Bỏ “Tiên học lễ, hậu học văn”, rồi làm gì?!

VietTuSaiGon's blog
 

Mấy bữa nay trên các trang mạng xã hội râm rang câu chuyện Giáo sư Trần Ngọc Thêm, Hiệu trưởng đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã nêu trong một tham luận bàn về văn hóa, giáo dục, rằng nên bỏ Tiên Học Lễ Hậu Học Văn trong giáo dục nhằm phát huy tính sáng tạo cá nhân (độc sáng). Điều này tạo ra hai luồng dư luận trái chiều, một bên đồng thuận bỏ, một bên phản đối bỏ. Như vậy, rốt cuộc, bỏ là tốt hay không bỏ là tốt? Và nếu bỏ thì bỏ hẳn hay thay thế?

Trước nhất, muốn bỏ hay không bỏ, có lẽ phải đặt ra câu hỏi: Mệnh đề Tiên Học Lễ Hậu Học Văn là gì? Nó có từ bao giờ? Mức độ chi phối, ảnh hưởng của nó với giáo dục Việt ra sao? Thực ra, cho đến lúc này, không ai dám khẳng định câu này là của Khống Tử mặc dù trong trước tác của ông đặt nặng vấn đề Lễ, bởi Lễ giúp cho con người thấu cảm được lẽ huyền vi Trời Đất, thấy được ý nghĩa tồn tại, định vị được chỗ đứng của mình trong gia đình, trước xã hội và có cách đối nhân xử thế phải mực. Ngoài ra, vì lý do chính trị, Khổng Tử đã nâng Lễ lên thành một loại nghi thức cúng kính, tôn thờ trời đất quỉ thần, các bậc tiên vương, vua chúa, quan lại… Nghĩa là một phần, Lễ giúp cho con người biết khiêm nhường, khoan hòa. Nhưng phần khác, Lễ khiến cho con người trở nên mê tín và tôi đòi chính trị.

Hậu học văn, thời Khổng Tử thì không có các môn hình học, đại số, sinh học, vật lý, hóa học, kĩ thuật nông nghiệp, địa lý… Nhìn chung, các môn tự nhiên trên không có trong nền giáo dục Nho Giáo, ngoại trừ môn Số (trong Nho, Y, Lý, Số nhằm dạy người ta hiểu về bói toán, hiểu về chữa bệnh nhưng cũng chỉ là kinh nghiệm thô sơ, Dịch số thời đó là phương toán Hà Đồ, Lạc Thư na ná tích hợp thô sơ, nó không được dạy trong các trường Khổng Nho mà lại dạy ở các thầy chiêm tinh, địa lý, nó là môn nghiên cứu riêng của các nhà thuật sĩ…) và ngay cả các môn xã hội thời đó cũng còn ở mức tầm chương trích cú như học viết chữ, học thuộc lòng các bản kinh của người xưa, xem đó là kinh điển bất di bất dịch.

Nhìn chung, cái sự học lấy Tiên Học Lễ Hậu Học Văn của thời xưa chỉ dừng ở mức biết Lễ để mà sợ Trời Đất, sợ quân vương, thờ nhà vua, vua bảo chết thì chết. Biết văn để tranh tài ra làm quan, cũng để thờ vua, để ca tụng nhà vua. Trong ý nghĩa và công dụng này, thì đương nhiên biết Lễ trước sẽ tốt hơn là biết Văn trước. Biết Lễ trước sẽ dễ thăng tiến và có cơ hội tồn tại trong chốn quan trường cao hơn biết văn trước. Biết lễ trước khỏi lo chết, thấu hiểu vị trí và mạng sống của mình trước nhà vua. Thời đó, với học thuật như vậy, chính trị như vậy, cái câu Tiên Học Lễ Hậu Học Văn là một chân lý, là mệnh đề có tính thức thời của kẻ làm quan.

Nhưng, đến thời hiện đại, tại sao người ta vẫn dùng mệnh đề này trong triết lý giáo dục? Bởi chữ Lễ và chữ Văn của thời đại tân học, tức chữ quốc ngữ đã thịnh hành lại mang nội hàm rộng hơn, chữ Lễ của thời này vừa mang ý nghĩa tôn thờ trời đất, nhà vua, tiền nhân, lại vừa mang ý nghĩa tôn thờ thầy cô, cha mẹ và đặt trọng tâm gia đình, cha mẹ lên cao nhất. Nghĩa là chữ Lễ của tân học đã có một bước cách mạng, nó đi từ kiếp nô lệ dưới thời phong kiến sang kiếp tự thân vận động của thời hậu phong kiến. Và nó cũng là phần dạy người ta cách đối nhân xử thế trong xã hội mới. Chữ Văn của thời tân học bao gồm những môn học mới như toán học phương tây, sinh học, hóa học, vật lý, địa lý… Trên tình thần này, mệnh đề Tiên Học Lễ Hậu Học Văn phải được hiểu là trước nhất phải học cách ứng xử của xã hội loài người, học nghi thức làm người, học đạo đức, hiểu phẩm hạnh, nhân cách là thế nào và trau dồi đạo đức để làm người, thứ đến mới học tri thức nhân loại để tạo cho mình kĩ năng làm việc, khả năng cống hiến…

Đó là tinh thần của Lễ và Văn thời đại mới, nhìn chung hoàn toàn hợp lý, không có dáng dấp của Khổng Tử chi phối trong tinh thần này mặc dù nó có căn nguyên Khổng Nho. Đến giáo dục xã hội chủ nghĩa, chữ Lễ và chữ Văn lại được hiểu theo nghĩa khác và định theo hướng khác. Tuy nhiên, một đất nước có ngàn năm nô lệ giặc Tàu, muốn bứt thoát ra khỏi căn phận nô lệ, người ta buộc phải bứt thoát từ căn gốc, cội nguồn. Đây là vấn đề đáng bàn mà Giáo sư Trần Ngọc Thêm đang bỏ ngõ (thiết nghĩ lý do bỏ ngõ này rất nhạy cảm và dễ hiểu trong tình thế của ông – một đảng viên Cộng sản, một lãnh đạo trong ngành giáo dục, và đương nhiên là một chân trong hội đồng nhân dân thành phố). Chính sự bỏ ngõ, không nêu được