VIỆT NAM

Bộ trưởng Công an Tô Lâm (trái) và cựu Bộ trưởng Bộ Truyền thông – Thông tin Trương Minh Tuấn. Ảnh trên mạng Thùy Dương - baotiengdan.com Kết luận điều tra vụ Mobifone mua AVG vừa mới công bố, cho ta cái nhìn toàn diện về tệ nạn tham nhũng đang hoành hoành trên đất nước Việt Nam. Rồi đây, khi thời gian lùi xa, AVG vẫn sẽ là vụ án lịch sử. Không chỉ ở quy mô, tầm vóc của tham nhũng, đưa và nhận hối lộ; không chỉ ở hậu quả khủng khiếp về kinh tế, chính trị, xã hội mà nó gây ra, AVG còn là vụ án được bày đặt công phu, có phân vai, có lớp lang rõ ràng. Có người tung, kẻ hứng nhịp nhàng, khẩn trương và đồng bộ. Những kẻ phạm tội hầu hết đều là những vị tai to, mặt lớn, giữ trọng trách trong guồng máy quản lý cao cấp. Hơn thế, biết là béo bở, biết là coi thường luật pháp nên mỗi bước đi đều được Son, Tuấn và đồng bọn tính toán kỹ lưỡng, xóa sạch dấu vết. Thậm chí khi có bảo bối công văn 418/BCA-TCAN ngày 9/3/2015 do Tô Lâm, Thứ trưởng, nay là Bộ trưởng Công an ký, thì tất cả chúng nó tưởng rằng xác chết AVG đã được đóng quan tài và đào sâu chôn chặt không ai có thể mò ra. Nhưng Nhân tính không bằng Trời tính. Ông Nguyễn Văn Tung (Có thể tên thật, có thể bí danh; có thể 1 người cũng có thể là nhóm người…) đã miệt mài, chịu khó thu nhập chứng cứ, tung lên mạng xã hội và gửi tới những người có trách nhiệm. Nhờ đó, Đảng, Nhà nước đã vạch trần bộ mặt thật lũ quan tham và lấy lại cho Nhân dân hàng chục ngàn tỷ trong túi bọn cướp ngày này. Công lao lớn nhất, phát hiện ra đại án AVG khó có thể nói ai khác ngoài ông Nguyễn Văn Tung. Giá mà có cơ chế nào đó để trích thưởng vài trăm tỷ, kể cả nghìn tỷ cho ông Tung cũng rất nên làm. Vì thông qua việc khen thưởng kịp thời, xứng đáng cho ông Tung, tự nó sẽ nhen lên ngọn lửa tố giác tội phạm tham nhũng gộc trên phạm vi quốc gia. Những kẻ quyền lực vô song, bất chấp luật pháp, cướp ngày của Nhân dân đã không thể ngờ rằng dù cơ chế còn lỏng lẻo, pháp luật còn nhiều sơ hở, bấp bênh, công lý thì gầy còm nhưng vẫn còn đó Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng kiên định và mưu lược, quyết tâm lôi ra ánh sáng vụ AVG. Không mưu lược sao có thể bóc dỡ từng lớp, từng lớp sai phạm đã được che chắn tinh vi của cả ê kíp được đào tạo bài bản để xóa dấu vết như thế. Không mưu lược, chắc chắn lạc đường vì toàn bộ vụ án đã mờ đặc sương khói và rất nhiều bẫy được chúng nó giăng ra. Sự nghiêm túc, kiên định của TBT, CTN Nguyễn Phú Trọng đã bẻ gãy ý chí, đã đập tan ý đồ cứu bồ (để cứu mình) của một bộ phận không nhỏ cán bộ cao cấp (Kể cả những người trong Bộ Chính trị, và UBKTTW). Từ đó vụ án mới được phanh phui. Giờ đây, theo kết luận điều tra vừa được công bố, một số đối tượng đã vào vòng tố tụng. Tài sản đã được thu hồi. Nhưng nếu chỉ có vậy thì vụ án xem chừng vẫn bỏ lọt tội phạm và bản án nếu có tuyên thì vẫn chỉ là một nửa sự thật. Điều mà chúng tôi muốn nhấn mạnh là vai trò hết sức quan trọng của Tô Lâm và Bộ Công an trong vụ án này. Sự thật, nếu không có Tô Lâm và mấy văn bản được nhóm tội phạm dùng như bảo bối thì vụ án không chắc đã xẩy ra. Thậm chí có thể nói không thể xẩy ra. Nếu có xẩy ra thì cũng không vất vả gian nan trong điều tra xét xử thế này. Tô Lâm và Bộ Công an đã làm gì? Xin thưa, đã làm sai chức năng nhiệm vụ, theo kết luận của Thanh tra Chính phủ. Mọi việc bắt đầu từ công văn 517 ngày 5/10/2014 của AVG gửi Bộ TTTT giả vờ đánh tiếng có đối tác nước ngoài (Cty 8206) Hong Kong chào giá AVG 700 Triệu USD, đặt cọc 10 triệu USD. Tiếp đó, Bộ TTTT gửi CV số 200, ngày 26/11/2014 cho Bộ Công an và Bộ Công an trả lời ngày 8/12/2014. Điểm đáng nói là Bộ Công an tuyệt nhiên không đã động gì về việc thực hư công ty 8206 Hong Kong cũng như giá cả và việc đã đặt cọc. Mà chỉ nói Bộ TTTT nên bán cho DNNN. Có vẻ như Bộ TTTT và Bộ CA đã được phím rằng Cty 8206 có liên quan tình báo Hoa nam… chẳng qua chỉ là câu chuyện làm quà mà thôi. Nếu phán đoán này là đúng thì Bộ CA và Bộ TTTT đã làm một việc vô cùng nguy hiểm, lừa đối Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Làm cho Giặc giả, tưởng là Giặc thật, Mai này giặc thật lại tưởng là giặc giả thì làm thế nào. Chưa hết, màn kịch đến hồi tung hứng hỏi giá giữa Bộ Công an và Bộ TTTT. Ở bước trước, Bộ Công an nói AVG muốn bán cổ phần thì phải bán cho DNNN. Thì lần này Bộ CA, dù biết AVG sẽ được đạo diễn để bán cho Mobifone và Bộ CA cũng biết rõ Mobifone sẽ được cổ phần hóa sớm. Nhưng Bộ Công an đáng lẽ phải làm đúng chức năng là ngăn chặn Bộ TTTT vì có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia thì lại đi làm việc không đúng chức năng là thẩm định giá. Theo đó Bộ Công an cho rằng giá mua đã thấp hơn giá định của các tổ chức định giá. (AVG năm 2015 chỉ là xác chết, thua lỗ, nợ nần cực lớn. Cho chưa chắc ai giám nhận. Nhưng qua bàn tay phù phép của chúng đã trở thành DN có giá trị tới 33.000 tỷ đồng (theo VCBS) hoặc 16.000 tỷ đồng (theo AMAX). Việc bộ TTTT cắc cớ hỏi giá Bộ Công an mà không hỏi bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài chính dẫn chúng ta đến suy luận dường như, trong phi vụ này, Bộ TTTT cánh hẩu với Bộ Công an hơn các Bộ ngành còn lại. Còn nữa, công văn số 418/BCA-TCAN. Đây là đỉnh cao của sự vô pháp. Hợp đồng mua bán và các tài liệu liên quan giữa AVG và Mobifone tuyệt đối không thể được xếp vào dánh mục tài liệu mật. Đây là Quy định của Bộ Công an. Vậy nhưng Thượng tướng, nay là Đại tướng Tô Lâm vẫn ký. Và chỉ chờ có vậy, ngày 21/12/2015, Trương Minh Tuấn phát hành quyết định 236 Phê duyệt dự án đầu tư, theo đó cho cho phép Mobifone mua 95 % cổ phần AVG với giá 8.900 tỷ đồng. Xin hỏi ông Tô Lâm, Ông là Giáo sư, tiến sỹ an ninh, nếu những hành vi nói trên chưa đủ cấu thành tội phạm thì từ trước đến nay và từ nay về sau ngành Công an và cá nhân ông cư xử thế nào với các hành vi tương tự? Ông đã từng và sẽ bỏ qua cho những ai vi phạm giống thế này không? Nếu kết thúc vụ này, ông vẫn vô can, Ông sẽ ăn nói với cán bộ chiến sỹ của mình như thế nào, bào chữa với Nhân dân thế nào? Một điểm mờ nữa cần lôi ra ánh sáng đó là số tiền đưa và nhận hối lộ. Vu án thất thoát hơn 7.000 tỷ mà hối lộ chỉ 3 – 4 triệu đô và tập trung vào mấy người đã bị bắt thì ba xạo quá. Không thể tin được. Xưa nay luật bất thành văn là 10%, 15%, 30%…; của đồng chia ba, của nhà chia đôi…Cơ quan điều tra cần phải cố gắng và công minh hơn nữa. Tập trung điều tra tiếp tội danh đưa và nhận hối lộ. Đừng vội bàn về chính sách hình sự đặc biệt nầy nọ. Và nếu Bộ Công an không điều tra được thì phải thay đổi cơ quan điều tra. Nên nhớ, mới đây Tướng Phạm Quý Ngọ, uy danh lẫy lừng là vậy nhưng mặt nạ cũng đã bị lật ngay tại phiên tòa xét xử Phạm Chí Dũng đó thôi. Khui ra vụ AVG, lấy lại tài sản cho Nhà nước và Nhân dân là thành công bước đầu. Tuy vậy, điều tra, truy tố, xét xử đúng người đúng tội, không oan sai, không bỏ lọt tội phạm trong vụ án này còn là đòi hỏi bức thiết hơn. Chỉ có như vậy, sự thật vụ án mới được phơi bày. Niềm tin của nhân dân đối với TBT, CTN Nguyễn Phú Trọng mới vững bền, trọn vẹn, thành quả công cuộc đốt lò mấy năm qua mới đi vào thực chất và mới chứng tỏ được rằng chống tham nhũng là không có vùng cấm. Cuối cùng là bài học rút ra. Giờ mà chong đèn rồi nghĩ lại, rồi tổng kết bài học thì có khi viết được cuốn sách dày cộp. Nhưng để làm gì, người viết thấy không cần thiết. Cái đọng lại nhất, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thuộc chính là vai trò của Nhân dân. Không có Nhân dân, xin thưa TBT, CTN Nguyễn Phú Trọng không thể phanh phui vụ án này. Hãy nhìn sự lúng túng, bế tắc; sự chậm trễ, chồng chéo của Thanh tra chính phủ, của cơ quan điều tra trước khi có chỉ đạo của UBKTTW thì rõ. Và vì thế, thay vì cứ ngồi nghe báo cáo về chống tự diễn biến, tự chuyển hóa hoặc lên mặt rao giảng đạo đức của một bộ phận cán bộ cao cấp thoái hóa biến chất thì xin hãy mở đường cho Nhân dân, động viên, trao cơ hội cho Nhân dân, lắng nghe và bảo bệ Nhân dân. Thúc đẩy dân chủ, công khai, minh bạch… Đó mới là then chốt của then chốt trong phòng chống tham nhũng.  
15.09.2019
Thùy Dương - baotiengdan.com
Nguyễn Quang Duy| Bạn đọc nhận xét “biết người, biết ta” nên không thể hy vọng vào thay đổi chính trị tại Việt Nam. Quả đúng nếu xem “ta” chỉ gồm vài tổ chức đấu tranh èo uột, chia năm xẻ bảy, chẳng ai phục ai,… còn cộng sản nắm quân đội, công an, nhân lực, tài lực đất nước. Nhưng nếu biết “ta” gồm những người cấp tiến muốn thay đổi chính trị, muốn hướng đến tự do, còn “người” là thành phần bảo thủ kềm hãm thay đổi thì rõ ràng một cuộc cách mạng cấp tiến đang diễn ra tại Việt Nam. Bài viết này giúp trả lời 2 câu hỏi của bạn đọc J. Trần: (1) Ai là người đi tiên phuông (tiên phong cách mạng)? và (2) Vũ khí nào tốt nhất để đi tiên phuông (tiên phong cách mạng)? Cấp tiến hải ngoại. Ở nước ngoài, người Việt hầu hết sống trong các nước tự do, được hưởng dân chủ nên đều mong Việt Nam có tự do. Những người trước đây đã sống, đã chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do, nay lại được sống ở các nước tự do, ao ước được thể hiện bằng hành động. Nhiều cộng đồng địa phương đã được hình thành, phát triển và đều có chung mục đích là hướng về một Việt Nam tự do. Năm 2008, Hà Nội cho thay đổi Luật Quốc tịch đòi người hải ngoại phải ghi danh giữ quốc tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Trong vòng 6 năm cho đến ngày 1/7/2014, chưa tới 6.000 trong số 4,5 triệu người ghi danh, nghĩa là chỉ hơn 0.1% người Việt hải ngoại muốn nhận Hà Nội làm đại diện cho họ và gia đình. Cấp tiến trong dân Ở trong nước mặc dù chưa có cuộc trưng cầu dân ý để có được con số chính xác về mức độ người dân muốn thay đổi thể chế, nhưng thực tế xã hội cho thấy tỷ lệ dân chúng muốn duy trì thể chế cộng sản cũng rất thấp không hơn gì con số 0.1%. Trong vòng 30 năm qua trong nước đã xuất hiện nhiều tổ chức dân sự hoạt động công khai, vô vụ lợi, với nhiều mục đích khác nhau, bao gồm các tổ chức tôn giáo, đồng hương, nghiệp đoàn, từ thiện, hướng đạo, giáo dục, truyền thông, nghiên cứu, môi trường, các câu lạc bộ, các nhóm thân hữu… Những tổ chức dân sự này ngày một mở rộng. Những người hoạt động dân sự đều có chung một mong muốn là Việt Nam thay đổi để bắt kịp thời đại. Nhiều nhóm dân sự âm thầm tổ chức hằng vạn cuộc biểu tình và đình công cho công nhân, cho nông dân mất đất, hay cho dân chúng đấu tranh đòi hỏi những quyền lợi thiết thực. Những dân nghèo thành thị, công nhân, nông dân làm không đủ ăn, những doanh nghiệp tư nhân, người buôn bán lẻ bị đối xử bất công, những người trẻ có học thức đều nhận ra những phi lý và bất công xã hội đều muốn thay đổi để đất nước tiến bộ. Trên các trang mạng xã hội ngày càng nhiều người thuộc nhiều tầng lớp, nghề nghiệp, tuổi tác, địa phương khác nhau đã công khai biểu lộ chính kiến bày tỏ mong muốn một xã hội tiến bộ, một đất nước tự do. Tất cả những người mong muốn thay đổi thể chế chính trị đều có thể được xem thuộc thành phần cấp tiến. Cấp tiến trong đảng Cộng sản… Văn kiện Đại hội 12, đảng Cộng sản nói rõ cán bộ đảng viên không còn tin vào con đường xã hội chủ nghĩa: "Không ít cán bộ, đảng viên có những biểu hiện dao động, mất phương hướng, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam." Đại Hội 13 sẽ đặt trọng tâm vào tình trạng cán bộ và đảng viên cộng sản đang thay đổi tư tưởng chính trị, đang tự diễn biến, tự chuyển hóa. Thay đổi tư tưởng từ bên trong và bên trên đảng Cộng sản chính là điều mà thành phần bảo thủ cầm quyền lo ngại nhất nên thường xuyên khuyến cáo lực lượng công an và quân đội không được để các lực lượng cấp tiến hình thành tổ chức chính trị đối lập. Trung cộng là mối đe dọa chủ quyền lãnh thổ lãnh hải Việt Nam, vì thế tâm lý của giới quân nhân là muốn xây dựng một thế đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ. Điều kiện cần và đủ để các cuộc cách mạng ở Đông Âu và Liên Xô thành công là Quân Đội trung lập hay gián tiếp ủng hộ và bảo vệ thành quả cách mạng. Ai thuộc thành phần bảo thủ? Bảo thủ bao gồm những thành phần được hưởng đặc quyền đặc lợi, thành phần này luôn kềm hãm mọi thay đổi nhằm duy trì thể chế cộng sản toàn trị, nhưng vì phân chia quyền lợi không đều nên đang xâu xé lẫn nhau. Đại Hội 12, phe cực kỳ bảo thủ công khai loại trừ đồng chí X, rồi mở chiến dịch đốt lò thanh trừng vây cánh chống đối ngay trong Bộ Chính Trị và Trung ương đảng Cộng sản. Nội bộ lãnh đạo cộng sản càng tranh ăn đấu đá lẫn nhau, dân chúng và đảng viên cấp thấp càng nhận ra nhu cầu phải thay đổi chính trị. Bởi thế không có gì là quá đáng nếu nhận định tỷ lệ dân Việt muốn duy trì thể chế cộng sản rất thấp con số có thể chỉ chừng 0.1%, nhưng có những lý do sẽ được bàn tới ở phần sau khiến cách mạng chưa bùng nổ. Đa nguyên hải ngoại… Có bạn đọc cho rằng thành phần chống cộng “cực đoan” ảnh hưởng tiêu cực đến công cuộc đấu tranh. Đấu tranh cho tự do là đấu tranh cho sự khác biệt giữa người với người. Những người biểu lộ công khai và rõ ràng quan điểm chống cộng có thể lại là những người tích cực nhất. Kinh nghiệm sống, chiến đấu bảo vệ miền Nam tự do buộc họ phải luôn đề cao cảnh giác cộng sản xâm nhập hay thành phần bán đứng cộng đồng. Có bạn lo ngại về việc tin giả, tin thất thiệt, tràn làn trên các diễn đàn, thì ngay cả truyền thông Tây Phương cũng đầy tin giả, tin thiếu kiểm chứng. Chấp nhận tự do ngôn luận là chấp nhận tin giả, tin sai sự thật, về lâu dài nó giúp bạn đọc cẩn thận chọn lọc thông tin. Có bạn cho biết tình trạng hải ngoại vô cùng bát nháo, không ai nghe ai,… nó lại thể hiện môi trường sinh hoạt đa nguyên hải ngoại, các sinh hoạt chính trị chính mạch Mỹ, Úc, Âu châu cũng chẳng khác gì. Sinh hoạt hải ngoại là sinh hoạt trong vòng luật pháp nên bạo lực, mạ lỵ hay vu khống đều bị luật pháp nghiêm cấm và trừng trị. Tất cả những điều trên về lâu dài đều tích cực đóng góp cho công cuộc đấu tranh chung, nhờ đó chúng ta mới biết được sự thật về nhiều cá nhân hay tổ chức. Chắc bạn đọc vẫn nhớ Hồ chí Minh từng sống ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp,… là những nước dân chủ vào bậc nhất trên thế giới, nhưng cuối cùng lại chọn Liên xô và Trung cộng lại mang chế độ độc tài toàn trị về Việt Nam. Bởi thế cần cảnh giác những tổ chức hải ngoại mang danh đấu tranh cho tự do dân chủ, nói thì hay nhưng bản chất là độc tài. Nếu họ thành công trên con đường cách mạng thì Việt Nam lại vướng vào thể chế độc tài không cộng sản. Thay đổi suy nghĩ… Phần trên chỉ là lý thuyết nếu không được mang ra thực hành. Nhưng cũng vì thiếu lý thuyết dẫn dắt nên hơn 44 năm qua người Việt phản kháng cộng sản một cách vô cùng thụ động, không biết người, không hiểu ta, nhìn quanh đâu cũng thấy kẻ thù, chống đối đa nguyên, thiếu tôn trọng sự thật, thiếu tôn trọng sự minh bạch, phản dân chủ và phản cảm. Mô hình cấp tiến bên trên chính là con đường để xây dựng sự đồng thuận nhằm tranh đấu cho Việt Nam tự do. Có tự do mới có dân chủ, có nhân bản, có nhân quyền, có thực lực để bảo vệ đất nước, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ, lãnh hải trước ngoại bang Trung cộng. Có tự do mới có công bằng, có bác ái, có phát triển xã hội, có hãnh diện được làm người Việt Nam. Tiên phong cách mạng cấp tiến Trở lại với hai câu hỏi của bạn đọc J. Trần “Ai là người đi tiên phuông?” và “Vũ khí nào tốt nhất để đi tiên phuông?” Nắm được lý thuyết và mô hình cấp tiến giúp chúng ta đánh giá đúng về mình (ta), mới biết và mới hiểu ai là bạn còn ai là đối phương, không sa vào hỏa mù trong cuộc đấu tranh cho tự do. Người đi tiên phong chỉ cần mỗi ngày bước thêm vài bước, thúc dục bạn bè bước theo mình, thúc đẩy đối phương rời bỏ hàng ngũ bảo thủ, cô lập thành phần bảo thủ, khi điều kiện thuận lợi cuộc cách mạng cấp tiến tất yếu sẽ diễn ra. Tư tưởng tự do chính là vũ khí tốt nhất cho cuộc cách mạng cấp tiến trong diễn biến hòa bình và là nỗi lo sợ ngày đêm của thành phần bảo thủ cộng sản. Người đấu tranh được trang bị tư tưởng tự do sẽ không mù quáng làm nô lệ cho guồng máy độc tài phản cách mạng hay làm tay sai cho ngoại bang. Tự do bao gồm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do nghiệp đoàn, tự do thương mãi, tự do học thuật, … cao nhất vẫn là tự do chính trị, tự do ứng cử và bầu cử. Thiếu tự do chính trị, sẽ không bao giờ có được một hiến pháp tự do để xây dựng một xã hội dân chủ và phát triển. Tự do chính trị là chìa khóa để mọi cá nhân, mọi tổ chức đưa ra đường lối và chiến lược cạnh tranh để được dân chúng trao quyền đưa đất nước tiến lên kịp đà tiến bộ nhân loại. Vì thế tùy khả năng và hoàn cảnh cuộc cách mạng cấp tiến đầy thách thức và đầy cơ hội cho mọi người thuộc mọi tầng lớp đều có thể dấn thân cho một Việt Nam tự do. Nguyễn Quang Duy
Nguyen Quang Duy <duyact@yahoo.com.au>    
15.09.2019
Hải Dương 981, hồi tháng Năm, 2014. Phạm Chí Dũng – VOA| Ngay sau khi xuất hiện tàu cẩu lớn nhất thế giới của Trung Quốc là Lam Kình ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 3/9/2019, chỉ cách đường cơ sở của Việt Nam chưa tới 11 hải lý và cách đảo Lý Sơn chỉ khoảng 30 hải lý về phía nam, đã nổi lên dư luận “ta đang chuẩn bị cho tình huống xấu nhất” đầy lo lắng và lo sợ trong nội bộ đảng cầm quyền ở Việt Nam. ‘Tình huống xấu nhất’ là gì? Đó là một thuật ngữ của giới quân sự Việt Nam nhằm mô tả tình trạng sẵn sàng chiến đấu ở cấp cao nhất. Nghĩa là có thể nổ ra chiến tranh giữa Việt Nam và Trung Quốc – cái tương lai rất gần mà vào thời hữu hảo ‘Bốn Tốt’ và Mười Sáu Chữ Vàng’ chỉ nghĩ đến cũng thấy hoang tưởng. Nỗi lo sợ và khiếp nhược đến mức ‘đái ra quần’ của giới quan chức Việt là rất có cơ sở, bởi khác hẳn với tàu Hải Dương 8 chỉ làm nhiệm vụ thăm dò địa chất, Lam Kình làm cho người ta lập tức nhớ lại giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc cho tấn công vào vùng biển Việt Nam trong năm 2014 và suýt gây ra xung đột quân sự. Khi đó về mặt công khai, chính quyền Việt Nam đã chẳng có nổi một tuyên bố ra hồn phản đối Trung Quốc, trong lúc rậm rịch thông tin ngoài lề về những cuộc chuyển quân lên biên giới phía Bắc và ở Biển Đông với cấp độ báo động ‘sẵn sàng chiến đấu cao’ – tức đã đạt đến trạng thái thứ ba trong 4 cấp sẵn sàng chiến đấu của quân đội (sẵn sàng chiến đấu thường xuyên, sẵn sàng chiến đấu tăng cường, sẵn sàng chiến đấu cao, sẵn sàng chiến đấu toàn bộ). Còn vào lần này, khả năng Bắc Kinh đưa một giàn khoan đến hoạt động trong vùng biển của Việt Nam là hoàn toàn có thể xảy ra. Nhưng mục tiêu lần này không chỉ ‘thăm dò dầu khí’ như năm 2014 mà có thể là… khoan luôn. Đó có thể là giàn khoan Hải Dương 981, hoặc giàn sản xuất dầu khí lớn thứ hai của Trung Quốc là Đông Phương. Đánh hay không dám? Trong phương trình khoan dầu nhiều ẩn số của Trung Quốc, Đông Phương có thể là đáp án đầu tiên. Bởi vào tháng 4 năm 2019, giàn khoan này đã hờm sẵn tại lưu vực Yinggehai ở Biển Đông, sẵn sàng gây áp lực với Việt Nam trong bối cảnh ‘Tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng sắp công du Hoa Kỳ (nhưng cũng vào tháng 4 đó, ông Trọng bất thần bị một cơn bạo bệnh tại Kiên Giang nên chuyến đi Mỹ của ông ta phải dời lại). Nếu sắp tới Trung Quốc liều lĩnh điều cả một giàn khoan vào Bãi Tư Chính để ‘cùng hợp tác khai thác dầu khí với Việt Nam’ – như cái cách mà Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị đã trịch thượng yêu sách với giới chóp bu Hà Nội khi đến Việt Nam vào đầu năm 2018, với tỷ lệ ăn chia có thể lên đến 60% cho Trung Quốc và chỉ còn lại 40% cho chủ nhà Việt Nam – được hiểu thực chất là phải mời một tên cướp vào nhà mình để cùng chia bôi tài sản…, đó sẽ là một thảm họa với Nguyễn Phú Trọng và những đồng đảng của ông ta vẫn mơ màng về ‘Mười Sáu Chữ Vàng’. Kịch bản ngày càng áp sát là Việt Nam khó có thể tránh thoát nguy cơ một cuộc tấn công quân sự, dù có thể chỉ ở cấp độ chiến dịch, từ phía Trung Quốc. Chiến dịch tấn công này, nếu xảy ra, chắc chắn sẽ diễn ra trên biển và rất gần gũi về mặt kinh tuyến và vĩ tuyến với những mỏ dầu mà Việt Nam đang dự định khai thác nhưng nằm trong “đường lưỡi bò” mới được Trung Quốc vẽ bổ sung. Điểm nổ chiến tranh lộ diện nhất là Bãi Tư Chính. Còn Bộ Chính trị và cấp dưới của nó là Bộ Quốc phòng Việt Nam sẽ làm gì? Đánh thì sợ, mà không đánh thì bị cướp trắng và mặt mũi chẳng còn ra thể thống gì. Trong thời gian qua, đã có những thông tin ngoài lề về việc quân đội Việt Nam điều quân để củng cố vùng biên giới phía Bắc và cả biên giới tây nam giáp Campuchia. Tuy nhiên, đó chỉ là cách phòng thủ hết sức thụ động, một kiểu che chắn theo cách ‘kịch liệt phản đối’ nhưng cứ ngồi đờ ra, giương mắt thao láo nhìn kẻ cướp xông vào nhà mình và lần lượt bỏ túi từng món đồ. Trong khi đó các tàu chiến và tàu hải cảnh Việt Nam vẫn chỉ lọ mọ theo đuôi tàu Hải Dương 8 mà không có được bất cứ hành động mạnh mẽ nào, dù chỉ là… bắn lên trời. Trong lúc 6 tàu ngầm lớp Kilo của Hải quân Việt Nam được cho là còn phải đi chống ngập ở Hà Nội và Sài Gòn, còn các tàu chiến khác, kể cả ‘tàu buồm hiện đại nhất thế giới’ mang tên Lê Quý Đôn tuyệt đối mất dạng, toàn bộ lực lượng hải quân Việt Nam vẫn phủ phục trong tư thế bất lực và kiên định… bám bờ, các tàu Trung Quốc đã thả giàn tung hoành ở Biển Đông và ngay trong ‘vùng chủ quyền không thể tranh cãi’ của Việt Nam. Việc nhóm tàu khảo sát Hải Dương-8 của Trung Quốc đã tiến sâu thêm 30 km vào vùng biển Việt Nam vào đầu tháng 9 năm 2019, chỉ còn cách bờ biển tỉnh Ninh Thuận, miền trung Việt Nam khoảng 155 km, đã gián tiếp tiết lộ một sự thật bi thảm: trong suốt thời gian từ đầu tháng 6 năm 2019 khi tàu Trung Quốc bắt đầu xâm nhập bãi Tư Chính, Bộ Quốc phòng và Cảnh sát biển Việt Nam đã đối phó tệ hại đến mức Trung Quốc hoàn toàn coi thường những hành động đối phó này. Đã không có một tàu hải quân nào của Việt Nam ra ngăn chặn Hải Dương 8 đến gần Phan Thiết. Thật đúng là ‘ngư dân bám biển, hải quân bám bờ’! Trung Quốc đang thực hiện chiến thuật nuốt từng hải lý biển Việt Nam. Có thể vào một ngày đẹp trời không lâu nữa, các lực lượng quân đội lẫn cảnh sát ở Phan Thiết hoặc ở một thành phố duyên hải nào đó của Việt Nam sẽ trố mắt trước những chiếc tàu giương cờ Trung Quốc lừng lững ngự ngay trước mắt họ ở vùng biển sát bờ. Trong khi đó, chiến thuật Việt Nam dùng một số tàu chiến và tàu hải cảnh bao vây tàu Trung Quốc, hoặc bám chặt tàu Trung Quốc đã tỏ ra vô ích và vô tích sự, bởi về số lượng thì tàu Trung Quốc luôn vượt gấp ít ra vài ba lần số tàu Việt Nam, còn việc bị bám đuôi thì Trung Quốc chẳng coi ra gì. Kiện hay không dám? Cũng trong khi đó, toàn bộ công tác ‘vận động quốc tế ủng hộ Việt Nam’ đã chỉ nhận được nhưng lời lẽ chia sẻ chung chung và xã giao, còn lại đã chẳng có bất kỳ hành động quân sự đáng chú ý nào từ các nước ‘đối tác chiến lược’ của Việt Nam. “Chúng ta đã kiên trì, kiên quyết đấu tranh bằng mọi biện pháp đối với các hoạt động của nước ngoài vi phạm chủ quyền trên biển của ta” – Thủ tướng ‘Cờ Lờ Mờ Vờ’ Nguyễn Xuân Phúc hé miệng lần đầu tiên về tình hình ở Biển Đông vào ngày 4/9/2019 trong một cuộc họp Chính phủ thường kỳ tháng 8 tại Hà Nội, nhưng vẫn không hề dám nhắc đến cái tên Trung Quốc. ‘Bản lĩnh Nguyễn Xuân Phúc’, cộng thêm trạng thái bị coi là câm nín của Nguyễn Phú Trọng trước vụ Hải Dương 8, thậm chí còn tệ hơn cả cấp dưới là Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh. Bởi trước đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã ba lần lên tiếng cáo buộc tàu Trung Quốc vi phạm chủ quyền và thềm lục địa của Việt Nam, dù rốt cuộc cơ quan này cũng chỉ đánh võ miệng. Khi ngay cả những quan chức chóp bu như Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Xuân Phúc mà còn không dám nêu tên Trung Quốc thì làm sao chính thể Việt Nam dám kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế? Chỗ dựa dẫm duy nhất Nếu nổ ra ‘tình huống xấu nhất’ với Trung Quốc, hải quân Việt Nam sẽ đánh chác ra sao? Sẽ tiếp tục phát cờ cho ngư dân để “thuyền ra biển lớn” và lại khiến rộ lên câu vè dân gian “Chống giặc bằng cờ, chống ngập bằng lu, đứa nào nói đảng ngu là thằng phản động”? Nếu ai đó cho rằng hải quân Việt Nam còn đang ‘giấu mình’, vẫn nêu cao tinh thần yêu nước và sẽ ra đòn quyết định vào một thời điểm thuận lợi, làm thế nào để giải thích việc mới đây một thứ trưởng bộ quốc phòng kiêm đô đốc của quân chủng này – Nguyễn Văn Hiến, cùng một số tướng tá hải quân khác đã bị tống vào ‘lò’ của ‘tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng vì tội ‘ăn đất’? Nguy cơ Việt Nam bị tấn công đang hiển thị dần sau một tháng và mỗi quý. Đến giờ phút này, giới chóp bu Việt Nam phải quyết định cho chính số phận tồn vong của nó: thêm một lần đánh đu với người anh em cộng sản Bắc Kinh sẽ rất dễ khiến lục phủ ngũ tạng của dân tộc Việt Nam bị kẻ thù phanh thây – theo đúng cái cách mà chính quyền Trung Quốc đã làm để mổ sống nội tạng các tín đồ Pháp Luân Công. Chỗ dựa dẫm duy nhất giờ đây của Hà Nội chỉ còn là Hoa Kỳ – đối trọng duy nhất của Trung Quốc tại Biển Đông.  
14.09.2019
Phạm Chí Dũng – VOA|
TÂM DON - (VNTB) Hàng loạt vụ án động trời do người Trung Quốc thực hiện trên đất Việt Nam diễn ra liên tiếp. Và, rất nhanh chóng, các tội phạm người Trung Quốc được phía Việt Nam dẫn độ- trao trả cho Trung Quốc. Chuyện không thể tin đã diễn ra. Dư luận Việt Nam đang phẫn nộ về việc Việt Nam ký kết và thông qua Hiệp ước dẫn độ Việt Nam- Trung Quốc. Điều gì khiến cộng đồng phẫn nộ? Điều thứ nhất, hiệp định này được ký kết mà không có tính công khai và minh bạch. Điều thứ hai, quan trọng nhất, theo hiệp định này, tội phạm Trung Quốc khi thực hiện hành vi phạm tội ở Việt Nam, nếu bị phía Việt Nam phát hiện và bắt giữ, sẽ nhanh chóng được trao trả- dẫn độ về Trung Quốc để phía Trung Quốc điều tra và xét xử. Điều thứ hai này hoàn toàn đi ngược lại với thông lệ luật pháp quốc tế là, tội phạm người nước ngoài phạm tội ở quốc gia nào sẽ được quốc gia đó xét xử. Bên cạnh đó, cộng đồng còn băn khoăn về việc, nếu người Việt Nam phạm tội ở Trung Quốc liệu có được- bị phía Trung Quốc trao trả- dẫn độ về phía Việt Nam?
  Đã có nhiều nghi vấn tại Việt Nam rằng, Trung Quốc đã đưa nhiều tù nhân sang lao động tại các dự án mà Trung Quốc đầu tư ở Việt Nam nhằm tiết kiệm chi phí nhân công. Nghi vấn này nếu là hiện thực sẽ dẫn đến hậu quả đau đớn: Việt Nam là nơi chứa chấp tội phạm, Việt Nam bị cướp công ăn việc làm. Cũng tại Việt Nam đã có nghi vấn rằng, chính quyền Trung Quốc đang dung dưỡng cho các loại hình tội phạm tràn sang Việt Nam để phá hoại Việt Nam theo nhiều cách khác nhau, làm cho Việt Nam mất đi sự ổn định về xã hội và trật tự. Nghi vấn này hoàn toàn có cơ sở khi mà số vụ việc người Trung Quốc vi phạm pháp luật ở Việt Nam ngày càng diễn ra dày đặc, và hoạt động có tổ chức ngày càng tinh vi.
  Khi tội phạm Trung Quốc được trao trả- dẫn độ về Trung Quốc, các tòa án ở Việt Nam đã không thể phán quyết các bản án nghiêm khắc dành cho kẻ phạm tội nhằm răn đe và ngăn ngừa tội phạm.
  Khi tội phạm Trung Quốc được trao trả-  dẫn độ về Trung Quốc, rất có thể các cấp tòa án ở  Trung Quốc sẽ xét xử nhẹ nhàng, để rồi sau đó, các tội phạm này sẽ quay trở lại Việt Nam dưới một cái tên mới với hộ chiếu mới. Và, Việt Nam lại bị các tội phạm Trung Quốc làm thất điên bát đảo, gây rối loạn trật tự xã hội, và bào mòn ngân sách.
  Hiệp định dẫn độ Việt Nam - Trung Quốc rất có thể là một thắng lợi cực kỳ lớn cho chính quyền Trung Quốc và là thất bại cay đắng cho phía Việt Nam.
  Theo Tân Hoa xã của nhà nước Trung quốc đưa tin vào cuối tháng 8-2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc vừa phê chuẩn một Hiệp ước dẫn độ với Việt Nam được ký kết từ năm 2015. Cơ quan lập pháp hàng đầu của Bắc Kinh đưa ra quyết định hôm 26-8- 2019 khi phê chuẩn hiệp ước gồm 22 điều khoản, trong đó có các vấn đề như nghĩa vụ dẫn độ, tội phạm đủ điều kiện dẫn độ, quy định từ chối dẫn độ và giải quyết tranh chấp. Cũng theo Tân Hoa xã, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu thảo luận về hiệp ước dẫn độ từ tháng 10/2013 và hai quốc gia cộng sản láng giềng đã ký hiệp định này vào ngày 7/4/2015 tại Bắc Kinh.
  Truyền thông Việt Nam chưa có ghi nhận nào về việc Trung Quốc phê chuẩn Hiệp ước dẫn độ với Việt Nam và cũng không có thông tin về việc hai nước bàn thảo cũng như ký kết hiệp ước này trong những năm qua. Chỉ có hai bài viết trên báo Tuổi Trẻ và Nhân Dân ra ngày 13/11/2017 nói về việc Việt Nam và Trung Quốc tập trung thúc đẩy cho Hiệp định dẫn độ giữa hai nước trong thời gian Chủ tịch Tập Cận Bình có chuyến thăm chính thức tới Việt Nam.
  Vào tháng 8-2019 vừa qua, khi đường dây đánh bạc trực tuyến do gần 400 người Trung Quốc cầm đầu bị công an Việt Nam bắt giữ ở Hải Phòng và nhanh chóng được phía Việt Nam dẫn độ- trao trả cho Trung Quốc, dư luận Việt Nam đã bùng phát giận dữ. Một số quan chức cấp thấp của Việt Nam đã trả lời công luận rằng, nhanh chóng trao trả- dẫn độ về Trung Quốc vì tuân thủ hiệp ước dẫn độ giữa hai nước. Cho đến thời điểm này, phía Việt Nam không công khai việc phê chuẩn hiệu lực của hiệp định vào thời điểm nào.
  Việt Nam có thể hèn, có thể thất bại trước Trung Quốc, nhưng láng giềng của Việt Nam là Cambodia thì không. Cambodia xét xử và giam giữ các tội phạm Trung Quốc, không dẫn độ về Trung Quốc trước khi xét xử. Tòa án tỉnh Banteay Meanchey, Cambodia vào tháng 6-2019 đã xử 12 công dân Trung Quốc về tội bắt cóc 3 người đồng hương thiếu nợ tiền thua bạc.(https://tuoitre.vn/nguoi-trung-quoc-lu-luot-ve-nuoc-khi-campuchia-cam-danh-bac-truc-tuyen-20190911105526535.htm). Dân số Cambodia chỉ bằng 1/8 dân số Việt Nam, nhưng sự công minh và rạch ròi của Cambodia gấp 8 lần Việt Nam.
14.09.2019
TÂM DON - (VNTB)
Phạm Nhật Bình – Web Việt Tân| Từ đầu tháng Chín, 2019 sau một thời gian tạm thời lắng xuống, vụ án MobiFone mua lại 95% cổ phần AVG lại làm dư luận xôn xao bàn tán. Lần này theo kết luận điều tra của công an, hai cựu bộ trưởng bộ 4T đều có nhận tiền đền ơn của Phạm Nhật Vũ lúc đó là chủ tịch AVG. Cụ thể Nguyễn Bắc Son đã nhận 3 triệu đô-la chia làm nhiều lần, riêng Trương Minh Tuấn thì khiêm nhường hơn chỉ bỏ túi 200 ngàn. Cuộc điều tra còn ghi nhận Lê Nam Trà cựu Chủ Tịch HĐTV MobiFone đã nhận từ Phạm Nhật Vũ 2,5 triệu Mỹ Kim sau khi thương vụ hoàn thành và Cao Duy Hải cựu Tổng Giám Đốc MobiFone được biếu 500 ngàn đô-la. Tổng cộng Vũ đã thảy ra 6 triệu 200 ngàn Mỹ Kim cho các quan chức nhà nước một cách nhẹ nhàng. Đây là một vụ tham nhũng được dư luận chú ý nhiều nhất sau màn Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh bị lôi ra trước vành móng ngựa vào đầu tháng Giêng, 2018. Tại sao? Thứ nhất, vì đây là lần đầu tiên số tiền thất thoát mà thực ra là tiền tham ô trong thương vụ ma quỷ này lên đến 7 ngàn tỷ VND. Vì giá trị thực của AVG chưa tới 2.000 tỷ đồng, thay vì 16.000 tỷ nghĩa là nó được định giá sai đến 8 lần để MobiFone làm căn cứ mua AVG. Món tiền gần 400 triệu đô-la lẽ ra còn được chia chác nhau giữa liên minh ma quỷ nhưng cuối cùng chúng nuốt không trôi. Chúng nuốt không trôi vì sự buôn bán mờ ám bị lôi ra ánh sáng và chúng thoả thuận với nhau, AVG phải hoàn trả đủ tiền cho MobiFone. Thứ hai, đây cũng là lần đầu tiên số tiền tham nhũng được các quan chức lãnh đạo hàng cao cấp thừa nhận lên tới con số 6 triệu 200 ngàn Mỹ Kim cho cả 4 người. Người ta tin rằng đây chỉ là tiền “đền ơn đáp nghĩa” cho các quan chức nhà nước trong giai đoạn bôi trơn. Nếu nội vụ trót lọt, sự chia chác ắt phải đậm đà hơn nhiều. Thiên hạ phải giật mình vì cú đánh đưa đến một kết quả khá ngoạn mục của người đốt lò. Chứ mấy trận trước, người ta chỉ nghe nói nhà nước thất thoát hàng tỷ đồng mà hoàn toàn không biết những tham quan bị truy tố đã thực sự “xơ múi” bao nhiêu. Và nhất là số tiền thu hồi sau đó được báo cáo là thật thấp. Riêng trường hợp cựu Bộ Trưởng Bộ 4T Nguyễn Bắc Son trong vụ này đã khai nhận đớp 3 triệu Mỹ Kim và nói món tiền ấy đã đưa cho người con gái nhiều lần. Nhưng người này từ chối và khai không hề nhận được số tiền nào từ ông cha. 3 triệu đô-la ấy hiện nay cuộc điều tra của công an cũng không tìm thấy, chúng mất tích một cách bí ẩn, thách thức khả năng thu hồi tài sản của cơ quan thi hành án sau này. Thứ ba, lần đầu tiên câu nói “hy sinh đời bố – củng cố đời con” bị bẻ cua một cách chua chát. Đó là chuyện cựu Bộ Trưởng Son khai nhận 3 triệu và đã đưa cho con gái. Lời khai này thực sự đẩy đứa con ông ta vào vòng nguy hiểm mà đáng lý ra trong mối quan hệ cha con ông Son không nên làm như vậy. Nếu mình đã có gan nhận hối lộ thì mình làm mình chịu, sao lại đổ tội cho con. Cho dù đứa con ấy có nhận và hưởng hết số tiền ấy chăng nữa thì đó cũng là điều đúng theo quy luật chế độ xưa nay…”hy sinh đời bố”. Ở khía cạnh khác, rõ ràng ông Son phải khai là đã đưa tiền cho con vì bản thân bị hăm doạ có thể bị mức án tử hình về tội nhận hối lộ. Nhưng trong trường hợp này đứa con phủ nhận, do đó công an cũng không tìm ra chứng cớ nào để buộc tội và truy tố. Nhưng điều khó khăn hơn hết cho cuộc điều tra là không tìm thấy tông tích số tiền 3 triệu ấy cất giấu ở đâu hoặc chi tiêu vào việc gì. Vậy thử hỏi vì lý do gì mà ông Son lại khai đưa tiền cho đứa con gái? Chỉ có một lý do duy nhất là Son không thể khai thật là mình lấy 3 triệu ấy mang chia cho các đàn anh như Nguyễn Tấn Dũng hay Lê Đức Anh để được bao che cho cái ghế bộ trưởng bộ 4T. Dùng tiền hối lộ để mua sự bao che của cấp trên phòng khi cần đến là hợp “quy trình” của hệ thống cộng sinh trong giới cán bộ đảng. Vả chăng 3 triệu đô nho nhỏ ấy cũng chỉ là tiền chùa, anh Son tin chắc mình sẽ còn nhiều hơn trong món hời 7.000 tỷ mà Phạm Nhật Vũ vớ được trong đó có công của Son. Nay anh Son bí quá nên đành khai đưa hết tiền cho con gái tưởng cho yên chuyện, không ngờ về mặt pháp luật và đạo đức gia đình phải chịu búa rìu dư luận với đủ mọi điều chê trách. Hoá ra anh Son chẳng làm đúng câu “củng cố đời con” chút nào! Phạm Nhật Bình
https://viettan.org/hy-sinh-doi-bo-cung-co-doi-con/
14.09.2019
Phạm Nhật Bình – Web Việt Tân
Ảnh thiếu gia’ Tô Công Lý Trúc Giang  (VNTB) Tin tức bắt ‘thiếu gia’ Tô Công Lý ở Cà Mau, là đòn ‘nắn gân’ cô con gái rượu của cựu thủ tướng Ba Dũng?
  Dân làm ăn xứ miền Tây gọi người cha của ông Tô Công Lý bằng cái tên thân mật là ‘ông Sáu’, tức ông Tô Hoài Dân. Ông Sáu có mối quan hệ rất thân tình với ông Ba Dũng, thời ông Ba còn đóng lon Thiếu tá, Trưởng Ban cán bộ - Phó Bí thư Đảng ủy Phòng Chính trị của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Kiên Giang.   Ông Sáu Tô Hoài Dân lập công ty ở tỉnh Cà Mau, và được người xứ Bạc Liêu nhắc đến nhiều với dự án cánh đồng điện gió ở bờ biển Vĩnh Trạch Đông, Bạc Liêu.    Ngay trong ngày được cho là Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã bắt ông Tô Công Lý, 35 tuổi, phó tổng giám đốc Công ty TNHH Xây dựng - thương mại - du lịch Công Lý (trụ sở tại phường 8, TP Cà Mau, tỉnh Cà Mau), để điều tra hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì cũng ngay sáng hôm đó 18-8 tại Bạc Liêu, cựu chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến làm việc với ông Tô Hoài Dân tại Nhà máy Điện gió Bạc Liêu.   Cùng đi với ông Tư Sang có ông Phan Văn Sáu, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng. Đón tiếp ông Tư Sang có các lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu như Nguyễn Quang Dương, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy; Dương Thành Trung, Chủ tịch UBND tỉnh và ông Tô Hoài Dân.   Dự án điện gió Bạc Liêu hình thành với phần hỗ trợ vốn của Ngân hàng Xuất - nhập khẩu Hoa Kỳ (US-Exim) – kết quả từ sự ‘vận động’ của bà Nguyễn Thanh Phượng, con gái của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Tập đoàn General Electric (Hoa Kỳ) là nhà cung cấp thiết bị tua bin gió.   Giai đoạn ông Ba Dũng giữ chức Thủ tướng, thì ngoài dự án điện gió Bạc Liêu, Ngân hàng US Exim còn chấp nhận đề xuất từ chính phủ Việt Nam về việc Công ty Công Lý làm đầu mối cho dự án Trung tâm điện gió đồng bằng sông Cửu Long tại các tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh với tổng vốn đầu tư tương đương hơn 25 ngàn tỷ đồng Việt Nam.   Tuy nhiên sau khi ông Ba Dũng trở về ‘làm người tử tế’, thì đối tác ở giai đoạn III của dự án điện gió Bạc Liêu lại là Tập đoàn Super Wind Energy Thái Lan, với bên ‘vận động’ giờ đây là Vũ Chí Hùng, người con rể của ông Bảy Nguyễn Xuân Phúc.   Tin tức báo chí cho biết công an bắt ông Tô Công Lý nhằm để làm rõ hành vi lừa đảo chiếm đoạt hàng chục tỉ đồng tại dự án nhà máy xử lý rác thải Cà Mau. Ông Lý bị cáo buộc lợi dụng chính sách hỗ trợ 50% kinh phí đầu tư nhà máy của nhà nước, để chiếm đoạt tiền đối với một số hạng mục xây dựng của nhà máy.   Cái lạ ở đây là nhà máy xử lý rác thải Cà Mau đã được nghiệm thu và hoạt động từ năm 2012, tổng công suất xử lý 200 tấn rác mỗi ngày. “Phải chăng vì thời gian đó ông Ba vẫn còn là Thủ tướng nên người ta ngại đụng đến ông Sáu Dân?”. Một luật sư quê gốc Cà Mau, thắc mắc.   Xem ra sắp vào nhiệm kỳ mới của Đảng, ở Việt Nam lại lắm chuyện ‘trâu bò húc nhau…’.  
13.09.2019
Trúc Giang - (VNTB)
Ảnh 'Đại gia mất tích' Đặng Thị Hoàng Yến Trúc Giang - Việt Nam Thời Báo (VNTB) - Dẫn nguồn tin từ Văn phòng Luật sư “Law Offices of Charles H. Camp, P.C.”, Hãng truyền thông PR Newswire đưa tin khá sốc về việc cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bị kiện qua bài báo có tựa “American Economist Launches Over $2.5 Billion Arbitration Against Former Vietnamese Prime Minister Nguyen Tan Dung” [https://www.prnewswire.com/news-releases/american-economist-launches-over-2-5-billion-arbitration-against-former-vietnamese-prime-minister-nguyen-tan-dung-300913524.html]   PR Newswire có văn phòng đại diện tại Việt Nam, đặt ở lầu 8, Le Meridien Building, số 3 C Tôn Đức Thắng, quận 1, TP.HCM.   Một bài viết có nội dung tương tự trên trang chuyên môn của giới trọng tài quốc tế, rút tít khá mạnh mẽ kèm hình bìa bản tin là khuôn mặt ông Nguyễn Tấn Dũng: “Vietnam’s ex-prime minister hit with claim over power project” – dịch thoáng sang tiếng Việt là “Thủ tướng Việt Nam bị đánh vì dự án điện” [https://globalarbitrationreview.com/article/1197236/vietnam%E2%80%99s-ex-prime-minister-hit-with-claim-over-power-project] Vì sao không kiện chính phủ Việt Nam?   Xét từ góc độ pháp lý, đây là một vụ kiện lý thú vì nó đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới mẻ, mà chỉ đọc được tài liệu vụ kiện mới có thể phân tích thấu đáo các cơ sở khởi kiện mà luật sư nguyên đơn đã sử dụng để khởi động một vụ kiện vô tiền khoáng hậu như vậy liên quan đến Việt Nam.   Theo bản tin Anh ngữ, các luật sư nguyên đơn trong vụ thưa kiện quốc tế này là: Charles H. Camp (Washington, DC), Tiến sĩ Jalal El Ahdab (Paris), Anthony Buzbee (Houston), Chris Leavitt (Houston) và Minh-Tam (Tammy) Tran (Houston).   Việc kiện cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng theo trình tự tố tụng trọng tài, là yêu cầu của bà Maya Dangelas, quốc tịch Mỹ, được biết với tên Việt Nam là Đặng Thị Hoàng Yến, chủ tịch Công ty cổ phần Năng lượng Tân Tạo (TEC). Cựu đại biểu Quốc hội Việt Nam Đặng Thị Hoàng Yến và Cựu Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. (Ảnh VOA)   Bản tin Anh ngữ của PR Newswire nói rằng bà Đặng Thị Hoàng Yến kiện vì cho rằng khi còn làm Thủ tướng, ông Nguyễn Tấn Dũng từng hủy bỏ trái phép hợp đồng với TEC trong dự án Nhiệt điện Kiên Lương tại tỉnh Kiên Giang, Việt Nam.   Thắc mắc ở đây là tại sao bà Đặng Thị Hoàng Yến không kiện chính phủ Việt Nam, mà lại kiện cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng trong giai đoạn là thủ tướng? Bởi sau đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng có văn bản đồng ý theo đề nghị của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về việc thu hồi dự án Trung tâm Nhiệt điện Kiên Lương tại xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.   Phải chăng trong các thỏa thuận ký kết của dự án Nhiệt điện Kiên Lương, có các điều khoản mang tính cách cá nhân giữa ông Nguyễn Tấn Dũng với bà Đặng Thị Hoàng Yến?   Một ngờ vực khác, phải chăng động thái khởi kiện ông Nguyễn Tấn Dũng là nằm trong nghi vấn ở bản công bố báo cáo tài chính soát xét bán niên của Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo - Itaco (ITA) do bà Đặng Thị Hoàng Yến làm chủ tịch, có một điểm mà kiểm toán đặc biệt lưu ý, là về khả năng thu hồi khoản đầu tư và phải thu từ 2 công ty có liên quan với tổng trị giá hơn 3,5 ngàn tỷ đồng. Kiểm toán nghi ngờ khả năng thu hồi khoản tiền khổng lồ liên quan đến dự án Nhiệt điện Kiên Lương.   Chính phủ Việt Nam hầu tòa quốc tế cũng thường rồi mà!   Đó là nhận định của ông Phạm Mạnh Dũng – Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam, cựu Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).   Theo ông Phạm Mạnh Dũng, pháp luật quốc tế nói chung, nhà đầu tư không được quyền kiện một quốc gia. Tuy nhiên, để khuyến khích đầu tư nước ngoài, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã ký các Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư song phương với nước ngoài, trong đó từ bỏ quyền miễn trừ quốc gia trong trường hợp xảy ra tranh chấp với nhà đầu tư nước ngoài. Điều này dẫn đến việc, một khi tranh chấp xảy ra, Nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiện chính phủ Việt Nam ra trọng tài quốc tế.   Theo lẽ thường, khi hoạt động đầu tư nước ngoài càng phát sinh đa dạng, phong phú, sôi động, thì số lượng, tần suất, giá trị các tranh chấp đầu tư nước ngoài cũng tăng lên. Và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.   “Trong trường hợp dự án Nhiệt điện Kiên Lương là vốn hoàn toàn do doanh nghiệp trong nước đầu tư, do đó việc chọn một tòa trọng tài quốc tế để xử lý các tranh chấp như bài báo trên PR Newswire đưa tin, cá nhân tôi cảm giác có gì đó không ổn ở chỗ dường như bị đơn ở đây đang nhắm tới cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng.   Nếu tòa tuyên ông Dũng sai, thì khả năng thi hành án như thế nào?”. Luật sư Trần Thành (Đoàn Luật sư TP.HCM), thắc mắc và lưu ý chuyện Việt Nam đã trúng cử là thành viên của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên Hợp Quốc (UNCITRAL) nhiệm kỳ 2019-2025.   Trong lúc đó thì một tài liệu mà báo chí có được, phía Bộ Công thương có đưa ra phương án thu hồi dự án Nhiệt điện Kiên Lương. Theo đó, nhà nước khẳng định lỗi thuộc về chủ đầu tư, ra quyết định thu hồi chủ trương đầu tư và không đàm phán bồi thường.   Thuận lợi của phương án này là không phải bồi thường cho chủ đầu tư nếu có đầy đủ cơ sở pháp lý chặt chẽ khẳng định lỗi hoàn toàn do chủ đầu tư. Khó khăn là khó có đủ cơ sở pháp lý chặt chẽ để đưa ra quyết định thu hồi và dễ xảy ra tranh chấp.   Kết quả là vào cuối năm 2018, phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã đi đến quyết định chọn phương an thu hồi dự án, không đàm phán bồi thường, với lý do tính chất đặc thù của dự án BOT điện, nên khi dự án chưa hoàn thành thủ tục, chưa ký hợp đồng BOT với Bộ Công thương thì về phía Bộ Công thương và Chính phủ không có lý do gì mà bồi thường.   Lùm xùm chuyện gì ở dự án Nhiệt điện than Kiên Lương?   Một số thông tin liên quan về dự án Nhiệt điện Kiên Lương được giải trình tại phiên họp đại hội cổ đông thường niên năm 2019, tổ chức hôm 28/6/2019 của Công ty cổ phần Đầu tư công nghiệp Tân Tạo, thì thông qua người nhận ủy quyền là ông Đặng Thành Tâm, thông báo bà Đặng Thị Hoàng Yến có kế hoạch thoái toàn bộ vốn đầu tư tại nhiều dự án, bao gồm cả dự án Nhiệt điện Kiên Lương.   Một trong những lý do khiến bà Đặng Thị Hoàng Yến muốn thoái vốn là: “This filing aims to hold former Prime Minister Nguyen Tan Dung accountable for his actions in both his official and personal capacities. As a result, my client's loss of investment monies and profits are a direct result of the Prime Minister's actions in both his official and personal capacities” - PR Newswire dẫn lời của Tony Buzbee, Văn phòng Luật sư “Law Offices of Charles H. Camp, P.C.”, về cáo buộc đích danh cá nhân ông Nguyễn Tấn Dũng (lược dịch): “Hồ sơ này nhằm buộc cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chịu trách nhiệm về hành động của mình trong đưa ra các quyết định liên quan dự án đầu tư. Việc nhà đầu tư bị thiệt hại về vốn, về lợi nhuận chính là hệ lụy từ năng lực quản trị của thủ tướng”.   Theo tài liệu mà báo chí có được, trong báo cáo số 1488/UBND-KTTH tháng 9/2017, UBND tỉnh Kiên Giang cho rằng giai đoạn 2009 – 2013, chủ đầu tư dự án Nhà máy nhiệt điện Kiên Lương 1 và 2 là TEC đã chi tổng số 77,2 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng một phần và san lấp địa điểm xây dựng, khoảng 60 ha diện tích ven biển cho khu vực chính xây nhà máy nhiệt điện.   Trong khi đó, báo cáo của TEC gửi Thủ tướng hồi tháng 5/2017 thì cho biết đã đầu tư trên 270 triệu USD, khoảng hơn 6.300 tỷ đồng. Số liệu giữa báo cáo của tỉnh Kiên Giang và TEC đang chênh nhau tới 81 lần.   Theo TEC, có tới 6.300 tỷ đồng dùng để hoàn thành 146 thủ tục pháp lý từ Trung ương đến địa phương; khảo sát, xây dựng báo cáo khả thi dự án; hoàn thành 98% giải phóng, san lấp mặt bằng; xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh,  sẵn sàng thi công nhà máy, thu xếp vốn, nguồn than cho dự án và tổ chức đấu thầu, lựa chọn nhà thầu EPC quốc tế...   Báo cáo tháng 9/2017 của tỉnh Kiên Giang còn cho hay tỉnh hiện không thể liên lạc được với chủ đầu tư dự án TEC để trao đổi, bàn hướng xử lý vướng mắc dự án.   Theo hồ sơ, dự án Nhà máy Nhiệt điện Kiên Lương bắt đầu đình trệ từ cuối năm 2011, và có chuyển biến mới khi Thủ tướng cho phép chuyển đổi hình thức đầu tư sang BOT vào tháng 2/2014.   Tháng 12/2015, Bộ Công Thương và TEC ký kết biên bản ghi nhớ về việc phát triển dự án Kiên Lương 1 theo hình thức BOT với thời hạn hiệu lực 48 tháng. Tuy nhiên, sau lễ ký kết này, TEC đã không thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư nào. Từ cuối 2011, chủ đầu tư không nộp tiền sử dụng đất và cũng không xin gia hạn nộp theo quy định. Còn dự án Kiên Lương 2 chưa làm công tác chuẩn bị đầu tư do không có trong Quy hoạch điện VII (điều chỉnh).     Với dự án Cảng nước sâu Nam Du, ngoài việc khảo sát thực địa, đo đạc ngoại nghiệp và lên phương án bồi thường giải phóng mặt bằng lấy ý kiến hoàn chỉnh, đến nay TEC chưa triển khai thêm gì. Do đó, năm 2016 tỉnh Kiên Giang kiến nghị Thủ tướng không đưa Nhà máy nhiệt điện than Kiên Lương vào quy hoạch phát triển điện lực 2011-2020 có xét đến năm 2030 và Quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam đến năm 2020 xét triển vọng đến năm 2030. Tỉnh cũng đề nghị thu hồi chủ trương đầu tư Cảng nước sâu Nam Du.   Ngay tại Việt Nam, TEC đã ‘đổ thừa’ tại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng   Ngày 31/8/2018, TEC đã có công văn gửi Bộ Công thương cho rằng, việc loại bỏ dự án Kiên Lương 1 ra khỏi Quy hoạch điện VII điều chỉnh là nguyên nhân chính dẫn đến dự án không thể triển khai được.   Về các cáo buộc của chính quyền tỉnh Kiên Giang, TEC khẳng định là không chính xác. Theo đó, dự án nhiệt điện này đã được Chính phủ giao cho TEC nghiên cứu, đầu tư và phát triển. Đến năm 2014, để tháo gỡ vướng mắc cho dự án về việc cấp bảo lãnh của Chính phủ (GGU), TEC đã chấp nhận chuyển sang đầu tư theo hình thức BOT để dự án sớm được triển khai.   “Ngay sau đó, TEC đã đàm phán Biên bản ghi nhớ Phát triển Dự án (MOU) với Tổng cục Năng Lượng và đã ký kết MOU vào tháng 12/2015 và thống nhất ngày vận hành thương mại dự án vào năm 2025”, một báo cáo gửi Bộ Công Thương của TEC cho biết.   Đáng lưu ý, theo TEC, ngay sau khi ký MOU, trong lúc TEC đang tích cực triển khai dự án thì ngày 29/1/2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bất ngờ quyết định rà soát loại bỏ dự án nhiệt điện Kiên Lương 1 khỏi Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) theo thông báo số 26/TP-VPVP của Văn phòng Chính phủ và Quyết định số 428/QĐ-TTg ngày 18/3/2016. Ngay sau đó, TEC cũng cho biết đã có 9 văn bản báo cáo Thủ tướng, Phó Thủ tướng và các bộ ngành liên quan về dự án này.   Theo TEC, chính quyết định loại bỏ dự án Kiên Lương 1 ra khỏi Quy hoạch điện VII (điều chỉnh) là nguyên nhân chính dẫn đến việc dự án không thể triển khai được.   Bình luận về văn bản phản ứng trên của TEC, một số chuyên gia am hiểu về dự án này cho rằng, những ý kiến của TEC cũng cần xem lại, vì khi rút dự án Kiên Lương 1 ra khỏi quy hoạch điện thì khi đó, dự án mới chỉ nằm trên ý tưởng và mới có văn bản ghi nhớ, chưa chưa có một quyết định đầu tư nào. Và cho đến nay, khu vực dự án vẫn hầu như chưa có gì, nên khó có thể ghi nhận là nhà đầu tư đã bỏ ra hàng trăm triệu USD.   Trong một diễn biến khác, giới chuyên gia cũng nhận định trong thời điểm này, khu vực đồng bằng sông Cửu Long không cần thêm bất cứ nhà máy nhiệt điện than nào nữa, vì đã ‘bội thực’. Trong đó, chỉ riêng khu vực lân cận đã xuất hiện hàng loạt dự án nhiệt điện như: Duyên Hải 2, Duyên Hải 3, Sông Hậu 1, Sông Hậu 2, Sông Hậu 3; Long Phú 2…   Chưa kể đến địa hình tại Kiên Lương có nhiều yếu tố phức tạp, không phù hợp cho việc đặt các dự án nhiệt điện than; như địa chất không ổn, tàu vận chuyển than khó vào và không dễ dàng để kết nối đường dây 220 KV ở đây.   “Thời điểm cách đây 10 năm, trên thị trường đang sôi động đầu tư cho các dự án nhiệt điện than tại đồng bằng sông Cửu Long. Tập đoàn Tân Tạo đã đăng ký và được sự đồng ý của Bộ Công Thương cho đầu tư dự án Nhà máy Nhiệt điện Kiên Lương 1. Tuy nhiên, bây giờ thì không còn phù hợp nữa. Nếu có thưa gửi liên quan chuyện đầu tư này, bị đơn phải là chính phủ Việt Nam.   Việc đổ thừa cho ông Nguyễn Tấn Dũng là không hợp lý, vì sau đó người tích cực cho thu hồi dự án này là phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng. Ông Nguyễn Tấn Dũng ngay sau khi ký phê duyệt Đề án Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 có xét đến năm 2030 của Bộ Công thương, là ông đã nghỉ hưu…”. Luật sư Trần Thành biện luận.   Tính đến hiện tại, Bộ Ngoại giao Việt Nam chưa thấy lên tiếng về vụ thưa kiện nói trên.  
11.09.2019
Trúc Giang - (VNTB)
Nguyễn Đình Cống| Trong bài “Trò chuyện với ông Mahathir” tôi có viết rằng, “đảng chỉ là công cụ”. Ông từ bỏ đảng cũ như cởi một chiếc áo rách và bẩn. Viết bài này tôi xin bàn thêm. Đảng là công cụ của ai? Thưa rằng, là của một người hoặc một nhóm các chính trị gia. Họ lập ra đảng và điều hành nó nhằm phục vụ cho các ý đồ chính trị. Tại các nước đa đảng thì điều này là khá rõ ràng. Còn đối với các nước độc đảng theo chủ nghĩa Mác Lê thì sao, phải chăng các đảng đó cũng chỉ là công cụ? Đảng theo chủ thuyết Mác, dù lấy tên là Cộng sản, Lao động hay tên khác, thì cũng đều theo hình mẫu “đảng kiểu mới” do Lê Nin vạch ra, đó là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đảng lãnh đạo cách mạng vô sản. Người ta đưa ra các khái niệm giai cấp lãnh đạo, đảng lãnh đạo. Người ta tôn đảng thành một tổ chức thiêng liêng. Đó là những nhầm lẫn vô cùng tai hại. Khái niệm giai cấp lãnh đạo đã tỏ ra là một ngụy biện bậc cao, một sự lừa bịp nguy hiểm. Khái niệm đảng lãnh đạo là mơ hồ. Khi chưa giành được chính quyền thì sự lãnh đạo của đảng thông qua việc đề ra đường lối rồi tuyên tuyền, vận động thực hiện. Khi đã có chính quyền thì sự lãnh đạo cũng bắt đầu bằng việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, soạn ra các nghị quyết rồi thông qua hệ thống chính quyền để thực hiện, bằng cách biến các nghị quyết của đảng thành luật pháp, bằng công tác chính trị tư tưởng, bằng kiểm tra. Gốc gác nhất, quan trọng nhất của lãnh đạo là “đề ra đường lối”. Vậy đảng hay ai đề ra nó? Đảng là một tổ chức. Tổ chức thì cụ thể, nhưng nói đảng đề ra đường lối thì đảng ở đây lại không cụ thể mà chỉ là một cái tên. Một đường lối nào đó mang danh là của đảng thì không phải do tổ chức đảng đề ra. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách đều bắt đầu bằng ý tưởng của một người hoặc của một nhóm nhỏ người. Dù ban đầu có nhiều người cùng suy nghĩ thì tại một nơi cũng chỉ có một người đề xuất đầu tiên (có thể tại các nơi khác nhau có vài người cùng đề xuất), sau đó họ thảo luận, bổ sung, sửa đổi, để trở thành ý kiến tập thể của một nhóm người. Rồi đường lối đó được phổ biến cho toàn đảng. Thề là thành đường lối của đảng. Như vậy đảng chỉ nhận vờ. Thực sự của việc đề ra đường lối của việc lãnh đạo là của một người hoặc một nhóm người ở trên cao. Đó là Lãnh tụ, là Bộ Chính trị. Vậy phải chăng sự lãnh đạo là của một nhóm các chính trị gia, còn đảng là công cụ của họ. Nêu ra ý kiến trên đây tôi hy vọng góp phần xóa ý tưởng cho rằng, đảng là vô cùng thiêng liêng, xóa nỗi lo “thà mất nước còn hơn mất đảng”. Tôi thiết tha mong muốn các nhà nghiên cứu chính trị, các học giả phản biện và làm sáng rõ vấn đề này. Về đảng CSVN, người ta tuyên truyền rằng, Dân tộc VN đã sinh ra nó. Tôi nghĩ có lẽ không phải. Nó là sản phầm ngoại lai, được nhập vào trong lòng dân tộc. Ban đầu, nhờ ẩn nấp vào lòng yêu nước nó được dân tộc cưu mang, nhưng rồi khi nắm được chính quyền thì những người ở trên chóp bu của đảng đã vì ý thức hệ mà biến nó thành công cụ để thống trị , tự đặt mình cao hơn Dân tộc. Liệu một dân tộc có lịch sử quật cường như Dân tộc Việt Nam có chấp nhận mãi điều này, đem một loại công cụ để thờ tự trên cả Tổ tiên.    
11.09.2019
Nguyễn Đình Cống
Van Nga DO| Việt Nam có vị trí gần Trung Quốc, điều đó không thể thay đổi. Chuyện tranh chấp không thể nào tránh khỏi. Với kẻ yếu như Việt Nam, nếu tranh chấp tay đôi với Trung quốc không thể có sự công bằng cho mình được. Liên minh quân sự với kẻ mạnh hơn Trung Cộng để tìm lợi thế cho mình là cách duy nhất để Việt Nam đứng vững. Nhật và Hàn đã nhìn ra hướng giải quyết này từ rất sớm, và họ đã có bước đi vững chắc. Đó là bài học cho Việt Nam. Thực tế trên thế giới, đất nước nào tiến bộ thì chính quyền đó tử tế. Luôn có mối quan hệ hữu cơ rất chặt chẽ giữa sự tử tế của chính quyền với sự cường thịnh của quốc gia đó. Chính vì vậy, mà chúng ta thấy rằng, Mỹ luôn chọn kẻ giàu để chơi, bởi vì họ chọn kẻ giàu cũng đồng nghĩa với việc họ chọn kẻ tử tế. Trong mối quan hệ hợp tác, chỉ có những kẻ tử tế cộng tác với nhau thì mới có được thế trận cả 2 cùng thắng win-win. Còn một khi có 1 trong 2 hoặc cả 2 kẻ hợp tác đều là phường lưu manh thì ắt sẽ xuất hiện hiện tượng lừa gạt nhau, lợi dụng nhau, ỉ mạnh bắt hiếp yếu vv.. Mối quan hệ Việt Trung là hình mẫu của sự bắt tay giữa phường lưu manh với nhau như thế. Trên thế giới, chúng thấy rằng mối quan hệ giữa Mỹ -Nhật, Mỹ – Hàn vẫn chặt chẽ hơn mối quan hệ Mỹ – Phi. Vì thiếu tầm nhìn nên năm 1992, Philippines đã để Mỹ rút quân hoàn toàn khỏi căn cứ Subic, để rồi hôm nay Trung Quốc lộng hành Biển Đông mà chẳng làm gì được họ ngoại trừ kiện. Như vậy qua đây chúng ta thấy, để giải bài toán làm sao Việt Nam đứng vững trước Trung Cộng thì bắt buộc Việt Nam phải liên minh quân sự với Mỹ. Mà để liên minh với kẻ tử tế thì trước hết mình phải là kẻ tử tế. Với chất lưu manh trở thành gene duy truyền thì mãi mãi ĐCS không làm được một chính quyền tử tế được. Những cuộc gặp gỡ cấp cao giữa người đứng đầu nhà nước Việt Nam và tổng thống Hoa Kỳ nếu nhìn sâu vào bản chất, thì nó là một sự cầu cạnh. Phía Việt Nam mỗi khi muốn gặp thì bộ ngoại giao Việt Nam vận động hành lang rất mạnh để có được cái gật đầu của tổng thống Mỹ. Cần phải biết, trong các cuộc gặp gỡ ấy, dù cho đó là Mỹ đến thăm Việt Nam hay phía Việt Nam sang Mỹ thì luật chơi không bao giờ thay đổi, Mỹ vẫn là kẻ ra giá và Việt Nam phải là kẻ trả giá. Thực tế, Mỹ đã ra giá quá cao, với tầm của ĐCS thì không bao giờ với tới được. Chính vì thế mà mối quan hệ này chỉ dừng lại ở việc mở rộng buôn bán, còn vấn đề hợp tác với Mỹ để mang lại sự an toàn cho Việt Nam trước Trung Cộng thì vẫn đang là con số zero tròn trĩnh. Thực ra không phải Việt Nam không muốn nhích lại gần Mỹ, mà đúng hơn là Mỹ không muốn kết thân với một kẻ lưu manh như Việt Nam. Kết thân gì với thằng mà trong nước của nó nó chửi mình, nhưng khi gặp mình nó năn nỉ vuốt ve? Nói thẳng ra là CSVN không đủ độ tử tế để kiếm một quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ. Cho nên mối quan hệ Mỹ – Việt chỉ tới như vậy thôi không thể tiến xa hơn. Thực ra bảo CS tử tế thì còn khó hơn lên trời hái sao, vì vậy mà bài toán chọn đồng minh để cân bằng tiếng nói với Trung Cộng đang là một bài toán hoàn toàn bế tắc đối với chính quyền Hà Nội. Tuy đi khắp nơi bắt tay để khè với dân Việt rằng “Thấy chưa! Đảng có nhiều bạn chưa?”, nhưng thực chất trong một rừng cái bắt tay xã giao đó CSVN không không hề có mối quan hệ khăng khít nào cả, CSVN đang rất đơn độc. Chính sách 3 không “không tham gia các liên minh quân sự với bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia” theo tôi chưa hẳn là Ba Đình muốn vậy, mà đó là vì trong tình thế chơ vơ không có ai để bấu víu nên đành xổ ra cái chính sách 3 không ấy cho oách rằng “bởi tao không thèm chơi với kẻ khác chứ chẳng phải không ai chơi với tao à nha” đại khái là ý đồ của họ như vậy. Thực chất mối quan hệ với Mỹ không hề có tiến triển, “trong cái khó ló cái khôn”, và một trong “cái khôn” đó của Hà Nội là, giật lấy tấm khiên của các anh cường quốc để che chắn cho mình. Nghĩa là sao? Nghĩa là Hà Nội mời các công ty dầu khí từ các cường quốc như Anh, Tây Ban Nha, Mỹ, Nga đến để án ngữ tại vị trí tranh chấp, và ĐCSVN nghĩ rằng, với những tấm khiên như BP, Repsol, ExxonMobil thì Trung Cộng sẽ ngại đụng tới- một kế sách khá ma lanh. Thế nhưng Hà Nội đã lầm, dù cho có tấm khiên made in USA nhưng Trung Cộng giật văng hết mà không hề ngán ngại. Những BP, Repsol, ExxonMobil lần lượt đều rút chạy làm ĐCSVN phải vơ vét tiền dân đền bù cho những công ty này vì đã phá vỡ hợp đồng. Một nước cờ sai của ĐCS đã dẫn đến tiền mất tật mang cho đất nước. Rõ ràng chúng ta thấy rằng, với bản chất lưu manh lọc lõi của ĐCSVN, họ không thể nào giải quyết được bài toán bảo vệ chủ quyền cho đất nước vì đơn giản họ không thể làm chính quyền tử tế được. Phải khẳng định rằng, còn CS thì Việt Nam chỉ có nhường cho Trung Cộng mỗi khi con quái thú này đòi hỏi mà không có cách nào để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Và thực tế, về lâu về dài, ĐCS đã để chủ quyền đất nước ngày càng bị teo tóp. ĐCS cũng biết họ bất lực, nhưng vì tham lam và đặt quyền lợi đảng lên trên quyền lợi đất nước mà họ quyết không từ bỏ độc quyền cai trị. Bài toán chủ quyền và sự trường tồn của dân tộc, đó là bài toán của 100 triệu dân giải quyết ĐCS chứ không phải là bài toán của ĐCS./. Nguồn ảnh https://chantroimoimedia.com
10.09.2019
Đỗ Ngà - Fb Van Nga DO|