầm cho những con người đang bế tắc, khủng hoảng, lo lắng sợ hãi, còn “luật sư chỉ là bọn phá đám” trong mắt họ. Phá đám quá đi ấy chứ, có luật sư thì đường làm ăn tham nhũng của bọn nhân viên nhân nhà nước trong các vụ việc, án từ sao còn trơn tru, kiêu ngạo được nữa, làm sao còn tiếp tục vừa dọa dân, hành dân, trù dập, gây oan sai cho dân để được ăn của đút lót mà vẫn vẫn kiêu kỳ, sang trọng, cao đạo toàn phần được nữa. Không sớm thì muộn, không ít thì nhiều cái bọn luật sư kiểu gì chúng nó mà chẳng phanh phui được ra, hoặc ít nhất cũng ngăn chặn được tí ti những cái trò tham nhũng đê tiện tởm lợm này. Mà đây lại là nguồn sống chính của đám nhân viên nhà nước ấy, nên ghét là phải thôi, hành là đúng rồi, còn kêu ca gì nữa.  Đây chỉ mới là 1 ví dụ về vấn đề thời hạn và như thế nào là “khi cuộc sống cần”. Có thể kể ra đây muôn vàn ví dụ khác như thời hạn ban đầu giải quyết khiếu nại tố cáo-30 ngày, đăng ký kết hôn-5 ngày (hẹn dân 7 ngày), đăng ký cái xe máy cũng 1 tuần ..v..v.. Lạ là chính vấn đề đất đai và nhà ở mà ông Võ đã từng là một trong các quan chức lãnh đạo nghành ở cấp cao nhất của nhà nước lại là lĩnh vực quan liêu, trây ì, chống chéo kéo dài nhất về mặt thủ tục, tạo thành cái nôi vàng, thành cánh đồng màu mỡ phì nhiêu cho nạn tham nhũng, tham ô sinh sôi nảy nở chưa từng thấy, vô địch tuyệt đối so với mọi nghành khác. Đây là lĩnh vực mà người dân bị oan sai nhiều nhất, bị làm cho khốn khổ nghèo mạt nhiều nhất. Có những vụ kiện đất đai nhà cửa mà người dân sau khi vác đơn đi kiện từ nam chí bắc, từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới, kêu gọi cả đến báo chí của giới Việt kiều ở hải ngoại lên tiếng giúp, kêu gọi cả Liên Hợp quốc can thiệp, đi suốt gần 30 năm, được thanh tra chính phủ, ủy ban tư pháp quốc hội nhà sản khẳng định là dân oan thật, viết cho tờ giấy yêu cầu cơ quan địa phương giải quyết cho. Thế là xong, coi như đã hết trách nhiệm. Con sâu cái kiến tên gọi là Dân oan lại ôm cái đống hồ sơ có khi nặng đến 6kg ấy quay về điểm ban đầu để đối mặt với một đống Củ khoai tên gọi là quan chức nhà nước để bắt đầu lại từ đầu, cho đến khi hơi tàn lực kiệt, chẳng còn xu dính túi, sống vô gia cư, nghèo khổ như ăn mày ăn xin. Con sâu cái kiến nào mà bỗng dưng nhận ra mình cũng là con người, mình có quyền con người tự thân đương nhiên, mình phải biết nổi giận và nổi dậy chống lại bọn cường hào ác bác, bọn nội xâm ung thư cộng sản này là bọn hiểm ác bóc lột đàn áp nô dịch người dân bằng trò thủ tục và quyết định hành chính, nhận thấy đất đai này là của mình, của tổ tiên cha ông mình để lại, mình đang sử dụng hợp pháp, mạnh mẽ lên tiếng đòi quyền làm người, mãnh liệt bảo vệ quyền con người của mình, thì bị nhà nước và cái chính quyền độc tài cộng sản này trù dập, sát hại cho thân bại danh liệt, thân tàn ma dại, thành tội phạm nguy hiểm, lý lịch xấu xa đeo bám đến tận đời con cháu. Đấy mới là “khi cuộc sống cần”. Còn cái mà ông Võ nói thì chính ông đã tự mâu thuẫn. Ông Võ là một người tài giỏi sáng suốt, quyết định đối thoại với dân cho ra nhẽ, lại vô tình nhầm lẫn như vậy sao, có chăng là ông cố ý đánh tráo đối tượng, tung hỏa mù biến điều chủ đầu tư muốn, điều chính quyền muốn – mà trong đó có ông, lại trở thành điều cuộc sống cần.  Ngoài ra, cũng cần nhắc lại ông chính là người chấp bút dự thảo Luật Đất đai 2003 và ông vẫn luôn tự hào về điều đó vì những sự hay hơn, tốt hơn vượt trội của luật này so với Luật đất đai 1993. Cớ nào ông Võ không muốn Luật ấy được áp dụng với một dự án trọng điểm như vậy để không chỉ người dân được đền bù thỏa đáng mà mọi khía cạnh khác của dự án này cũng sẽ được xem xét thấu đáo hơn. Cớ gì phải quyết tâm thông qua quyết định giao đất cho bằng được vào đúng ngày cuối cùng luật cũ còn hiệu lực?  Ba ngày hỏa tốc, siêu tốc hay thần tốc ấy (Chẳng biết dùng từ nào cho xứng!) lại không hề là sự vội vàng, ẩu xị mới hay! Tất cả được phối hợp sao mà nhịp nhàng chính xác để tận dụng từng giờ từng phút vàng ngọc trong 8 giờ hành chính (Vì không lẽ lại còn nhiệt tình nỗ lực đến mức ở lại làm ngoài giờ, ngồi chờ đợi công văn đến.) để ký cái xoẹt rồi lại chuyển đi lên cấp cao hơn, cao hơn nữa, cao đến tận trung ương là văn phòng thủ tướng. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi nhận trường hợp này vào sách kỷ lục về thời hạn xét duyệt một vấn đề lớn như vậy từ cấp địa phương đến trung ương.  Khi tên quan công an Đỗ Hữu Ca ở xứ Hải Phòng, vênh cái mặt bị thịt lên đắc chí cười nói về quá trình vây bắt công dân Đoàn Văn Vươn trong khu đầm ven biển hay đến như thế nào, chưa từng có trong giáo trình dạy bắt người, xứng đáng được viết thành sách ra sao, tôi lại không thấy khó chịu và tăm tối như khi nghe ông Võ nói trong cuộc gặp này. Vì dù sao đồng chí Ca đại ca này cũng là một tên võ biền, tinh anh nó hiện ra mặt cả rồi, chả dám mong chờ gì khác ở một tên quan công an như vậy nữa. Ông Võ thì khác, ông là giáo sư, là tiến sĩ nên dù ông đã về hưu thì người ta vẫn có quyền đòi hỏi, và ông vẫn phải có nghĩa vụ trung thực và thẳng thắn để thừa nhận và đối mặt với hậu quả những gì mà ông đã làm.  Nội dung quan trọng thứ hai là ông Võ thừa nhận việc Thủ tướng (giao Phó Thủ tướng ký thay) ký quyết định 742 ngày 30.06.2004 giao đất của dân cho chủ đầu tư là sai thẩm quyền trong khi đó số đất này còn chưa có được thu hồi. Sau khi thừa nhận chỉ có Chính phủ mới có thẩm quyền quyết định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, giao đất với những dự án quy mô như vậy, thì ông lại nói thêm cho rõ, rằng “Nhưng suốt mười năm, từ  năm 1993 (Luật Đất đai năm 1993) cho đến ngày 1.7.2003 (Luật Đất đai 2003 có hiệu lực) thì tất cả dự án đều như thế chứ không phải riêng dự án này. Thông lệ nó là vậy. Đây là cách vận hành của Chính phủ và tôi cũng góp ý là nên thay đổi” (*).  Quả thật một người có học hành tử tế, làm chính khách lâu năm, lại chăm giao lưu đối ngoại thì ông Võ ăn nói sao mà nhẹ nhàng đến thế về một điều kinh khủng – là sự vi phạm pháp luật của Chính phủ, lại còn là vi phạm phổ biến, trường kỳ và có hệ thống. Cho nên sự nhẹ nhàng này phải nói là nhẹ nhàng đến phát sợ. Bởi vì nếu nói “vi phạm pháp luật” nghe nó nặng nề, sợ người dân vì “dân trí thấp” mà tưởng là vi phạm pháp luật hình sự, thì ít ra cũng phải nói là “làm trái quy định pháp luật” thì mới đúng bản chất sự việc. Hóa ra đến giờ ông mới thừa nhận rằng cái nhà nước, cụ thể là cái chính phủ mà ông là chính khách cấp cao trong đó, lại luôn hành xử tùy tiện, trái pháp luật. Tôi thắc mắc là ông đã nhận thấy điều ấy, đã góp ý (có lẽ là góp ý một cách bí mật) từ hồi nảo hồi nao cách đây tận 19 năm, mà cứ ấp ủ mãi trong lòng, đến giờ mới dám thừa nhận theo cách mềm mại, vuốt ve như vậy sao. Thảo nào, đám con dân chúng tôi ở ngay thành phố, chứ chưa nói gì đến nông thôn cách đây gần hai chục năm đã phải chịu không biết bao nhiêu là hậu quả từ những sự tính toán kỹ lưỡng, tuy nhận thấy mà chưa dám nói ra sự sai trái trong cách vận hành của bộ máy nhà nước Việt Nam.  Sau đó là một loạt những lời nhận lỗi của ông được báo chí đăng tải nguyên văn, như “Ở cương vị cá nhân tôi mà không giám sát được những chuệch choạc thì tôi chịu trách nhiệm. Còn những thất thoát của bà con, đó là lỗi của tôi.”(*). Câu này mới nghe tưởng là hay, những nghĩ kỹ lại thấy sao mà vô nghĩa và mơ hồ! “Chuệch choạc” là cái gì? “Thất thoát” của bà con là cái gì, giá trị bao nhiêu? Cái thiệt hại nhất là quyền được phát biểu ý kiến, được thỏa thuận cách tôn trọng và bình đẳng, quyền làm chủ mảnh đất bao đời của mình và gia đình truyền lại vì “đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý” thì tại sao quyền của kẻ quản lý lại có thể cao hơn quyền của người chủ sở hữu được ..v..v..  Và cuối cùng là câu chốt “, đó là lỗi của tôi.”. Tôi rất muốn biết lỗi của ông Võ cụ thể là lỗi gì, vì ngay trước đó ông còn khăng khăng rằng những việc mà ông làm đều hợp lý cả.  Suốt 10 năm ấy (1993-2003) cách vận hành của Chính phủ vẫn là làm sai thẩm quyền của mình, chứ không riêng gì dự án Ecopark.  Có lẽ nào lỗi của ông là thấy sai mà vẫn tham gia, tham gia rồi cái sai vẫn sai nên góp ý, góp ý rồi cái sai ấy trơ trẽn ra, nên thôi dừng việc góp ý lại, chờ cái sai ấy nó tự sửa sai, chờ mãi giờ ông cũng đã về hưu rồi mới dám thừa nhận tí ti. Thôi thì nói ngắn gọn thế này, cái lỗi ấy của ông gọi cho đúng là hèn. Nói ông hèn, ông cũng chớ có giận vì khi mà ông biết điều sai đó, ông thừa sức, thừa quyền, thừa điều kiện để lên tiếng mạnh mẽ, thẳng thắn để đả phá cái sai ấy. Cái sai ấy đâu phải là nhỏ, chính quyền mà lại vi phạm, làm sai luật, lại còn tất cả vẫn luôn vi phạm, làm sai như vậy suốt từ trước đến giờ, thì phải gọi cái chính quyền ấy là gì, nếu không phải là một băng tội phạm, một đảng cướp.  Tôi không mắng ông Võ chẳng lẽ tôi lại đi mắng mấy ông bà nông dân, xe ôm, buôn thúng bán mẹt, hay những người công nhân phải ăn cả cơm thiu, cơm dòi … những người mà giới nhân viên nhà nước luôn cho rằng có dân trí thấp, động đất tí mà cũng sợ !?! Hay tôi mắng bọn quan tham trơ trẽn, đám lãnh đạo ngu tối mà lại cao siêu là những tên tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước chủ tịch quốc hội, trưởng ban khoa giáo trung ương… với  những kẻ này thì phải chửi, phải lên án kịch liệt, phải đấu tố truy cứu tội ác của chúng – bè lũ dối trá, ác ôn, lạc hậu man rợ, độc tài toàn trị, dối trá xảo quyết nhưng lại rao giảng đạo đức và văn minh, một đảng cướp nhưng lại rao giảng hòa bình và thịnh vượng.  Vì thế tôi nghĩ và khẳng định những người như ông Võ là đáng trách nhất cho hiện trạng suy đồi, nghèo khổ và khó khăn mọi bề của đất nước và đời sống người dân Việt Nam hiện nay.  Giờ ông về hưu lâu rồi thì (hay nên?) ông lại nhận lỗi. Việc làm của ông thực hiện khá lâu đến nỗi gần 1 năm nữa là thập kỷ đã trôi qua. Ông sẽ làm gì để được tha lỗi, để khắc phục những hậu quả đáng sợ vừa là thiệt hại to lớn về vật chất vừa là những hệ lụy danh dự, tinh thần của người dân từ sự kháng cự cái ác điều sai của các ông mà họ phải gánh chịu? Chính ông góp phần vào những điều đau khổ này bằng sự tham gia và những nỗ lực nhiệt tình kỳ lạ không thể chối cãi của ông.  Việc ông nhận lỗi khiến tôi buồn cười và nổi giận nghĩ đến những lời xin lỗi kiểu quan chức cộng sản, mà nổi tiếng nhất là lời xin lỗi của ông Hồ Chí Minh sau vụ cải cách ruộng đất khiến gần nửa triệu người mà đa phần là tinh hoa, tài giỏi của nông thôn miền bắc bị giết chết vô cùng tàn nhẫn, man rợ, thậm chí ông ta còn vặn cái rô bi nê nước mắt cho chảy ra vài giọt tí ti nữa cơ. Thế là xong !  Tất nhiên, mọi sự so sánh đều khập khiễng, nên tôi không so sánh lời xin lỗi của ông Võ với ông Hồ, chỉ là sự liên tưởng nhớ đến. Có thể ông Võ đã học tập và làm theo rất tốt tấm gương đạo đức kiểu Hồ Chí Minh, và vận dụng thành công, khéo léo tinh vi trong vụ việc của mình. Chúc mừng ông! Tiếc là tôi không làm giám khảo cuộc thi học tập và làm theo tấm gương đạo đức kiểu Hồ Chí Minh, nếu không tôi sẽ chấm ông ít nhất là giải nhì!  Kiểu như ông mới là đáng nể. Sau khi phân tích mọi sự để vớt vát chứng minh là mình vẫn đúng vì thời đó kiểu nó phải thế (Hậu quả về sau không cần biết !?!) thì ông chốt lại bằng câu nhận sai và xin lỗi!  Thật hoàn hảo! Thật khéo hết chỗ nói!  Bảo đảm giới quan chức nhà sản sau phen này sẽ đua nhau học tập ông Võ, vì đây là phương án an toàn nhất trong thời buổi hiện đại này, thời buổi mà cái sự về hưu, cái trò xin nghỉ vì lý do sức khỏe, việc gia đình vẫn chưa chắc là màn hạ cánh an toàn cho một kết thúc có hậu cuối cùng. Thời này đã khác quá xa thời cải cách ruộng đất khi mà đám lâu la và cỗ máy bạo lực vũ trang mà đảng tự nhận là của mình, bắt phải phục vụ và tuyệt đối trung thành với đảng, đã thấy rõ cái thứ mà họ phải trung thành và phục vụ ấy chẳng qua là điêu hơn, xảo quyệt hơn, tham nhũng hơn mình, ác hơn họ mà thôi.  Tôi nghĩ ông Võ là người tử tế trong giới quan chứcViệt Nam, đến giờ tôi vẫn không nghĩ khác đi, chỉ thấy thêm một điều là ông quá khôn ngoan. Giá như hồi “vụ Văn Giang” nổ ra, dân chúng, nhà báo, phóng viên chân chính chịu không biết bao nhiêu là gậy gộc, đấm đá của công an và nhân viên nhà nước, máu đã rơi, xương đã gẫy mà ông lên tiếng ngay lúc đó. Hoặc còn hơn thế khi ông vừa mới về hưu ông đã lên tiếng ngay lập tức, hoặc trong sự tưởng tượng mê ly của tôi, ngay khi đương chức ông đã dám nói lên một cách ngay thẳng và mạnh mẽ những điều sai trái mà ông thấy, thì nhiều sự việc đã khác đi.  Ông quá khôn ! Người ta nói cái gì quá cũng không tốt, nhưng ông không cô đơn trong cái sự khôn ấy, vì ngày càng có nhiều người khôn như ông, không khéo nhóm người như ông lại tạo thành một kiểu khôn thời thượng, ngày càng được học tập và làm theo như một trào lưu. Đợi về hưu rồi ta lên tiếng - âu cũng là một nét văn hóa của nhà sản.  Bỗng dưng lại thấy mình ngu! Lẽ ra phải cố, không quen biết thân thiết thì dùng tiền, không tiền thì dùng cái chi chi, vào bằng được một cơ quan nhà nước nào đấy. Sau đó dùng cái đầu – tự thấy là cũng khá thông minh tinh quái, để leo lên một vị trí nào đó “kiếm lắm”. Từ đấy tha hồ mà nghĩ ra đủ trò hành dân, hành doanh nghiệp dù nó đúng hay sai, ăn cho đậm, lương mấy phẩy nhưng nhà lầu xe hơi, du lịch khắp thế giới, con cái du học nước ngoài, thoải mái mua sắm hàng hiệu cho thỏa niềm khát khao tư bản dấu kín bao lâu nay… Rồi đợi ngày về hưu nhà cao cửa rộng, con cái chân trong chân ngoài vững chắc cả thì tha hồ mà đạo mạo ung dung thanh thản như tiên ông, tiên bà. Khi ấy nhận lỗi, nhận sai tí ti lại là hay! Đảng vẫn yêu, mà dân lại mến ! Lê Thị Công Nhân * Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh thứ 6, 9.11.2012, page 5 “Giáo sư Đặng Hùng Võ thừa nhận có lỗi”. ** Tựa đề do BBT Thông Tin Đức Quốc đặt.
......

Công an Hà Nội đã xua quân trấn áp dân oan

Hàng ngày, rất nhiều người dân oan khắp nơi, tập trung ở Hà Nội khiếu kiện trong vô vọng. Một số người còn bị đánh đập hay bắt giữ.     Tin trong ngày Thứ Tư, 21 tháng 11, 2012 cho hay người đầu tiên bị CA đánh đến ngất xỉu vào trưa ngày, 21/11, là cụ bà Nguyễn Thị Hồng, dân oan Quảng Bình. Người thứ hai là cụ Nguyễn Xuân Hiền, 75 tuổi, một cụ ông trong số hàng chục người từ Ðà Nẵng tới thủ đô Hà Nội khiếu kiện ở trung ương. Nhận được tin báo, cụ Lê Hiền Đức đã nhanh chóng đến can thiệp, đồng thời yêu cầu công an lập biên bản về việc dùng bạo lực xô xát với dân oan. Trong lúc cụ Hiền Đức đang tiếp xúc lăng nghe bà con dân oan phản ánh nỗi oan khuất của mình thì công an và dân phong lại kéo đến đòi giải tán. Cụ Lê Hiền Đức đã bị xô ngã, đầu đập vào vỉa hè. Tưởng cũng nên nhắc lại là cụ Lê Hiền Đức là một người nổi tiếng chống tham nhũng, từng đoạt giải thưởng Liêm chính nhất năm 2007 của tổ chức Minh Bạch quốc tế.   Tính đến hôm nay, đã xảy 5 trường hợp công an dùng bạo lực đối với dân oan khiếu kiện tại Hà Nội. Trước đó, cụ bà dân oan Hà Thị Nhung do công an xô xát đã làm cụ bà ngã xuống chết trong uất ức. Một trường hợp bị công an đánh đập đến mức phải nhập viện là cô Trần Ngọc Anh, dân oan Vũng Tàu. Cô Ngọc Anh nhập viện từ hôm 13/11/2012, hiện sức khỏe vẫn còn đang rất yếu. Với hành động bao che tội ác như trên, phải chăng CA Hà Nội đã 'bật đèn xanh' cho những hành vi trấn áp ngày càng dã man, thô bạo đối với dân oan khiếu kiện, đặc biệt là những dân oan lớn tuổi.  
......

Trung Quốc in đường 'lưỡi bò' trên hộ chiếu

Nhật báo Anh Financial Times (FT) nói Đại sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh xác nhận: "Phía Việt Nam đã biết việc làm này và hai bên đang thảo luận về động tác mới của Trung Quốc, nhưng chưa có kết quả". Quan ngại chính là khi công dân Trung Quốc sử dụng hộ chiếu in hình bản đồ, vẫn được gọi là 'đường lưỡi bò' chiếm phần lớn Biển Đông, ra nước ngoài; nếu các nước sở tại đóng dấu xuất nhập cảnh thì có thể được xem là chấp nhận yêu sách chủ quyền của Trung Quốc hay không. Trong trường hợp không chấp nhận bản đồ chủ quyền này, thì dựa trên lý do nào để từ chối xuấ̉t nhập cảnh đối với người Trung Quốc? Philippines, xưa nay vẫn là quốc gia lớn tiếng chỉ trích Trung Quốc ở Biển Đông nhất, cũng lập tức phản đối một cách mạnh mẽ.   Truyền thông Philippines dẫn lời Ngoại trưởng Albert del Rosario viết trong công hàm ngoại giao gửi tới Bắc Kinh thông qua đường đại sứ quán, rằng Manila "cực lực phản đối việc in hình đường chín đoạn trong hộ chiếu điện tử vì bản đồ này bao gồm các phần lãnh thổ và lãnh hải của Philippines". “Philippines không chấp nhận đường chín đoạn, cho đây là tuyên bố chủ quyền về lãnh hải một cách quá đáng, vi phạm luật pháp quốc tế." Giới quan sát nhanh chóng đưa ra bình luận về động tác mà một số người gọi là 'thâm độc' này của Trung Quốc. Một nhà ngoại giao ở Bắc Kinh, đề nghị giấu tên, nói với tờ FT: "Đây là bước leo thang khá nghiêm trọng vì Trung Quốc đang cấp hàng triệu hộ chiếu mới, và hộ chiếu người lớn nay có thời hạn 10 năm". Trước những hành động trơ trẻn này của Trung Quốc, không chỉ Philippines, Việt Nam, mà ngay cả Đài Loan cũng đã lên tiêng phản đối hộ chiếu mới mà nước này phát cho công dân.   Theo tin AFP cho biết, ngày 23/11, Đài Loan lên tiếng phản đối Trung Quốc, sau khi nước này phát hành hộ chiếu mới có in bản đồ "đường lưỡi bò". "Tổng thống Đài Loan Mã Anh Cửu kêu gọi Trung Quốc không “đơn phương phá vỡ hiện trạng eo biển Đài Loan”, quan chức của ông phát biểu trong một tuyên bố. Tuyên bố này được phía Đài Loan đưa ra là do hộ chiếu điện tử mới của Trung Quốc có in thêm bản đồ có Hồ Nhật Nguyệt và Vách núi Cingshui. Theo tờ Hindustan Times vào hôm nay, 23.11, tòa đại sứ Ấn Độ ở Trung Quốc đã trả đũa bằng cách cấp cho các công dân Trung Quốc thị thực có in hình bản đồ của họ, trong đó mô tả hai khu vực tranh chấp nói trên thuộc lãnh thổ Ấn Độ.
......

Đường lưỡi bò và chiếc lưỡi của những con bò

 Nguyễn Minh Triết đang nói về phân hóa nội bộ Obama(!) Vị thế Việt Nam và đường lưỡi bò Còn nhớ, trong một buổi gặp Việt kiều, chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết nói: “Ngay tại Đại hội Đồng LHQ vừa rồi mình lên tiếng mạnh mẽ phê phán cấm vận Cuba. Ngoài ý kiến chung, tôi còn thêm một ý kiến tôi hoan nghênh ông Obama. Ổng tuyên bố là ổng sẽ đóng cửa nhà tù Guantanamô mà… Tôi nói mà tôi thấy ổng cũng nhìn chăm chú lắm a, cũng lắng nghe. Như thế là mình vừa động viên, vừa phân hóa nội bộ của ổng. Như vậy, cái vai trò cái vị trí của mình giờ cũng ngang hàng với người ta, nói năng cũng đúng mức, đàng goàng”.  Ông chủ tịch nước nói vậy là hơi khiêm tốn về vị thế của đất nước ta cũng như của chính phủ ta khi chỉ nói rằng “cái vai trò cái vị trí của mình giờ cũng ngang hàng với người ta”. Cái vai trò và vị trí Việt nam giờ lên cao, cao đến đâu chắc chỉ cần nhìn qua những hành động của nhà nước ta cũng đủ chứng minh. Rất cụ thể và rất nhiều. Nhưng không cần lấy những ví dụ xa xôi, chỉ lấy vài ví dụ nóng bỏng nhất, gần đây nhất cho dễ thấy và dễ hiểu.   Những vụ xâm lấn biển đảo của Tổ Quốc đã không còn là những lời đe dọa suông, mà là những hành động hết sức cụ thể, liên tục và có hệ thống đối với Hoàng Sa, rồi bây giờ là Trường Sa. Tương tự như vậy, bàn tay bành trướng của Bắc Kinh cũng vươn ra đến tận Philippine, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Hàn… Song hai cách xử sự khác hẳn nhau. Chứng tỏ vị thế đất nước ta hơn hẳn các nước cùng bị nạn xâm lược.   Khi , Trung Cộng thành lập Thành phố ngay trên đất của ta, “đàng goàng” đưa quân đội chiếm đóng trái phép ngay trên đất nước ta, người người phẫn nộ, dân biểu tình ôn hòa chống lại, thì nhà nước cho dập tan, bắt bớ vào tù hoặc ít nhất là vào trại phục hồi nhân phẩm, báo chí bôi nhọ đủ trò bẩn thỉu. Đích thị bọn yêu nước là bọn phản động vì mọi vấn đề “đã có đảng và nhà nước lo”. Trong khi đó, ở Philppines thì bọn "đảng và nhà nước" không chịu lo, lại còn tổ chức cho dân biểu tình phản đối. Nói về cách giải quyết, thì đảng và nhà nước ta hơn hẳn đảng và nhà nước Philippines một bậc. Đảng và nhà nước Việt Nam lấy "16 chữ vàng và 4 tốt" làm trọng, còn lãnh thổ, đất đai chỉ là chuyện “con sâu cái lá” – nói theo cách của cán bộ Công an nói về nạn mãi lộ, tham nhũng của cảnh sát giao thông. Còn Philippines thì chẳng cần chữ vàng và một tốt nào, sẵn sàng liên kết với Mỹ, động viên nhân dân chiến đấu chống kẻ thù xâm lược.   Philippines biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Do vậy mà kết quả là gì? Dù Hiến pháp quy định rõ “Đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý”, nhưng nhà nước chỉ lo quản lý đất đai của dân bao đời gây dựng, đất nhà thờ, thánh thất, tu viện để làm dự án, để chia chác là nhanh. Còn Hoàng Sa, Trường Sa Lãnh thổ ta dần dần được anh bạn vàng quản lý hộ. Cũng không sao, lý do là vì ngay Chủ tịch Quốc hội http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450093/Chu-tich-Quoc-hoi-Nguyen-Sinh-..." target="_blank">Nguyễn Sinh Hùng đã nói: “Ta và Trung Quốc cần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết để hai dân tộc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Quốc hội thì thế, còn ông Tổng bí thư Đảng CS thì: “Biển Đông không có gì mới”. Mà không có gì mới thật, cũng là anh bạn cũ, cũng là việc xâm lược như cũ, cùng là nạn nhân là ngư dân Việt Nam như cũ, nên chẳng có gì phải bàn. Còn anh Philippines thì sao, hẳn là họ không có sự lãnh đạo sáng suốt nên không nhìn thấy cái CNXH mà đi lên. Vì vậy, dù nước họ nghèo, bão tố thiên tai triền miên, thì họ vẫn quyết tâm “còn bát gạo cũng thổi nốt” để bảo vệ lãnh thổ. Kết quả là gì: Trung Quốc không dễ dàng gì bắt nạt người dânPhilippines qua vụ bãi cạn vừa qua.   Đàn áp biểu tình yêu nước ở Hà Nội Vài hôm nay, Trung Cộng hung hăng đi thêm một bước mới trong âm mưu bành trướng ra các nước láng giềng bằng cách in lên hộ chiếu cái bản đồ phản ánh tham vọng của họ. Trong đó có đường lưỡi bò chiếm hơn 80% Biển Đông và vùng lãnh thổ tranh chấp với Ấn Độ.   Ngay lập tức, các nước lên tiếng mạnh mẽ. Ấn Độ lập www.thanhnien.com.vn/pages/20121123/an-do-tra-dua-vu-ho-chieu-trung-quoc...">http://www.thanhnien.com.vn/pages/20121123/an-do-tra-dua-vu-ho-chieu-tru..." target="_blank">tức trả đũa bằng hình thức như sau: “Theo tờ Hindustan Times vào hôm nay, 23.11, tòa đại sứ Ấn Độ ở Trung Quốc đã trả đũa bằng cách cấp cho các công dân Trung Quốc thị thực có in hình bản đồ của họ, trong đó mô tả hai www.thanhnien.com.vn/pages/20120710/bao-dong-nguy-co-chien-tranh-trung-a...">http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120710/bao-dong-nguy-co-chien-tranh-..." target="_blank">khu vực tranh chấp nói trên thuộc lãnh thổ Ấn Độ”. Còn Philippines thì “Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez cũng tuyên bố nước này sẽ không thừa nhận bất cứ công dân Trung Quốc nào sử dụng hộ chiếu có bản đồ “đường lưỡi bò”.   Còn ở ta, truyền thống xưa nay khi có việc lãnh thổ bị xâm lược bởi , Trung Cộng thì động tác duy nhất là Người phát ngôn kéo lại cái băng rè mà mỗi người dân Việt Nam đều đã nghe đến thuộc lòng “Việt Nam có đủ cơ sở pháp lý…”. Cao hơn, căng thẳng hơn, nóng bỏng hơn thì “Giao thiệp” với Đại sứ quán Trung Cộng. Chấm hết.   Thậm chí lần này, người phát ngôn cũng im như thóc, chỉ đến khi Phóng viên hỏi về cái Hộ chiếu lạ của Trung Cộng, thì ông ta mới trả lời rằng là Việt Nam phản đối và gặp gỡ, trao công hàm. Ông ta coi như đây là một việc thường ngày, bình thường như ăn cơm xong phải uống nước vậy. Nếu như cái lão phóng viên nào đó không tọc mạch mà hỏi chuyện này, thì cả nước cũng cứ vậy mà cung kính cái hộ chiếu của anh Tàu lạ mà thôi?   Có thể là vị thế Việt Nam quá cao, nên chỉ cần ông Phát ngôn trả lời một phóng viên như vậy mà không thèm làm gì hơn thì bọn bành trướng bá quyền Trung Cộng đã vãi đái ra quần mà cuốn gói chăng? Cứ xem thực tế thì biết.  Và cái lưỡi của những con bò Đường lưỡi bò Bắc Kinh Hình dáng đường 9 khúc mà Bắc Kinh cố vẽ ra nhằm cướp Biển Đông được gọi là đường lưỡi bò. Có lẽ vì nó giống cái lưỡi con bò. Song thật ngẫu nhiên và ý nghĩa, vì lưỡi bò là cái lưỡi tham lam, thấy ngon là vơ vào, ăn được là ăn bất chấp chính nghĩa hay phi nghĩa, nếu ai đã từng chăn bò sẽ hiểu điều này. Và cũng thật đúng với việc nhà cầm quyền Bắc Kinh bất chấp lẽ phải chứng cứ và luật pháp để dùng sức mạnh phục vụ lòng tham vô đáy của mình bất chấp dư luận quốc tế hay sự thật lịch sử, pháp lý.   Điều đó cũng có thể hiểu được, dù sao thì họ cũng vì lợi ích của đất nước họ. Song có những cái lưỡi bò ngay trong nước ta, phục vụ lợi ích của bọn giặc mới là đáng nói và đáng phỉ nhổ. Khi những người dân xuống đường vì lòng yêu nước, những kẻ thông đồng với giặc đã gân cổ gào trên báo đảng rằng như vậy là phá hoại chính sách đối ngoại của đảng và nhà nước, là gây rối trật tự công cộng, là xuyên tạc tình hữu nghị Việt – Trung… ngoài ra còn bịa đặt rằng những người biểu tình nhận tiền của thế lực thù địch để phá hoại đất nước. Mục đích là để phụ họa và lấp liếm hành động của nhà cầm quyền Hà Nội đã làm đối với tấm lòng yêu nước của nhân dân.   Thậm chí, những người có học hàm, học vị hẳn hoi (hẳn hoi ở đây theo nghĩa là có chứng nhận, còn thực chất thế nào thì chỉ có họ và những người bán bằng mới biết) cố sức bêu riếu, đặt điều nói xấu, dạy dỗ nhân dân, ngăn cản lòng yêu nước của họ. Thực chất là nối giáo cho giặc, rước voi giày mả tổ. Điển hình cho những hành động này là tờ Hà Nội mới với các tác giả như http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2011/08/24/th%C6%B0-ng%E1%BB%8F..." target="_blank">Vũ Duy Thông, hoặc Đài http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/08/08/sp_khoncung/" target="_blank">phát thanh – Truyền hình Hà Nội…   Rồi ngay việc hôm nay, khi phát hiện Trung Quốc đã vẽ hình lưỡi bò trên hộ chiếu, nhằm khi công dân Trung Quốc nhập cảnh vào Việt Nam và được đóng dấu vào đó, sẽ là bằng chứng rằng Việt Nam đã công nhận đường lưỡi bò của Trung Quốc. Ngoài ra, nó còn nhằm khắc sâu vào đầu mỗi người dân Trung Quốc ý đồ xâm lược và bành trướng lâu dài đối với đất nước ta. Với sự việc nghiêm trọng này, nhà nước Việt Nam sẽ làm gì ngoài một câu trả lời qua chuyện của người phát ngôn Bộ Ngoại giao? Hay tất cả cũng sẽ qua, chỉ vì “Về vấn đề Biển Đông http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/10/hoi-dam-cap-cao-viet-trung-tai-..." target="_blank">không phải là toàn cục trong quan hệ Việt – Trung” như Nguyễn Phú Trọng đã khẳng đinh với Hồ Cẩm Đào, mà vấn đề toàn cục là ở chỗ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450093/Chu-tich-Quoc-hoi-Nguyen-Sinh-..." target="_blank">cùng tiến lên CNXH mới là quan trọng?   Một người dân khi nghe câu này, bỗng nhiên nổi khùng: Có thể, với hai cái đảng cộng sản của hai ông, thì tiến lên CNXH, CNCS hay cái gì đó các ông tưởng tượng ra mới là mục đích, mới là toàn cục. Còn với người dân Việt Nam chúng tao, thì nếu mất biển, mất đảo, thì chỉ còn toàn cục… cứt.   Lại phụ họa với luận điệu toàn cục với toàn hòn, một số báo chí lên tiếng theo nhiều kiểu khác nhau sau một thời gian dài cấm khẩu về chuyện biển đảo của đất nước. Trong đó không thiếu những “lưỡi bò” trên báo chí Việt Nam.   Tờ Tuần Việt Nam mới đây đăng bài viết www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.vietnamnet.vn/Bien-Dong-...">http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.vietnamnet.vn/Bie..." target="_blank">“Biển Đông: Chuẩn bị kỹ để chắc thắng” của Huỳnh Phan, phỏng vấn một người lạ hoắc tên là “nhà nghiên cứu Việt Long”. Chẳng biết cái “nhà nghiên cứu” này chui từ đâu ra, nghiên cứu được những gì, nhưng ông đưa lên mặt báo một mớ bùng nhùng rằng là pháp lý, lịch sử, rằng là “nếu cuốn sách “Toàn tập Thiên nam Thư chí lộ Đồ thư” của Đỗ Bá, chẳng hạn, là một cuốn sách tốt. Nếu là vua sai cụ viết thì giá trị pháp lý khác hẳn so với quan tỉnh”. Nhưng chính ông cũng không khẳng định cuốn sách đó ai sai ông Đỗ Bá viết ra? Hoặc “tuy đúng là đội Hoàng Sa, đội Trường Sa do Nhà nước lập ra, nhưng vẫn phải tìm những bằng chứng cụ thể hơn về phạm vi hoạt động của những đội này. Hoặc họ đã ra tới những hòn đảo đến tận Philippines chưa?”… Vậy mà nhà nghiên cứu này cũng không chỉ ra được ông đã nghiên cứu được đội đó đi đến đâu? Hay ông đã nghiên cứu được rằng Đội Hoàng Sa và đội Trường Sa thậm chí vẫn chưa đến khu vực Boxit Tây Nguyên nên chủ quyền Việt Nam ở nơi đó cũng cần xét lại?   Rốt cuộc, cả bài báo của cái gọi là “nhà nghiên cứu Việt Long” không có chút giá trị nghiên cứu nào, mà chỉ có một ý rất rõ là “có ai dám đảm bảo rằng sự chia rẽ đó sẽ không bị lợi dụng?” và  “chúng ta nên học cách ứng xử của Đài Loan với Trung Quốc. Họ không bao giờ công kích nhau cả, thậm chí còn hỗ trợ nhau vì lợi ích chung của dân tộc Trung Hoa”. Câu này nghe quen quen như câu  http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/450093/Chu-tich-Quoc-hoi-Nguyen-Sinh-..." target="_blank">”Ta và Trung Quốc cần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết để hai dân tộc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội”.   Đọc những dòng này, người ta nghĩ rằng ông ta có thể là một nhà nghiên cứu, nhưng là của Trung Cộng như Vương Hàn Lĩnh, kẻ đã ngạo mạn nói rằng “cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”. Do vậy ông khuyên Việt Nam học tập Đài Loan, một vùng lãnh thổ mà đến nay nhà nước Việt Nam vẫn công nhận là của Trung Cộng. Và cũng có lẽ đến khi nào Việt Nam trở thành Đài Loan thứ 2 thuộc Trung Cộng, thì ông sẽ hài lòng.   Trang thông tin Thông tấn xã Việt Nam rất hài hước khi trích dẫn một sự quan ngại của một nhà ngoại giao giấu tên rằng: “sự kiện trên là hết sức nghiêm trọng vì nếu sau này Bắc Kinh thay đổi ý kiến, họ sẽ mất rất nhiều công sức để thu hồi hàng triệu hộ chiếu như vây”. Thì ra, vấn đề lãnh thổ bị chiếm đoạt công khai chưa đáng quan ngại bằng việc ông anh Trung Cộng phải mất công sức khi thu hồi nếu họ thay đổi ý kiến.   Xin thưa là đừng mơ kẻ cướp thay đổi ý kiến, nếu Việt Nam vẫn chỉ phản đối bằng một câu trả lời chiếu lệ của Người phát ngôn và những hành động trấn áp người yêu nước. Cũng do vậy, TTXVN đừng phải lo Trung Cộng mất nhiều công sức sau này. May chăng, họ chỉ sẽ mất nhiều công sức khi người dân Việt Nam cũng như các nước bị xâm lược cùng đứng lên mà thôi. Và lưỡi những con bò nội địa   Những tờ báo ca ngợi tướng Tàu đã gây tang thương cho dân tộc ta trên biên giới 1979, những bài báo lăng nhục, bịa đặt kết tội người yêu nước như Hà Nội mới, http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/08/08/sp_khoncung/" target="_blank">Đài Truyền hình Hà Nội… những lời lẽ của ông Việt Long nào đó, thực chất là cái lưỡi của những con bò.   Tinh thần dân tộc và yêu nước của người dân Việt Nam từ xa xưa luôn luôn mạnh mẽ. Song những cuộc chiến chỉ là sự bất đắc dĩ khi bị dồn đến bước đường cùng của sự sống còn của cả dân tộc thì bùng lên giành lấy cơ hội tồn tại. Nhưng những cuộc chiến bằng vũ lực, bằng quân đội, một cách rõ ràng, còn đỡ nguy hiểm hơn cuộc chiến tranh mềm mại bằng 16 chữ vàng và 4 tốt, bằng tình đồng chí anh em môi hở răng lạnh, bằng tinh thần quốc tế cộng sản… Rốt cuộc là lãnh thổ teo dần, sinh mệnh đất nước ngàn cân treo đầu sợi tóc.   Và ở đó, nguy hiểm nhất lại là lưỡi những con bò ngay trong đất nước Việt Nam.  Ngày 23/11/2012 J.B Nguyễn Hữu Vinh   nguồn: http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/11/24/luoibo_luoiconbo/" target="_blank">http://jbnguyenhuuvinh1962.wordpress.com/2012/11/24/luoibo_luoiconbo/  
......

Đất Sông Tranh 2 lại rung chấn

Rạng sáng ngày (19.11), khu vực thuỷ điện Sông Tranh 2 tiếp tục ghi nhận các đợt rung chấn và những tiếng nổ lốp bốp phát ra từ lòng đất.   Ngay sau trận động đất vào chiều 15.11 có cường độ 4,7 richter, lớn nhất kể từ khi thủy điện Sông Tranh 2 tích nước, Viện Vật lý địa cầu đã lắp đặt nốt 2 trạm quan trắc tại khu vực này, trước đó 3 trạm quan trắc cũng đã được lắp đặt xong. Khi Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cùng đoàn chuyên gia của Viện Vật lý địa cầu rời khỏi Bắc Trà My sau khi tham quan, thì “lòng đất” lại nổi cơn rung nhẹ với những tiếng nổ lốp bốp xảy ra rạng sáng ngày (19.11), khiến người dân Bắc Trà My lại một đêm không dám ngủ trong nhà. Ông Nguyễn Hữu Trung - Chủ tịch UBND xã Trà Tân cho hay: "Bà con nói ở ngoài nhà cho an toàn". Trong 5 trạm quan trắc đã được lắp đặt. Một trạm đặt ở xã Trà Đốc thì lại bị “mất” intenet, bốn trạm còn lại đang chờ... kết nối với Hà Nội nên động đất ở khu vực này đã không đo được. Các trạm quan trắc ở xa thì không đo được những trận động đất có cường độ nhỏ. Trận động đất vào chiều 15.11, chỉ mấy phút sau trạm quan trắc ở Thái Lan đã đo được cường độ là 4,7 độ richter, còn ở ta, phải đến một tiếng rưỡi đồng hồ sau, Viện Vật lý địa cầu mới có thông báo về trận động đất này. Dư luận không khỏi thắc mắc về hiệu quả hoạt động của ba trạm quan trắc giá tiền tỉ vừa được lắp đặt ở khu vực thủy điện này. Người dân Bắc Trà My lại phải tiếp tục chờ và lo vì động đất.
......

Nhật Ký Yêu Nước - Nước vẫn trẻ con

Ai sẽ đưa dân tộc Việt Nam đến tương lai tự do, thịnh vượng, tiến bộ, và tránh xa vực thẳm diệt vong ? Vào những lúc hiếm hoi mà người Việt Nam chịu đối diện với câu hỏi này, câu trả lời thường chỉ giản đơn là sự trốn tránh. Lối trốn tránh của chúng ta là NGỒI ĐỢI. Nhiều người đợi bộ máy quyền lực gỉ sét của Đảng Cộng sản tự thay đổi, để đùng một cái, biến thành một hệ thống độc đảng "Của Dân, Do Dân, Vì Dân". Nhiều người đợi Đảng rủ lòng thương, hoặc chán lợi quyền, mà về trời vui thú điền viên, trao trả quyền lực cho dân chúng. Nhiều người đợi Đảng tự tan, tự suy yếu đi vì những cuộc chiến bè cánh xoay quanh mâu thuẫn quyền lợi. Nhiều người còn chờ đợi một phép nhiệm màu trong cái Đảng đã trở thành nhơ nhớp, bẩn thỉu và phi nhân tính chẳng khác gì địa ngục: từ cái bãi rác tởm lợm ấy, một Gorbachev thánh thiện sẽ bỗng chốc trồi lên... Nhiều người đợi các biến cố từ nước ngoài. Nhiều người đợi lòng thương của người Âu Mỹ. Nhiều người đợi độc tài Trung Quốc sụp đổ. Nhiều người đợi hương hoa nhài Bắc Phi. Nhiều người đợi sự phẫn nộ của dân nghèo. Nhiều người mong đồng bào mình khổ cực hơn biết mấy! Nhiều người mừng húm khi ngửi mùi thịt khét của người mẹ tự thiêu, khi thấy máu của người cha đổ trong đồn Công an, khi nghe tiếng súng oán hờn của người nông dân bị cướp đoạt. Nhiều người tụng niệm và chờ đợi: "Có áp bức thì sẽ có đấu tranh...". Nhiều người ngồi đợi kì tích của đoàn biểu tình Bờ Hồ. Nhiều người ngồi đợi đổi thay từ những kiến nghị, kháng thư có kèm học hàm, học vị trong chữ kí. Nhiều người ngồi đợi động lực đấu tranh bùng lên từ những án tù oan sai bất tận. Nhiều người ngồi đợi một minh chủ tài đức vẹn toàn giáng thế, lãnh đạo cuộc đấu tranh... Và như thế, chúng ta ngồi đợi nhau. Ngồi đợi ngoại bang, ngồi đợi Trời thương xót. Đối với mỗi người Việt Nam, ngồi đợi quả là một cách yêu nước dễ dàng và thuận tiện. Ngồi đợi, chúng ta quẳng lên vai người khác tất cả những mạo hiểm, gian khổ và mòn mỏi mà đáng lẽ phải thuộc về bản thân. Ngồi đợi, chúng ta nhường hi sinh cho kẻ không quen biết, và nhận tự do miễn phí về mình. Nhưng NGỒI ĐỢI, suy cho cùng, chỉ là lối thoát cá nhân được vạch ra trong dự tính ngây thơ của người ích kỉ. Với nước Việt Nam, NGỒI ĐỢI chỉ vạch ra ngõ cụt. Nó không chỉ ra giải pháp, mà chỉ xây núi bế tắc cao thêm và vững chãi thêm. Khi ai cũng ngồi đợi, thì ai làm ? Khi tất cả chúng ta bất động, đất nước bất động. Bất động, nhưng không thể đứng yên. Rõ ràng, vận mệnh của nước Việt Nam không lệ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của những đứa con chẳng mấy khi quan tâm đến nó. Trong thời đại này, số phận của mỗi quốc gia đều rơi vào vòng xoáy của muôn nghìn lực tác động đan xen, y như những con thuyền nằm giữa dòng nước dữ sôi sục. Chẳng hạn, dù cái mái chèo có được dùng đến hay không, thì sau cùng, dòng chảy của thời đại mới đang mở ra cũng sẽ cuốn phăng mọi dân tộc ra khỏi bãi lầy lâu nay của những nền độc tài đã cũ nát. Nhưng dòng chảy chủ đạo này không phải con sóng duy nhất đang đập lên mạn thuyền của các dân tộc. Còn tồn tại muôn vàn lực đẩy khác, mà không phải cái nào cũng hứa hẹn điều tốt đẹp, đang quyết định nước Việt sẽ đi về đâu. Đó là dục vọng của những bè cánh tài phiệt và xã hội đen - điểm tựa và nội dung thực chất của chế độ mục rữa hiện tại - sẽ không ngừng tranh cướp lợi quyền. Đó là dục vọng xâm lăng của một ngoại bang mà ai cũng biết. Đó là bối cảnh địa chính trị, mà khi khủng hoảng xảy ra, sẽ hứa hẹn nhiều tiếng súng trong khu vực. Con thuyền Việt Nam đang bị bủa vây bởi chúng - những thác ghềnh dữ tợn tiềm ẩn đầy nguy cơ. Hơn bao giờ hết, người Việt Nam cần vững tay chèo. Nhưng chúng ta quẳng mái chèo, ngồi đợi nhau, và mặc kệ con thuyền con trôi vào chỗ chết. Đó chỉ là một phần của sự dại dột. Trong trường hợp đất nước tránh được mọi hiểm họa ấy nhờ một may mắn không tưởng, tương lai nào chờ đón một dân tộc chỉ biết ngồi đợi nhau? Có Độc Lập không, cho những ai phó mặc số phận của đất nước cho những chuyển biến bên ngoài? Có Tự Do không, cho những ai không chịu Tự Lập? Có Dân Chủ không, cho những ai đùn đẩy lên vai người khác Trách Nhiệm Công Dân của chính bản thân? Khi chúng ta vứt bỏ Trách Nhiệm Công Dân của mình, chúng ta cũng vứt Quyền Công Dân của mình vào tay kẻ ác. Ngồi đợi nhau, chúng ta sẽ chỉ được sống trong nền Dân Chủ Cuội. Ai cho anh làm chủ nhân đất nước, nếu anh mãi hành xử như thể đất nước này là của cuộc chiến Ba-Tư trong Đảng Cộng sản , của cải tổ chính trị ở Bắc Kinh, của kho thuốc súng trong lòng dân nghèo, của lòng thương đến từ nước Mỹ, của quân du kích các nước Ả-rập, của sấm trạng Trình và mấy lời tiên tri vu vơ...; chứ không phải ĐẤT NƯỚC CỦA CHÍNH MÌNH? Chúng ta sẽ mắc kẹt trong vòng luẩn quẩn của số phận lệ thuộc và tôi đòi nếu tiếp tục ôm khư khư thứ tư duy đổ nát của những thời đại đã đổ nát. Đằng đẵng 1000 năm, chúng ta mắc kẹt trong bóng đêm phong kiến tập quyền khi giao hết quyền định đoạt số phận quốc gia cho những "minh quân", "minh chủ". Tiếp đó, đất nước rơi vào ách độc tài toàn trị vì một niềm tin ngu xuẩn mù quáng: "Việc nước đã có Đảng và Nhà nước lo!". Ấy là chưa kể đến hệ lụy quen thuộc của những lần "ỷ Nhật kháng Pháp", dựa vào Quốc tế Cộng sản để "giành độc lập", rồi chém giết anh em bằng súng đạn của Mỹ, Nga, Tàu... Hiện trạng nô lệ, tụt hậu và ô nhục tới mức bi đát của những ngày này là bởi ai, nếu không phải bởi chính chúng ta - những kẻ chuyên ngồi chờ ngoại nhân, ngồi chờ "lãnh tụ"? Nếu người Việt không vùng thoát khỏi nhà tù tư duy, lịch sử sẽ lặp lại. Khi đám "dân thường" bỏ bê vận mệnh đất nước trong cuộc đổi thay quan trọng, những kẻ cơ hội sẽ bước lên sân khấu để cầm lái thay. Đó có thể là các phe cánh tài phiệt, tư bản đỏ dưới tầng tầng lớp lớp những vỏ bọc thân thiện, hấp dẫn và an toàn. Chúng có thể nấp sau nhiều loại mặt nạ đáng yêu: một số nhân sĩ khoa bảng, một đảng phái đối lập bị gián điệp kiểm soát từ trung ương, hay một nhóm quan chức cấp cao bỗng ngả theo chủ trương "cải tổ", "cấp tiến"... Tình báo Trung Quốc, như bấy lâu nay, dễ dàng thâm nhập mọi nơi và khuynh đảo mọi sự. Nhưng ngay cả trong trường hợp may mắn, nền độc tài mới cũng có thể là sản phẩm của một lãnh tụ đối lập đầy thiện chí trong ngày hôm nay. Nên nhớ quyền lực làm tha hóa con người. Trong một nước toàn những người NGỒI CHỜ "lãnh tụ" - những thần dân vốn vẫn viện đủ cớ để vứt bỏ Quyền và Trách Nhiệm Công Dân, khi được đặt quá nhiều niềm tin và được giao phó quá nhiều quyền, người lãnh đạo nào có thể không tha hóa? Nước Việt Nam sẽ lại như con ngựa đổi chủ. Người Việt sẽ bước từ ách nô lệ này tới ách nô lệ khác kín đáo hơn. Đó là một kết cục đã nhãn tiền. Bởi như lời cửa miệng của một người bạn tôi: "Người Việt Nam chưa xứng đáng được thụ hưởng tự do dân chủ". Hãy tự soi mình và nghĩ lại. Có thực là yêu nước, khi chúng ta không đùn đẩy những gian khổ, hi sinh và mòn mỏi trong cuộc tranh đấu vì đất nước cho tha nhân? Có thực là yêu Độc Lập, khi chúng ta hành xử như thể đất nước không phải của mình? Có xứng đáng được thụ hưởng thứ Tự Do của người trưởng thành không, khi chúng ta vẫn chỉ biết ỷ lại người ngoài, hoặc NGỒI CHỜ "minh chủ" đến dắt đi, như đứa con nít há mồm chờ mẹ cho bú? Không thể có thành công, nếu lấy "Há Miệng Chờ Sung" làm tinh thần của cuộc đấu tranh giành Tự Do và Độc Lập. Đã đến lúc chúng ta nghĩ khác đi, và làm khác đi. Đã đến lúc hành xử như những Công Dân trưởng thành. Hôm nay, mỗi chúng ta phải tâm niệm rằng mình có Quyền sống như một con người Tự Do, trong một quốc gia Độc Lập và Hòa Bình, nơi mọi người đều có cơ hội ngang nhau để vươn lên, nơi mọi sáng kiến và giấc mơ đều có cơ hội nảy mầm và đơm trái. Và mỗi chúng ta phải đảm đương Trách Nhiệm của mình với một Tổ quốc như vậy. Chính chúng ta sẽ mở miệng và đứng thẳng lưng. Chính chúng ta sẽ học cách tôn trọng quyền tự do của nhau, học cách sống chung trong dân chủ và hòa bình. Chính chúng ta sẽ hình thành và gia nhập các Câu lạc bộ và hội đoàn tự nguyện của Công Dân, để giải phóng sức mạnh vô địch của nhân dân tự muôn đời: Đoàn Kết. Hôm nay, cái thời kì "Nước 4000 năm vẫn trẻ con" đã đến lúc khép lại! 16/11/2012 ADMIN J - Nhật Ký Yêu Nước www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.211836168843138.67...">https://www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.2118361688..." target="_blank">www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.211836168843138.67...">https://www.facebook.com/photo.php?fbid=557045757655509&set=a.2118361688...
......

Trung Quốc: Bước Đại nhảy vọt và Nạn đói 1958-1961

Ba mươi sáu triệu người chết vì nạn đói hay bị bạo hành tại Trung Quốc trong suốt 4 năm (1958-1961) là kết quả của một cuộc điều tra tỉ mỉ, do nhà báo Dương Kế Thằng – phó tổng biên tập tờ Trung Hoa thường niên thực hiện. Nhân dịp tác phẩm của ông mang tựa đề «Những tấm bia. Nạn đói lớn tại Trung Quốc, 1958-1961 », do nhà xuất bản Seuil, tại Pháp phát hành, tuần san Le Nouvel Observateur đã có buổi nói chuyện với tác giả để hiểu rõ mức độ tàn khốc của thảm kịch đó. Theo tác giả bài viết, vào thời điểm Mao Trạch Đông lên cầm quyền vào năm 1949, đâu đâu cũng thấy những lời tuyên truyền tốt đẹp, đến mức mà tác giả cũng như bao thế hệ thanh niên lúc ấy đều tin rằng : Mao Chủ tịch là một vị thần ; chủ nghĩa cộng sản là thiên đường và phần còn lại của thế giới chỉ là địa ngục. Người ta tin vào huyền thoại đến nỗi mà ông xem cái chết của cha mình chỉ là một nỗi bất hạnh cá nhân. Không ai nghĩ rằng đó là hậu quả của chủ trương tập thể hóa và « Bước Đại nhảy vọt lên phía trước ». Thậm chí, cả bộ máy chính quyền lúc bấy giờ cũng tin tưởng một cách mù quáng vào chính huyền thoại do Mao đề ra, đến mức phải mất một thời gian rất lâu sau để mà đánh giá hết tai biến đó. Tác giả cho biết, sau này khi đã trở thành nhà báo, ông mới có điều kiện tiếp xúc với các nguồn tài liệu quý và sự kiện Thiên An Môn 1989 xảy ra đã làm sáng tỏ những mối nghi ngờ của ông về Bước Đại nhảy vọt, vốn đã hình thành từ thời Cách Mạnh Văn Hóa về những năm tháng đầy ghê rợn của thảm kịch đó. Theo ông, lẽ ra người ta có tránh được thảm kịch, bởi vì nó xảy ra không phải là vì do chiến tranh, cũng không phải do thảm họa thiên nhiên, nhưng mà là do cả một hệ thống đã dựng lên bằng mọi giá. Đảng Cộng sản đã hy sinh nông dân Đối với tác giả, vấn đề là không phải do Mao Trạch Đông có chủ ý bỏ đói người dân, mà là Đảng Cộng sản đã quyết định hy sinh nông dân để thực hiện giấc mơ cường quốc của mình. Việc trưng thu đất đai nông dân để đưa vào hợp tác xã năm 1958 đã đẩy nông dân vào trạng thái nông nô. Bếp ăn gia đình bị thay thế bằng những khu « nhà ăn tập thể », phó mặc sự sống còn của mỗi cá thể vào tay của vị quan chức nhỏ. Chính phủ trưng thu hầu như toàn bộ thu hoạch để tài trợ cho các dự án lớn, chỉ để lại cho nông dân một phần rất nhỏ, không đáng kể. Trong khi các kho thóc của chính phủ đầy ắp, các khu nhà ăn tập thể lại bị đóng cửa do thiếu nguồn dự trữ. Hậu quả là nạn đói lớn đã xảy ra. Chính hệ thống chuyên chế đó đã cho phép Mao Trạch Đông triển khai điều không tưởng phi lý và đã để những chính sách sai lầm đó kéo dài bất chấp các tín hiệu báo động. Đói khát làm cho con người mất nhân tính Theo nghiên cứu của tác giả, nạn đói trong 4 năm đó thật là kinh khủng. Người ta đói đến mức đến cái vỏ cây cũng ăn, thậm chí là ăn cả xác người. Nhiều gia đình đào bới cả tử thi hay còn có chuyện giết cả người để ăn thịt. Con người trở nên điên loạn và mất cả nhân tính. Chỉ cần ai đó phản đối việc trưng thu, hay đi mót hạt bắp xanh rơi vãi hay trốn đi ăn xin, là họ bị trừng phạt cho đến chết bằng những chiêu hành hạ rất tàn nhẫn. Trả lời Le Nouvel Observateur, tác giả cho rằng sự tàn bạo đó đã có từ thời cách mạng. Chính sự thù hận đã làm cho con người lúc bấy giờ trở nên điên cuồng, nhất vào những năm 1960. Người ta mất hết cả lý trí đạo đức. Tôn giáo, quan hệ gia đình và tình làng nghĩa xóm, tất cả đã bị phá hủy. Nhiều vị quan chức thương dân thì bị chụp mũ là « hữu khuynh » và bị đánh đến chết. Chính vì thế nhiều vị quan chức hiểu rằng tốt hơn hết họ cứ ra sức làm khổ nông dân. Mao Trạch Đông là ý chí tối cao Vấn đề ở chỗ là ngay trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp, không ai dám lên tiếng phản đối. Đối với họ, đây không phải là thiếu dũng cảm mà là một sự thấm nhuần tư tưởng chuyên chế do Mao đề ra. Một số người còn tin tưởng Mao một cách mù quáng thậm chí khi đẩy đến chỗ phải tự tử mà vẫn hô to khẩu hiệu : « Chủ tịch Mao muôn năm ! » Tác giả cho rằng yếu điểm của Mao Trạch Đông là ở chỗ ông rất ghét ý tưởng phát triển từng bước. Cần phải đốt cháy giai đoạn để tiến thẳng lên chủ nghĩa cộng sản, tăng gấp đôi mức sản xuất thép. Nhà nhà sản xuất, rừng cây bị đốn trụi để cung cấp cho các lò rèn gia đình, mà kết quả cuối cùng đạt được là con số không. Những ai cản trở chủ trương Bước Đại nhảy vọt, như trường hợp ông Đặng Tiểu Bình, hay ông Lưu Thiếu Kỳ, sau này đều bị Mao trả thù trong giai đoạn Cách mạng Văn hóa. Một cuộc cách mạng mà theo tác giả đánh giá là đã đạt đến đỉnh cao của cơn điên loạn. Trung Quốc – Mỹ : Hai cường quốc cần phải tiến hành cải cách Trong tương lai, Mỹ và Trung Quốc vẫn sẽ là hai cường quốc hàng đầu của thế giới. Chỉ có điều là vị trí đầu bảng Hoa Kỳ sẽ buộc phải nhường lại cho Trung Quốc. Thế nhưng, theo nhận định của tờ The Guardian – tại Luân Đôn, thì cả hai quốc gia cần phải tiến hành nhiều cuộc cải cách quan trọng để giải quyết các bất ổn trong nước. Đặc biệt là Trung Quốc, hiện đang gặp nhiều vấn đề về hệ thống nghiêm trọng, có nguy cơ cùng một lúc làm tăng trưởng chậm và làm chế độ lung lay. Chủ đề này đã được tuần san Courrier International trích dịch lại qua hàng tựa « Hai cường quốc cần phải cải cách ». Trong cùng một tuần, cả thế giới đều biết đến ai là nhà lãnh đạo tương lai của hai cường quốc. Tuy nhiên, sự trùng hợp đó làm nổi dậy hai câu hỏi : Trong hai cường quốc, nước nào đang đi lên thành cường quốc ? Và tại quốc gia nào, khủng hoảng kinh tế và chính trị là sâu sắc nhất ? Điều nghịch lý xảy ra là câu trả lời cho cả hai câu hỏi đó, chính là Trung Quốc. Đầu tiên hết, tác giả phân tích đến những sự khác biệt giữa hai cường quốc. Theo tác giả, khác biệt thứ nhất nằm ở chỗ sự minh bạch. Từ 5năm qua, Hoa Kỳ đã rơi vào trạng thái bất ổn. Ai cũng hiểu rõ là những bất ổn đó đến từ đâu. Trong suốt quá trình vận động tranh cử tổng thống, mọi chủ đề đều được phơi bày trước công chúng, từ vấn đề nợ công, Quốc hội rơi vào bế tắc, luật thuế dài dằng dặc, cơ sở hạ tầng và trường học bị bỏ rơi, sự lệ thuộc nhiều vào nguồn dầu cung ứng từ nước ngoài và chi phối tài chính trong đời sống chính trị… Ngược lại, tại Trung Quốc, không ai đánh giá được hết tầm mức quan trọng của các vấn đề, bởi một lẽ đơn giản là truyền thông trong nước không thể nào đề cập đến. Trong một nền tảng chính trị độc đảng, những ván cờ được che dấu dưới những bài diễn văn tư tưởng đã được mã hóa. Bên cạnh đó, xã hội và kinh tế Trung Quốc phát triển quá nhanh chóng, có thể nói là nhanh nhất trong lịch sử nhân loại. Trong vòng có 30 năm, dân số Trung Quốc đã tăng thêm 480 triệu người. Hơn 50% dân số sống tại các khu đô thị. Với tình trạng đó, xã hội Trung Quốc đang sắp tiến đến gần hiện tượng gọi là « vòng xoáy Lewis » (một thuật ngữ do nhà kinh tế học Arthur Lewis đưa ra), nghĩa là xã hội sẽ ngày càng khan hiếm lượng nhân công giá rẻ đến từ các vùng nông thôn. Vì vậy, Trung Quốc nên quan tâm nhiều đến nhu cầu nội địa hơn, vì họ không thể nào trông chờ vĩnh viễn vào nhu cầu tiêu thụ tại Mỹ. Điểm khác biệt thứ hai thể hiện rõ trong cách thức bầu chọn lãnh đạo. Phương thức « Đại cử tri » tại Mỹ không có gì là bí mật. Còn tại Trung Quốc, lãnh đạo Đảng và Nhà nước được bầu chọn theo mô hình hình tháp, từ thấp đến cao. Ví dụ, trong kỳ Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 18 này, 2270 đại biểu bầu chọn ra 370 thành viên Ủy ban Trung ương Đảng (UBTW). Sau đó, các thành viên trong UBTW lại bầu chọn tiếp 20 vị thành viên trong Bộ chính trị. Cuối cùng, những người này sẽ chọn ra 9 vị (hay như bây giờ là 7 vị) trong Ban thường vụ, những người lãnh đạo chóp bu của Đảng và Nhà nước. Có điều khác với bầu cử Mỹ, người dân chỉ biết tên người chiến thắng vào giờ chót. Còn tại Trung Quốc, các vị trí chủ chốt vốn đã được phân bổ từ trước thông qua các cuộc mặc cả và các thao túng sau hậu trường. Cải cách triệt để Theo tác giả bài viết, mối quan hệ giữa đồng tiền và chính trị là một rào cản có hệ thống, không chỉ ở tại Mỹ mà ngay cả tại Trung Quốc và ngay cả ở những nước Đông Âu. Tuy nhiên, theo nhìn nhận của tác giả, tại Trung Quốc hơn bất kỳ chỗ nào khác, một cuộc khủng hoảng có thể làm chất xúc tác cho một sự cải cách hoặc là một cuộc cách mạng. Lấy ví dụ nếu là cải cách, theo các nhà phân tích, Trung Quốc sẽ không khai thông cho một nền dân chủ theo kiểu phương Tây. Vì quyền lợi quốc gia, Đảng Cộng sản chỉ cần cải cách theo hướng mở rộng Nhà nước Pháp quyền hơn, minh bạch, an sinh xã hội tốt hơn và phát triển bền vững và tôn trọng môi trường hơn. Cuối cùng, tác giả cho rằng vì quyền lợi chung của cả thế giới, cả hai cường quốc hàng đầu nên tiến hành các cải cách. Các vụ xung đột xảy ra gần đây trong khu vực châu Á – Tháo Bình Dương, giữa Trung Quốc và các đồng minh của Mỹ mang dáng dấp khiêu chiến đáng ngại đến mức thành sự đối đầu giữa các siêu cường. Tác giả nhắc nhở rằng một quốc gia không hài lòng, mất khả năng giải quyết các vấn đề trong nước thường có xu hướng trút sự giận dữ lên đầu các quốc gia khác. Quyền lợi hỗ tương cần đạt đến Cũng liên quan đến chủ đề này, tờ Foreign Policy tại Washington cũng có phân tích, được Courrier International trích dẫn lại qua bài viết đề tựa « Quyền lợi chung cần phải đạt ». Theo tờ báo, với mô hình lãnh đạo « đồng thuận », trong mười năm qua, Trung Quốc đã không thể nào tiến hành các cải cách chính trị quan trọng, dù rằng nhiều lần thủ tướng Ôn Gia Bảo đã lên tiếng kêu gọi tính khẩn cấp của việc cải cách hệ thống. Đồng quan điểm với tờ The Guardian, tờ báo Mỹ cũng cho rằng chỉ có khi nào có một cuộc khủng hoảng xảy ra thì lúc đó, nhà lãnh đạo mới mới có đủ bản lĩnh để có thể tiến hành một cuộc cải cách cần thiết nhưng cũng đòi hỏi nhiều hy sinh.  Về mặt kinh tế, tác giả cho rằng Bắc Kinh cần phải xem xét lại từ gốc đến ngọn. Nhận thức được mối nguy hiểm, nên chính quyền do hai ông Hồ Cẩm Đào – Ôn Gia Bảo điều hành buộc phải chấp nhận một chiến lược mới là phát triển nguồn tiêu thụ nội địa, bớt lệ thuộc vào khu vực xuất khẩu và ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chế biến cải tiến hơn và rẻ hơn. Thế nhưng, theo tác giả, trở ngại lớn nhất chính là lối quản lý theo kiểu cũ đã quá ăn sâu vào trong máu của các nhà lãnh đạo từ phường xã cho đến tỉnh thành. Với kiểu thưởng phạt tùy theo mức đóng góp cho sự tăng trưởng của kinh tế nước nhà,  các vị quan chức đã dùng hết quyền hành để phát triển cơ sở hạ tầng và tung ra nhiều dự án tốn kém. Trong ngắn hạn, thì những biện pháp đó cũng thúc đẩy phần nào mức tăng GDP, tạo việc làm cho người dân. Song song với sự phát triển đó, những hành vi trục lợi tại Trung Quốc cũng đã tăng theo. Tuy nhiên, kết quả lại không như mong đợi : tăng trưởng bừa bãi, cơ sở hạ tầng và công nghiệp chế biến phát triển vô tội vạ, tham nhũng ở mọi tầng xã hội, thiệt hại về môi trường vô hạn, bất bình đẳng gia tăng và căng thẳng xã hội ngày càng cao. Một trở ngại khác cũng không kém phần quan trọng đó là số lượng doanh nghiệp nhà nước khổng lồ, vốn được hưởng rất nhiều ưu đãi từ chính phủ. Các doanh nghiệp đó được thiết kế như là những công cụ do Đảng điều hành và duy trì một mối liên hệ chặt chẽ với gia đình của các vị lãnh đạo cao cấp. Mối liên hệ tiền bạc và quyền lực chính trị đó là một trong những rào cản chính trong chiến lược kinh tế. Đó là chưa nói đến bộ máy công quyền nặng nề như thế thì khó có thể mà áp dụng được cải cách để chống tham nhũng. Tuy nhiên, tờ báo cũng nhận định rằng một cải cách cơ cấu tại Trung Quốc cũng sẽ phục vụ một phần lớn cho lợi ích của Hoa Kỳ - nghĩa là những hình thức cạnh tranh bất bình đẳng giữa Trung Quốc với các đối tác thương mại sẽ được thu hẹp lại. Chính quyền Bắc Kinh sẽ phải mở rộng hơn nữa nền kinh tế, và gia tăng hơn nữa vai trò của nền thị trường và tạo nhiều chỗ hơn nữa cho các nhà đầu tư của Mỹ trong nhiều lãnh vực (như dịch vụ tài chính). Giúp đỡ Trung Quốc chọn sự tăng trưởng bền vững và ít tàn phá môi trường hơn có thể sẽ giúp cho chính phủ Bắc Kinh tự tin hơn, cởi mở hơn với bên ngoài và tỏ ra có trách nhiệm hơn trong cách ứng xử trên sân khấu quốc tế. Đổi lại, Trung Quốc đầu tư nhiều vào nền kinh tế Mỹ và nắm giữ nhiều công trái của Hoa Kỳ. Do đó, Trung Quốc cũng sẽ có nhiều lợi nếu như Washington làm chủ được nợ công của mình. Cuối cùng, tờ báo cho rằng quan hệ Mỹ - Trung sẽ bớt căng thẳng hơn nếu như hai quốc gia này cùng nghiêm túc tiến hành các cải cách. http://www.viet.rfi.fr/diem-bao/20121118-trung-quoc-buoc-dai-nhay-vot-va-nan-doi-1958-1961
......

Những ngọn nến của tình liên đới

Nghệ An: Hợp cùng toàn thể Giáo Hội trong ngày kính trọng thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam cũng như cầu nguyện cho những người trong giáo họ đã qua đời. Đặc biệt, cầu nguyện cách riêng cho các Thanh Niên Công Giáo và Tin Lành đã bị nhà cầm quyền bắt bớ và giam cầm một cách mờ ám hơn 1 năm qua nay lại sắp bị đem ra xét xử. Hôm qua, vào lúc 20h ngày 17/11/2012, hơn 200 người đã qui tụ tại tư gia ông Chu Văn Nghiêm, thuộc giáo họ Diệu Ốc, xứ Đức Lân, Gp Vinh (xã Phúc Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An) để cùng nhau cầu nguyện, chia sẻ và hiệp thông cùng những đau khổ mà những người con ưu tú của quê hương đang phải gánh chịu cảnh tù đày chỉ vì yêu đất nước, yêu giáo hội.  Hòa quyện trong ánh nến lung linh là những lời nguyện tha thiết được những người dân chân lấm tay bùn cất lên làm tan biến cảnh tĩnh mịch vốn có của những vùng quê xứ Nghệ mỗi lúc tiết thời chớm lạnh. Họ cầu nguyện cho những người lãnh đạo quốc gia biết hướng đến lợi ích chung của đất nước, biết tôn trọng công lý và sự thật…và cầu nguyện cho những người đang dấn thân để làm chứng cho công lý, sự thật biết noi gương các Thánh Tử Đạo để dù có phải trả giá bằng mạng sống thì cũng không thỏa hiệp với ma quỉ.    Cũng xin được nhắc lại, đây là quê hương của sinh viên, người tù lương tâm Chu Mạnh Sơn, người đã bị nhà cầm quyền kết án 30 tháng tù giam và 1 năm quản chế tại phiên tòa bỏ túi ngày 26/9 vừa qua.    21h30 buổi cầu nguyện kết thúc trong bài hát Kinh Hòa Bình vang vọng đến mọi tâm can của mọi người. Mặc dầu trong số những Thanh Niên sắp bị đưa ra xét xử, không có ai thuộc giáo họ Diệu Ốc, nhưng mọi người đã trao đổi, chia sẻ và hiểu rất rõ về những Thanh Niên này. Vì thế, họ cùng hẹn nhau sẽ có mặt để động viên, sẻ chia và hiệp thông với các Thanh Niên này trong ngày ra tòa sắp tới. Một số hình anh:       Anthony Thiên Ân TNCG http://thanhnienconggiao.blogspot.de/2012/11/nhung-ngon-nen-cua-tinh-lien-oi.html
......

Đảng Cải Cách hay Đảng Luồn Lách?

Đại hội khóa 18 của Đảng Cộng sản Trung Hoa đã kết thúc với một khẩu hiệu và nhiều câu hỏi. Khẩu hiệu đó là "Cải Cách". Câu hỏi là cải cách những gì, vì sao và tiến hành như thế nào?   Từ nhiều tháng qua, dư luận truyền thông Anh ngữ và Hoa ngữ đã tràn ngập tin tức, tiết lộ hay đồn đoán, bình luận về yêu cầu chuyển hướng và cải cách của Cộng đảng Trung Hoa. Xuyên qua các nguồn tin chính thức lẫn bán chính thức - hoặc lời đồn - người ta được biết về các cuộc thảo luận hoặc tranh luận trong nội bộ đảng trước khi thế hệ thứ năm lên lãnh đạo với vai trò trọng yếu của nhân vật Tập Cận Bình, là Tổng bí thư đảng, Chủ tịch Quân ủy Trung ương rồi Chủ tịch Nhà nước từ Tháng Ba năm tới sau kỳ họp tượng trưng của Quốc hội.   Về Tập Cận Bình, người ta chỉ được biết những gì lãnh đạo Trung Quốc cho biết:   Rằng đấy là lãnh tụ có viễn kiến, biết nhìn xa, đã lập thành tích quản lý tại Chiết Giang và các tỉnh thành trú phú ở miền Đông, từng tu nghiệp tại Hoa Kỳ sau khi là nạn nhân của cuộc Đại Văn Cách trong tuổi niên thiếu. Họ Tập còn có quan hệ tốt đẹp với các tướng lãnh xưa là thuộc cấp của người cha, Tập Trung Huân, cũng một nạn nhân Đại Văn Cách và là người yểm trợ Đặng Tiểu Bình trong nỗ lực đổi mới.   Trước khi đảm nhiệm vai trò lãnh đạo, Tập Cận Bình còn gặp chuyên gia kinh tế Hồ Đức Bình, một trí thức chủ trương cải cách, con trai của cựu Tổng bí thư Hồ Điệu Bang, một lãnh tụ đổi mới bị mất chức vào năm 1987 và tang lễ năm 1989 đã châm ngòi cho vụ thảm sát Thiên An Môn....   Cũng về Tập Cận Bình, hai ngày trước Đại hội, người ta được biết qua một bài viết của thống tấn xã Reuters về những nguồn tin xuất phát từ những người gần gũi với lãnh đạo, rằng Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình đã kín đáo vận động cho những biện pháp dân chủ mang ý nghĩa lịch sử.   Dân chủ ở chỗ họ đề nghị một tiến trình tuyển chọn mới. Số đảng viên được bình bầu vào Ban chấp hành Trung ương được đông hơn 8% số ghế của các Trung ương Ủy viên. Hơn 200 Trung ương Ủy viên này sẽ bầu vào Bộ Chính trị một số đảng viên cao cấp nhiều hơn số ghế 25 Ủy viên Bộ Chính trị. Nền dân chủ tập trung có vẻ đặc quánh hơn nhưng vẫn là dân chủ!   Cũng có chi tiết đáng chú ý được phóng ra ngoài là chính Tập Cận Bình soạn thảo báo cáo chính trị dầy 64 trang để Hồ Cẩm Đào đọc trong hơn một tiếng trong khi một đại biểu khóc sụt sùi đọc thơ ca tụng Chủ tịch Hồ Cẩm Đào trước Đại hội. Nghĩa là Hồ-Tập hoàn toàn nhất trí, là những lãnh tụ gương mẫu và không có mâu thuẫn giữa hai lớp lãnh đạo vừa chuyển giao quyền lực.   Chúng ta được chuẩn bị để kết luận rằng dù thuộc phe Thái tử đảng – con cháu đại công thần – Tập Cận Bình là người quả cảm và có tinh thần cải cách. Hầu hết các nhà bình luận Tây phương đều suy diễn ngọt ngào như vậy. Vì được cho uống nước đường.   Nghệ thuật gây ấn tượng là một biệt tài của Cộng đảng Trung Hoa. Văn hoá Trung Hoa có chữ "thuật quỷ biển", nghệ thuật quỷ quái biển lận để gây ra nhận thức sai lầm về ta, về địch....   Nghệ thuật cai trị thì khác.   Xin hãy nhìn vào hồ sơ kinh tế. Sau chuyến "Nam tuần" năm 1992 của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc tiếp tục cải cách kinh tế và có hai chục năm tăng trưởng ngoạn mục. Mười năm sau cùng, từ 2002 dưới thời Hồ Cẩm Đào, kinh tế và lợi tức đã tăng gấp năm và Trung Quốc đứng hạng nhì thế giới về sản lượng, chỉ thua có Hoa Kỳ.   Nhưng chu kỳ tốt đẹp ấy nay đã hết.   Kinh tế đạt mức tăng trưởng thấp hơn, bất công gia tăng cao hơn, dị biệt về lợi tức và nhận thức giữa các địa phương đã là hố sâu mở rộng. Và dân chúng bất mãn biểu tình đông hơn, bạo động hơn, về đủ loại vấn đề, như tham nhũng, cường hào ác bá, môi sinh bị hủy hoại, dự án bị rút ruột và gây tai nạn tập thể, v.v.... Trong cả năm qua, chính Hồ Cẩm Đào lẫn Ôn Gia Bảo đều nói đến nạn bất công, bất ổn, thiếu phối hợp và không bền vững. Khai mạc Đại hội, họ Hồ còn cảnh báo rằng nạn tham nhũng có thể làm đảng và nhà nước sụp đổ, một sự nhất trí khác của cặp Hồ-Tập.   Khi ấy, ta mới nhớ đến Bạc Hy Lai, Bí thư Trùng Khánh và Ủy viên Bộ Chính trị đánglẽ sẽ được bầu vào Thường vụ trong Đại hội này. Tám tháng trước, họ Bạc bất ngờ bị cách chức, rồi đuổi khỏi đảng để sẽ bị truy tố về những tội danh chưa ai biết là gì. Nhân Đại hội, người ta mới được giải thêm rằng Bộ trưởng Hoả xa Lưu Chí Quần và Bạc Hy Lai đã bị kỷ luật do nỗ lực chống tham nhũng của đảng nhằm thanh lọc hàng ngũ. À ra thế!   Nhưng sau cùng thì mọi việc vẫn như cũ.     ***     Khi mở ra công cuộc cải cách 30 năm về trước, Đặng Tiểu Bình vẽ ra cái kiềng ba chân: 1) thực tiễn áp dụng chủ nghĩa tư bản trong kinh tế để tìm mức tăng trưởng cao hơn; 2) tỏ vẻ nhún nhường về đối ngoại theo phương châm "thao quang dưỡng hối", tỏa đức sáng và che giấu ý đồ đen tối để không gây lo sợ và tìm hậu thuẫn quốc tế; 3) củng cố quyền lực đảng ở bên trên nhờ phép đồng thuận của tập thể để không cá nhân hay thế lực nào có thể phân hóa thượng tầng lãnh đạo.   Nhằm bảo đảm là đường lối đó được các thế hệ sau thi hành, họ Đặng còn chuẩn bị người sẽ kế vị, từ Giang Trạch Dân từ năm 1992 đến Hồ Cẩm Đào từ năm 2002. Quả nhiên là sau đó Trung Quốc đã đổi thay. Thế giới cũng vậy.   Nhưng ngày nay, sự thể không còn như những gì họ Đặng đã tính và cả ba chân kiềng đều ngả.   Thứ nhất, Trung Quốc đã đạt mức tăng trưởng cao, nhưng cũng đào sâu khác biệt giữa các thành phần dân chúng và các địa phương. Khi kinh tế thế giới bị tổng suy trầm năm 2008, tập thể lãnh đạo xoay không kịp và trở lại bài bản cũ là đẩy mạnh tăng trưởng nhờ các tỉnh duyên hải thay vì nâng cao mức tiêu thụ nội địa để giảm bớt sự lệ thuộc vào thị trường bên ngoài.   Nguyên tắc lãnh đạo tập thể qua sự đồng thuận còn dẫn đến sự hình thành của nhiều phe nhóm cùng thoả hiệp với nhau để nắm quyền mà không dám lấy những quyết định chuyển hướng quá gay gắt khi gặp biến cố kinh tế tài chánh bất ngờ của một thế giới toàn cầu hóa đã tràn ngập thông tin loại tức thì, lập tức.   Mô hình phát triển kinh tế theo chiến lược Đông Á của Đặng Tiểu Bình đã đi hết sự vận hành tốt đẹp và trở thành vấn đề hơn là giải pháp.   Thứ hai, vì kinh tế bị lệ thuộc vào bên ngoài - hiện tượng chưa từng có trong lịch sử xứ này - việc bảo vệ nguồn cung cấp và thị trường xuất cảng khiến Trung Quốc thiên về chánh sách đối ngoại năng động và thực tế hung hăng hơn. Với những phương tiện mới, Quân đội trở thành tự tin đến độ chủ quan và chủ chiến, và qua Quân ủy Trung ương còn tác động vào lãnh đạo.   Tôn chỉ "thao quang dưỡng hối" của Đặng hay khẩu hiệu "quật khởi hòa bình" của Hồ Cẩm Đào đã bị vượt qua.   Cái chân kiềng thứ ba còn bị lung lay nặng hơn.    Không thể chuyển hướng về chính trị vì phải bảo vệ quyền lực đảng, tầng lớp lãnh đạo đã loay hoay với nhiều mô thức khác nhau mà chẳng tìm ra đồng thuận. Kết quả là từng phe phái tranh giành quyền bính với nhiều chủ trương cải cách khác biệt. Bên dưới, mỗi phe nhóm lại có tay chân thân tộc và vây cánh riêng trong hệ thống kinh tế nhà nước, tại các địa phương và thậm chí trong quân đội.   Họ khoanh vùng hoạt động, chia chác quyền lợi và mặc tình tham nhũng. Muốn diệt trừ tham nhũng là mặc nhiên đụng vào quyền lợi phe phái, tức là gây ra vấn đề chính trị. Vụ Bạc Hy Lai chỉ là một trường hợp. Tay đầu sỏ của hệ thống tham ô Trùng Khánh cũng là một lãnh tụ của phe "Tân tả", có tinh thần bảo thủ của Mao Trạch Đông, lại liên kết với một số phần tử cực hữu trong quân đội.   Ở dưới cùng, người dân không thể chịu đựng nổi tình trạng đó và đã có phản ứng gay gắt.   Ý thức được mức độ trầm trọng của vấn đề, cả Hồ Cẩm Đào lẫn Ôn Gia Bảo đều nói đến nhu cầu chuyển hướng về kinh tế và cải cách về chính trị. Nhưng họ không thực hiện nổi và đành trao cho thế hệ nối tiếp một di sản có nhiều rủi ro.   Thế hệ nối tiếp là Tập Cận Bình, Lý Khắc Cường cùng năm Ủy viên mới của Thường vụ Bộ Chính trị cũng chẳng thể làm gì hơn là xiết chặt quyền lực và tìm cách luồn lách khỏi giông bão. Các ủy viên này đều có tinh thần bảo thủ và không dám trắc nghiệm giải pháp cải cách chính trị cho dân chủ hơn, như Ôn Gia Bảo kêu gọi hay Lý Nguyên Triều hoặc Uông Dương đề nghị. Ôn Gia Bảo thì sắp ra về; hai Uỷ viên Bộ Chính trị là Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lý Nguyên Triều và Bí thư Quảng Đông Uơng Dương thì không được vào Thường vụ. Nhờ còn trẻ, năm nay mới 57, may lắm thì Uông Dương còn hy vọng được vào Thường vụ sau Đại hội 19, vào năm 2017, nếu Quảng Đông không có loạn.   Hãy nên thông cảm cho tầng lớp lãnh đạo mới. Trong hoàn cảnh bấp bênh và ngột ngạt hiện nay, bất cứ biện pháp cải cách chính trị nào, dù có nhỏ nhoi và chỉ ở dưới cơ sở, cũng có thể bung ra thành chấn động lớn. Vì vậy, cả Đại hội 18 hay "Thập bát đại" mới thấy hoa mắt đinh tai về khẩu hiệu cải cách.    Huê dạng và hoành tráng như lớp men tráng ngoài. http://dainamaxtribune.blogspot.de/2012/11/ang-cai-cach-hay-ang-luon-lach.html
......

Uỷ ban Công lý và Hòa bình chỉ trích tình trạng nhân quyền ở Việt Nam

Sau bản « Nhận định về một số tình hình Việt Nam hiện nay » công bố tháng 5/2012, Uỷ ban Công lý và Hòa bình, thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, vào đầu tháng này vừa công bố « Phúc trình về tình hình công lý, hòa bình và nhân quyền trong xã hội Việt Nam ». Phúc trình đề ngày 01/11/2012, gởi Hội đồng Giám mục Việt Nam, đưa ra những chỉ trích nặng nề hơn, đặc biệt là về tình trạng nhân quyền. Vấn đề đầu tiên mà bản phúc trình nêu lên là những vụ xử án bất công, điển hình mới nhất là vụ xử phúc thẩm ba thanh niên Công Giáo tại Vinh Chu Mạnh Sơn, Trần Hữu Đức và Đậu Văn Dương ngày 29/09/2012 và vụ xử các blogger Điếu Cày, Anhbasaigon và Tạ Phong Tần ngày 24/09, tại Sài Gòn, với các bản án mà Uỷ ban Công lý và Hòa bình xem là « vô lý và đầy bất công ». Bản phúc trình ghi nhận : « Để che đậy nó, người ta đã cho mở phiên tòa xét xử công khai, nhưng lại không cho dân chúng tự do tham dự và ngay cả thân nhân của các bị cáo cũng bị ngăn chặn khi đến tòa án, thậm chí có những người còn bị tạm giữ hay bị khủng bố tinh thần ». Trong bản phúc trình, Uỷ ban Công lý và Hòa bình cũng chỉ trích việc chính quyền chụp mũ những người tham gia các vụ khiếu kiện đông người về đất đai là « bị kích động của thế lực thù địch ». Bản phúc trình còn lên án án tình trạng dùng bạo lực để giải quyết các tranh chấp dân sự, cụ thể là việc sử dụng « côn đồ » để đàn áp các cá nhân lẫn các đám đông, từ đám tang riêng lẻ, đến các vụ khiếu kiện tập thể hay biểu tình. Uỷ ban Công lý và Hòa bình đặc biệt lo ngại trước một thực tế là, trong khi chủ quyền đất nước đang bị đe dọa, phản ứng của chính quyền Việt Nam lại « quá yếu ớt, tạo cớ cho các lực lượng thù nghịch lấn tới ». Bản phúc trình viết : « Khó hiểu hơn nữa là việc chính quyền đã mạnh tay đàn áp các tổ chức và các cá nhân yêu nước phản đối hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc. Thái độ lập lờ, thiếu nhất quán của các nhà lãnh đạo trong vấn đề phân định lãnh thổ vùng biên giới và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông đang gây bất bình trong dư luận. » Bản phúc trình của Uỷ ban Công lý và Hòa bình được công bố chỉ vài ngày sau khi chính quyền kết án tù nặng nề hai nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, tác giả của những bài hát cổ vũ lòng yêu nước, phản đối những hành động xâm lấn của Trung Quốc ở Biển Đông. Đến đầu tháng 11, chính quyền Việt Nam thông báo khởi tố một sinh viên yêu nước, cô Nguyễn Phương Uyên, với tội danh « tuyên truyền chống Nhà nước ». Đức cha Nguyễn Thái Hợp, chủ tịch Uỷ ban Công lý và Hòa bình, cũng là một trong những người đầu tiên ký kiến nghị gởi chủ tịch nước Trương Tấn Sang, yêu cầu trả tự do cho Phương Uyên. Trong bản phúc trình, Uỷ ban Công lý và Hòa bình còn chỉ trích những vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam ở Việt Nam, cụ thể qua việc kiểm soát, cấm đoán, phá hoại các trang web, trang blog, nhất là việc bắt bớ, kết án các blogger. Về tự do tôn giáo, bản phúc trình ghi nhận : « Mặc dù hiến pháp, luật, pháp lệnh, nghị định và thông tư đã quy định về tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, nhưng việc thực hiện các quy định trên tại nhiều địa phương lại rất tùy tiện. Chính vì vậy, ở một số nơi, việc cử hành các lễ nghi tôn giáo và thiết lập các điểm sinh hoạt tôn giáo ngoài cơ sở thờ tự rất nhiêu khê và tùy thuộc nhiều vào cảm tính của giới chức chính quyền địa phương. » Điểm bao trùm lên xã hội Việt Nam hiện nay, theo Uỷ ban Công lý và hòa bình, đó là phẩm giá con người bị chà đạp và xúc phạm nặng nề. Bản phúc trình viết : « Trong xã hội Việt Nam hôm nay, con người dễ bị tha hóa trở thành công cụ, hay bị coi là công cụ để phục vụ các mục tiêu chính trị, kinh tế hơn là một nhân vị, chủ thể của các thực tại xã hội ». Lý do, theo Uỷ ban Công lý và Hòa bình, đó là nền giáo dục Việt Nam hiện nay « không những lạc hậu, mà còn lạc hướng, chạy theo hình thức và phô trương thành tích nhằm tạo ra những con người chỉ có khả năng phục vụ cho những mục tiêu chính trị chứ không nhằm đào tạo con người có nhân cách, phát triển tâm và trí toàn diện. »
......

Văn hóa từ chức: bánh vẽ mới của thời đại

Trên những con đường đầy bụi và khói người ta đã thấy quá nhiều những biểu ngữ, panno mà cụm từ sau cùng là đạo đức, vinh quang, muôn năm và vĩ đại. Về nhà, ở diễn đàn quốc hội phóng ra từ màn hình nhỏ, trên các trang báo lề đảng, ngay cả ở lề Dân lẫn thông tấn quốc tế xôn xao một cụm từ mới: văn hóa từ chức. Từ bao năm rồi, đạo đức, văn hóa, nhân cách đã bị đem ra làm chiếc áo khoác lên người của những tên ăn cướp. Đức trị được tính toán có kế hoạch để trở thành những bánh vẽ, xâm nhập vào những nơi mà đáng lẽ ra phải là chỗ của Pháp trị. Văn hóa từ chức là một loại bánh vẽ mới nhất trong ao tù đảng là đạo đức là văn minh này.   Ở những nước "bình thường", từ chức đa phần là hành động sau cùng để giữ thể diện cá nhân. Không từ chức thì cũng bị đuổi nếu làm việc trong một công ty, hoặc bị truất phế nếu là một quan chức nhà nước hay một chính trị gia đang nắm một chức vị trong đảng. Đôi khi nó là kết quả của một cuộc thương lượng, mặc cả để giữ thể diện 2 bên - phía đuổi người và người sẽ bị đuổi. Có lúc nó xuất phát từ mục tiêu duy trì sự ổn định của thị trường hay niềm tin chính trị. Nhiều lúc hành động từ chức là cú vớt vát sau cùng để không có vết tì bị đuổi trên CV - Resume - sơ yếu lý lịch. Tóm lại, hành động rời chức vụ, bỏ ghế không tùy thuộc vào thiện chí của kẻ ra đi. Nó là kết quả đương nhiên của một trật tự trong quan hệ quyền hạn mang thuần tính pháp trị, theo những quy luật, quy ước hoạt động. Biến nó thành cái gọi là văn hóa (từ chức) là một việc làm khiên cưỡng.    Tại Việt Nam, sau bao nhiêu năm bị cai trị bởi một đảng độc tài, sự sợ hãi đã làm tê liệt mọi ý chí phản kháng của đại khối bị trị. Đa phần dân chúng trong nỗi sợ hãi (dẫn đến tuyệt vọng) đã phải bám vào - hoặc là thiện chí tự đổi thay của kẻ cai trị hay là từ những tranh giành quyền lực để mà tập đoàn cai trị tự đổi thay (!?). Thái độ của nhiều người trong cuộc đấu đá Ba-Tư vừa qua là tấm gương phản chiếu rõ nhất cho điều thứ 2 và sự tiếp đón tương đối nồng nhiệt cho khái niệm "Văn hóa từ chức" là một minh chứng mới cho điều thứ 1.    Nếu Quốc Hội là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền hạn bãi nhiệm Thủ tướng theo như Điều 84 Hiến pháp thì thay vì áp dụng một nền pháp trị công minh, ông ĐBQH Dương Trung Quốc đã mang "đức trị" qua cái gọi là "văn hóa từ chức" vào nghị trường. Và nhiều người vỗ tay, phụ họa "văn hóa từ chức phải khởi đầu từ Thủ tướng".    Không! Từ chức, bãi nhiệm không bắt đầu từ cá nhân nào cả. Nó phải bắt đầu từ việc thi hành nghiêm chỉnh vai trò và trách nhiệm của mỗi bộ phận được quy định trong Hiến pháp quốc gia. Nó phải được áp dụng nghiêm khắc lên mọi thành viên - từ những đại biểu quốc hội cho đến Thủ tướng, Chủ tịch nước...   Và không phải ai cũng không biết điều này. Biết nhưng lờ đi vì bất lực trước một xã hội rừng rú và quyền hạn nằm hết trong tay của một tập đoàn tha hóa, sâu bọ mà chính những kẻ đứng đầu tập đoàn cũng phải thú nhận - thú nhận về những điều mà xã hội đã quá tỏ tường.   Người dân có thể hoan nghênh thiện chí của ông Dương Trung Quốc đã đại diện nhân dân đặt vấn đề với ông Thủ tướng. Nhưng trong trách nhiệm của Quốc Hội là cơ quan làm luật, sửa đổi luật và giám sát tối cao việc tuân theo luật, thiện chí của ông Quốc thật ra đã làm xấu thêm tình trạng quăng hiến pháp và luật pháp vào thùng rác khi áp dụng cho thành phần lãnh đạo.    Và không phải ông Dương Trung Quốc không biết điều này. Nhưng ông lờ đi.    Vì đất nước VN ngày hôm nay không phải chỉ có người dân sợ hãi. Chính những kẻ cầm quyền cũng đang sợ hãi nhau. Họ sợ hãi lẫn nhau không còn giống như thời các đảng viên cộng sản Sô Viết sợ trùm Stalin quá tàn bạo. Họ sợ hãi lẫn nhau vì biết chính mình cũng đang là kẻ phạm tội ít nhiều như những tên đồng chí bên cạnh, như tên đồng chí đứng trên kia đang quanh co đạo đức và bề dày cách mạng 51 năm. Nếu đem đặt để con cá kia nằm trên thớt thì tự họ cũng đang cho mình lên thớt.   Để cai trị lâu dài chế độ độc tài phải tiếp tục duy trì sự sợ hãi bao trùm. Bao trùm tất cả. Từ ngoài dân cho đến trong đảng. Nhưng chưa đủ. Tinh xảo hơn, thâm độc hơn, họ vừa duy trì nỗi sợ hãi vừa tạo ra những loại hy vọng mơ hồ kiểm soát được. Hy vọng có một ông đại biểu sẽ thay đổi guồng máy. Hy vọng ông này đánh ông kia chế độ sẽ sụp. Hy vọng các thành viên của một đảng (đã còng lên đầu dân tộc một thể chế phong kiến cai trị đời đời bằng cái còng số 4 hiến pháp) có cái gọi là văn hóa từ chức. Hy vọng tên tham nhũng gạo cội nhất, tham quyền cố vị nhất mở đầu cho vở kịch không bao giờ kéo màn mang tên văn hóa từ chức.   Đảng cộng sản VN luôn luôn muốn những người dân đang sợ hãi mang theo trong mình những niềm hy vọng kiểu này.    Gieo rắc sợ hãi VÀ ban bố niềm hy-vọng-kiểm-soát-được là vũ khí sắc bén nhất, hiệu quả nhất của chế độ độc tài.   http://danlambaovn.blogspot.de/2012/11/van-hoa-tu-chuc-banh-ve-moi-cua-thoi-ai.html#.UKUvxGfcxcU    
......

Khát vọng vẫn chỉ là khát vọng

Thế là sáu mươi bảy năm đã trôi qua. Kể từ lúc ông Hồ chí Minh đứng trên lễ đài tại quảng trường Ba đình mở đầu bản tuyên ngôn độc lập bằng những câu trích từ tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và tuyên ngôn nhân quyền của nước Pháp. Người dân Việt nam háo hức lắng nghe như muốn nuốt lấy từng lời vàng ngọc.   Những tưởng sau một ngàn năm bị giặc tàu cai trị và một trăm năm dưới sự đô hộ của Pháp, người dân Việt có thể được hưởng mọi quyền tạo hóa đã ban giống như dân Âu- Mỹ với nền độc lập của quốc gia mình. Nhưng rồi “Lời nói gió bay”, dân Việt đợi dài cổ hết năm này đến năm khác, gần trôi qua một thế kỷ mà khát vọng cũng chỉ là khát vọng. Tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn vời vợi bên phía trời tây. Những lời ông Hồ trịnh trọng đưa ra ngày mồng hai tháng chín năm một chín bốn lăm,sau đó phần nào được thể hiện trong hiến pháp năm 1946 cũng chỉ là thứ bánh vẽ.   Thôi! Cứ bó qua những bất cập trong thời gian chiến tranh. Nhưng bao nhiêu người đổ xương máu ra cũng mong thực hiện được khát vọng ấy. Nếu như không vì tự do dân chủ và độc lập dân tộc thì người ta xông vào nơi khói lửa bom đạn để làm gì? Lẽ ra sau năm 1975. Chúng ta phải thực hiện ngay khát vọng ấy, để tạo điều kiện tốt cho đời sống xã hội phát triển tiến bộ mạnh mẽ tất cả mọi mặt. Nhưng sự việc lại diễn ra trái ngược hẳn. Cuộc sống con người bị ngột ngạt trong cảnh cấm chợ ngăn sông. Đi tới đâu cũng gặp các trạm kiểm soát liên ngành. Hàng hóa người dân sản xuất ra chết đứng tại chỗ. Mọi thứ thượng vàng hạ cám đưa ra khỏi nhà là bị bắt, còn bị các cơ quan chức năng gán cho cái tội buôn lậu và tịch thu luôn. Có người đã phải đi tù vì mua hai bánh xe bò lốp hoặc vài bì phân đạm. Một thời gian dài chúng ta phải sống nghiệt ngã như thế, đến mức thành thói quen cam chịu mà quên luôn khát vọng làm người. Ở miền nam, nhiều người không chịu đựng được sự hà khắc của chế độ đã liều lĩnh vượt biển, băng rừng đi tìm cuộc sống tự do ở đất nước khác. Nỗi đau li biệt mất mát vẫn còn tê tái cho đất nước tới tận bây giờ…   Câu hỏi được đặt ra là : Tại sao lại như vậy? Có người lập luận rằng tại vì dân trí nước ta đang thấp nên chưa có nhu cầu tự do dân chủ. Đây là sự ngụy biện liều lĩnh và trơ tráo nhất. Thử hỏi cách đây hai trăm năm dân trí Mỹ có cao không? Và năm 1945 dân trí nước ta có cao không? Mà người ta vẫn hiểu được thế nào là quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc… Có như vậy ông Hồ chí Minh mới đem vấn đề này ra mở đầu bản tuyên ngôn độc lập để lấy lòng người dân chứ. Và tất nhiên người dân đã hết lòng tin tưởng ùng hộ ông. Nhưng rồi ông nói một đàng, làm một nẻo. Thế là cái quyền tạo hóa ban cho mà không ai có thể xâm phạm được của con người đã bị ông và bè đảng tước đoạt hết. Ai cũng phải chấp hành đường lối chủ trương của các ông đề ra.  Cho dù những chủ trương đường lối đó không ít sai lầm và chứa đựng vô vàn tội ác.   Tự do-dân chủ-nhân quyền không có gì là khó hiểu cả. Nó là nhu cầu thiết yếu đôi khi còn cao hơn cơm ăn nước uống của đời sống con người. Được tự do tư tưởng, được sáng tạo độc lập, được bày tỏ quan điểm, được yêu, được ghét theo ý mình, được bình đẳng trước pháp luật chứ có gì xa xôi kỳ bí đâu. Vậy mà sáu mươi bảy năm qua,dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản việt nam, những nhu cầu đơn giản, dễ hiểu ấy vẫn xa vời vợi, luôn là mục tiêu trên các khẩu hiệu để người dân ra sức phấn đấu đạt tới. Tước đoạt của người dân rồi bảo dân phấn đấu thì có lạ không? Đây là chiêu thức gì vậy?  Đưa cỏ đến trước mồm bò nhưng không cho ăn, nhử nó đi và phải kéo theo cái cày nặng nề sau đít. Trắng trợn và đểu cáng đến thế là cùng.   Nếu không nhận ra chiêu thức đểu cáng này thì người dân nước Việt còn lầm than, tăm tối dài dài… Khát vọng vẫn chỉ là khát vọng http://www.radiochantroimoi.com/spip.php?article11057  
......

Thông báo về phiên toà “bỏ túi” các Thanh Niên Công Giáo

Để dọn đường cho phiên toà “bỏ túi” xử các Thanh Niên Công Giáo (TNCG) trong thời gian sắp đến, Bộ Công An Việt Nam đã lần lượt cho đăng trên báo Công An TP Hồ Chí Minh ở các số báo các ngày 8, 10, 13 tháng 10 năm 2012. Với bản chất “tạo bằng chứng giả và xảo trá” của nghành công an Việt Nam, cả 3 bài báo đã qui chụp, kết tội các TNCG yêu nước với tội danh theo điều 79 của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam. Trong những ngày qua, qua sự tìm hiểu của chúng tôi, thân nhân của các TNCG yêu nước cho biết, hồ sơ của các anh Phêrô Trần Đức Hoà, Nguyễn Xuân Anh, Paul Trần Minh Nhật, Nguyễn Văn Oai, Paulus Lê Sơn, Hồ Văn Oanh, Nguyễn Đình Cương, Thái Văn Dung đã được chuyển về toà án Vinh tỉnh Nghệ An. Những hồ sơ còn lại, đến hôm nay, vẫn chưa biết đang ở đâu. Ngoài ra, chúng tôi cũng được gia đình của các TNCG yêu nước cho biết là người thân yêu của họ vẫn còn đang bị giam giữ tại Hà Nội. Vào ngày 5/11/2012, luật sư Hà Huy Sơn đã từ Hà Nội vào Vinh để xúc tiến thủ tục xin biện hộ cho các thân chủ của mình. Tuy nhiên, việc nộp đơn xin biện hộ đã không thực hiện được vì người có trách nhiệm cấp đơn đã đi vắng? Theo chúng tôi được biết luật sư Hà Huy Sơn chỉ có thể thăm hỏi các gia đình thân chủ của ông và về lại Hà Nội sau đó. Mới đây, vào ngày 12/11/2012, luật sư Trần Thu Nam cũng đã vào Vinh để tiếp xúc với các gia đình và nghe trình bày các nguyện vọng của họ về việc người thân của họ sắp bị đem ra xử án. Qua tiếp xúc với các gia đình của các TNCG yêu nước, chúng tôi được biết họ rất hoang mang và lo lắng vì không biết tình hình người thân đang bị giam cầm kể từ sau khi bị CA, an ninh Việt Nam bắt cóc, nhốt giam. Thêm vào đó, đến bây giờ, cũng chưa biết được ngày giờ và nơi xử án “bỏ túi” sẽ diễn ra ở đâu, Hà Nội, Sàigòn hay Vinh? Chúng tôi kính gởi bản tin này để thông báo đến toàn thể đồng bào về phiên xử “bỏ túi” sắp đến của nhà nước Việt Nam đối với các TNCG yêu nước. Chúng tôi kêu gọi mọi người chú ý, quan tâm đến vụ án sắp xảy ra. Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật thông tin liên quan đến vụ án xét xử “bỏ túi” các TNCG yêu nước trong những ngày sắp đến. Trân trọng kính chào! BBT Thanh Niên Công Giáo http://thanhnienconggiao.blogspot.com/2012/11/thong-bao-ve-phien-toa-bo-tui-cac-thanh.html
......

Mỹ tài trợ 124.000 đôla cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam hôm 13/11 trao gần 124.000 đôla Mỹ (hơn 2 tỷ đồng) cho các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam để thực hiện 12 dự án nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Các dự án này liên quan đến các lĩnh vực như xây dựng năng lực cho các cán bộ quốc hội, vận động chính sách, dân chủ cơ sở và quản lý nhà nước hiệu quả, tính minh bạch và giải trình cho khu vực phát triển địa phương, tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp xã hội, và lĩnh vực truyền thông số đang nổi lên. Trong khuôn khổ Chương trình Tài trợ Dự án Nhỏ năm tài khoá 2012, Liên minh các Tổ chức Phi Chính phủ Việt Nam được tài trợ gần 18.000 đôla cho dự án “Xây dựng khả năng vận động chính sách cho Liên minh các Tổ chức Phi Chính phủ Việt Nam”, và Trung tâm Phát triển Cộng đồng Ánh Dương (Hậu Giang) nhận 20.000 đôla cho dự án “Tiếng nói của tôi - Quyền của tôi”. Bà Huỳnh Hoàng Tố Trinh, một thành viên của Trung tâm Phát triển Cộng đồng Ánh Dương, cho rằng dự án nhận được tài trợ vì nó phù hợp với các tiêu chí của đại sứ quán Hoa Kỳ đặt ra liên quan tới quyền con người. Bà Trinh cho VOA Việt Ngữ biết rằng dự án “Tiếng nói của tôi – Quyền của tôi” sẽ giúp nâng cao năng lực cho phụ nữ nông thôn, giúp cho họ tiếp cận các điều luật như luật hôn nhân gia đình hay về vấn đề bình đẳng giới và phòng chống bạo hành gia đình. Bà Trinh nói: "Trong quá trình tôi làm việc ở cộng đồng, tôi gặp được rất nhiều trường hợp mấy chị bị bạo hành, bị chồng đánh, nhưng các chị lại giấu, không nói cho người ngoài biết. Các chị sợ là nếu nói cho người ngoài thì sẽ xấu chàng, hổ thiếp. Người ta sẽ đánh giá mấy chị có người chồng như vậy nên các chị giấu. Tôi nghĩ dự án này lập nên để giúp các chị tự tin chia sẻ các vấn đề của các chị trước mọi người cũng như các chị em phụ nữ trong các nhóm của chị đó để mọi người giúp chị đó tự giải quyết, có nghĩa là các thành viên trong cộng đồng tự giải quyết các vấn đề của họ. Trung tâm Ánh Dương chỉ là tác nhân ở bên ngoài, giúp các chị, định hướng các chị giải quyết." Bốn dự án khác của các cựu thành viên chương trình học bổng của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ được tài trợ từ nguồn kinh phí Chương trình Tài trợ Thường niên dành cho Cựu thành viên của Đại sứ quán Hoa Kỳ. Ngoài ra, một dự án khác của Cựu thành viên Bộ Ngoại giao với tổng kinh phí 25.000 đôla được tài trợ từ một chương trình cạnh tranh toàn cầu của Vụ các vấn đề Văn hoá & Giáo dục, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mang tên Quỹ Kết nối Sáng kiến Cựu thành viên 2012. VOA 13.11.2012
......

Bài học yêu nước qua tấm gương Ngô Đình Diệm

Trong buổi thuyết trình với Sinh viên cao học khoa Quản trị kinh doanh của trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội, một sinh viên đặt câu hỏi „tại sao nước Đức đã phát triển một cách nhanh chóng và trở thành nước giầu nhất Âu châu mặc dù đất nước họ bị tàn phá nặng nề sau thế chiến thứ hai?“. Người viết đã trả lời rằng, „trong những thập niên gần đây những quốc gia phát triển nổi bật là Nhật, Đức, Hàn quốc, Do Thái và Đài Loan. Đặc tính rõ rệt chung của 5 Dân tộc này là lòng yêu nước và tự hào Dân tộc. Một thí dụ nhỏ là khi sản xuất một cái muỗng (thìa) mang tên nước họ, vì tính tự hào Dân tộc họ cố sức sản xuất cái muỗng (thìa) với chất lượng cao nhất để khi xuất cảng ra nước ngoài người tiêu dùng nể nang Dân tộc họ. Do đó sản phẩm của họ được mua nhiều và đất nước họ được phát triển“. Trong hai bài „Thời nào Dân Việt sướng nhất?“ người viết đã so sánh mức lương người dân trong  các thời đệ nhất, đệ nhị Cộng hoà với mức lương người dân Việt vào năm 2006 là năm có thể nói là sung túc nhất của thời kỳ XHCN trước khi xảy ra những cuộc khủng hoảng liên tục từ năm 2008. Kết quả cuộc so sánh là người dân trong thời đệ nhất Cộng hoà có mức lương cao nhất mặc dù tài chánh hỗ trợ từ nước ngoài vào nước ta thời đấy thấp nhất.   Tại sao thời đệ nhất Cộng hoà người dân sống sướng hơn thời năy mặc dù chế độ đó đã chấm dứt trước đây 49 năm? Chẳng lẽ người dân Việt thời bấy, theo logic được trên đây, yêu nước hơn các thời kỳ về sau? Việc chứng minh lòng yêu nước của người dân Việt thời bấy giờ rất khó khăn, chúng ta cùng lật lại những trang sử để cùng xem xét lòng yêu nước của lãnh tụ thời đó đại diện qua Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ của ông.   Trong bài nhận xét ngắn này, chúng ta cùng tìm hiểu thân thế của Tổng thống Diệm là nền tảng hun đúc con người và cũng là nền tảng cho mọi quyết định hành động của ông. Sau đó chúng ta cùng xem xét một số tình huống ông giải quyết dựa trên nển tảng quyền lợi đất nước hay quyền lợi bản thân?  Thân thế   Thân sinh của Tổng thống Ngô Đình Diệm là cụ Ngô Đình Khả, người đã sáng lập trường Quốc Học Huế là ngôi trường đầu tiên tại Việt Nam dậy theo chương trình Đông và Tây, và làm tới chức Thượng Thư Phụ Đạo Đại Thần thời Vua Thành Thái. Cụ Khả là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Do mưu toan một cuộc cách mạng ôn hoà của Vua Thành Thái bị bại lộ, thực dân Pháp gán cho nhà Vua chứng bịnh điên, ép các quan trong triều đình ký sớ xin Vua thoái vị rồi đưa đi an trí ở Phi châu. Riêng chỉ có một mình cụ Ngô Đình Khả không ký, sau đó cụ  từ quan và bị thực dân Pháp cho tước mọi quyền lợi, bổng lộc. Gia đình cụ sống rất khó khăn, cảm phục khí phách của đồng liêu, cụ Tôn Thất Hân đã ngầm giúp cụ Khả mỗi tháng 10 đồng để chi dùng.[1]   Ngoài người cha ruột ông Diệm còn có một cha đỡ đầu đã đóng góp rất nhiều trong việc giáo dục tinh thần ông là Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài. Khi người Pháp tham lam muốn đào mả Vua Tự Đức để lấy của thì Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài là người duy nhất trong triều đình chống đối. Cho nên dân chúng miền Trung kính trọng khí tiết của hai cụ đã truyền tụng với nhau rằng: „Đày Vua không Khả, đào mả không Bài“   LM Trần Qúy Thiện đã mô tả nền giáo dục mà TT Diệm đã được hấp thụ như sau: „Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, cậu Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã đào tạo ông Diệm thành một con người đày lòng bác ái, vị tha và công chính.[2]“   Trước khi lìa đời, cụ Khả căn dặn ông Diệm rằng: „Diệm con có đủ đức tính cần thiết để trở thành người lãnh đạo tốt, con phải lãnh đạo.“ và cụ nói với các con: „Các con phải cùng với nó (ông Diệm) dành lại nền độc lập hoàn toàn, thì mới thực hiện được công cuộc cải tạo xã hội, xoá bỏ bất công được“. Tất cả các con cụ đã thề sẽ cùng với ông Diệm thực hiện bằng được ước nguyện của cụ[3].   Khi Vua Bảo Đại lên ngôi vào năm 1932, nhà Vua đã mời ông Ngô Đình Diệm lúc đó là Tuần vũ Phan Thiết làm Thượng Thư Bộ Lại (Thủ tướng). Trong chức vụ quan trọng này ông đề xướng hai điều với chính quyền bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hòa ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận mọi vấn đề. Vì không được toàn quyền Pháp Pasquier chấp nhận, ông từ chức ngày 12 tháng 7 năm 1933[4].   Ông Diệm trở về sống tại nhà của thân sinh gần Huế và đi dậy học trường Thiên Hựu (Providence). Ông từ chối mọi sự mời mọc của Nhật, Việt Minh, Bảo Đại và không tham gia vào bất cứ chính quyền nào lập sau Đệ Nhị Thế Chiến. Có một lần ông bị Việt Minh bắt và giải đến Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh mời ông tham gia chính phủ nắm bộ nội vụ nhưng ông từ chối.   Năm 1951, ông Diệm qua Mỹ sống phần lớn trong các chủng viện Maryknall, Lakewood, Ossining và đi vòng quanh nước Mỹ để vận động độc lập cho Việt Nam. Tháng 5 năm 1953 ông sang Pháp, Bỉ. Tháng 6 năm 1954 ông nhận lời mời của Quốc trưởng Bảo Đại trở về Việt Nam làm Thủ tướng.  Giáo hội ở trong quốc gia chứ không phải quốc gia ở trong giáo hội   Dưới thời Pháp các chủng viện Công giáo không chịu ảnh hưởng, kiểm soát bởi chính quyền. Vào năm 1958/59 Tổng thống Ngô Đình Diệm cho thay đổi luật Chủng viện Công giáo, điều luật mới xếp hệ thống giáo dục Chủng viện Công giáo tương đương với các trường tư thục, dưới sự chi phối của Nha Tư thục. Hàng giáo phẩn Công giáo coi đây là một cưỡng chế tự do tôn giáo. Các Linh mục nhiều điạ phận đồng loạt đứng lên phản đối. Đức Khâm sứ Toà thánh trực tiếp can thiệp nhưng Tổng Thống Diệm nhất định không thay đổi. Một số Linh mục xin vào yết kiến, Tổng thống nghe xong rồi trả lời rất ngắn ngủi „Giáo hội ở trong quốc gia chứ không phải quốc gia ở trong giáo hội[5]“.  Chủ quyền quốc gia, quyền lợi Tổ quốc là trên hết   Năm 1961 cộng sản gia tăng khủng bố nên Tổng thống Diệm cần phải tăng cường quân đội. Hoa kỳ cũng cho tăng viện trợ quân sự và lợi dụng tình thế họ đòi hỏi Tổng Thống Diệm phải cải cách, „biến miền Nam Việt Nam thành một chế độ chính trị dân chủ theo kiểu Mỹ và để người Mỹ đồng cai trị miền Nam[6]“. Đòi hỏi này Tổng Thống Diệm không chấp thuận và đề nghị chính phủ Mỹ ký kết với Việt Nam một hiệp nghị phòng thủ song phương tương tự như Mỹ đã ký kết với Đại Hàn nhưng không được Tổng Thống Kennedy đáp ứng. Một số chính khách Mỹ, trong đó có Đại sứ Elbridge Durbrow với chủ chương cứng rắn là buộc Tổng Thống Diệm chấp nhận đề nghị cải cách của Mỹ. Nếu không thì lật đổ ông và kiếm người thay thế.   Có lần ông Nhu đặt câu hỏi với ông John Mecklin, một người Mỹ có chủ trương lật đổ TT Diệm, Giám đốc sở báo chí Hoa Kỳ kiêm phát ngôn viên toà Đại sứ Mỹ tại Sàigòn, tại sao chính phủ Mỹ không giúp Việt Nam như kiểu giúp Tito ở Nam Tư là viện trợ vật chất nhưng không xâm phạm vào hiện tình của xứ được giúp đỡ? Qua cuốn sách của ông John Meklin được xuất bản vào năm 1965 mang tựa đề „Mission in torment: an intimate account of the U.S. role in Vietnam“ (Sứ mệnh trong đau khổ: một mật báo về vai trò của Mỹ tại Việt Nam) đòi hỏi cải cách của Mỹ được nêu trên dẫn đến việc thành lập một chính quyền trong bóng tối thuộc Toà Đại sứ Mỹ, nhiệm vụ của chính quyền trong bóng tối này là xét những việc cần làm sau đó đốc thúc chính quyền miền Nam Việt thi hành.   Đại úy Lê Châu Lộc cho biết trước khi tiếp xúc với Đô đốc Felt vào năm 1962, Tổng thống Diệm rất đăm chiêu, đọc kỹ nhiều tài liệu và thảo luận với rất nhiều người. Trong phần người Mỹ muốn đưa quân vào tham chiến tại Việt Nam, Tổng thống Diệm đã nói với Đô đốc Felt với đại ý như sau: „Trong cuộc chiến đấu chống lại Cộng sản quốc tế chúng tôi cần sự giúp đỡ. Ngó quanh khắp thế giới không ai có thể giúp chúng tôi, ngoài người Mỹ. Nhưng cuộc chiến này tế nhị lắm! không chỉ thuần tuý giao tranh bằng súng đạn, mà có cả chiến tranh tâm lý, có công tác tuyên truyền. Chúng tôi vừa mới đuổi được người Pháp đi sau bao nhiêu năm chúng tôi chịu sự đô hộ của họ. Nếu bây giờ người Mỹ lại tới đây, hiện diện trên đất nước tôi bằng những đạo quân tác chiến. Người dân Nông thôn vốn chất phát, họ sẽ nghĩ rằng người Mỹ đến đây cũng chẳng khác chi người Pháp trước kia. Như thế tôi biết làm sao giải thích cho đồng bào tôi hiểu. Vì dân tôi rất nặng lòng với nền độc lập, không muốn chủ quyền bị xâm phạm… Tôi mong rằng người Mỹ hiểu cho tôi. Vì nếu tôi chấp nhận cho quân đội tác chiến Mỹ ở đây, tôi nói làm sao với dân tôi bây giờ?[7]“      Trong cuộc đi viếng vùng Tràm chim với Tổng Thống Diệm và một số Bộ trưởng, Đại sứ Nolting có dò ý yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hoà cho Mỹ sử dụng căn cứ Cam Ranh, tháng 3.1963 đại ttướng Harkins lại ngỏ ý qua ngã tướng Khánh, nhưng Tổng Thống Diệm đều từ chối[8]   Tháng 10 năm 1963 nhân dịp về thăm nhà tại Huế Tổng Thống Diệm đã hàn thuyên rất lâu với cụ Võ Như Nguyện, một cựu cộng sự viên thân tín mà Tổng Thống Diệm đã quen biết từ thuở ông thường đi lại với cụ Phan Bội Châu. Tổng thống cho cụ Nguyện biết mưu toan của Mỹ muốn làm cuộc đảo chánh và nguy hiểm đang chờ ông:  „Sẽ nguy hiểm lắm! Mỹ sẽ chơi sỏ tôi. Nếu tôi accepter (chấp nhận) những chuyện của hắn (thay đổi cho Mỹ đem quân vào Việt Nam) thì yên, nhưng còn chi uy tín của Tổng Thống, còn chi uy tín của nước Việt Nam.[9]“   Trong quyển „Bên giòng lịch sử“ Linh mục Cao Văn Luận đã viết lại cuộc gặp gỡ của ông với TT Diệm vào tháng 10,1963, sau cuộc viễn du Hoa kỳ ông đã đề nghị với TT Diệm:„-…Bây giờ, thưa cụ chúng ta cần người Mỹ, lệ thuộc nhiều vào người Mỹ, chịu ảnh hưởng nặng nề vì sự thương hay ghét của họ. Nếu không vì những lợi ích thiết thực mà phải cải tổ chính phủ, thì cũng nên vì để làm hài lòng người Mỹ mà cải tổ, để họ khỏi phá hoại. Cụ cũng đã hiểu câu châm ngôn “ai chi tiền thì kẻ đó cai trị”. Hiện nay người Mỹ đang chi tiền. Nếu cụ cứng rắn quá sẽ bị bẻ gẫy.Ông Diệm có dáng suy nghĩ, lo lắng, chú ý hơn lúc đầu một chút:- Nếu bây giờ chúng ta nhượng bộ Mỹ một bước thì Mỹ sẽ đòi thêm, biết nhượng bộ đến bao giờ cho vừa lòng họ? Tôi muốn võ trang cho Bảo An, Dân Vệ, Thanh niên Chiến Đấu, Mỹ không chịu. Tôi muốn tăng cường quân đội, Mỹ từ chối không chiụ cấp vũ khí và phương tiện, Mỹ chỉ mưốn đưa quân sang Việt Nam thôi[10]“.  Trân quý mạng sống người dân, mạng sống người lính   4 giờ chiều ngày 01.11.1963 đại sứ Lodge lần thứ hai trong ngày gọi điện thoại nói chuyện với Tổng Thống Diệm, đề nghị anh em Tổng thống Diệm rời dinh Gia Long đến tỵ nạn tại Toà đại sứ Mỹ và sau đó sẽ thu xếp để anh em ông xuất ngoại, nhưng Tổng thống Diệm đã từ chối. Đến 4:30 Tướng Đôn điện đàm cùng Tổng thống Diệm yêu cầu ông từ bỏ mọi quyền hành và xuất ngoại vì quân đội đã đứng lên đảo chánh và đã vây chặt thành Cộng Hoà cùng dinh Gia Long. Tổng thống Diệm nói như quát trong điện thoại „Quân mô? Vây ở mô?“. Thực sự lực lượng đảo chánh không đáng kể. Sư đoàn 5 còn ở ngoài đô thành. Phú Lâm, Khánh Hội, Chợ Lớn, Cầu Chữ Y, Thị Nghè còn bỏ trống. Các Tướng lãnh tưởng rằng, khi đọc hiệu triệu trên đài phát thanh thì các cánh quân của Quân đoàn III (trong đó có sư đoàn 5) đã vây chặt thành Cộng Hoà và dinh Gia Long. Trên thực tế quân đảo chính còn rời rạc, lẻ tẻ, chưa vượt qua được cầu Phan Thanh Giản và cầu Thị Nghè vì bị Lữ Đoàn Phòng vệ Phủ Tổng Thống chận lại.[11]   Đại Tá Duệ đã tường thuật rằng, ông được báo cáo từ nhiều nguồn cho biết phòng thủ ở Bộ Tổng tham mưu rất sơ sài chỉ có một số tân binh quân dịch ở Quang Trung lên tăng cường mà thôi nên ông đề nghị Tổng thống cho quân kéo lên đánh thẳng vào Bộ Tổng tham mưu bắt các Tướng.Tổng thống không đồng ý và ra lệnh qua sĩ quan tùy viên rằng [12]: „Bảo Duệ đừng nóng nảy, Tổng Thống đang liên lạc với các tướng lãnh để cố tránh đổ máu“   Cụ Cao Xuân Vỹ lúc đó ở cạnh Tổng thống Diệm lên tiếng đồng ý với ý kiến của Đại tá Duệ  bị Tổng thống Diệm lên tiếng trách: „Tôi là Tổng tư lệnh quân đội. Tôi lại ra lệnh cho quân đội đánh quân đội à? Tôi còn mặt mũi thấy quân đội nữa không? Có chi thì ngồi giải quyết, chứ quân đội là để chống Cộng, sao lại đem đánh nhau?[13]“   Trong bài phỏng vấn với ông Minh Võ, cụ Cao Xuân Vỹ cho biết lúc đó không phải chỉ có Lữ đoàn Phòng vệ phủ Tổng thống xin lên tấn công mà còn đại đội Biệt kích thuộc Lực lượng Đặc biệt cũng báo cáo là phòng vệ các Tướng ở Bộ Tổng tham mưu rất yếu, xin được cùng 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn Phòng vệ Phủ Thổng thống đột kích bắt sống các Tướng đảo chánh. Nhưng Tổng thống Diệm từ chối.   Từ nhà thờ Cha Tam Chợ Lớn, sáng ngày 02/11/1963 Tổng thống Diệm đã liên lạc với các Tướng đảo chánh và các Tướng đã cho xe „rước“ Tổng thống và ông cố vấn Nhu về Bộ Tổng tham mưu.   Theo tiết lộ của LM Jean, ông đã thuyết phục anh em Tổng thống Diệm không nên gặp các tướng đảo chánh, nhưng hai ông từ chối[14]: „Xin Tổng thống và ông Cố vấn nghĩ lại. Chính tôi sẽ dưa Tổng thống và ông Cố vấn đến một nơi an toàn nhất.“ Tổng Thống Diệm: „Cảm ơn Cha, tôi thấy không có gì nguy hiểm cả. Cá nhân tôi đã dâng trọn cho Chúa và Mẹ Maria nhưng tôi vẫn còn là nguyên thủ quốc gia. Tôi còn trách nhiệm với dân.“   Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu bị các tướng đảo chánh mà Tổng thống Johnson gọi là „bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa” (a goddam bunch of thugs) ra lệnh giết chết trên chiếc xe M113 sau khi họ đón hai ông từ nhà thờ Cha Tam.  Phản ứng sau cuộc sát hại TT Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu   Khi đuợc tin ông Diệm bị lật đổ, ông Hồ Chí Minh nói với ký giả cộng sản danh tiếng, Wilfrid Burchett: „Tôi không thể ngờ rằng tụi Mỹ ngu đến thế“".   Nguyễn Hữu Thọ nói với báo Nhân Dân: „Sự lật đổ Diệm là một món quà mà Trời ban cho chúng tôi.“   Khi tướng Võ Nguyên Giáp và những đồng chí còn sống sót của ông gặp Ông McNamara ở Hà Nội tháng 11 năm 1995, họ nói rằng: „Chính sách Kennedy ở Việt Nam sai lầm hết chỗ nói. Ngô Đình Diệm là một người có tinh thần quốc gia, không khi nào ông chịu để cho người Mỹ dành quyền điều khiển chiến tranh, và sự người Mỹ dành quyền đã đưa người Mỹ đến thất bại đắt giá. Cho nên, kết quả của cuộc đảo chánh lật đổ ông Diệm năm 1963 là sự kết thúc sớm [sự hiện diện] Hoa Kỳ ở Việt Nam, một điều đáng làm cho người ta ngạc nhiên“ [15]   Những người gần gũi Tổng thống giờ phút cuối kể lại cho họ hàng, bè bạn về cách hành xử của Tổng thống mặc dù cái chết bản thân mình đang cận kề, nhưng nhất quyết không để người khác phải đổ máu để bảo vệ bản thân ông. Nên dân chúng đã truyền nhau câu vè:  „Đày Vua không Khả, đào mả không Bài,hại dân không Diệm“  Bài học từ Tổng thống Ngô Đình Diệm   Lòng yêu nước, tinh thần Dân tộc là sợi dây chắc chắn nhất, bền bỉ nhất và chân thành nhất  liên kết mọi con dân của Dân tộc.Vì sự liên kết đó dựa trên một nền tảng duy nhất là quyền lợi Dân tộc, Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam đã được cha ông chúng ta gầy dựng và gìn giữ từ hơn 4000 năm qua  cho dù phải trải qua nhiều cuộc chiến với kẻ thù xâm lược. Dân tộcViệt Nam đáng tự hào là có được những trang sử oai hùng với Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi vv… Dân tộc và đất nước chỉ được phát triển thực sự, nếu những tinh hoa của Dân tộc được phát huy.      Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một tấm gương sáng cho sự thanh liêm, lòng yêu nước, tính tự cường, sự bảo vệ độc lập và chủ quyền của đất nước mà mọi con dân nước Việt cần phải nuôi dưỡng và phát huy. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, gìai đoạn đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Giai đoạn mà chính người Việt lại đàn áp, bắt bớ, đánh đập, giam tù đồng bào của mình, bởi vì họ thổ lộ lòng yêu nước lên tiếng đòi hỏi quyền lợi Dân tộc, đòi hỏi chủ quyền đất nước. Giai đoạn mà lòng ái quốc, tinh thần Dân tộc bị trừng phạt, hèn nhát, tinh thần vọng ngoại được ban thưởng. Chính sách này rõ ràng nhằm tiêu diệt Dân tộc Việt Nam.   Là người Việt Nam, chúng ta phải có trách nhiệm bằng mọi cách hoá giải Quốc nạn hiện nay để giao lại cho thế hệ sau một Tổ quốc Việt Nam tốt đẹp hơn Tổ quốc mà chúng ta đã nhận lại từ thế hệ trước.   Xã hội biến chuyển không ngừng, đặc biệt là tốc độ biến chuyển xã hội trong giai đoạn toàn cấu hoá hiện nay rất nhanh đến độ khó lường trước được. Chế độ chính trị tại Việt Nam do đó sớm muộn rồi cũng sẽ thay đổi không bằng cách này cũng bằng cách khác.   Những trang lịch sử Việt Nam sau này chắc chắn sẽ không ca tụng ông Tổng Bí thư A, Chủ tịch B, Thủ tướng C có được gia tài kếch sù trị giá 10 tỉ Mỹ kim mà lịch sử sẽ nguyền rủa các ông đã không thi hành trách nhiệm của mình đối với đất nước mà chỉ biết lợi dụng chức vụ vơ vét của công làm giầu bản thân và gia đình để mặc người dân phải sống vất vưởng, khổ cực.   Nhưng lịch sử Việt Nam sẽ ca ngợi các ông bà trong ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước CSVN tương tự như lịch sử thế giới hiện nay đang ca ngợi Gorbachov và lịch sử Miến Điện sẽ ca ngợi Chính quyền Quân nhân Miến Điện. Nếu các ông, bà vì Nước, vì Dân từ bỏ quyền lợi cá nhân, đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Dân tộcViệt Nam, đồng thời  thực hiện một cuộc cách mạng dân chủ ôn hoà tương tự như ở Miến Điện. Vì đó là điều kiện triệt hạ hệ thống tham nhũng rất hệ thống và qui mô hiện hữu từ vài chục năm qua trên đất nước Việt Nam và đó cũng là điều kiện để mọi tầng lớp người dân Việt hết lòng, hết sức tham gia tái kiến thiết quê hương.    Nguyễn Hội Tháng 11 năm 2012 [1] Nguyễn văn Minh: Giòng họ Ngô Đình giấc mơ chưa đạt. [2] LM Trần Quý Thiện: Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm Với Những Bài Học Lịch Sử. [3] Nguyễn văn Minh: Giòng họ Ngô Đình giấc mơ chưa đạt. [4] Có tài liệu ghi ngày 01.09.1933 [5] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 112, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [6] Hoàng Ngoc Thành; Thân Thị Nhân Đức: Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tr.198. [7] Vĩnh Phúc: Những Huyền Thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Tr. 462-464, Nhà xuất bản Tam Vĩnh 2006 [8] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 477, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [9] Vĩnh Phúc: Những Huyền Thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Tr. 488, Nhà xuất bản Tam Vĩnh 2006 [10] Cao Văn Luận: „Bên Giòng Lịch Sử“ http://truyen.catbui.info/re.php?keng=9783 [11] Nguyễn Hữu Duệ: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh T.T. NGÔ ĐÌNH DIỆM; Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 470, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước)   [12] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 521-522, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [13] Vĩnh Phúc: Những Huyền Thoại và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Tr. 579, Nhà xuất bản Tam Vĩnh 2006   [14] Quốc Đại: Ai giết anh em Ngô Đình Diệm, tr. 549, nhà xuất bản Thanh Niên 2003 (xuất bản trong nước) [15] Tôn Thất Thiện: Cộng sản nghĩ sao về Tổng thống Ngô Đình Diệm?
......

Pages