Sức khỏe người dân bị đe dọa do ô nhiễm không khí

Khí thải từ các nhà máy và đường phố đang khiến không khí tại Saigon bị ô nhiễm nặng. Đây cũng là nguyên nhân khiến những người tiếp xúc với môi trường này dễ mắc bệnh tai mũi họng. Cảnh báo vừa được các bác sĩ Hội Y tế Cộng đồng Saigon nêu tại hội nghị khoa học bàn về những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân sống tại thành phố. Một chuyên gia thuộc trường Đại học Tài nguyên Môi trường cho biết kết quả quan trắc chất lượng không khí trong 5 năm qua cho thấy lượng bụi trong không khí ở khu vực Saigon là đáng báo động. Bụi, benzen và NO2 là những chất đang gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường. Nồng độ chì cũng khá cao so với quy chuẩn của nhiều nước trên thế giới. Trong số các chất ô nhiễm trên, Benzen có thể gây ung thư. Hiện trường đại học này có đặt 6 điểm quan sát tại nhiều địa điểm trong thành phố ở quận 1, quận 6, quận 7, quận 12 và một số nơi khác. Kết quả cho thấy, tổng số bụi tại tất cả các trạm vượt 5 lần cho phép; 2 địa điểm luôn có hàm lượng CO cao quá quy chuẩn và hầu hết các trạm đều cho lượng NO2 và chì vượt mức cho phép. Tại một số điểm, nồng độ Benzen đo được cao hơn 10 lần, đây là loại chất thường có trong khói thải xăng dầu. Kết quả này phù hợp với bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới về mức độ ô nhiễm không khí tại Saigon năm 2010. Theo đó, Saigon là một trong 10 thành phố có mức độ nhiễm bụi cao nhất thế giới.
......

Hoàn cảnh của các nhà bất đồng chính kiến đang bị giam cầm tại Việt Nam

Sau khi lãnh bản án 12 năm tù giam từ phiên tòa tháng Chín, blogger Điều Cày Nguyễn Văn Hải bị chuyển đi nhiều nơi trước khi về ở chung với tù hình sự tại Khám Chí Hòa. Theo tin tức, Nguyễn Trí Dũng và bà Dương Thị Tân đã gặp rất nhiều khó khăn từ việc làm thủ tục đi thăm cho đến lúc được gặp ông Hải. Và cuối cùng thì chỉ có anh Nguyễn Trí Dũng con trai ông Nguyễn Văn Hải cho gặp được bố vào ngày 7/10 vừa qua, sau khi bị khám xét rà soát rất kỹ, bốn công an mặc sắc phục và một công an mặc thường phục được bố trí ngồi canh chừng cuộc gặp của cha con ông Điều Cày. Khi nghe hai người đề cập đến chuyện kháng án và nhờ luật sư thì Công an nói là cuộc gặp này vi phạm qui định trại giam, họ cho người kéo ông Hải ra khỏi phòng ngay lập tức. Tóm lại, sau bao nhiêu ngày bị "đá qua đá lại" giữa các bộ phận, cơ quan để có giấy phép, anh Nguyễn Trí Dũng chỉ được gặp bố trong một thời khắc rất chóng vánh, hầu như 1/3 thời gian là giằng co và nghe đọc luật. Tổng thời gian vỏn vẹn hơn 5-7 phút nói chuyện dưới sự theo dõi tại chỗ và nạt nộ của công an. Một điều đáng lưu ý là sự kiện blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đang gặp đe dọa và trấn áp tâm lý trong nhà lao số 42 khu AB trại giam Chí Hòa. Một tù nhân lương tâm khác, nhà giáo hay còn gọi là nhà báo tự do Đinh Đăng Định, thì đang bị bệnh nặng trong tù. Trong tuần qua sau khi đi thăm nuôi chồng, bà Đặng Thị Dinh là vợ ông Đinh Đăng Định báo cho biết ông đang bị xuất huyết dạ dày, ông xin đi bệnh viện mà cán bộ trại giam không cho đi mà còn bị đánh. Xin nhắc lại, nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định bị bắt ngày 21 tháng Mười 2011, với tội tuyên truyền chống phá nhà nước, vi phạm Điều 88 bộ luật hình sự vì những bài viết cổ võ dân chủ và lòng yêu nước. Ông Đinh Đăng Định bị giam giữ tại trại tạm giam công an tỉnh Dak Nông. Ngoài ra, vào đầu tuần trước, ông Trần Văn Huỳnh đã đến trại giam Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai để thăm nuôi con trai là Trần Huỳnh Duy Thức, người tù nhân lương tâm đang bị giam giữ với bản án 16 năm tù giam. Ông Huỳnh cho biết khoảng 3 tháng nay anh Thức bị chuyển phòng giam và chỉ còn ở một mình một phòng nhỏ, chứ không ở chung với các anh em tù chính trị như trước đây nữa. Thời gian được ra sân vườn cũng bị hạn chế lại, mỗi ngày 3 lần tổng cộng khoảng 1 tiếng rưỡi chứ không như suốt ban ngày như trước.
......

Chính phủ có cố ý làm trái luật đất đai?

Gs. TsKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường (TNMT), đã mạnh bạo lên tiếng về sự thu hồi đất trái pháp luật của chính quyền Hải Phòng đối với gia đình anh Đoàn Văn Vươn. Ông được đánh giá là chuyên gia đất đai số một của Việt Nam và sự lên tiếng này của ông được báo giới đánh giá rất cao. Bà con nông dân Văn Giang liên quan đến dự án Ecopark đã liên tục khiếu kiện suốt 8 năm nay. Và vụ cưỡng chế thu hồi đất ở Văn Giang ngày 25-4-2012 với lực lượng vũ trang hùng hậu đã gây xôn xao dư luận trong nước và quốc tế. Ba ngày sau, 28-4-2012 BBC phỏng vấn chuyên gia đầu ngành về đất đai, Gs. TsKH Đặng Hùng Võ. Với câu hỏi của BBC “quyết định thu hồi đất của chính quyền Văn Giang có đúng với pháp luật hay không?” ông trả lời “Tôi cho rằng đây là một quyết định đúng”.  Ông cho rằng những bất cập của dự án Ecopark “chủ yếu thuộc về khung pháp luật mà không thuộc về phần thực thi pháp luật”. Nói cách khác việc thực thi pháp luật là đúng (thẩm quyền, thủ tục) nhưng do pháp luật chưa hoàn chỉnh nên đã nảy sinh những rắc rối. Rồi những người nông dân Văn Giang cho biết: Ngày 28/6/2004 UBND tỉnh Hưng Yên ký tờ trình lên Bộ TNMT; ngày 29-6-2004 thứ trưởng Bộ TNMT Đặng Hùng Võ đã ký tờ trình số 99/TTr-BTNMT gửi Thủ tướng Chính phủ về việc giao đất để xây dựng tuyến đường liên tỉnh Hưng Yên-Hà Nội và xây dựng Khu đô thị thương mại-Du lịch Văn Giang; trên cơ sở đó phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 30-6-2004 về việc thu hồi đất và giao đất cho dự án (đổi đất lấy hạ tầng) này đúng (chưa đầy) một ngày trước khi Luật Đất đai 1993 (đã được sửa và bổ sung năm 1998 và 2001) hết hiệu lực và Luật Đất đai 2003 (được thông qua ngày 26-11-2003) bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1-7-2004. Luật 1993 còn cho phép “đổi đất lấy hạ tầng”, luật 2003 thì không. Bà con nông dân Văn Giang rất bức xúc với phát ngôn của Gs. Võ. Bà con nông dân Văn Giang đã nhờ các luật sư tư vấn cho mình và đã có một cuộc đối thoại rất văn minh và mang tính xây dựng với Bộ TNMT tại trụ sở của Bộ vào ngày 21-8-2012. Bà con nông dân nói các quyết định thu hồi và giao đất là trái pháp luật, Bộ nói không sai và đã cung cấp cho bà con các bản sao của các tờ trình của Bộ khi đó do thứ trưởng Đặng Hùng Võ ký. Bà con, thông qua các luật sư của mình, đã gửi ý kiến của họ đến Gs. Võ và yêu cầu có đối thoại với ông. Ngày 7-11-2012 Gs. Võ trả lời phỏng vấn nhiều báo rằng ông sẽ mượn hội trường của Bộ TNMT để đối thoại với bà con nông dân Văn Giang từ 2 giờ chiều ngày 8-11-2012. Trong các phỏng vấn này ông vẫn nhấn mạnh: “Thanh thiên bạch nhật mà nói thì thủ tục thu hồi đất của dự án này, tôi nhắc lại, không có gì sai pháp luật”; “Việc ký 2 tờ trình vào thời điểm đó là đúng đắn và tốt cho đại cục, tốt cho sự phát triển kinh tế của Hà Nội và Hưng Yên, như vậy có nghĩa là người dân cũng sẽ được hưởng lợi”; ông muốn “giúp bà con hiểu về pháp luật đất đai”; làm cho “bà con hiểu rõ tính chính đáng của dự án và tôi tin rằng không ai có thể cãi về điều này”.  Ông cũng mời các nhà báo đến dự và đưa tin. Có thẻ nhà báo từ cả chục năm rồi nhưng năm nay không được cấp lại, nên tôi chỉ ké các nhà báo thật để vào quan sát để học hỏi. Hàng trăm nông dân Văn Giang tụ tập bên ngoài Bộ TNMT. Chỉ có một số đại diện của họ, các luật sư, các nhà báo (có cả 3-4 đài TV ghi hình liên tục), khoảng 50-60 người dự đối thoại.  Cuộc đối thoại đã kéo dài gần 3 giờ liên tục, không có giải lao. Nội dung chỉ xoay quanh 3 câu hỏi mà bà con nông dân Văn Giang đã gửi cho Gs Võ: 1) Quyết định thu hồi đất và giao đất số 742/QĐ-Ttg do Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký ngày 30-6-2004 dựa trên tờ trình số 99/Ttr -BTNMT do chính Gs. Võ ký có đúng thẩm quyền hay không? 2) Quyết định giao đất cho chủ đầu tư (mà bà con cho là không đúng quy hoạch và chủ đầu tư chưa đủ điều kiện được giao đất theo luật lúc đó) có đúng luật hay không? 3) Quyết định giao đất có đúng không khi không nghi rõ tên người sử dụng đất (mà bà con cho rằng thực chất là ủy quyền cho cấp dưới [UBDN tỉnh Hưng Yên] là không phù hợp với Điều 25 của Luật Đất đai 1993]? Chỉ cần ít nhất một 3 câu trả lời cho 3 câu hỏi trên là không [đúng] thì có nghĩa là Quyết định 742/QĐ-Ttg do Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký là trái luật và trong trường hợp đó tất cả các quyết định của các cơ quan cấp dưới dựa vào Quyết định đó cũng trái luật và bà con yêu cầu Gs Võ chính thức cải chính lời tuyên bố của ông với BBC (ngày 28-4-2012) và với các phóng viên báo chí (ngày 7-11-2012). Cuộc trao đổi đã hết sức sôi nổi, đôi khi khá gây cấn. Gs. Võ lúc đầu vẫn giữ quan điểm của mình như đã nói với BBC và phóng viên các báo ngày 7-11-2012. Đại diện của bà con nông dân Văn Giang (và các luật sư của họ) đã trưng ra hết bằng chứng này đến bằng chứng khác của Luật đất đai khi đó (1993 và được sửa đổi bổ sung 1998 và 2001), tranh cãi khá gay gắt về sự hiểu luật kém cỏi của những người ký các tờ trình. Gs Võ đã thực sự bị các đại diện của bà con Văn Giang áp đảo về lý lẽ. Nhưng sau hơn 2 giờ trao đổi ông vẫn không nhận mình sai khi ký các tờ trình. Tôi có cảm giác rằng những người nông dân Văn Giang hiểu luật đất đai sành hơn ông Giáo sư và chính họ đã giúp ông “hiểu về pháp luật đất đai” chứ không phải ngược lại. Mỗi lần ông thanh minh hay giải thích khá lòng vòng, thì luật sư hay bà con nông dân đưa ra những lý lẽ, bằng chứng bằng các điều khoản của luật, nghị định, thậm chí thông tư của chính Bộ của ông để bác lại. Về thẩm quyền ký quyết định thu hồi đất và giao đất bà con lập luận: luật đất đai 1993 đã giao cho thủ tướng chính phủ quyết định; nhưng sau đó do thấy tập trung quyền lực vào ta một người dễ gây ra sự lạm dụng hay quyết định thiếu cơ sở nên Quốc hội (trong đợt sửa 1998 và 2001) đã chuyển quyền đó sang cho Chính phủ chứ không phải Thủ tướng. Thế nhưng trong tờ trình số 99/Ttr –BTNMT Gs. Võ đã ghi “kính gửi Thủ tướng Chính phủ” chứ không phải Chính phủ và khiến cho phó Thủ tướng đã ký Quyết định 742/QĐ-Ttg (chứ không phải Chính phủ có một nghị quyết rồi trên cơ sở đó Thủ tướng thay mặt Chính phủ ra Quyết định). Gs. Đặng Hùng Võ nói, Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng. Bị truy, quyết định ủy quyền đâu? Ông trả lời có nghe nói thế và ông nói thêm tất cả các dự án tương tự từ trước đến nay đều làm thế chứ không chỉ dự án này. Tôi phát hoảng nên nói xem vào: Xin Gs. Võ thận trọng bởi vì nếu đúng như Giáo sư nói là Chính phủ đã ủy quyền cho Thủ tướng quyết định về thu hồi đất và giao đất đối với các dự án như vậy, thì không khác gì bảo “Chính phủ đã cố ý làm trái luật vì trước kia do ngại một mình Thủ tướng quyết định là không tốt nên Quốc hội mới bỏ việc đó và bắt Chính phủ phải quyết định. Nay nếu Chính phủ lại ủy quyền cho Thủ tướng thì chẳng phải Chính phủ (tất cả các thành viên Chính phủ) đã cố tình vi phạm luật hay sao?” Kết quả có hậu là, cuối cùng Gs Võ đã được bà con nông dân và các luật sư của họ thuyết phục và đã thừa nhận và trả lời rành rọt cho các câu hỏi: 1) không đúng thẩm quyền và thậm chí ông còn nói là trái luật; với câu hỏi 2) ông thừa nhận mình đã sai vì đã dùng từ “giao đất” [mà lẽ ra phải là từ “thu hồi đất”] trong Tờ trình số 99 [trong đó có 7 lần nhắc đến “giao đất” (4 lần của Bộ TNMT), 2 lần của Hưng Yên, 1 lần của Bộ Tài chính], nói cách khác câu trả lời cho câu hỏi 2 cũng là không; về câu hỏi thứ 3) quyết định thu hồi đất không ghi tên từng người bị thu hồi đất (được quy định bởi luật lúc đó và hiện hành) cũng như không ghi tên người được giao đất cũng là sai luật. Mỗi lần Gs Võ trả lời “không” cho các câu hỏi trên thì bà con tham dự đã vỗ tay nhiệt liệt hoan nghênh. Bà con đã đại xá cho Gs Võ. Thật đáng trân trọng sự dũng cảm của Gs Võ khi ông thực sự hiểu mình đã sai và thừa nhận sự sai đó. Sai là chuyện con người, ai cũng mắc phải. Vấn đề là có dám nhận sai không để tìm ra cách khắc phục những sai lầm đó, thay cho việc coi bà con đi khiếu kiện là bị “các thế lực thù địch” xúi giục. Đối thoại trên tinh thần xây dựng để tìm ra sự thật như đã xảy ra tại Bộ Tài Nguyên Môi trường lần trước và lần này rất đáng được hoan ngênh. Và đấy là cách duy nhất để giải quyết thấu đáo các rắc rối hiện tại sao cho có lợi cho bà con nông dân, cho chủ đầu tư và cho chính nhà nước, rút kinh nghiệm để cho việc sửa đổi Luật đất đai hiện thời tốt hơn. Các quan chức nhà nước khác và cơ quan nhà nước khác có thể lấy đấy làm tấm gương. Giá mà có cuộc đối thoại tương tự giữa bà con nông dân Văn Giang với nguyên Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và giá như ông cũng can đảm nhận sai lầm, nếu ông đã sai, và trong trường hợp ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định của nguyên phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, thì uy tín của Thủ tướng chắc sẽ lên cao. Giá mà các quan chức nhà nước và các cơ quan nhà nước bớt được 50% (hay hơn) số vụ họ vi phạm luật do chính họ (nhà nước) làm ra, thì sự phát triển của đất nước đã tốt đẹp hơn rất nhiều. N.Q.A.http://anhbasam.wordpress.com/2012/11/09/1366-chinh-phu-co-co-y-lam-trai-luat-dat-dai/
......

Tại Sao Lại Để Cho Lào Xây Đập Xayaburi, Trên Thượng Nguồn Sông Tiền, Sông Hậu Của VN ?

Lào đã khởi công xây đập Xayaburi trên khúc sông Mekong chảy ngang qua nước này theo đồng thuận của CSVN và Kampuchia.  Trải qua hơn hai ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn quật cường chống trả lại mọi cuộc xâm lăng của ngoại bang, trong đó giặc có Tàu phương bắc. Ðất nước được vẹn toàn trên hai mươi thế kỷ và tồn tại tới hôm nay là do công đức dựng và giữ nước của tiền nhân bao đời. Cho nên đừng thấy lạ khi tìm hiểu về tôn giáo đích thực của người Việt cả nước, mà dân tộc gọi là đạo Việt, thờ kính Ðức Phật, Các Anh hùng liệt nử VN như Hai bà Trưng,Ðức Thánh Trần, Lê Lợi, Quang Trung.. và Thần Nông. Tổ tiên ta bao đời ngoài võ công hiển hách để bảo vệ lãnh thổ, bản sắc tự chủ cũng như nền độc lập của mình, còn biết cách mềm mỏng kết thân với kẻ thù để hoà giải hiềm khích và hấp thụ những tinh hoa của Hán tộc. Nhờ biết người, biết ta, vừa can đảm anh hùng lại có óc thực tiển. Tóm lại đây là chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan của người Việt, mà các vi minh quân mọi thời đem áp dụng, để vừa đánh bại ngoại xâm, vừa giữ vững độc lập cho nước nhà trong danh dự. Khác với tiền nhân trong suốt dòng lịch sử, rất khôn khéo và uyển chuyển mỗi lần chiến thắng kẻ thù. Trái lại VC từ trên xuống dưới, hèn hạ xảo quyệt, sớm đầu tối đánh, lúc nào cũng lừa bịp thiên hạ để tiên hạ thủ vi cường. Vì vậy cũng đừng lấy làm lạ, khi biết năm 1958, Hồ ra lệnh cho Phạm văn Ðồng, quyền thủ tướng nước, công khai xác nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa (lúc đó đang thuộc chủ quyền VNCH) là của Trung Cộng, để đổi lấy mọi thứ cần thiết cho cuộc xâm lăng miền Nam.Thế rồi khi cưởng chiếm được VNCH vào ngày 30-4-1975, VC liền phản thầy bằng cách tuyên bố tức khắc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa,Trường Sa mà trước đó vào năm 1974, đã giúp giặc Tàu tàn sát hải quân VNCH để cưởng đoạt gấm vốc của tổ tiên Hồng Lạc. Trên đất Bắc, từ năm 1954 tới nay, vì quyền lợi riêng tư mà đảng cọng sản hoặc nhắm mắt làm ngơ hay đã đồng thuận dâng hiến hoặc bất tài để cho Trung Cộng công khai chiếm đoạt nhiều đất đai của Việt Nam dọc theo biên thuỳ Hoa Việt. Trong sự mất mát này, quan trọng bậc nhất vẫn là ẢI NAM QUAN, với địa thế hiểm trở có một không hai, nằm trên con đường độc đạo Quảng Tây-Hà Nội. ‘Quỷ môn quan,quỷ môn quan thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.’ Nơi mà bao đời tiền nhân ta đã tạo nên những chiến công hiển hách vào năm 981 (STL),Thập đạo tướng quân Lê Hoàn bêu đầu Hầu nhân Bảo. Năm 1076 Thân cảnh Phúc chận đứng 30 vạn quân Tống của Quách Quỳ, để Lý thường Kiệt giết trọn trên sông Như Nguyệt, tạo hứng cho Ðại tướng quân viết bài thơ thần ‘NAM QUỐC SƠN HÀ’ khẳng định với giặc Bắc, về cương thổ độc lập của Ðại Việt.. Nhưng lừng lẫy nhất vẫn là trận Liễu Thăng, danh tướng số một của nhà Minh, bị các tướng Lam Sơn của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, chém rụng đầu năm 1427, nay vết tích vẫn còn nơi ‘Liểu Thăng Thạch’ và ‘Lê Tổ kiếm’ như một bài học thách thức người Hán trước ác mộng xâm lăng VN. Riêng ngoài biển Ðông, cũng do VC hèn nhục ký nhượng phần lớn lãnh hải của VN, khiến cho Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 200 hải ly tính từ Hoàng Sa, cộng thêm một hiệp ước khác vừa lén ký,cho phép Trung Cộng ra vào tự do trong vịnh Bắc Việt.. làm cho vùng biển của VN, bây giờ thành cái ao của Trung Cộng nên mới dám hung tàn tập trận bắn đạn thiệt.và xua hàng chục ngàn tàu thuyền đánh cá xâm nhập lãnh hải của VN. Tóm lại hành vi bán nước của VC ngày nay, chẳng những gây phẩn nộ cho cả nước, mà còn làm cho người ngoại quốc bất bình và khinh bỉ, mà nhà báo người Pháp Sylvaine Pasquier, gọi đó là quốc nhục của người Việt. Mới đây, Hà Nội lại ký thêm nhiều hiệp ước bất bình đẳng với Tàu, công khai đồng thuận để giặc bắn giết đồng bào ngư phủ ngay trên biển đảo yêu quý của quê hương mình. Thảm kịch trên khiến VN đã nghèo khổ lại càng khốn đốn hơn vì diện tích canh tác càng ngày càng bị giới hạn bởi thiên tai, nguồn tưới và nạn nhân mãn trầm trọng, với 5,2 triệu ha ruộng, phải nuôi hơn 85 triệu người, nên bình quân 0,16 ha dành cho 1 nông dân, nếu theo quy định của Liên Hiệp Quốc, thì quá thấp, dù theo cái loa tuyên truyền thì VN hiện nay là nước đứng thứ hai (sau Thái Lan) sản xuất gạo. Nói chung, gạo thặng dư bán ra ngoài chỉ là vấn đề thời gian, cho nên dù muốn hay không, thức ăn và tương lai của dân tộc cũng vẫn là trên các sông ngòi biển sóng. Lãnh thổ đem bán, kinh tế giao phó, văn hiến thì mời nhập và mạng sống của cả nước nhờ vào hai vựa lúa Sông Hồng, Sông Cửu, nay cũng bị giặc Tàu kiểm soát lưu lượng trên đầu nguồn, bằng một hệ thống đập chằng chịt, khiến cho đồng bào cả nước năm nào cũng bị lũ lút tàn phá, một hiện tưọng không bao giờ xãy ra trước năm 1975. Theo nguồn tin của hảng thông tấn AP cho biết : Lào đã khởi công xây “ Đập Thủy Điện Xayuri “ sau khi CSVN và Kampuchia (là hai nước ở hạ nguồn, nạn nhân chính hứng chịu những tai họa thảm khốc do nó gây ra) đã không còn phản đối và ngăn chận. Ta biết hơn năm nay, sau khi một tập đoàn Thái Lan (dĩ nhiên phía sau là Tàu đỏ) tuyên bố sẽ bỏ vốn để xây dựng đập thủy điện Xayubi với kinh phí trên ba tỉ Mỹ kim, trên khúc sông Mekông chảy qua Lào. Tin trên đã làm cho cho LHQ, Ủy Ban Bảo vệ sông Mekông, Hoa Kỳ, Nhật và các nước liên quan phản đối kịch liệt. Vì vậy Lào phải tạm ngưng nói là để nghiên cứu tìm phương cách giãm nhẹ sự tàn phá, thiệt hai do nó gây ra (nếu có). Nhưng tình hình đã xoay chiều, sau khi Nguyễn Tấn Dũng sang chầu Tập Cận Bình vào cuối tháng 9-2012 tại Quảng Tây, sau đó lại gặp nữ thủ tướng Thái Lan là Yingluck Shinawatra tại Hà Nội.. Tại Hội Nghị Thượng đỉnh Diễn đàn Kinh tế ASEAN ở Viên Chân (Lào) vào ngày 29-10-2012, có sự tham dự của Pháp, Đức..Suốt hội nghị, ngoài phái đoàn Phi Luật Tân đem vấn đề Trung Cộng tại Biển Đông ra bàn thảo. Tuyệt nhiên VC và Nguyễn Tấn Dũng không mở miệng “ nhắc tới một chữ về Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông hay sự tác hại của đập thủy điện Xayuri mà Lào đang khởi công xây dựng “. Mấy chục năm nay, đồng bào cả nước VN đã đạu khổ vì TC dùng những đập thủy điện để khủng bố. Nay VC lại nhượng bộ Lào (thật sự là tập đoàn tài phiệt Tàu đỏ) để chúng xây thêm một con đập vĩ đại, so với những con đập tại TC không thua mấy. Đập này, mùa nắng ngăn nước, cá, phù sa không cho chảy xuống Nam Phần VN. Mùa mưa, chúng mở đập, tháo nước, gây lũ lụt và trút hết những cặn bã, hóa chất, rác rưỡi từ TC, Thái Lan, Lào..sang Kampuchia và VN. 1 - TRUNG CỘNG KHỦNG BỐ VIỆT NAM BẰNG NHỮNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TRÊN SÔNG HỒNG HÀ- MEKONG Bao chục năm qua, người Việt trong và ngoài nước đã căm thù đến tận xương tuỷ, trước những sự việc Trung Cộng xâm lăng cưởng chiếm lảnh thổ của chúng ta. Nhưng đó cũng chỉ là một trong ngàn muôn nổi buồn của thân phận nhược tiểu VN, trong biển máu lệ nước mắt thống hận muôn trùng. Bởi vì cùng lúc, giặc Tàu còn gây ra nhiều cuộc khủng bố khác, mà tàn khốc nhất là đang xữ dụng những đập thủy điện trên các dòng sông phát nguyên trên đất Tàu, chảy vào VN, như một thứ vũ khí môi sinh chiến lược,liên quan tới sự sống còn của dân tộc. Ai có thể ngăn được sự phẩn uất , trước lời tuyên bố xấc xược và ngạo mạn của Wang Xiaodong, chuyên viên nghiên cứu của Trung Cộng, về việc khai thác sông Mekong ‘ Ðây là đất nước Tàu, nên muốn làm gì cũng được , ai dám ngăn cản ‘. Mới đây báo chí tại Trung Cộng đã đồng loạt đăng tải sự lên tiếng của các chuyên gia môi trường tại Hoa Lục, trong đó có Giáo sư Ðại học về môn đia chất là Yuan Aiguo. Theo họ thì tình trạng ô nhiễm đang xãy ra trên sông Dương Tử rất nguy kich, ngoài việc gây bệnh ung thư vì nước uống, dòng sông có thể chết trong 5 năm sắp tới, do việc đổ xuống đây tất cả các loại rác rưởi, trong đó có hóa chất độc hại và cả xác tàu thuyền bị chìm. Hiện 80% nguồn nước ngọt của Thượng Hải là do sông Dương Tử cung ứng (80% thiếu vệ sinh và có chứa hoá chất). Dù Tàu Cộng cố bưng bít nhưng thảm trạng cũng đã bị phanh phui trên dòng sông Tùng Hoa. Xem như vậy làm sao các dòng sông thiêng của VN như Hồng Hà, Ðà Giang, Lô Giang và quan trọng nhất là sông Cưu Long, đều phát xuất từ bên Tàu, chảy qua tỉnh Vân Nam, trước khi vào lãnh thổ chúng ta, chắc chắn cũng đang mang chung số phận của sông Dương Tử. Có điều chừng nào VC mới dám công khai lên tiếng phản đối Tàu và thông báo tình trạng ô nhiểm nguy kịch chết người, để đồng bào cả nước biết., một sự kiện đáng làm trước hết hơn là phung phí ngân khố quốc gia, để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long làm trò cười cho đồng bào cả nước và dư luận khắp nơi trên thế giới. + HỆ THỐNG ÐẬP THỦY ÐIỆN TẠI TỈNH VÂN NAM, TRÊN SÔNG MEKONG VÀ HỒNG HÀ CHẢY VÀO VN : Sông MeKong phát nguyên từ Tây Tạng, chảy qua Trung Hoa, Lào, Thái Lan, Miến Ðiện, Kampuchia và VN rồi ra Biển Ðông tại chín cửa lớn nhỏ, nên phần sông chảy trong lãnh thổ VN, mới có tên là Cửu Long Giang. Vì Trung Cộng là nước ở thượng nguồn sông Mekong, chẳng bao giờ tôn trọng các ảnh hưởng, sự tác động và lợi ích kinh tế của những nước khác ở hạ nguồn. Ngoài ra còn bá quyền nước lớn, bất chấp sự phản đối của các nước liên hệ, bao chục năm qua đã xây dựng cả hệ thống Ðập Thủy Ðiện trên sông Mekong, trong tỉnh Vân Nam, gây thiệt hại nhiều nhất cho hai nước hạ nguồn là Kampuchia và VN. Thật ra âm mưu khống chế sông Mekong, được Trung Cộng manh nha từ năm 1970. Do sự cô lập và bưng bít nên mãi tới năm 1989 khi Ðặng Tiểu Bình mở cửa đón tư bản vào cứu đảng, người ta mới biết được đại khái là Hoa Lục đang xúc tiến các dự án đập thủy điện tại Vân Nam, đã xây dựng tới 14 con dập bậc thềm, trên thượng nguồn sông này. Ðó là chưa kể các con đập khác ở các phụ lưu và trên sông Hồng Hà. Theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, ta thấy các đập thủy điện Liutongsiang, Jiabi, Wunenglong, Tuoba, Huangdeng, Tiemenkan, Guongguoqiao, Công Quả Kiều, Xiaowan, Tiêu Loan, Manwan, Daichaoshan, Ðại Triều Sơn, Nuozhado, Nọa Trát Ðộ, Jinhong, Cảnh Hồng, Ganlanba và Mãnh Tòng. Tóm lại chỉ riêng với ba con đập đầu tiên được xây dựng trên thượng nguồn Mekong là dập Mạn Loan, Ðại Triều Sơn và Cảnh Hồng, với các triền núi cao dùng làm vách hồ chứa nước vào mùa mưa và xã nước trong mùa nắng. Hậu quả sông Mekong sẻ không còn những cơn lụt hằng năm, mang phù sa và các loại thủy tộc, từ thượng nguồn xuống Biển Hồ, sông Tiền, sông Hậu. Cuối cùng các hồ chứa nước tại Vân Nam, sẽ giữ lại hết phù sa và nước ngọt tại chuổi đập bậc thềm , làm cho Biển Hồ khô chết, còn đồng bằng miền Nam ven biển Ðông, sẽ bị ngập mặn vì lòng sông thấp hơn mực nước biển. Trước mắt những con đập tại Vân Nam, thường trực gây bất thường cho dòng sông Mekong, làm xói lở hai bờ , đọng nhiều muối trên đất, nguồn phù sa hằng năm từ thượng nguồn bị giữ lại, làm cho ruộng thiếu nguồn phân bón thiên nhiên. Tai hại hơn, là Trung Cộng đã trút đổ những chất phế thải độc hại từ các nhà máy công nghệ như chì, kẽm, cyanide.. gây ô nhiểm nước uống và hệ thủy sản trên sông, nhất là các loại cá . Tháng 12-2001, theo tin Asian Pulse cho biết là Trung Cộng lại khởi công xây đập Tiểu Loan trên khúc giữa Lạn Thương Giang, lớn thứ nhì trên nước Tàu, chỉ thua đập Tam Hiệp. Ðập này có công suất điện 4200 MW, cao nhất thế giới 292 m, riêng hồ chứa nước lên tới 15 tỷ m3 khối nước, từ nguồn sông Mekong. Ðập hoàn thành năm 2010 với kinh phí 4 tỷ đola. Ngày nay Trung Cộng đã công khai đe dọa thế giới, trực tiếp đối đầu với Mỹ, Nhựt, Liên Âu và LHQ, nên đâu có lạ khi thấy người Tàu toàn quyền khai thác sông Mekong và từ chối tham dự Ủy hội bảo vệ con sông này vào năm 1995 cũng như không cầm đếm xỉa tới thảm họa môi sinh của 5 nước dưới hạ nguồn. Thế giới ai cũng nhìn thấy rõ, nhát là mưu đồ dùng sông Mekong như một thủy lộ, khi có cuộc chiến trong tương lai gần. SÔNG NGÒI TẠI BẮC PHẦN, TRƯỚC THẢM HỌA KHỦNG BỐ CỦA TÀU : Diện tích VN hiện nay là 331.000 km2, trong đó hai đồng bằng Bắc và Nam Việt, xưa nay được coi như là vựa lúa gạo của cả nước. Miền châu thổ Bắc Việt hình thang, giới hạn bởi tứ giác Phủ Lạng Thương, Ðồ Sơn, Việt Trì và Phát Diệm, với diện tích 15.000 km2, chỉ chiếm 12% Bắc Phần (115.700 km2), được hình thành bởi phù sa sông Hồng Hà và Thái Bình. Nay Trung Cộng xây đập khắp nơi, mùa nắng thì giữ nước ngọt lại trong hồ chứa để mà tưới , trái lại mùa mưa thì mở đập để nước trên sông lẫn trong hồ, tuôn về hạ nguồn, cho nên mấy năm qua, Hà Nội và các tỉnh Bắc Phần luôn bị nạn lụt. Trong khi đó , hệ thống đê điền ở miền Bắc tuy dài hơn 4000km, nhưng lại có quá nhiều khuyết điểm, chẳng hạn như đê phải đắp cao theo tình hình mực nước, khiến cho đê thường bị vở. Ngoài ra vì bị đê ngăn chặn phù sa, khiến cho đồng bằng Bắc Phần lần hồi không được bồi đắp, nên càng lúc thêm cằn cổi, thu hoạch kém, tốn nhiều phân bón. Riêng hệ thống sông Thái Bình, dài độ 340km, chảy từ Phả Lại, qua Hải Dương ra biển, với các phụ lưu là sông Lục Nam, sông Thương và sông Cầu, đều phát nguồn trong nội địa VN. Tuy nhiên vì Sông Nhị có hai phụ lưu ở tả ngạn là sông Ðuống và sông Luộc, đều chảy vào sông Thái Bình, cho nên hệ thống sông này cũng bị ảnh hưởng khi nguồn nước hay dòng chảy của sông Hồng bị tắt nghẽn hay bất thường. do những ảnh hửng từ thượng nguồn bên Vân Nam gây ra. ÐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG : Ngày nay đồng bằng sông Cửu Long, bao gồm 12 tỉnh miền tây Nam phần : Long An, Mỹ Tho, Bến Tre, Ðồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bac Liêu và Cà Mâu. Khu vực này chiếm một diện tích 40.000 km2 với hơn 16 triệu dân, gồm người Việt, Khmer, Hoa và Chàm. Do cấu tạo môi trường thiên nhiên khác nhau, ảnh hưởng từ sông, biển và khí hậu, nên khu vực này được chia thành bốn vùng riêng biệt. Nói chung đồng bằng sông Cửu Long được tạo thành bởi phù sa của hai nhánh sông Mekong, gọi là sông Tiền (Dòng chính) và sông Hậu, được chia thành chín nhánh nhỏ hình rẽ quạt, đổ ra biển bằng chín cửa, lại tạo thành nhiều cù lao rất phì nhiêu. 2 - TRỜI HÀNH LỤT LỘI MỖI NĂM TẠI VN : Từ trước tới nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh vào tới Thừa Thiên thuộc bắc Trung phần, luôn luôn hứng chịu thảm trạng chiến tranh và sự khắc nghiệt của thời tiết,thêm vào đó Rặng Trường Sơn lấn ra sát biển, làm cho đồng ruộng cằn khô vì cát lẫn với đá núi. Cho nên trong dân gian đã có câu ca dao ‘ Trời hành cơn lụt mỗi năm, mùa đông thiếu áo, mùa hè thiếu cơm ‘.Lời than thở này bây giờ đã vượt biên giới và trở nên thân quen đối với đồng bào cả nước, vì năm nào cũng phải cât lực đối phó với tình trạng lụt lội, đã trở nên thường trực trong cuộc sống của mọi người. Nam Trung phần kéo dài từ bên này đèo Hải Vân tới Bình Thuận (10 độ 35’B ố 16 độ 12’ B) gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận, chiếm một diện tính 44.360 km2 với dân số 9.025.100 người (thống kê 2009). Toàn vùng gồm các bình nguyên hẹp chạy ven biển, bên trong là dãy Trường sơn nên hệ thống sông ngòi mang chung đặc điểm ngắn, dốc, mùa nắng khô hạn, mùa mưa lũ lụt. Ðây là vùng chịu nhiều thiên tai triền miên.. sau năm 1975. Từ khi Trung Cộng lén lút xây dựng các đập thủy diện trên hệ thống sông ngòi chảy qua tỉnh Vân Nam vào năm 1971, thì đại họa cũng bắt đầu đổ ập một cách âm thầm vào non nước VN, qua cảnh dòng sông không còn êm đềm chảy, mà dâng cao đục ngầu, mang đầy rác rưởi, gổ tre, khắp nơi đầy những vực xoáy hung dữ. Năm 1971, mực nước sông Hồng dâng cao tới 14,8 m,gần như lưu lượng nước (80-88%) đổ vào Sơn Tây, trung tâm của đồng bằng Bắc Việt. Từ năm 1920, bờ đê tại Hà Nội chỉ mới cao 11,5m. Năm 1932 là 13,3m và hiện nay đã cao tới 15-15,5m. Ngoài ra còn hy vọng vào các hồ chứa sông Ðà, Lô, Gầm, Chảy và Ba Bể.. để hạ bớt mực nước lụt. Trước đây khi dòng sông Cửu Long chưa bị biến thái vì các đập thủy điện trên thượng nguồn tại Trung Cộng, Thái Lan, Lào.. thì hằng năm nước ngập, đã mang đến thật nhiều phù sa bồi đắp cho miền châu thổ , làm cho Mũi Cà Mau lấn thêm đất ra biển, sông rạch có thêm nhiều tôm cá và đủ cac loại thủy sản.. Từ năm 1961 tới 1994, miền Tây Nam Phần đã bị sáu trận lụt lớn, làm ngập 1.828.000 Ha ruộng, kéo dài từ 3-6 thang mới rút hết nước. Hiện nay có tới 12 tỉnh thuộc đồng bằng sông Cưu Long, chiếm diện tích 3,9 triệu Ha nhưng vùng lụt lội hằng năm thường tập trung vào 7 tỉnh đầu nguồn là An Giang, Ðồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tiền Giang và Long An. Lụt lội hằng năm, làm cho 1 triệu Ha ruộng bị chìm ngập dưới nước sâu trong nhiều tháng, gần 10 triệu đồng bào địa phượng bị thiệt hại , từ nhân mạng tới vật chất. Lụt bây giờ ngập sâu và kéo dài hơn trước, lại đến sớm nhưng rút muộn, ảnh hưởng nặng nề tới nông vụ vốn là chén cơm manh áo bao đời của tầng lớp cư dân miệt vườn. Mặc khác lụt lớn, làm cho đất đai bị mòn xói, phá vở các công trình xây dựng hai bên bờ sông, kể cả đường xá kênh rạch. Riêng trận lụt năm 1996, làm cho 217 người chết trong đó có tới 162 trẻ nít, gây tổn hại tới 2182 tỳ tiền Hồ. Nguy cơ trùng trùng nhưng Ðảng chẳng những chẳng giải thích một lời nào về thảm họa vì đâu nên nổi, trái lai vẫn cứ ru ngủ đồng bào nạn nhân bằng luận điệu tuyên truyền như Mùa Nước Nổi Hay Sống Chung Với Lũ.. nhờ đó mà đồng ruộng Miền Nam được kéo dài tuổi trẻ, vì có sự bồi đắp của phù sa. Trong khi đó,thực chất gần như đất đai màu mở, cá tôm thủy sản quý của thiên nhiên ban cho các dòng sông Hồng Hà, Mekong.. đã bị chuổi đập lớn nhỏ trên 14 cái, được xây dựng tại Vân Nam giữ lại. Kế tiếp những gì may mắn thoát được, lại bị kẹt ở chuổi đập của Lào-Thái. Cho nên ngày nay, Kampuchia và VN chỉ còn nhận đủ những thứ cặn bã, trong đó có hơn 80% các quặng, hóa chất.. được thải từ hằng trăm nhà máy bên Tàu, đổ xuống dòng nước, tống ra biển, như chúng đã làm trên sông Dương Tử, mà chính báo chí tại Trung Cộng, vừa to tiếng tố cáo. 3 - ÐỒNG RUỘNG MIỀN NAM KÊU CỨU VÌ NẠN XÂM NHẬP NƯỚC MẶN : Từ năm 1980 tới nay, các sông ngòi ở VN hầu hết đều biến đổi kỳ lạ : Mùa mưa thì tràn nước gây nên lụt lội, trái lại về mùa nắng nước thiếu gây nên cảnh khô hạn. Tại Nam Phần, chính việc thiếu hụt nước tại các sông, đã liên quan tới sự tấn công, xâm nhập của nước mặn từ biền tràn vào sông, trong các đợt thủy triều. Ðã có trên hằng triệu Ha lúa và hoa màu tại các tỉnh hạ nguồn sông Cửu Long, bị nước mặn xâm nhập khốc liệt, vừa gây tổn hại tới thu hoạch cũng như làm cho mọi người trước nguy cơ thiếu nước ngọt để ăn uống,tắm giặt. Ðây là thảm họa chỉ mới xãy ra tại Nam Phần từ sau thang 5-1975, hiện tượng nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa các tỉnh sát biển, nơi cửa sông Cửu Long. Sở dĩ có tình trạng trên,vì ảnh hưởng của hai yếu tố từ lưu lượng nước tại thượng nguồn và vùng hạ lưu, cộng thêm lượng nước mưa cũng như sự bốc hơi vào mùa nắng. Thông thường hằng năm, từ cuối tháng 4-5, nước mặn theo thủy triều chảy sâu vào nội địa, khiến cho nước ngọt tại các kênh rạch không còn dùng được để mà tưới ruộng lúa và hoa quả, gây nên cảnh hạn hán thất thu. Theo định luật khoa học, thì tiêu chuẩn độ mặn cần có trong lượng nước ngọt để phục vụ cho nông nghiệp là 4%. Trong khi đó nguồn nước lợ (nước ngọt đã bị nước mặn xâm nhập), độ mặn chỉ có 2% nhưng cũng chỉ để tưới ruộng tạm thời khi không còn một lối thoát nào khác. Nguyên do vì thứ nước lợ này, chỉ có tác dụng cứu khô ngắn hạn, nếu để lâu, nước bốc hơi làm cho nồng độ muối trong ruộng tăng lên cao, làm chết hết lúa. Do phần lớn đồng ruộng ở miền Nam, không có hệ thống bờ ruộng và kè đê tốt, nên đã lãnh đủ sự xâm nhập của nước mặn chảy vào ruộng,với số lượng bị ảnh hưởng lên tới 1,1 ố 1,3 Ha theo báo cáo của các cơ sở Nông Nghiệp. Ngoài ra nước mặn còn gây tổn hại rất lớn đối với những đồng bào nuôi các loại thủy sản như tôm, cá , ốc.. để xuất cảng. Nạn nước mặn xâm nhập đồng ruộng được đánh giá trầm trọng, bắt đầu từ năm 1977, trên sông Vàm Cỏ Tây và Tiền Giang. Tại đây nước mặn chảy sâu vào nội địa từ 8-12km, nhiều hơn những năm trước. Trên sông Vàm Cỏ Tây, nước mặn theo thủy triều vượt qua Tuyên Nhơn về hướng thượng nguồn hơn 30km và kéo dài tới 10 ngày mới rút. Tại Mỹ Tho, nước mặnvào sông Tiền ít hơn và chỉ ở lại có 4 ngày. Nhưng vì nhu cầu nước tuới, đồng bào đã vô tình giúp nước mặn tràn lan nội địa. Những năm 1985-1986, vùng Tuyên Nhơn-Ðồng Tháp, tình trạng nước mặn xâm nhập có giảm so với các năm trước, nhờ con kênh Hồng Ngự mới đào, dẫn nước Vàm Cỏ Tây thông qua sông Tiền. Bắt đầu từ thập niên 1990 Ðồng Tháp Mười được khai thác triệt để diện tích ruộng lúa, nên lượng nước ngọt dùng để tưới trở thành thiếu thốn, tạo điều kiện cho nước mặn càng ngày càng dâng cao, xâm lăng tới tăp vào sâu trong nội địa. Năm 1993, nước mặn theo sông Vàm Cỏ Tây, lên tới thượng nguồn và ở lại Tuyên nhơn tới 50 ngày. Trên Tiền Giang, do nhu cầu xữ dụng quá nhiều nước, nên ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn cũng thay đổi từng năm. Tại Mỹ Tho, nước mặn đã vượt qua vài cây số và nằm lai tới 17 ngày mới rút ra biển. Năm 1998, tình trạng trên lại tái diễn một cách khốc liệt. Nguyên do vì mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long vào năm 1997, diễn ra thật bất thường, nước từ thượng nguồn đổ về rất ít và rút đi rất sớm Tình trạng trên gây ra khô hạn kéo dài, tạo điều kiện để nước mặn dâng lên cao và ùn ùn kéo vào sông Vàm Cỏ Tây, chảy sâu vào nội địa tới 15-20km. Trên sông Tiền, sông Hậu, Cổ Chiên tuy lưu lượng có kém so với các năm trước, nhưng vẫn còn sức mạnh, làm giảm thiểu phần nào sự xâm nhập của nước mặn, tuy nhiên cũng đã gây thiệt hại cho hơn 200.000 Ha ruộng lúa. Trong khi đó, vùng tứ giác đầu nguồn Long Xuyên và phía Tây sông Hậu, lại bị ảnh hưởng rất nặng bởi sự xâm nhập của nước mặn, vào sâu trong nội địa từ 16-20 km và ở lại hơn 3 tháng. Sự xâm nhập của nước mặn vào các sông ngòi miền Nam, là nguyên nhân chính làm các nhà máy đường phải đóng cửa ngưng hoạt động, vì nước ngọt từ năm 1999 đã tăng lên 30.000/1m3 tiền Hồ. Từ đây nước mặn tấn công vào đất liền sớm hơn mấy năm trước. Tóm lại , không riêng gì Tuyên Nhơn, Mỹ Tho.. mà hầu như các tỉnh tại đồng bằng sông Cửu Long như Vàm Mỹ Hoá (sông Hàm Luông-Bến Tre), Trà Vinh,, An Thuận, Bến Trại, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Cần Thơ.đều bị nước mặn xâm nhập phá hoại tàn khốc và không có triệu chúng nào, báo hiệu thảm họa trên sẽ ngừng hay chấm dứt. Thêm vào đó, từ mấy năm nay thời tiết lại thay đổi đột ngột, gió chướng thổi manh hơn mấy năm trước,dồn nước mặn vào sông nhiều hơn, đồng lúc thủy triều tại cửa sông hoạt động thêm dữ dội, trong khi lưu lượng dòng sông từ thượng nguồn chảy xuống càng lúc càng yếu dần, không đủ triều cường giữ giới hạn giữa hai con nước như mấy thập niên trước. Hởi ôi, đây là cái giá mà dân tộc Việt Nam phải còng lưng gánh chịu cho Hồ Chí Minh và tập đoàn lảnh đạo lớn bé của CS, chẳng những bây giờ mà còn kéo dài tới nhiều thế hệ sau này, qua những hành động trời tru đất diệt của Việt Cộng bấy lâu nay, chỉ vì manh tâm chiếm trọn giang sơn để vinh thân phì gia, đổi đời và ôm cái hào quang anh hùng cứu nước mà thật sự chỉ là lớp son phấn bên ngoài vì hoàn toàn vay mượn của ngoại nhân suốt cuộc chiến. Hèn như vây, nên một nước lạc hậu nhất thế giới là Lào cũng dám công khai khinh bỉ dân tộc Việt, khi chúng tự xây một đập thủy điện bằng tiền của Trung Cộng (qua tập đoàn Thái Lan), ngay trên yết hầu của hai con sông thiêng Tiền Giang và Hậu Giang, vốn là “ mạch sống “ của Dân tộc Việt Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di Tháng 11-2012 MƯỜNG GIANG
......

Khi ‘Lão Lý’ lắc đầu

Ông Lý Quang Diệu là một nhân vật đặc biệt ở châu Á. Ông được người dân nước ông coi là Cha đẻ của quốc gia Singapore độc lập và phồn vinh. Tháng 9 này, sinh nhật lần thứ 88 của ông được kỷ niệm trên khắp nước kết hợp với kỷ niệm lần thứ 47 ngày lập quốc. Báo chí quốc tế lại có dịp ca ngợi đất nước nhỏ bé này là con mãnh hổ thần kỳ nhất trong 4 con hổ châu Á gồm có Singapore, Hồng Kông, Đài Loan và Nam Triều Tiên. Năm 1965, tổng sản lượng của Singapore đạt gần 1 tỷ đôla, tính theo đầu người là 516 đôla/năm; năm 2010, 2 con số này đã vọt lên thành 223 tỷ và 44.000 đôla – có nghĩa là tổng sản lượng tăng hơn 200 lần và thu nhập bình quân đầu người tăng hơn 80 lần so với 47 năm trước. Thật là một kỷ lục phi thường. Nhân dịp này báo chí Pháp, Anh nêu bật nếp sống thật sự giản dị, gương mẫu của ông Lý Quang Diệu – hay “Lão Lý”, theo cách gọi thân mật của người dân. Ông không đồng ý việc tạc tượng, trưng ảnh ông, đặt tên ông cho các công trình. Ông vẫn ở căn nhà nhỏ, đi xe hơi loại rẻ.  Con trai ông, Lý Hiển Long, dù là thủ tướng đương nhiệm, và con gái ông, bác sỹ Lý Vĩnh Linh, cũng theo nếp sống như thế, không có biệt thự, nhà nghỉ riêng, không có xe cộ, trang sức gì khác người. Triết lý sống của cả gia đình ông là thế, không lập dị, không đua đòi, xem sự thanh bạch là một điều đương nhiên để được sống an vui, hạnh phúc. Điều quan trọng đối với ông là dân Singapore sống tốt, sống sạch, xã hội sạch, môi trường sạch, lương tâm sạch. Nhân dịp này ông Lý Quang Diệu có một số ý kiến đáng chú ý. Ông cho rằng Trung Quốc dù phát triển liên tục nhưng chứa nhiều nguy cơ mang tính bi kịch, và rằng Ấn Độ là nước châu Á gây ấn tượng mạnh nhất về chất lượng phát triển bền vững. Về Singapore, “Lão Lý” nhân danh Bộ trưởng – Cố vấn cho chính phủ, tỏ ý vui mừng thấy lý tưởng của ông đã được nhà nước kiên trì thực hiện suốt gần 50 năm nay. Bài học lớn nhất, theo ông, là coi trọng giá trị của con người , đồng thời ngăn chặn ảnh hưởng thái quá của đồng tiền trong chính trị. Ông hiểu sâu sắc đồng tiền vừa là nguồn hạnh phúc, vừa là động lực tha hoá xã hội. Lãnh đạo giỏi là người điều hòa được mối mâu thuẫn này. Ông Lý cho rằng trong xây dựng guồng máy cai trị và cải cách hành chính của nhà nước, vấn đề trung tâm là tuyển mộ được nhân tài có chất lượng cao nhất – ông gọi là nhân tài loại 1, tức là những người vừa có chuyên môn cao vừa có lối sống trong sạch. Thấp hơn một bậc là nhân tài loại 2, tức là những người sẽ làm suy yếu đất nước nếu được nắm giữ các chức vụ cao. Nếu chỉ là nhân tài vào loại 3 hay loại 4, nghĩa là tài kém đức suy thì sẽ mang lại tai họa cho đất nước. Ông cho rằng người lãnh đạo phải kiên quyết cảnh giác với thế lực đồng tiền trong chính trị, và rằng tệ mua quan bán tước và nạn bè phái là 2 tai họa lớn nhất cho một chế độ. Ông Lý Quang Diệu từng sang Việt Nam nhiều lần, theo lời mời của chính quyền Việt Nam. Đó là chuyện của 15 năm trước, khi Việt Nam vừa được gia nhập WTO, mở ra một triển vọng lớn. Ông chân thành góp ý xây dựng, san sẻ kinh nghiệm quý. Nhưng ông đã nản lòng và thất vọng. Mấy năm nay ông lại càng thất vọng hơn. Trả lời báo The Straits Times của Singapore hồi năm ngoái, ông nói về Ấn Độ, về Đài Loan, về Nam Triều Tiên; khi được hỏi về Việt Nam ông lắc đầu: «Nên quên đi, tôi đã nói hết với họ rồi, vô ích!”, rồi ông nói về Nhật Bản. Nhớ lại, ông Lý từng tâm sự với nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt và các nhà báo Việt Nam về đề tài chống tham nhũng 15 năm trước. Ông nói rất giản dị: hãy nâng lương cho viên chức đủ sống để không ai cần ăn cắp, luật pháp phải thật nghiêm để kẻ tham sợ không dám tham nhũng, đạo đức trong xã hội phải được truyền bá để mọi người khinh và hổ thẹn đối với tệ nạn xấu xa này. Tóm lại là 3 không: không cần, không dám, không nỡ. Ông Lý kể chuyện đã tăng quỹ lương cho viên chức ra sao, trừng trị tệ “phong bì”, “đưa tiền dưới bàn ăn”, “huê hồng”, “tặng phẩm, biếu xén, quà cáp, sinh nhật …» ra sao, và nhân tài loại 1 là thế nào, có lương thiện, trong sáng mới thật sự tài giỏi có ích. Ông Lý nản lòng, không muốn nhắc đến Việt Nam nữa vì ông biết lời ông đã như nước đổ đầu vịt. Giá như người ta nghe lời ông, quyết liệt diệt tham nhũng như đã hứa, thì 20% ngân sách hàng năm đã không bị xà xẻo, chia chác cho đám tham quan ô lại nhiều vô kể và hàng tỷ đôla đã không bị lãng phí vì bất tài và tham nhũng. Nếu 20% ấy được dành cho quỹ tiền lương – như ông Lý khuyên – thì cục diện kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam đã khác hẳn. Trái ngược với lời khuyên răn trên, suốt 15 năm qua, quốc nạn tham nhũng ở nước ta trầm trọng thêm gấp bội, vì mọi người đều thấy cần phải tham nhũng, không tham nhũng không sống nổi; dám tham nhũng vì đã có ô, có lọng, có khe hở luật pháp để chạy án; và không ai còn biết xấu hổ khi ăn bẩn và đút lót vì mọi người đều tham gia, ta không ăn và đút là dại, là ngu đần, là thiệt. Trên ăn thì dưới cũng ăn, trên múc thì dưới cũng múc. Tôi ăn, anh ăn, chúng ta cùng ăn dù là ăn bẩn, thế là hòa. Trước cảnh này, có một người rất buồn, rất nản, đó là « Lão Lý» Singapore, người từng hy vọng làm một cố vấn tốt, có ích cho nước bạn. Trong dịp mừng ông Lý Quang Diệu 88 tuổi, báo chí Đông Nam Á lại có dịp nói về những nét đẹp của Singapore. Ở đây phố xá, vĩa hè công cộng sạch nhất thế giới. Ở đây nhà vệ sinh công cộng nhiều và cũng sạch nhất thế giới. Mọi nhân viên hành chính công cộng không những luôn luôn nhã nhặn, nở nụ cười mà còn tận tình đáp ứng quyền lợi người dân. Đi khắp nơi, hầu như không có chen lấn, khạc nhổ, móc túi, xin tiền. Con người tôn trọng yêu thương con người. Singapore có thu nhập đầu người cao nhất Đông Nam Á, 44.000 đôla / năm, gấp hơn 40 lần mỗi người dân Việt Nam hiện nay, ấy vậy mà họ vẫn nghe theo “Lão Lý”. Đồng tiền là quý, là cần khi thu nhập chính đáng, nhưng phải luôn luôn cảnh giác; đồng tiền có thể tha hóa xã hội, tạo nên bất bình đẳng, cho nên cần luôn đặt giá trị con người và đạo lý làm người lên trên giá trị của đồng tiền. Từ đó đồng tiền sẽ là phương tiện, là công cụ quý của con người, phục vụ chứ không làm chủ con người. Chí lý thay! Các bạn Singapore thường nói: “Chúng tôi quý ông già Lý, ‘Lão Lý’ của chúng tôi, vì ông không những là Cha đẻ của nước Singapore độc lập, ông còn là Kiến trúc sư của Singapore mới, phồn vinh, sạch sẽ từ trong ra ngoài, một xã hội hài hòa, ổn định, hòa bình, được bạn bè khắp nơi quý trọng, giữa một thế giới đang có nhiều hỗn loạn và khủng hoảng. Quả thật “Lão Lý” là Nhân tài số 1, trong số Nhân tài loại 1 thời hiện đại của nước Singapore mới. Nhân dân Singapore tinh đời và hạnh phúc thật. Blog Bùi Tín (VOA)
......

Bóng ma Cách Mạng Tháng 10 trên đất Việt

Khi nhìn lại thế kỷ trước, hầu hết các nhà bình luận và sử gia đều cho rằng, cuộc cách mạng tháng 10 năm 1917 ở nước Nga và 72 năm sau đó, sự xụp đổ của bức tường Bá Linh dẫn đến sự tan rã của khối Cộng Sản, là hai biến cố quan trọng nhất của nhân loại trong thế kỷ 20. Cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga thành công vào ngày 24 tháng 10 theo lịch Julien được Sa Hoàng dùng ở nước Nga vào lúc đó, so với dương lịch thì chênh lệch nhau nửa tháng. Sau khi Cách Mạng Tháng 10 thành công thì nước Nga mới sửa lại lịch và lấy ngày 7/11 hàng năm là ngày kỷ niệm cách mạng đó. Sự thành công của Cách Mạng Tháng 10 đã làm thay đổi bộ mặt của xã hội loài người, mở ra một kỷ nguyên mới của nhân loại với sự hình thành của khối các nước xã hội chủ nghĩa cùng với những nhà nước kiểu mới (theo như cách gọi của những người Cộng Sản) mà nhân loại chưa từng có trước đó. Những nhà nước “kiểu mới” này đã xiềng xích dân tộc của họ suốt mấy chục năm, cho đến khi khối các nước xã hội chủ nghĩa tan rã. Vì vậy sự tan rã này được coi là biến cố quan trọng ngang với cuộc cách mạng tháng 10. Trước khi đi sâu vào một số đặc điểm của cuộc Cách Mạng Tháng 10 cũng cần luợc qua các Quốc Tế Cộng Sản (QTCS), quan trọng nhất là đệ tam quốc tế (QTCS 3), vì được coi là đi song hành với sự hình thành của khối các nước xã hội chủ nghĩa; quan trọng hơn, nó còn có vai trò lãnh đạo các chế độ (và các phong trào) cộng sản. Các Quốc Tế Cộng Sản (QTCS) Có 4 QTCS gồm: QTCS 1 do Marx và Engels thành lập tại Luân Đôn (Anh Quốc) ngày 28/9/1864 và giải tán năm 1876 tại Philadelphia, Hoa Kỳ. QTCS 2 (tức Liên Minh Quốc Tế Các Đảng Xã Hội và công nhân) thành lập tại Paris ngày 14/7/1889. QTCS 2 tan rã khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ. Sau đó, năm 1923 và 1951 có hồi phục lại được trong một thời gian ngắn rồi tự tàn lụi. QTCS 3 (Komintern, hay Comintern) do Lenin thành lập tại Mạc Tư Khoa (Moskva) vào tháng 03 năm 1919. Đến năm 1943 thì giải tán, được tái sinh năm 1947 và giải tán năm 1956. QTCS 4 do Trotsky thành lập sau khi Lê nin qua đời. QTCS này theo khuynh hướng chống lại đường lối "cách mạng vô sản trong một quốc gia" của Stalin. Từ năm 1953, QTCS 4 phân hóa ra nhiều nhóm nhỏ rồi tan rã. Như đã đề cập ở trên, QTCS 3 có vai trò chỉ đạo các chế độ và phong trào cộng sản, cho nên trong khoảng 33 năm QTCS này tồn tại các chế độ và phong trào cộng sản trên thế giới đều phải nhận chỉ thị từ Mạc Tư Khoa. Đối với Việt Nam, ông Hồ Chí Minh và đảng CSVN là thành viên của QTCS 3 nên đương nhiên phải tuân theo các điều luật của QTCS này. Đây là điều quan trọng cần nhấn mạnh, vì trong 21 điều kiện gia nhập Đệ Tam Quốc Tế được ấn định trong Đại hội thế giới của Đệ Tam Quốc Tế năm 1920 có nhiều điều bắt buộc các thành viên phải thi hành, nếu không thì sẽ bị loại trừ. Chẳng hạn như: Điều 12: “Tất cả các đảng thuộc Đệ Tam Quốc Tế phải được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ”. Điều 16: “Tất cả các quyết nghị của các Đại hội thế giới Đệ Tam Quốc Tế, cùng các quyết nghị của Ủy Ban Chấp Hành của Đệ Tam Quốc Tế, đều ràng buộc các đảng gia nhập Đệ Tam Quốc Tế”. Điều 21: “Đảng viên nào phủ nhận các điều kiện và cương lĩnh của Đệ Tam Quốc Tế sẽ bị loại ra khỏi đảng”. Điều 17: Các đảng thành phần của Đệ Tam Quốc Tế chỉ là những chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế, vì Đệ Tam Quốc Tế “không phải là một tập hợp của những chi bộ quốc gia, mà là một tổ chức quốc tế thống nhất”. Điều 13: Các quyết định của Ủy Ban Chấp Hành “có tính cách cưỡng bách đối với các chi bộ của Đệ Tam Quốc Tế và phải được thi hành mau chóng”. Ngoài ra, điều 6 quy chế QTCS 3 quy định một đảng xin gia nhập phải “ khước từ mọi tinh thần ái quốc , và cả tinh thần chuộng hòa bình về mặt xã hội”. Người cộng sản phải từ chối “dân chủ tiểu tư sản” và phương thức không cách mạng (tức không bạo động). Một câu trong Tuyên Ngôn Cộng Sản xác định tinh thần vô tổ quốc của các đảng Cộng Sản như sau: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, KHÔNG phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc ”. (1) Trở lại với cuộc Cách Mạng Tháng 10 thì khi nói về cuộc cách mạng này không thể không đề cập đến học thuyết của Marx và nhất là Lenin, người lãnh đạo của cuộc cách mạng đó. Thực ra thì học thuyết Marx chỉ là một mớ lý thuyết suông, nếu không có Lenin hiệu đính, rồi tổ chức và lãnh đạo cuộc cách mạng bạo động lật đổ chế độ Sa Hoàng thì đã không có cách mạng tháng 10 và như vậy cũng sẽ không có khối các nước XHCN. Vì vậy, khi nói về Cách Mạng Tháng 10 thì luôn luôn phải đi kèm với học thuyết Marx – Lenin. Có người cho rằng Lenin đã phản bội Marx, vì theo Marx thì sau khi đánh đổ được tư bản thể chế chính trị ở các nước vô sản phải là chế đội đại nghị. Lenin đã thực hiện đúng như vậy, nhưng chính quyền đầu tiên của Lenin chỉ chiếm được 24 phần trăm số ghế trong quốc hội. Vì thế ông ta phải dẹp bỏ nhà nước đó để thành lập nhà nước vô sản chuyên chính. Đây là khuôn mẫu nhà nước mà tất cả những quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa trước đây đều tổ chức và thực hiện rập khuôn như vậy. Và dưới đây là một số nét của nhà nước chuyên chính vô sản tại Nga sau cuộc Cách Mạng Tháng 10, mà nhiều điều chỉ được biết đến sau khi khối các nước cộng sản xụp đổ. Một số nét tiêu biểu về sự cai trị của nhà nước chuyên chính vô sản (hệ quả cuộc cách mạng tháng 10): Cách Mạng Tháng 10 được đảng CS Nga nhân danh là cuộc Cách mạng của quảng đại quần chúng lao động, cho tất cả giai cấp lao động và vì hoà bình, vì hạnh phúc của tất cả các dân tộc. Nó được các sử gia thiên tả, cộng sản ca tụng là cuộc cách mạng vĩ đại, giải quyết tận gốc ách thống trị, nô dịch các dân tộc, chỉ đường cho việc tổ chức một xã hội mới công bằng văn minh, cao đẹp; là ánh sáng hoà bình, xua tan những mưu đồ tàn ác, bạo ngược, soi đường cho sự phát triển của nhân loại v.v. và v.v. Có thật cách mạng tháng 10 Nga đã đem lại cho người dân Nga nói riêng và các dân tộc bị ách thống trị của chế độ CS được những điều tốt đẹp như những tuyên truyền về mục tiêu của Cách Mạng Tháng 10 đã nêu ra? Sau khi khối cộng sản Liên xô và Đông Âu sụp đổ, dần dần những sự thật của cái gọi là Cuộc Cách Mạng Tháng 10 Nga đã được hé mở do sự bạch hoá các tài liệu trong kho thư mật. Người ta đọc được những thủ đoạn tàn bạo và tinh vi của các lãnh tụ đảng CS Nga từ những ngày đầu tiên khi thiết lập một chính quyền mang danh của nhân dân nhưng không được lòng dân nên luôn phải xử dụng các biện pháp khủng bố bằng bạo lực để duy trì quyền lực của mình. Một điểm nổi bật đặc biệt là lãnh tụ CS Nga chủ trương dùng cái đói như một vũ khí lợi hại để kiểm soát bao tử và khống chế ngươi dân. Chính quyền Bolsevik đã cưỡng bức trưng thu lương thực, khiến người nông dân Nga nổi lên chống đối và đã bị đàn áp tàn bạo. Chỉ riêng trong mùa hè năm 1918, có khoảng 140 cuộc nổi dậy, trong đó nông dân chiếm phần lớn, để chống lại lệnh cưỡng bức trưng thu. Chỉ trong hai tháng mùa thu năm đó, số người bị hành quyết lên đến 15 nghìn, tức là gấp từ 2 đến 3 lần số người bị hành quyết trong suốt 92 năm cai trị của chế độ Sa Hoàng. Từ sau Cách Mạng Tháng 10, cuộc sống của người dân Nga ngày càng cơ cực. Công nhân bị bòn rút hết sức lực qua các phong trào thi đua, chỉ để được hưởng những tấm giấy hoặc lời khen thưởng hão huyền. Nông dân mất hoàn toàn quyền sở hữu ruộng đất, bị buộc làm công không trong các nông trường quốc doanh và tập thể. Trí thức, văn nghệ sĩ, truyền thông báo chí không còn được tự do sáng tác mà phải chịu dưới sự chỉ đạo của nhà nước…Từ đó người dân Nga trở thành những nô lệ cho một thiểu số cầm quyền từ tinh thần đến vật chất. Người ta đã từng biết đến những hệ thống trại tập trung của Đức Quốc Xã trong thế chiến thứ hai, nổi tiếng như Auschwitz, Dachau, Buchenwald, Sachsenhausen... Những nơi đày đọa và vắt kiệt sức con người cho đến chết, mà con số nạn nhân lên đến hơn sáu triệu dân Do Thái và hàng triệu người thuộc các chủng tộc thiểu số khác. Nếu may mắn còn sống thì cũng chỉ là những bộ xương biết cử động. Người ta cũng từng nghe đến hệ thống công an mật vụ khét tiếng Gestapo (Geheime Staatspolizei) do Đức quốc xã lập ra. Tổ chức này đã từng làm cho người dân khiếp đảm qua việc nắm chặt mọi ngõ ngách xã hội, vào tận từng gia đình, kiểm soát từng con người và cai trị bằng sự sợ hãi thường trực đến nỗi các sĩ quan cao cấp quân đội SS của Đức quốc xã cũng phải kiêng dè. Trong một thời gian khá lâu người ta vẫn tưởng rằng hai hệ thống trại tập trung và mật vụ nêu trên là do Hitler sáng chế. Nhưng thực ra đó là sáng kiến của Lê Nin ngay từ những ngày đầu khi thiết lập chính quyền chuyên chính tại Nga và sau này đã được Stalin áp dụng tới cực đỉnh, mà Hitler và đồng bọn chỉ là học trò. Ngoài hệ thống trại tập trung (Gulag) và hệ thống công an trị Lenin còn phát kiến hệ thống kiểm soát bao tử bằng tem phiếu để cai trị người dân. Từ đó lãnh đạo muốn trừng phạt ai thì trừng phạt. Trong lịch sử liên bang Xô Viết khoảng thời gian 1932 đến 1933, Stalin đã trừng phạt người dân tại Ukraina bằng cách bắt phải chết đói, vì họ chống lại việc cưỡng bức tập thể hóa và bị đe dọa tước quyền tư hữu ruộng đất. Số người chết vì nạn đói được ước tính khoảng từ 3 đến 10 triệu người. Về sự kinh hoàng của cuộc Cách Mạng Tháng 10 và sản phẩm của nó là các chế độ cộng sản, tác giả S.Courtois, cùng với mười tác giả khác như N.Werth, J.P. Panné, A. Paczkovski… trong cuốn sách tựa đề “Khủng Bố Đỏ“ đã đưa ra con số tổng kết là ít nhất đã có khoảng 100 triệu người bị các chế độ cộng sản tàn sát kể từ Cách Mạng Tháng 10 Nga đến 1989 ở Afghanistan; từ những cuộc thanh trừng của Stalin trong thập niên 1930, đến các cuộc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc, Việt nam; từ cuộc Cách mạng Đại Nhảy Vọt“, Cách mạng Văn hoá ở nước Tàu, đến Pol Pot ở Cambốt, Mengistu ở Ethopie, tàn sát Rwanda,... Trong đó riêng tại Nga, các nhà sử học ước tính có khoảng từ 20 đến 40 triệu người bị chế độ của Stalin giết chết trong các trại tập trung và các nhà tù thời Xô-Viết trước đây. Nếu so với chế độ Phátxít với 25 triệu người bị giết, thì nạn nhân bị chết dưới các chế độ cộng sản lớn hơn gấp 4 lần. Trong bảng “the Greatest Monsters“ (http://www.filibustercartoons.com/m...) xếp hạng thứ tự những nhà độc tài giết nhiều người nhất thì các lãnh tụ Cộng Sản nổi tiếng đều có tên. Như đã đề cập ở phần Quốc Tế Cộng Sản, khi Liên Xô xuất cảng Chủ nghĩa cộng sản sang các nước khác qua hình thức áp đặt (như ở Đông Âu) hoặc do một số cán bộ cộng sản địa phương mang về (như tại các nước Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ, Phi Châu), thì các đảng công sản tại các nơi đó đều rập khuôn theo mô thức của Lenin thực hành từ những ngày đầu cuộc Cách Mạng Tháng 10. Đó là:  Cướp chính quyền bằng bạo lực;  Đàn áp, khủng bố, giết chóc, thanh trừng,… để tóm thu quyền lực;  Bần cùng hóa, nô lệ hóa, công cụ hóa người dân để phục vụ cho một thiểu số cầm quyền nhân danh xây dựng một xã hội đại đồng không tưởng. Với Việt Nam thì ông Hồ Chí Minh khi vớ được ”Đề Cương về Các Nước Thuộc Điạ” của Lenin đã mừng như “người sắp chết khát trong sa mạc tìm được nước uống” và ông ta đã rước chủ nghĩa cộng sản về nước ta. Tính chất tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế của ông Hồ Chí Minh được thể hiện qua một câu của ông ta trong bộ Hồ Chí Minh Toàn Tập nói về việc ông đã hoàn thành chỉ thị của Đệ Tam Quốc Tế khi đưa “cách mạng” về Đông Dương. Tương lai nào cho Cách Mạng Tháng 10? Sau khi các chế độ cộng sản Đông Âu và Liên xô sụp đổ vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, hàng trăm triệu người dân các nước Đông Âu và Liên xô cũ đã dần dần phục hồi lại vai trò làm chủ và quyền tự quyết cho vận mệnh của mình. Đến nay, sau 23 năm canh tân và xây dựng, tuy còn một số nước vẫn chưa thể tẩy xóa những dấu vết di hại sau mấy mươi năm dưới ách cộng sản độc tài, nhưng họ đã vượt qua được rất nhiều khó khăn mọi mặt, để từ một xã hội mà tất cả là công cụ của cổ máy nhà nước phục hồi trở lại xã hội công dân. Và nhờ có tự do ngôn luận, tự do thông tin v.v... người dân các nước Đông Âu đã từng bước gạn lọc được để có một chính quyền của dân và vì dân đúng nghĩa. Đây là giai đoạn học cách sống và sử dụng các phương tiện dân chủ phải đi qua của mọi dân tộc vừa thoát ách độc tài. Hầu hết các nước Đông Âu như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Đông Đức, Hungary, Bulgary, Albania,... đều đã có nền dân chủ vững chắc, nền kinh tế chan hòa với Âu Châu và thế giới. Nhưng có lẽ thành công hơn cả là đã đem lại công bình và công lý cho mọi công dân qua những thay đổi xã hội một cách ôn hòa. Cộng Sản là tai họa kinh hoàng cho cả nhân loại trong thế kỷ qua! Đây là điều mà người ta không thể chối cãi. Chính vì thế mà nay nhân loại không chỉ bỏ vào đống rác lịch sử mà còn dạy các thế hệ tương lai về loại "tai họa giết người nhiều nhất" này của thế kỷ 20. Năm nay, trước những ngày kỷ niệm Cách Mạng Tháng 10 thì ngẫu nhiên lại xẩy ra những hiện tượng đáng suy ngẫm về tương lai của cuộc cách mạng này. Quan trọng nhất có lẽ phải kể đến việc đảng CS Trung Quốc đã vứt bỏ chủ nghĩa Marx – Lenin trong cương lĩnh của họ ngay trước những ngày đại hội đảng lần thứ 18 sắp diễn ra. Ở Bắc Hàn, người ta đã tháo gỡ bức chân dung vĩ đại của Marx và Lenin từng ngự trị ở công trường Kim Nhật Thành, Bình Nhưỡng, từ khi chế độ cộng sản lên cầm quyền đến nay. Tượng Lenin ở Ulan-Bator, thủ đô Mông Cổ, cũng vừa được kéo xuống vào tháng trước. Ở Nga, hôm 30 tháng 10 (ngày tù nhân chính trị dưới thời Sô Viết) các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền tại Nga đã đứng ra tổ chức lễ tưởng niệm cho hàng triệu nạn nhân dưới thời Liên Xô bị bắn, bị lưu đày hay bị đưa vào các trại cải tạo. Cũng ở Nga, tại thành phố Boulouvo, ngoại ô Mạc Tư Khoa, các buổi cầu nguyện chung đã được tổ chức cho 20.000 người đã bị xử tử và chôn tập thể chỉ riêng tại nhà tù của thành phố này. Trong khi chủ nghĩa Marx – Lenin bị chôn vùi ngay chính quê hương sản sinh ra nó, thì khốn khổ cho dân tộc Việt Nam vẫn tiếp tục phải ôm đống rác rưởi đó. Mặc dù chính Marx từng nói: “Chúng tôi không có ý định đoán định tương lai một cách giáo điều mà mong muốn dùng phương cách phê phán thế giới cũ, để tìm được thế giới mới. Việc kiến tạo và tuyên bố một lần và mãi mãi những giải đáp cho các vấn đề của mai sau không phải là việc của chúng tôi”. Và “Ngay khi viết học thuyết về chủ nghĩa tư bản, qui luật giá trị thặng dư, qui luật phản ứng của giai cấp công nhân bị bóc lột… ở đầu thế kỷ 19 Mác và cả Anghen đều cho công trình của mình chỉ như một thứ dự báo. Nó chỉ phù hợp với thời điểm ấy, chứ không thể phù hợp với tất cả mọi thời điểm trước và sau nó.” (2) Thế nhưng, lãnh đạo đảng CSVN lại vẫn coi học thuyết Mác là bất di bất dịch, là kinh điển … của mọi thời đại! Thậm chí tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng còn sang tận Cuba để rao giảng những thứ này, và tượng Lenin vẫn sừng sững ở vườn hoa Canh Nông cũ để dân gian có bài thơ mỉa mai: “Lênin ông ở nước Nga. Cớ sao ông đến vườn hoa nước này? Ông ngửng mặt, ông chỉ tay. Xã hội chủ nghĩa nước này còn lâu (3) Hai thập niên trước đây “tiến sĩ sinh học Hà Sĩ Phu viết tiểu luận "Dắt tay nhau đi dưới những tấm biển chỉ đường của trí tuệ". Bằng lý luận khoa học sắc sảo, ông đã vạch ra rằng động lực phát triển của xã hội là trí tuệ chứ không phải là đấu tranh giai cấp như luận điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin mà hàng triệu tín đồ cộng sản trên thế giới đang mê muội tôn sùng (4). Không lâu sau đó những khẩu hiệu “chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch”, “Cách Mạng Tháng 10 vĩ đại muôn năm”, v.v...suốt mấy chục năm được giăng đầy đường cùng với các lễ lạc hội hè đình đám kỷ niệm thật trọng thể Cách Mạng Tháng 10 đã âm thầm biến mất. Thế nhưng, ở đầu thập niên thứ 2 của thế kỷ 21, các lãnh đạo Việt Nam vẫn nhẫn tâm tiếp tục ra lệnh nhồi nhét chủ nghĩa Mác-Lê vào đầu thanh niên sinh viên; vẫn lạnh lùng xiềng bước tiến của đất nước bằng “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”; và vẫn nghiến răng bóp cổ cả dân tộc bằng “nhà nước chuyên chính”. ============= Tham khảo: 1. Minh Đức, “21 Điều Lệ để được gia nhập Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản”, http://minhduc7.blogspot.ca/2012/08... 2. Hoàng Lại Giang, “Đừng tiếc nuối những gì mà loài người đã loại bỏ đi!” http://anhbasam.wordpress.com/2011/... 3. Bùi Tín, “Mặt Thật”. 4. Blog Huỳnh Ngọc Chênh, “Dắt Tay Nhau Đi...” http://huynhngocchenh.blogspot.ca/p...
......

Dân chủ, bầu cử, và không khí chính trị

Cả thế giới nín thở theo dõi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Thậm chí rất nhiều người trong số đó thiếu sự quan tâm thật sự với cuộc bầu cử ngay trên đất nước mình! Liệu đó có phải là điều kỳ lạ? Dân chủ và bầu cử Dân chủ, hiểu theo ý nghĩa nguyên thủy từ nơi mà khái niệm này được sinh ra – nhà nước Athens thế kỷ 4-5 trước Công nguyên – có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân. Từ dân chủ trong tiếng Việt là từ Hán Việt, có thể hiểu một cách đơn giản theo ý nghĩa chiết tự của nó là chủ quyền thuộc về nhân dân. Trong đời sống, chúng ta nôm na hóa nó thành “dân làm chủ”.Hầu như tất cả các chế độ xã hội trong lịch sử theo thế quyền đều tự cho mình là dân chủ. Vì ai nắm quyền lực cũng đều tự xưng rằng mình nắm quyền là chính đáng. Nếu không nhân danh thần quyền (nắm quyền theo ý Chúa hoặc ý Trời), thì tất nhiên là phải theo ý nguyện của nhân dân. Nhưng làm thế nào để quyền lực thật sự thuộc về nhân dân, để dân thật sự làm chủ thì lại là cả một hệ thống triết lý và tổ chức chính trị. Trong hình thức lý tưởng, dân chủ nghĩa là tất cả mọi người cùng thảo luận, cùng biểu quyết để ra quyết định chung cho cộng đồng, chính là dân chủ trực tiếp. Nhưng trong thực tế nhân loại, “sân khấu” đông nhất để tụ họp chỉ có chừng 100 ngàn chỗ ngồi, là vài sân vận động lớn nhất thế giới chứ không phải là các quảng trường chính trị. Nếu các quảng trường có tới 100 ngàn chỗ có thể ngồi, thì đó chỉ là nơi tụ họp để biểu tình chứ không phải có chức năng thảo luận và biểu quyết, vì không thể tổ chức và điều phối cho 100 ngàn người cùng thảo luận. Lịch sử hiện đại lại không có vị thế cho quốc gia dưới 100 ngàn dân. Vì thế, dân chủ trực tiếp ở quy mô quốc gia là không tồn tại. Hình thức thay thế khả dĩ nhất là dân chủ gián tiếp hay dân chủ đại diện, ở đó, người dân bầu ra các đại biểu đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định chung cho cộng đồng. Đó là các dân biểu. Trong các chế độ theo mô hình Tổng thống như nước Mỹ, người dân còn trực tiếp bầu ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Các dân biểu sẽ thảo luận và ra quyết định về luật và chính sách. Trong các chế độ theo mô hình Nghị viện, các dân biểu còn bầu chọn ra người đứng đầu cơ quan hành pháp. Bầu cử và không khí chính trị Như vậy, bầu cử chính là hành vi quan trọng nhất trong một chế độ dân chủ. Vì nó là điểm mấu chốt cho việc người dân được làm chủ, trong mô hình dân chủ gián tiếp, khi người dân chọn ra những người đại diện cho mình để thảo luận và ra quyết định đời sống chung của cộng đồng. Nhưng tổ chức bầu cử như thế nào để người dân được lựa chọn đúng người mà họ muốn làm đại diện cho mình là việc quan trọng không kém. Thứ nhất, cuộc bầu cử phải bảo đảm rằng nó tạo cơ hội cho tất cả các ứng viên có ý nguyện đại diện và phục vụ cho cộng đồng. Một cuộc bầu cử phản dân chủ thì tìm cách loại những ứng viên tiềm năng bằng cách đặt thêm điều kiện, hoặc ngụy tạo các lý do để loại bỏ bớt ứng viên. Thường thì mọi sự sắp đặt loại bớt ứng viên đều có bàn tay của chính quyền đương nhiệm, vì con người có khuynh hướng níu kéo quyền lực. Để loại bỏ can thiệp của chính quyền đương nhiệm, cách duy nhất là phải có Ủy ban bầu cử độc lập. Thứ hai, cử tri phải biết ứng viên là ai. Không thể chỉ là hồ sơ khô khốc về học vị, tiểu sử chính trị, và chức vụ hiện tại. Chức vụ hiện tại đương nhiên là lợi thế cho các quan chức đương nhiệm. Hầu hết các nền dân chủ quy định bắt buộc ứng viên phải cư trú ở địa bàn tranh cử, và nhiều khi công khai cả tài sản, thu nhập, gia đình, bên cạnh quá trình công tác chính trị và cộng đồng. Đó vừa là cách để cử tri hiểu rõ ứng viên là ai, không chỉ trên phương diện chính trị mà cả trên phương diện con người – cơ sở của lòng tin vào ứng viên để lựa chọn. Thứ ba, khuynh hướng chính trị của ứng viên. Các đảng phái chính trị tự nó đã có các khuynh hướng chính trị, thông qua cương lĩnh. Cử tri không chỉ bầu cho ứng viên – con người cụ thể mà còn bầu cho chính đảng đó (điều này có thể khác ở những nơi một đảng nắm vai trò lãnh đạo, bởi họ không cần cạnh tranh). Thứ tư, dự án của ứng viên hoặc chính đảng. Đó là những mục tiêu, chương trình hành động của ứng viên hoặc chính đảng. Cử tri chỉ có thể lựa chọn đúng ứng viên đại diện cho mình khi mối quan tâm của cử tri chính là mục tiêu của các ứng viên. Và mục tiêu đó chỉ thuyết phục được cử tri khi nó có kế hoạch, có biện pháp để thực hiện một cách khả thi. Chính khuynh hướng và dự án chính trị làm cho bầu cử thoát khỏi ý nghĩa như là sự trình diễn hình ảnh nhân vật, hay cuộc thi diễn xuất trên sân khấu điện ảnh. Chúng ta vẫn hay nhìn nhận cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ như cuộc trình diễn của Hollywood, nhưng chưa từng có siêu sao điện ảnh nào đắc cử Tổng thống Mỹ. Chỉ có một người duy nhất từng là diễn viên, nhưng lại là diễn viên hạng hai. Cuộc thảo luận về các khuynh hướng, dự án chính trị chính là yếu tố làm nóng không khí chính trị của các xã hội dân chủ. Thông qua thảo luận, người dân hiểu rõ hơn về tổ chức chính trị, sự vận hành của hệ thống chính trị, về các đảng phái, về các ứng viên, về dự án và tính khả thi của dự án. Nếu bản thân người dân không hiểu, họ sẽ được “hỗ trợ” từ đối thủ chính trị của ứng viên. Vì khi cuộc bầu cử là cuộc cạnh tranh giữa các đảng phái, nếu một đảng chỉ ra điểm yếu của đối thủ thì đảng đó có thêm cơ hội thắng cử. Khi cử tri hiểu rõ những điều đó, lá phiếu của họ sẽ chính xác hơn. Tất nhiên, cuộc thảo luận đó không thể thiếu các cơ quan truyền thông. Nó không chỉ bộc lộ quan điểm của mình mà còn là diễn đàn để các bên thảo luận. Dù với vai trò nào, truyền thông có khả năng tác động tới kết quả bầu cử. Nếu truyền thông nằm trong tay chính phủ đương nhiệm, về nguyên tắc khó có một cuộc bầu cử công bằng. Một cuộc bầu cử đáp ứng đủ những yêu cầu trên đây cũng là một cuộc bầu cử tốn kém về thời gian và tiền bạc. Như cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới đây tiêu tốn tới 6 tỷ USD. Về bản chất, số tiền đó không mất đi, mà chỉ là sự luân chuyển giữa các thành phần của xã hội Mỹ. Đổi lại, nó giúp người dân Mỹ lựa chọn đúng ứng viên đáp ứng mong mỏi của mình trong một cuộc cạnh tranh bình đẳng giữa các ứng viên. Đó là lý do mà các cuộc bầu cử ở Mỹ luôn được hâm nóng trong thời gian dài, được theo dõi sát sao trong thời gian bầu cử bởi ngay cả những cư dân ngoài nước Mỹ. Vì không ai biết trước ý chí của nhân dân, dù có vô số cuộc thăm dò xã hội học. Nó trái ngược với những cuộc “bầu cử” mà người chiến thắng, chính đảng chiến thắng được biết trước, thậm chí được sắp đặt trước, nên tất nhiên cũng xứng đáng được quan tâm hơn. Hồng Ngọc   http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/sukien/95938/dan-chu--bau-cu--va-khong-khi-chinh-tri.html  
......

Căng thẳng Biển Đông gia tăng, ngư dân hứng chịu

Việt Long, theo AFP 03.11.2012 “Bọn họ có súng. Họ chĩa súng buộc chúng tôi dồn ra phía mũi tàu, rồi lên tàu và bắt giữ chúng tôi.” Ông Trần Hiển nói. Ông là người bị bắt cùng với 10 ngư dân trên chiếc tàu cá hồi tháng 3 ở gần quần đảo Hoàng Sa, và bị giam 49 ngày. “Đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời lúc tôi nằm trong nhà tù Trung Quốc.” Người thuyền trưởng 33 tuổi nói. Đảo Lý Sơn, Việt Nam – Lúc lính tuần duyên vũ trang của Trung Quốc phát hiện chiếc tàu cá bằng gỗ của ngư dân Trần Hiển trong hải phận tranh chấp, họ bắt ngay chiếc tàu, bắt đi toàn thể ngư dân trên tàu, tống giam thuyền trưởng Hiển.  Nhiều thế hệ người dân đảo Lý Sơn Việt Nam đã khinh thường bão tố cùng nhiều mối hiểm nguy khác để đem cho được cá về nhà, nhưng nay lại phải đấu tranh với lực lượng tuần duyên của Bắc Kinh phái tới để khẳng định tuyên bố chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của họ. Lướt sóng ra khơi với lòng yêu nước cùng với sự thôi thúc phải mạo hiểm thêm nữa trên những dặm khơi cho cá đầy thuyền, những hải đội ngư thuyền châu Á càng ngày càng tiến xa thêm ra tiền tuyến trên sóng nước của vùng biển Á Đông, với mối căng thẳng càng lúc càng tăng vì giành nhau chủ quyền lãnh hải. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã khởi sự tuần tiễu hung hăng quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong vòng tranhchấp ở biển Nam Trung Hoa, mà Việt Nam gọi là biển Đông. Trung Quốc sử dụng những tàu tuần cùng với lệnh cấm đánh bắt để rào chắn tàu kéo lưới của các nước khác từ bên ngoài vùng biển ấy. Đó là cáo buộc của các viên chức và ngư dân Việt Nam. “Bọn họ có súng. Họ chĩa súng buộc chúng tôi dồn ra phía mũi tàu, rồi lên tàu và bắt giữ chúng tôi.” Ông Trần Hiển nói. Ông là người bị bắt cùng với 10 ngư dân trên chiếc tàu cá hồi tháng 3 ở gần quần đảo Hoàng Sa, và bị giam 49 ngày. “Đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời lúc tôi nằm trong nhà tù Trung Quốc.”Người thuyền trưởng 33 tuổi nói.“Họ lấy mất cả bộ lưới và dụng cụ định vị GPS của tôi. Nay thì tôi ngập trong nợ nần.” Câu chuyện của anh Hiển chẳng lạ lùng gì – anh và ngư phủ của anh bị bắt giữ cùng ngày với các ngư phủ của một tàu khác. Cả hai thuyền trưởng cùng bị đánh đập, và “không lúc nào có đủ thực phẩm để ăn uống” cho 21 người ngư phủ, anh Hiển nói. Hà Nội nói hằng trăm đoàn ngư dân của các tàu cá đã bị nhà cầm quyền Trung Quốc bắt giữ gần Hoàng Sa và Trường Sa trong mấy năm gần đây. Khu vực cận duyên đã cạn kiệt vì đánh bắt quá mức, đoàn ngư dân gia tăng đông đảo hơn bao giờ hết của Lý Sơn – hòn đảo cách bờ biển Việt Nam 30 km –đành trông cậy vào những chuyến ra khơi đến những vùng đảo tranh chấp để hốt những mẻ lưới đầy cá cơm, cá ngừ, cá nục. Quân tốt đen trong trận chiến lãnh hải Hà Nội công bố “chủ quyền không thể tranh cãi” trên những chuỗi đảo mang tên địa phương là Trường Sa và Hoàng Sa, cách bờ biển Việt Nam và Trung Quốc mấy trăm km. Và Hà Nội dùng những ngư dân, ít nhất cũng là sử dụng gián tiếp, để xác định chủ quyền như đã công bố - bác bỏ mọi mưu đồ của Trung Quốc nhằm hạn chế những tàu lưới của Việt Nam, như lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm của Trung Quốc là một ví dụ. “Chính phủ ta khuyến khích chúng tôi đánh cá ở khu vực Hoàng Sa và Trường Sa vì ở đó có nhiều cá và cũng là khu vực đánh bắt của Việt Nam trong nhiều năm nay.” Ông Lê Khuẩn nói với AFP trong ngôi nhà nhỏ của ông trên đảo Lý Sơn. Các nước trong khu vực đều có chính sách khuyến khích đánh bắt xa bờ để làm giảm áp lực cạn tài nguyên nơi vùng cận duyên, đồng thời gia tăng sự hiện diện của họ trong vùng lãnh hải công bố, một nhân viên cao cấp về ngư nghiệp của Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc nói. “Tất nhiên hoạt động trong vùng lãnh hải có tranh chấp nghĩa là phải chạm trán với các nước khác nhiều hơn” Ông Simon Funge-Smith nói với AFP thêm rằng việc đó cũng làm tăng thêm “áp lực đáng kể” lên khu dự trữ cá của thiên nhiên, đồng thời gia tăng cuộc cạnh tranh giữa những đoàn tàu cá thường là được các chính phủ tài trợ. Bắc Kinh đã xâm chiếm Hoàng sa, mà họ gọi là Tây Sa theo tiếng Trung Quốc, sau một trận chiến ngắn ngủi với Nam Việt Nam vào năm 1974 . Trung Quốc cũng giành thêm cả chủ quyền quần đảo Trường Sa, đồng thời Đài Loan, Malaysia, Philippines và Brunei cùng nhau giành chủ quyền một phần hay toàn phần quần đảo này. Bắc Kinh thì giành trọn vùng biển mà họ coi là lãnh hải lịch sử, bao gồm toàn bộ diện tích biển Đông. Khu vực này được xem là nơi tàng trữ những trữ lượng dầu khí khổng lồ, cũng là vị trí của những ngư trường quan trọng. Càng ngày càng thêm nhiều tàu ngư chính của Trung Quốc và ngư phủ của đủ mọi quốc tịch ngang dọc trong hải phận biển Đông. Mối căng thẳng về ngoại giao quanh những quần đảo tranh chấp ngày càng gia tăng. Giới quan sát cảnh báo sự leo thang có thể xảy ra. “Thực sự có nguy cơ… của một hành động quá đáng từ bất cứ bên nào trong hai phía – chẳng hạn như một tàu cá bị một tàu tuần bắn vào” Đó là lời chuyên viên an ninh hàng hải Sam Bateman thuộc Đại học kỹ thuật Nanyang của Singapore. Ông nói thêm “Cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đều trở nên có tinh thần quốc gia cao độ khi phản ứng bảo vệ chủ quyền lãnh thổ họ công bố.” Tinh thần yêu nước tăng cao cũng sẽ khiến mỗi bên khó lùi bước, trong khi các chính phủ buộc lòng phải ăn miếng trả miếng, người chuyên viên nói thêm. Ngư dân Philippines cũng than phiền về sự hiếp đáp của những nhân viên Trung Quốc có vũ trang, ở gần đá Scarborough, khoảng 230 km từ bờ biển Philippines. Việc tranh giành chủ quyền đã bùng nổ thành tranh chấp lớn về ngoại giao vào tháng tư, khi Manila lên án ngư dân Trung Quốc đánh bắt những giống hải sản quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nơi này. Philippines toan bắt giữ những ngư dân này nhưng đã bị hai tàu ngư chính Trung Quốc chạy tới hiện trường ngăn cản. Và tháng trước, tuần duyên Nam Hàn cũng bắt giữ 23 ngư dân Trung Quốc ở biển Hoàng Hải sau một cuộc xung đột bằng võ lực khiến một ngư dân Trung Quốc thiệt mạng. Bị Trung Quốc bắt là điều đáng sợ nhất. Cộng đồng ngư dân nhỏ bé ở đảo Lý Sơn như bị trúng phải một cơn choáng khi thấy mình ở ngay trung tâm một vụ tranh chấp quốc tế, chỉ vì đánh bắt cá tôm ở những khu vực mà họ từng hành nghề trong bao nhiêu thế hệ đã qua. Một viên chức địa phưong nói với AFP. “Ngư dân nơi đây coi vùng đánh bắt Trường Sa và Hoàng Sa như vườn ruộng nhà mình.” Viên chức Phạm Hoàng Linh nói với AFP trong một cuộc phỏng vấn diễn ra tại một ngôi nhà chính phủ, màu sơn vàng đã tróc, toạ lạc trên hòn đảo, trong lúc loa phóng thanh oang oang một chưong trình tuyên truyền thường nhật của Hà Nội, mỗi ngày phát hai lần. Ông Linh nói bị Trung Quốc bắt là “nỗi sợ kinh hoàng nhất” của khoảng 3000 gia đình ngư dân trên đảo, vì không có thu nhập nhờ đánh được tôm cá- khoảng 100 đến 200 đô la cho mỗi người sau một chuyến ra khơi - nhiều gia đình đứng trước nguy cơ nghèo đói. “Chúng tôi gắng tập luyện cho ngư dân của mình tránh đụng chạm. Nhưng chúng tôi đang khai thác vùng đánh bắt cá của chính mình, nên không có lý do gì phải sợ hãi.” Ông Linh, cũng là dân Lý Sơn, nói với AFP như vậy. Nếu không tìm ra một giải pháp, có vẻ như không thể tránh khỏi những cuộc đối đầu thêm nữa khi người ngư dân Lý Sơn nói họ vẫn phải tiếp tục ra sức khai thác vùng biển tranh chấp. “Đó là nguồn thu nhập duy nhất của chúng tôi. Đó là lãnh thổ, lãnh hải của chúng tôi – chúng tôi sẽ bảo vệ chủ quyền, sẽ tiếp tục đánh bắt hải sản.” Ngư dân Lê Khuẩn kết luận.  
......

Bắc Kinh tiếp tục cản trở ‘Bộ Quy Tắc Ứng Xử Biển Ðông’

Một ‘Bộ Quy Tắc Ứng Xử trên biển Ðông’ để tránh xung đột võ trang sẽ không thể có nổi trong vòng một hai năm nữa. Theo lời của nhiều nhà ngoại giao và truyền thông quốc tế, thì cuộc họp ASEAN thảo luận về Bộ Quy Tắc Ứng Xử (Code Of Conduct - viết tắt là COC) đang diễn ra ở Pattaya, Thái Lan, không đem lại kết quả gì vì Trung Quốc dở trò cản trở . Ông Phạm Quang Vinh, thứ trưởng ngoại giao CSVN cho biết các nước ASEAN muốn thảo luận để tiến tới một bộ COC càng sớm càng tốt nhưng cả khối vấp phải sự chống đối kịch liệt của Bắc Kinh. Trung Quốc chống lại các đề nghị về một Bộ Quy Tắc Ứng Xử đa phương trên biển Ðông mà chỉ muốn thảo luận tay đôi với từng nước tranh chấp để dễ lấy thế nước lớn chèn ép. Nói với đài phát thanh Úc ABC, tổng thư ký ASEAN Surin Pitsuwan nói rõ hơn. Ông cho rằng hy vọng ký kết một bộ COC vào kỳ họp thượng đỉnh ASEAN vào tháng 11 này là điều khó xảy đến. Mười năm trước, các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký một Bản Tuyên Bố Ứng Xử (Declaration of Conduct) đồng ý tiến tới một bản quy ước ứng xử để tránh xung đột võ trang trên biển Ðông nhưng từ đó đến nay, COC vẫn chỉ thấy qua những lời kêu gọi, thúc giục của các nước nhỏ phía Nam trong khi Bắc Kinh thì tuyên bố chỉ thảo luận khi điều kiện “chín mùi”. Trên thực tế thì cản trở và gây chia rẽ nhưng với những lời tuyên bố ngoại giao, Bắc Kinh luôn mồm kêu gọi sớm có COC. Nhận định về thái độ của Bắc Kinh, ông Carl Thayer, chuyên viên về các vấn đề Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc cho rằng lập trường của Bắc Kinh sẽ không thay đổi cho tới khi Trung Quốc có lãnh tụ mới lên cầm quyền. Không một lãnh tụ nào của Bắc Kinh muốn thỏa hiệp gì vào lúc này vì như thế sẽ bị coi là yếu.
......

Trung Quốc bắt đầu tìm căn cứ cho "đường lưỡi bò" phi pháp

Hoàn Cầu thời báo ngày 24/10 đưa tin, một nhóm học giả Trung Quốc và Đài Loan sẽ tổ chức hội thảo nghiên cứu về cái gọi là “đường biên giới biển” và các vấn đề liên quan đến Biển Đông. Trong một cuộc họp báo hôm thứ Ba 23.10, giới thiệu Báo cáo Biển Đông 2011, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Hải, ông Ngô Sĩ Tồn tuyên bố: “Nhiệm vụ quan trọng nhất bây giờ là bắt đầu nghiên cứu lý thuyết về đường chữ U, để đưa ra lời giải thích về mặt pháp lý cho cộng đồng quốc tế hiểu về đường chữ U trong vòng một năm cùng với thông tin hướng dẫn và các tuyên bố đáp lại những quan ngại của cộng đồng quốc tế.” Đường chữ U, đường "lưỡi bò" hay còn gọi là đường 9 đoạn này được Trung Quốc tự chế ra và ngang ngược  tuyên bố là “đường biên giới” xác định chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trên gần như toàn bộ Biển Đông mà không dựa vào bất kỳ căn cứ pháp lý nào. Ngô Sĩ Tồn cũng cho rằng tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông là vấn đề mà cả Trung Quốc và Đài Loan có chung lợi ích. Báo cáo Biển Đông 2011 do hơn 10 học giả của cả Trung Quốc và Đài Loan soạn thảo ra kêu gọi hợp tác tích cực, thực tiễn và vững chắc giữa Trung Quốc và Đài Loan đối với các vấn đề Biển Đông nhằm đem lại lợi ích cho dân tộc Trung Hoa. Người đói khổ ở miền núi phía Bắc Việt Nam tăng vọt Theo Báo Người Lao Ðộng, sau 12 năm thực hiện Chương trình 135, bao gồm các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, “cải thiện và nâng cao mức sống người dân” để nhằm làm giảm số gia đình nghèo đói tại vùng núi phía Bắc, nhà nước CS Việt Nam đã không đạt được mục tiêu “giảm nghèo.” và người dân thiểu số ở các vùng núi miền Bắc vẫn sống trong tình trạng “cơm ăn không đủ no, áo mặc không đủ ấm.” Các viên chức của Vụ Chính Sách Dân Tộc còn xác nhận rằng các vùng dân cư thiểu số tại xã Phú Mỡ thuộc huyện Ðồng Xuân, tỉnh Phú Yên; xã Trà Xinh thuộc huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi; xã Ngư Thủy Chung thuộc huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình... đã bị đói. Nhiều vùng khác như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai... cũng đã bắt đầu bị nạn đói đe dọa. Một viên chức của Vụ Chính Sách Dân Tộc thú nhận: “Nhiều thôn, nhiều bản một số xã thuộc tỉnh Cao Bằng không có đất sản xuất, thiếu cả nước tắm giặt. Người dân khổ đến mức tôi không biết dùng từ ngữ gì để diễn tả.” Liên quan đến sự thiếu đói của người dân, theo một tin khác cho biết, mặc dù Việt Nam đang dẫn đầu thế giới về xuất khẩu gạo nhưng nạn thiếu đói vẫn xảy ra ở nhiều nơi trong mùa giáp hạt. Theo tin này, 11 huyện miền núi và trung du của tỉnh Quảng Nam đang có 50.000 hộ dân tương đương 200.000 nhân khẩu có nguy cơ thiếu đói. Những hộ dân này được cho biết là nằm trong khu vực có nguy cơ bị sạt lở và chia cắt, cô lập trong mùa mưa bão. Phải chăng vỡ đập thủy điện Đak Rông 3 là... kế hoạch của chủ đầu tư Báo Lao Động ngày 24.10.2012 đăng một bản tin, rằng Cty cổ phần thủy điện Trường Sơn - chủ đầu tư dự án thủy điện Đak Rông 3 (Quảng Trị) báo cáo với đoàn công tác của Cục Giám định - Bộ Xây dựng, là phần đập bị vỡ trôi hôm 7.10 không có trong bản vẽ thiết kế (!). Cùng với thông tin này là khẳng định việc “phá tường ngăn nước” là một trong những công việc “nằm trong kế hoạch của chủ đầu tư" đã và đang khiến cho dư luận ở địa phương mất niềm tin đối với công trình thủy điện hàng trăm tỉ đồng (vốn vay) ''treo'' trên dòng sông này. Bà Hồ Thị Hoa - Phó Chủ tịch UBND xã Tà Long, huyện Đak Rông, nơi có đập thủy điện Đak Rông 3 - nói: “Mưa rất to trong nhiều giờ liền đã khiến nước sông Đak Rông lên nhanh dữ dội. 13 hộ dân ở thôn Pa Hy của xã suýt chìm trong nước lòng hồ, nếu đập không vỡ. Trước đây, chủ đầu tư khảo sát nói tích nước không ảnh hưởng đến 13 hộ dân này, nhưng thực tế bây giờ ngăn đập xong, nước lên ngập hết đất đai, ao cá, hoa màu và còn có nguy cơ ngập cả nhà dân. Chủ đầu tư không bồi thường thiệt hại cho dân, không có kế hoạch di dời dân ra khỏi vùng ảnh hưởng lòng hồ. Xã nhiều lần mời họ đến làm việc, nhưng họ liên tục nói dối và coi thường dân. Sáng 7.10, mưa to, nước dâng cao, dân địa phương ai cũng thấy đập vỡ, nước xuống nhanh; thế mà Cty vẫn nói là Cty chủ động phá đập. Trước thông tin có trong báo cáo gửi UBND tỉnh QT rằng, một phần đập thủy điện Đak Rông 3 bị vỡ trôi hôm 7.10 là do chủ đầu tư tự phá, ông Trần Anh Tuấn – kỹ sư thủy lợi, Phó Văn phòng UBND tỉnh QT, người được Chủ tịch UBND tỉnh ủy quyền phát ngôn trong vụ vỡ đập thủy điện Đak Rông 3 - đã khẳng định: “Không thể nói rằng đập vỡ do tự phá được. Đập vỡ là do nước về mạnh hôm 7.10”.             Dư luận đang đặt ra nhiều nghi vấn về động cơ “phá đập nằm trong kế hoạch của chủ đầu tư”, đặc biệt khi đây là một công trình có mua bảo hiểm và chủ yếu sử dụng vốn vay và đồng thời, chủ đầu tư đã bán lại dự án cho một Cty khác.
......

Pages