Chính biến thành Naypyidaw - Và Bài học phi chính trị hoá lực lượng vũ trang ở Việt Nam

Quân đội Miến Điện Phạm Minh Vũ   Đã có hơn 50 Dân thường bị giết chết và thậm chí có cả lãnh đạo đảng NLD (National League for Democracy) bị sát hại sau khi tướng lãnh quân đội Miến Điện đầu tháng hai vừa qua đã tiến hành cuộc đảo chính lên nắm quyền.   Cuộc xuống đường kéo dài hơn một tháng qua hội tụ đầy đủ mọi tầng lớp người Dân Miến Điện, cùng với nhiều sáng kiến mới mẽ trong cách thức biểu tình, đã làm cho quân đội Miến Điện rúng động, và quân đội điên cuồng nổ súng, xả hàng loạt đạn thật vào những người biểu tình ôn hoà, tay không tấc sắt, mong thực hiện lời dạy của Mao là “quyền lực sinh ra từ họng súng”.   Quân đội Miến Điện đã tiêu diệt nền Dân chủ mong manh, vừa mới ra đời non một thập kỷ bằng thứ sức mạnh bạo quyền.   Hàng triệu người Miến Điện thuộc mọi lứa tuổi và mọi thành phần xã hội xuống đường biểu tình, bất chấp bị đàn áp đẫm máu.Điều đó cũng nói lên rõ ý chí không muốn quay lại với chế độ quân phiệt của người dân Miến Điện hiện nay.   Cuộc xuống đường kéo dài hơn một tháng qua dù máu đã đổ, Kyal Sin một sinh viên đã hi sinh vì bị đạn bắn vào đầu, em nằm xuống cho đất nước của em được đứng lên. Và đó chưa phải là người cuối cùng nằm xuống.   Đây là ý chí người dân là cố gắng thoát khỏi những thòng lọng của những lãnh tụ độc tài đầy quyền lực, luôn dùng bạo lực như là giải pháp thuộc bản năng.   Việc sử dụng bạo lực của những tướng lãnh quân đội để dập tắt những làn sóng của mọi thành phần người dân Miến Điện đòi dân chủ là chống lại loài người, tàn ác, không thể dung thứ. Như lời Ngoại trưởng Singapore Vivian Balakrishnan trong cuộc họp ASEAN mới đây thẳng thừng chỉ trích quân đội Miến Điện rằng: "Cầm súng bắn vào người dân nước mình là đỉnh cao nỗi ô nhục quốc gia".   Thật vậy, không có nỗi ô nhục nào bằng ô nhục cầm súng bắn thẳng vào đồng bào mình.   Ông Balakrishnan nói về điều đó như là một chân lý. Và nếu là chân lý, thì ta suy rộng ra quân đội nào mà bắn vào dân mình đều là tột đỉnh Ô nhục.   Hôm nay, tòa án Việt Nam xét xử phúc thẩm vụ án Đồng Tâm, nhà văn Nguyên Ngọc từng thốt lên là tội ác mà nhà cầm quyền Việt Nam gây ra ở Đồng Tâm thật trời không dung đất cũng không tha. Vì công an Việt Nam nổ súng sát hại một lão già 58 tuổi đảng, rồi tử hình 2 con trai cụ chỉ mục đích cướp miếng đất trị giá hàng tỷ đô ở Đồng Sênh.   Vậy chiếu theo chân lý Ông Balakrishnan nói ra, thì nhà cầm quyền Việt Nam do Nguyễn phú trọng cầm quyền gây ra ở Đồng Tâm cũng là tột đỉnh của sự ô nhục.   Rõ ràng việc nổ súng vào dân là một việc làm của một chế độ tàn bạo, lấy máu dân dựng nên chế độ. Duy trì quyền lực trên họng súng rõ ràng quân đội bị vòng xoáy quyền lực chính trị mê hoặc.   Ở các nước có nền Dân chủ mạnh mẽ, thì quân đội hay Lực lượng vũ trang (LLVT)chỉ giữ đúng vai trò bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân. Không bao giờ tham gia vào cuộc tắm máu dân.   Máu đã đổ ở Miến Điện, hay Đồng Tâm khi lực lượng vũ trang nghe theo lệnh cấp trên, điều đó là quân đội bị chính trị hoá. Nó tạo thứ chính trị bạo tàn vì lợi ích kẻ cầm quyền độc tài luôn đối nghịch với nhân dân.   Quân đội có súng ống, hay vũ khí hiện đại là để chống ngoại xâm, gìn giữ và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Những thứ vũ khí ấy cũng do từ máu và mồ hôi công sức của dân mà ra. Vì thế nó phải phục vụ tổ quốc và người dân, không phải là công cụ trung thành của bất kỳ đảng phái nào hoặc phe nhóm nào.   Không phải chỉ giữ quyền lực, Lực lương vũ trang ở Việt Nam bị nhiều lãnh đạo đảng lợi dụng cho việc đi cướp đất của dân tạo ra một đế chế dân oan mạnh nhất thế giới.   Nhìn qua Myanmar và rõ nhất ở Đồng Tâm, Việc phi chính trị hoá LLVT là cần thiết. Vì chế độ đảng phái chính trị nào cũng nhất thời, do con người điều hành, thì sai xót khi ra quyết sách là không thể tránh, vì vậy quân đội không thể trung thành với họ. Xét theo lịch sử, lãnh tụ độc tài nào cũng luôn rêu rao “còn đảng còn mình”.   Vì vậy, bài học ở Miến điện rút ra ở đây là để tránh một cuộc tắm máu đồng bào do quân đội gây ra trong tương lai, cách tốt nhất là chỉ trung thành với tổ quốc và nhân dân.   Không mệnh lệnh nào bằng mệnh lệnh của đại đa số Nhân dân. Quân đội Việt Nam hãy đứng vê nhân dân trước khi không thể...
......

Đánh dấu 39 năm Ngày Dựng Cờ Chính Nghĩa (8/3/1982 - 8/3/2021)

Ảnh : Tướng Hoàng Cơ Minh hướng dẫn các thành viên Mặt Trận tại vùng rừng núi Đông Dương, trong dịp lễ Công Bố Cương Lĩnh Chính Trị 8/3/1982. Ảnh: Tư liệu Đảng Việt Tân Lý Thái Hùng Cách đây 39 năm, trong lúc cả nước chìm đắm trong gông cùm bạo tàn của chế độ độc tài Cộng Sản, hàng triệu người tìm cách vượt biên, vượt biển ra nước ngoài tìm tự do, thì một số người yêu nước từ hải ngoại đã tìm cách trở về để bắt tay với những lực lượng kháng cự tại quốc nội, dựng lại ngọn cờ Chính Nghĩa sau cuộc chính biến Tháng Tư, 1975. Đánh dấu của sự trở về này chính là buổi lễ công bố bản Cương Lĩnh Chính Trị của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam, gọi tắt là Mặt Trận, tiền thân của Đảng Việt Tân vào ngày mồng 8 tháng Ba, 1982, nhằm minh định lập trường đấu tranh cứu nước và dựng nước, trong bối cảnh tan tác, đau thương của toàn thể dân tộc dưới sự cai trị của đảng CSVN. Tại miền Nam, hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị đày ải nơi các trại tù khổ sai chung thân dưới mỹ từ “Trại tập trung cải tạo.” Hàng trăm ngàn gia đình thân nhân của các quân cán chính này đã bị lưu đày đến những vùng rừng sâu nước độc dưới mỹ từ xây dựng “Khu kinh tế mới.” Nền kinh tế trù phú miền Nam hoàn toàn bị phá hủy dưới chủ trương “đánh tư sản mại bản.” Tại miền Bắc, cuộc chiến tranh biên giới do Đặng Tiểu Bình phát động dưới cái gọi là “dạy cho đàn em CSVN một bài học,” đã huy động gần nửa triệu Hồng quân và súng đạn, tổng công kích 6 tỉnh miền Bắc vào đầu năm 1979, đã không chỉ khiến cho hàng vạn người bị hy sinh, hạ tầng cơ sở bị phá hoại nặng nề, mà còn làm cho hàng triệu người dân miền Bắc sống điêu đứng trong nhiều năm dài. Những thảm cảnh không bút mực nào tả xiết này đã hoàn toàn bị bưng bít bằng bức màn sắt của chế độ, bao trùm lên toàn thể đất nước từ 1975 đến 1987, khi chế độ buộc phải mở cửa giao thương với thế giới bên ngoài để cứu nguy nền kinh tế phá sản. Người Việt Nam lúc đó bị cách ly khỏi thế giới bên ngoài, đè nghẹt dưới gọng kềm chuyên chính, cảm nhận đất nước đang từng ngày biến thành địa ngục trần gian. Chính trong bối cảnh vô vọng đó của dân tộc, và trước sự thờ ơ của thế giới coi số phận Việt Nam như đã an bài, người Việt Nam đã không đầu hàng nghịch cảnh mà cương quyết vùng lên tìm đường cứu nước. Tại buổi lễ trong vùng rừng núi Đông Dương, Tướng Hoàng Cơ Minh, Chủ Tịch Mặt Trận đã tuyên xưng chính nghĩa của dân tộc: “Những nguyện vọng nhỏ bé nhất của người dân như cơm đủ ăn, áo đủ mặc, sống cảnh gia đình đoàn viên cũng không còn có thể thực hiện được… Nguy hại hơn nữa, CSVN đã đưa Tổ Quốc chúng ta vào vòng thống trị của đế quốc, đem quân khống chế Lào, xâm chiếm Kampuchia… Vì sự sống còn của dân tộc, vì khát vọng tự do và hòa bình, dân tộc Việt Nam quyết tâm hy sinh và chiến đấu… Trong bầu không khí phấn khởi của Mùa Xuân Khởi Nghĩa, trong niềm căm phẫn tột độ của toàn dân, với tinh thần “Quyết tâm giải phóng Việt Nam,” Mặt Trận công bố Cương Lĩnh Chính Trị để hướng dẫn toàn dân trong công cuộc đấu tranh giải phóng Tổ Quốc và xây dựng Quê Hương.” Châm ngôn của Mặt Trận là: “Lấy chính nghĩa để huy động toàn dân. Lấy chính nghĩa để khuất phục kẻ thù. Lấy chính nghĩa để tranh thủ thế giới.” Vì thế ngày 8 tháng Ba, Mặt Trận đã tuyên xưng đây là ngày Dựng Cờ Chính Nghĩa. XEM THÊM: Bối cảnh xuất hiện “Ngày Dựng Cờ Chính Nghĩa 8/3/1982” https://viettan.org/boi-canh-xuat-hien-ngay-dung-co.../ Người Việt Nam đã không chiến đấu để bảo vệ quyền lợi của một cá nhân hay dòng họ như thời quân chủ xa xưa. Người Việt Nam cũng không chiến đấu để bảo vệ quyền lợi cho một giai cấp, của một đảng độc tôn. Chính nghĩa đấu tranh của người Việt Nam vào thập niên 80 là ở chỗ chiến đấu để giành lấy độc lập và tự do, vì quyền lợi tối thượng của đất nước và vì lẽ sống còn của toàn dân đang bị thiểu số độc tài áp bức. XEM THÊM: Những quan niệm nền tảng của Đảng Việt Tân https://viettan.org/.../phan-hai-nhung-quan-niem-nen-tang/ Nhưng có chính nghĩa không chưa đủ, chúng ta còn phải quảng bá và phát huy chính nghĩa đó bằng những quan niệm và hành động thực tiễn. Hành động thực tiễn biểu hiện qua tinh thần chiến đấu trường kỳ, không chấp nhận thỏa hiệp hay nhượng bộ đối phương cho đến ngày chế độ độc tài hoàn toàn sụp đổ, và đất nước có cơ hội canh tân, xây dựng một nền dân chủ vững chắc, tự do, văn minh và nhân bản. Hành động thực tiễn còn biểu hiện tinh thần sẵn sàng từ bỏ cuộc sống ấm êm tại hải ngoại, để đồng cam cộng khổ với quốc nội trong từng nỗ lực xây dựng tiềm lực đấu tranh lâu dài. Với tinh thần đó, những thành viên của Mặt Trận, đã nối tiếp nhau xây dựng hành lang phục quốc từ những ngày đầu thành lập khu chiến gian lao với hai bàn tay trắng, tới con đường Đông Tiến hào hùng với những chuyến nhập nội đầy hiểm nguy, trắc trở – bằng chính xương máu và tài lực của mình, dựa trên những quan niệm thực tiễn làm kim chỉ nam hành động: Lấy sức mạnh dân tộc làm căn bản, đại đoàn kết toàn dân làm vũ khí và đứng trên lập trường dân tộc để đấu tranh toàn diện. Trong chiến lược “Toàn Dân Toàn Diện,” Mặt Trận kêu gọi sự tham gia của mọi thành phần dân tộc, và tấn công chế độ trên mọi bình diện, mọi phương tiện, với phương châm “tiết kiệm xương máu của toàn dân và bảo tồn tài nguyên của đất nước,” nhằm tiến tới một cuộc “vùng dậy của toàn dân” để chấm dứt chế độ độc tài. Với chủ trương “Lấy đại đoàn kết toàn dân làm vũ khí,” Mặt Trận cũng đã kêu gọi anh em thuộc “hàng ngũ bên kia” quay trở về phục vụ dân tộc thay vì chủ nghĩa “Cộng sản quốc tế.” 39 năm trước, Mặt Trận không chủ trương mở một cuộc chiến tranh mới mà là tiến hành một cuộc đấu tranh giải phóng. Nếu sức mạnh của chiến tranh đến từ nòng súng, đến từ đại pháo xe tăng thì sức mạnh chính yếu của đấu tranh giải phóng đến từ con tim, đến từ quyết tâm của con người. Chính những quyết tâm này, chúng ta đã cùng nhau thắp sáng ngọn lửa tự do và liên tục trao đến tay nhiều thế hệ, kể cả những người từng ở bên này hay bên kia chiến tuyến trước năm 1975. Lúc đó vẫn có một số người nghi ngờ về chủ trương này, liệu có thể đạt được mục tiêu giải phóng đất nước sau những bàng hoàng về sự sụp đổ của miền Nam trong lúc có hơn 1 triệu quân trong tay? Nhưng đến ngày hôm nay, chúng ta càng thấy rõ, như lời tâm huyết của cố Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, đã từng chia sẻ với đồng bào: “Chúng ta không chủ trương chiến đấu đơn độc, nhưng không ngại chiến đấu một mình. Chúng ta luôn lấy sức mạnh dân tộc làm căn bản. Không nước nào giúp chúng ta mà không vì quyền lợi của chính họ. Hãy vận động sự hỗ trợ của thế giới trên căn bản tương quan quyền lợi. Có những vấn đề Việt Nam mà người Việt Nam phải giải quyết. Có những vấn đề Việt Nam của thế giới mà thế giới phải chung tay giải quyết. Không ai thương dân tộc Việt Nam bằng chính người Việt Nam.” Do đó, muốn Việt Nam có tự do và dân chủ thật sự, chính người Việt Nam hơn lúc nào hết phải cùng nhau góp phần đấu tranh bằng hết tấm lòng, khả năng và trí tuệ của mỗi người. Nhìn lại 39 năm ngày Dựng Cờ Chính Nghĩa, mặc dù cuộc đấu tranh chưa thành tựu và còn rất nhiều chông gai phía trước, nhưng chúng ta vững tin là sớm muộn gì chế độ độc tài cộng sản cũng phải cáo chung, với những chỉ dấu rõ rệt trong hiện tình đất nước: Thứ nhất, lòng dân đã chán ngán và nhìn thấy rõ là đảng CSVN không có khả năng mang lại đời sống tự do và hạnh phúc thực sự cho toàn dân. Những chính sách cải cách kinh tế nửa vời, dè chừng, tuy có mang lại một số thay đổi, nhưng về căn bản, đất nước và xã hội Việt Nam đã không phát triển lành mạnh theo đúng tiềm năng của dân tộc. Chính bộ máy độc tài của đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến Việt Nam thành một xứ tư bản hoang dã, cạnh tranh theo quy luật “mạnh được yếu thua.” Thứ hai, đảng CSVN thực chất là một tập đoàn mafia với các phe nhóm “cộng sinh” theo quy luật “dựa vào nhau để tồn tại, dè chừng nhau để thủ thân, đấu đá nhau để thủ lợi.” Dưới chiêu bài “đốt lò,” phe Nguyễn Phú Trọng đang đào xới những vụ án tham ô liên hệ đến cán bộ của những phe nhóm khác để triệt hạ con đường thăng tiến của một số cán bộ hầu giữ chặt quyền lực đảng và nhà nước vào trong tay phe nhóm mình. Sự kiện Nguyễn Phú Trọng dù tuổi cao và sức khoẻ suy yếu những vẫn cố bám chặt ghế tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ thứ ba trong đại hội XIII cho thấy là Nguyễn Phú Trọng đi theo đường mòn Tập Cận Bình để thao túng tất cả. Thứ ba, người dân đã không còn quá sợ hãi bộ máy trấn áp của chế độ. Người dân đã biết cách khai thác những biện pháp cải tổ nửa vời và dùng mạng xã hội để tạo những áp lực thay đổi hoặc đẩy bộ máy hành chánh rơi vào tình thế lúng túng đối phó trong nhiều trường hợp. Nhờ vậy mà ngày hôm nay, không gian hoạt động của các đoàn thể xã hội dân sự đã mở rộng trên nhiều lãnh vực và người dân tự liên kết nhau để chống lại những thủ đoạn trấn áp của an ninh, nhằm phát triển tiềm lực trong quần chúng. Tóm lại, gần 4 thập niên sau ngày Dựng Cờ Chính Nghĩa chưa phải là thời gian quá dài trong dòng lịch sử dân tộc, nhưng đủ cho phong trào dân chủ Việt Nam bắt rễ để chuẩn bị cho thế trận mới trong ngày toàn dân tổng phản công toàn diện, bằng chính sức mạnh của người Việt Nam trong và ngoài nước. Thông điệp nhân bản, xây dựng và chủ trương thực tiễn của Mặt Trận phát xuất từ tấm lòng trong sáng của những người Việt Nam yêu nước, đầy nhiệt tình và can đảm – dù đã hy sinh hay vẫn còn kiên trì chiến đấu, đã thắp sáng ngọn lửa chính nghĩa của dân tộc qua nhiều thế hệ, và đang góp phần xiển dương dòng lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam. Lý Thái Hùng https://viettan.org/danh-dau-39-nam-ngay-dung-co-chinh.../  
......

Giải mã vụ Đồng Tâm (Phần 5-6)

  Hoàng Xuân Phú|   5. Thông điệp Đồng Tâm?   Tấn công vào Đồng Tâm, tra tấn và giết hại cụ Kình hết sức dã man, đồng thời thiêu cháy ba sĩ quan cảnh sát, rồi gán tội giết người cho sáu người dân Đồng Tâm, kéo theo hai án tử hình, một án chung thân... Tại sao phải hành xử như vậy? Nhằm phát đi thông điệp gì? Điều đó thì chỉ tác giả kịch bản và đạo diễn mới biết rõ. Nhưng họ không nói ra, và có lẽ đến lúc trút hơi thở cuối cùng cũng không thể nói ra, vì sự thật quá tệ hại. Thành thử, muôn dân chỉ có thể suy đoán. Nhiều người bứt rứt với câu hỏi: Mấy chục hecta đất ở nơi xa vắng ấy có đáng để hành xử như vậy hay không? Không. Mấy chục, chứ mấy trăm hecta cũng không. Vì thế, nếu chỉ quanh quẩn trong phạm vi mấy chục hecta đất đai tranh chấp, thì sẽ không thể lý giải nổi thảm kịch Đồng Tâm.   5.1. Tâm tư thượng giới? Để hiểu phần nào cội nguồn của tội ác Đồng Tâm, hãy lùi ba mươi năm, trở lại những năm tháng chấn động địa cầu, bởi sự sụp đổ đồng loạt của Liên Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Ngày ấy, nền chuyên chính hà khắc nhân danh vô sản bỗng trở nên bất lực, khi nhân dân đứng lên lựa chọn chế độ phi cộng sản. Lực lượng vũ trang khổng lồ tỏ ra vô dụng, sau nửa thế kỷ được chăm bẵm, biệt đãi để bảo vệ chế độ. Ở Romania, súng có nổ theo kỳ vọng, nhưng chẳng cứu vãn nổi tình hình, mà chỉ làm cho kết cục của vợ chồng Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Romania Nicolae Ceaușescu thêm thê thảm. Ở Moskva, cuộc chính biến trong ba ngày 19-21/8/1991 nhằm cứu vãn chế độ cộng sản ở Liên bang Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết thất bại, khi phần lớn lực lượng vũ trang được điều động không tuân lệnh cấp trên, mà lại đứng về phía những người biểu tình. Kể từ đó, giới cầm quyền ở các nước cộng sản còn sót lại thấp thỏm lo âu, sợ đến lượt mình. Vậy là gấp gáp đua nhau vơ vét, từ tài sản mang danh sở hữu toàn dân và tài sản riêng của muôn dân. Đồng thời siết chặt chuyên chính, trấn áp từ xa mọi mầm mống có thể kích hoạt quá trình sụp đổ của chế độ.   Ăn cắp vặt lẻ tẻ trở thành cao trào tham nhũng và cướp bóc có tổ chức. Càng lên cao quy mô tham nhũng càng cao. Khi nhân sự các cấp được xác định bởi đa số phiếu bầu, mà những kẻ tham nhũng ngút trời, ai ai cũng biết, vẫn được bầu vào những vị trí siêu cao, thì chứng tỏ đa số có quyền tham gia bỏ phiếu thuộc thể loại nào. Trong quần thể ấy, chống tham nhũng hay được tận dụng như một phương tiện để thanh trừng đối phương và phân chia lại thị phần tham nhũng. Khi tham nhũng đã trở thành bản chất của chế độ, thì chống tham nhũng (ngoài khuôn khổ của chiến dịch "nhổ cỏ lạ") có thể bị quy kết là chống chế độ. Do đó, có thể nhân danh bảo vệ chế độ để bảo vệ tham nhũng.   Vì không đánh giá đúng thực tế trần trụi ấy, cụ Kình nhầm tưởng sẽ an toàn, khi viện dẫn ý ngọc lời vàng của đấng tối cao để giương cao ngọn cờ chống tham nhũng. Tiếc thay, cụ cả tin nhầm thời, như đã từng tâm sự với cháu dâu Nguyễn Thị Duyên. Rằng "bác Trọng chống tham nhũng giỏi, sẽ để mắt đến vụ án dân Đồng Tâm chống tham nhũng". Rằng "họ không thể nào làm trái luật pháp, lương tâm và sự thật". Rằng "con yên tâm, cứ tin vào luật pháp Việt Nam và bộ máy nhà nước này". Và rằng "ông tin vẫn còn những cá nhân cấp cao tôn trọng sự thật". Đó là nhầm lẫn chết người. Vâng, chết người theo đúng nghĩa đen. Vì cụ Kình đã bị giết, bởi đồng chí đồng đảng mà cụ đã gửi trọn niềm tin. Thế lực cầm quyền thừa biết, nhóm nông dân Đồng Tâm chẳng dám, mà cho dù có dám thì cũng chẳng đủ sức để chống phá chế độ. Song nhóm thảo dân lại phạm phải ba điều tối kỵ, mà đấng cầm quyền không thể dung tha. Thứ nhất là hành động có tổ chức và mang bóng dáng của phong trào quần chúng, gắn bó xung quanh cụ Lê Đình Kình. Thứ hai là cả gan khống chế lực lượng vũ trang, lôi kéo các tay súng của đảng buông súng. Thứ ba là buộc Chủ tịch Nguyễn Đức Chung, người đứng đầu chính quyền Thủ đô Hà Nội, phải cúi đầu ký cam kết. Mấy hành động ấy không chỉ bị coi là thách thức chính quyền và là nỗi nhục không thể nuốt trôi, mà còn bị nhìn nhận là mầm mống chống đối dễ lây lan. Thêm vào đó, những lời ngợi ca và cổ vũ của dư luận bốn phương như đổ thêm dầu vào lửa, có thể gia tăng hưng phấn và ngộ nhận trên đất Đồng Tâm, nhưng đồng thời cũng khuếch đại nỗi căm giận và lo sợ của đấng cầm quyền. Vì vậy họ đã ra tay, đương nhiên không nhằm giải quyết tranh chấp mấy chục hecta đất đai, mà để trả thù và dập lửa từ xa, để đám lửa Đồng Tâm không trở thành tiền lệ, cháy lan ra muôn nơi.   Để hiểu hơn nỗi lo dày vò nơi thượng giới, hãy quan sát lễ xuất quân bảo vệ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XIII. Khi đó, 15 ngày trước lúc Đại hội khai mạc, 6.000 người, thiết giáp BTR-60 PB, RAM 2000 MKIII cùng nhiều loại vũ khí tối tân đã rầm rộ xuất quân. Đại hội đảng của cái đảng độc nhất, lại luôn miệng quả quyết rằng "ý đảng hợp lòng dân" và "được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ". Vậy thì hà cớ gì mà phải huy động lực lượng đến mức ấy để bảo vệ "nhiều vòng, nhiều lớp"? Nếu chỉ là biện pháp thận trọng, thì cứ việc tiến hành kín đáo, tại sao phải phô trương đến như thế?   Chưa hết, lại còn hạn chế xe tải, xe khách trên các tuyến đường hướng về Hà Nội, suốt từ 5 giờ sáng đến 8 giờ tối tất cả các ngày diễn ra Đại hội XIII, mặc dù trong thời gian ấy tất thảy 1.587 đại biểu tham dự Đại hội đã yên vị ở trung tâm Thành phố Hà Nội, chứ chẳng còn ai lang thang trên các ngả đường dẫn về Thủ đô. Vậy tại sao lại phải hạn chế giao thông đến tận những vùng xa xôi, cách nơi tổ chức Đại hội đến gần 50 km, như Vực Vòng, Đồng Văn (Hà Nam)? Kết quả là phơi bày nỗi sợ, hơn là biểu dương lực lượng. Mà biểu dương lực lượng cũng nhằm kìm nén nỗi sợ mà thôi. Sợ ai? Hiển nhiên, những loại vũ khí tối tân được huy động, như thiết giáp BTR-60 PB và RAM 2000 MKIII, không phải để "đón" dân oan khiếu kiện, hay "tiếp" mấy vị bất đồng chính kiến...   Hãy đọc Thông tư số 17/2018/TT-BCA ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Bộ công an, quy định về trang bị vũ khí, vật liệu nổ quân dụng và công cụ hỗ trợ. Theo Điều 4 Khoản 1 của Thông tư ấy, thì "công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh" cũng "được xem xét trang bị… súng chống tăng, … súng máy phòng không, tên lửa chống tăng cá nhân…". Đương nhiên, không phải để đánh giặc ngoại xâm, vì nhiệm vụ quốc phòng thuộc phạm vi trách nhiệm của Quân đội. Thử hỏi, súng chống tăng, tên lửa chống tăng và súng máy phòng không của lực lượng "công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh" sẽ nhắm vào đối tượng nào, trong một đất nước mà chỉ có Quân đội mới có xe tăng và máy bay chiến đấu? Một khi đã lo xa, chuẩn bị đối đầu với cả nguy cơ quân ta tấn công quân mình, thì tất nhiên thế lực cầm quyền không thể bỏ qua biến cố Đồng Tâm. Thật ra, nếu thực tâm mong muốn, thì chính quyền có thể dễ dàng giải quyết tranh chấp đất đai ở Đồng Tâm một cách êm thấm. Song ngược lại, sự cố đã được duy trì và kích động gia tăng, để tận dụng nó như một cơ hội hiếm có. Cơ hội để biểu dương sức mạnh của bạo lực chuyên chính, nhằm dằn mặt toàn dân. Cơ hội để thực tập tấn công trấn áp người dân trên quy mô lớn. Vâng, không còn giả vờ diễn như diễn tập, mà tất cả đều hết sức thực khi thực tập. Tấn công thực, đàn áp thực, bắt bớ thực, và giết người cũng thực.   Nếu chỉ muốn trấn áp và bắt bớ ba chục người dân Đồng Tâm, thì chỉ cần điều động vài trăm cảnh sát cơ động đã là quá đủ. Nhưng lại huy động hàng nghìn cảnh sát, hẳn là để thực tập chỉ huy và hiệp đồng tác chiến trên qui mô lớn. Đặc biệt, cuộc thực tập Đồng Tâm là cơ hội để kiểm nghiệm, xem lực lượng "còn đảng còn mình" có triệt để chấp hành mệnh lệnh một cách vô điều kiện hay không, nhất là khi nhận lệnh giết dân và giết cả đồng đội.   Ngày xưa, đầu của quan coi lương Vương Hậu bị Tào Tháo mượn để tránh lòng quân sinh biến. Ngày nay, đầu của đảng viên cộng sản Lê Đình Kình cũng bị mượn để ngăn lòng dân ai oán. Giống nhau ở chỗ, cả hai đều vô tội. Nhưng khác nhau ở chỗ, trước khi bị giết Vương Hậu còn được Tào Tháo thuyết phục một cách trung thực, rằng "Ta muốn mượn cái đầu ngươi để dẹp yên lòng quân", và "Ta cũng biết ngươi không có tội, nhưng không giết ngươi thì lòng quân sinh biến, sau khi ngươi chết, vợ con ngươi ta nuôi cho, ngươi đừng lo." Với cụ Kình thì hoàn toàn ngược lại, trước khi bị giết còn bị đồng chí xỉ vả, tra tấn, và chết rồi còn bị bồi thêm hai án tử hình, một án chung thân và 112 năm tù dành cho con cháu, người thân. Âu cũng thể hiện thứ đạo đức đặc trưng, từng giáng họa lên bao đồng bào, đồng chí thời Cải cách ruộng đất 1954, nay được đám đồng chí đồng đảng học tập và làm theo phát huy gấp bội. Vẫn chưa đủ, ba mạng cảnh sát cũng bị hy sinh, để biện hộ cho việc giết hại cụ Kình và lý giải các hình thức chuyên chế sẽ được triển khai trong tương lai. Bốn mạng người chỉ là giá khởi điểm, một khi đã quyết "Bằng bất cứ giá nào phải giữ cho được an ninh chính trị, trật tự xã hội”, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ thị trong buổi làm việc với Ban Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương vào sáng ngày 21 tháng 9 năm 2020. Tất nhiên, cần phải hiểu, cái muốn giữ không phải là giá trị phổ cập của thế giới văn minh, mà chỉ "giữ cho được" thứ "an ninh" và "trật tự xã hội" theo khẩu vị riêng của đấng cầm quyền sở tại.   5.2. Thông điệp bất chấp   Từ cách xử lý vụ Đồng Tâm toát ra thông điệp: Nếu dám làm trái ý đấng cầm quyền, cho dù hành động hợp pháp và chính đáng đến đâu đi nữa, thì cũng bị thẳng tay trừng trị. Và khi ra tay, thế lực cầm quyền bất chấp tất cả. Bất chấp đạo lý. Bất chấp lẽ phải. Bất chấp sự thật. Bất chấp cả Hiến pháp và pháp luật của chính Nhà nước này.   Lãnh đạo Bộ công an đã bất chấp sự thật khi thông báo về cuộc tấn công vào Đồng Tâm. Cơ quan cảnh sát điều tra đã bất chấp sự thật khi tung ra Kết luận điều tra hoàn toàn sai trái. Viện kiểm sát và Tòa án đã bất chấp sự thật khi bê đống bịa đặt từ Kết luận điều tra vào Cáo trạng và Bản án. Nhiều tình tiết vu khống, bịa đặt đã bị vạch trần. Còn vô số tình tiết sai trái khác chưa bị động tới. Nhưng ở đây, ta chỉ bổ sung thêm một ví dụ hết sức đơn giản, để minh họa cho mức độ sai trái tràn lan của các thông tin được nhồi nhét vào Kết luận điều tra, Cáo trạng và Bản án.   Về kích thước phòng khách nhà cụ Lê Đình Kình, Kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra viết tại trang 23: "Phòng khách có kích thước (4,5 x 7 x 2)m" (xem nửa trên Ảnh 5.1). Thử hỏi, có phòng khách nào chỉ cao 2 mét hay không? Vậy mà thông tin ấy lại được viết vào Kết luận điều tra, rồi được các thể loại cấp trên kiểm duyệt và phê duyệt. Những tưởng sản phẩm trí tuệ tầm ấy chỉ có đất dung thân ở Bộ công an, ai dè cũng được Viện kiểm sát trân trọng kết nạp. Thật vậy, Cáo trạng viết tại trang 21: "Phòng khách có kích thước (4,5x7x2)m" (xem nửa dưới Ảnh 5.1). Chẳng phải vì lười nên copy & paste, rồi kéo theo cả lỗi, mà đã cần cù đánh máy lại văn bản và sửa đổi những chỗ mà họ không ưng. Cụ thể, trong câu ấy, họ đã bỏ đi khoảng trống ở hai bên dấu nhân, song vẫn giữ lại kích thước của chiều thứ ba là 2 mét. Giả sử, nếu phòng khách nhà cụ Kình đã bị họ phá tan tành, thì bịa tùy ý đã đành. Đằng này, căn phòng ấy vẫn còn đó, với kích thước nền là 4,55 x 7,25 và chiều cao là 3,67 mét, nhưng họ vẫn thản nhiên viết là 2 mét.   Ảnh 5.1: Kích thước phòng khách nhà cụ Lê Đình Kình trong Kết luận điều tra và Cáo trạng.   Một thông tin đơn giản về một căn phòng đang tồn tại, không cần phải viết ra và nếu viết thì không cần phải viết sai, mà vẫn viết và vẫn sai như thế, thì đương nhiên, để vu khống người dân và bào chữa cho tội ác Đồng Tâm, họ chẳng thèm kiềm chế khi bịa đặt về các diễn biến đã qua. Vậy nên bất chấp sự thật, bịa ra chuyện cụ Lê Đình Kình dùng dao phóng lợn và cầm lựu đạn để tấn công cảnh sát. Và bịa ra chuyện ông Lê Đình Chức, giữa vòng vây cảnh sát vẫn điềm nhiên dùng dao phóng lợn chọc xuống cửa sổ, khiến ba sĩ quan cảnh sát cùng rơi xuống hố kỹ thuật, rồi thong thả đổ xăng xuống đó để thiêu...   Nếu tư duy một cách đơn giản, thì chẳng đáng ngạc nhiên, khi họ thể hiện truyền thống vu khống bịa đặt. Song vẫn băn khoăn với câu hỏi: Tại sao lại bịa đặt quá ngớ ngẩn như thế? Nếu chỉ do một đám thiểu năng tùy tiện nhào nặn thì đi một nhẽ. Đằng này, còn mấy tầng biên tập và phê duyệt, ít nhất lên đến lãnh đạo cấp Bộ. Chẳng lẽ cái công nghệ tuyển chọn, đào tạo và bổ nhiệm cán bộ đúng quy trình xây dựng đảng đã ngu hóa bộ máy cầm quyền đến mức ấy rồi sao? Phải chăng vì thế mà càng bịa càng ngu, càng ngu càng bịa? Thật xót cho muôn dân, phải tốn tiền nộp thuế, để nuôi bộ máy cầm quyền án ngữ bởi những não trạng tệ hại như vậy. Không chỉ hại cơm, mà còn hại dân, hại nước...   Nhưng nếu tư duy một cách cảnh giác, thì cần đặt thêm câu hỏi: Phải chăng, họ cố tình bịa đặt ngớ ngẩn đến mức cả những người ngu ngơ cũng có thể nhận ra, nhằm gửi đến toàn dân thông điệp, rằng họ bất chấp cả sự thật?   Sự thật là thứ có thể diễn ra ngoài ý muốn của thế lực cầm quyền, nên có thể biện bạch, rằng bất đắc dĩ mới đành phải bất chấp. Nhưng tại sao lại bất chấp cả Hiến pháp và pháp luật, là thứ do chính họ đặt ra và có thể ban hành như ý? Chẳng phải đến vụ Đồng Tâm mới bất chấp pháp luật, mà đã bất chấp từ lâu. (Ví dụ điển hình là ngang ngược chà đạp lên quyền biểu tình của công dân suốt mấy chục năm qua, mặc dù quyền ấy đã được hiến định trong tất cả các Hiến pháp của chế độ này.) Song phận dân đen thì chẳng biết bấu víu vào đâu ngoài pháp luật. Thành thử, người dân vẫn viện dẫn pháp luật để kêu oan, tố cáo quan tham và đòi công lý. Tiếc thay, đối với giới cầm quyền thì thái độ cứng đầu đó hay bị đồng nghĩa với việc lợi dụng Hiến pháp và pháp luật để phá rối "an ninh chính trị và trật tự xã hội". Phải chăng, chính vì vậy mà trong vụ Đồng Tâm, họ đã cố tình hành xử hết sức thô bạo, bất chấp Hiến pháp và pháp luật, nhằm dạy toàn dân bài học: Hiến pháp và pháp luật chỉ là công cụ để bề trên cai trị thần dân, nên đừng ngây thơ tưởng đó là thứ có thể dùng để trói buộc đấng cầm quyền.   Diễn ra trước thềm Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, phải chăng vụ Đồng Tâm cũng có tác dụng tương tự đối với nội bộ đảng cầm quyền. Đó là răn đe đối phương và nhắn nhủ tới toàn đảng: Điều lệ đảng chỉ là công cụ để cấp trên khống chế cấp dưới, nên đừng ngây ngô viện dẫn điều cấm trong Điều lệ đảng để cản trở kế hoạch quyền lực của đấng tối cao. Xét từ góc độ này, phải chăng vụ Đồng Tâm cũng góp phần chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIII? Trên thực tế, Đại hội XIII đã nhất trí "không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành". Tức là vẫn giữ nguyên cả Điều 17 của Điều lệ, trong đó quy định "Đồng chí Tổng Bí thư giữ chức vụ Tổng Bí thư không quá hai nhiệm kỳ liên tiếp." Tuy nhiên, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vẫn bầu ông Nguyễn Phú Trọng giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhiệm kỳ thứ ba.   Về lý mà nói, điều lệ đảng là văn bản pháp lý tối cao của mọi đảng chính trị, mà tất cả các tổ chức và các đảng viên của đảng đều phải nghiêm chỉnh chấp hành. Lãnh đạo cấp càng cao thì càng phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của điều lệ đảng, đặc biệt là những quy định dành riêng cho các vị trí lãnh đạo, bao gồm cả quy định về nhiệm kỳ của Tổng bí thư. Đây là một đặc điểm nhận dạng cơ bản, để phân biệt một đảng chính trị đích thực với một băng đảng. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định tại Điều 48: "Chỉ Đại hội đại biểu toàn quốc mới có quyền sửa đổi Điều lệ Đảng." Hiển nhiên, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam có quyền và chỉ có quyền quyết định sửa đổi hay không sửa đổi Điều lệ đảng, chứ Đại hội không hề có quyền quyết định vi phạm hay cho phép ai đó vi phạm Điều lệ đảng. Đó là tư duy pháp lý sơ đẳng, mà mọi người trưởng thành với đầu óc khỏe mạnh đều phải hiểu. Vì thế, khi Đại hội XIII đã quyết định "không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành", thì bản thân Đại hội XIII và cả cái Ban Chấp hành Trung ương do nó bầu ra cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ hiện hành, tất nhiên cả Điều 17, Khoản 1.   Vậy mà, Ban chấp hành Trung ương khóa XIII lại vi phạm Điều lệ đảng để hiện thực hóa kế hoạch nhiệm kỳ thứ ba của Tổng Bí thư. Hơn nữa, cả Đại hội XIII cũng chấp nhận như vậy.   Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định không mệt mỏi, rằng "Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay." Vậy còn đảng của ông thì thế nào? Tuy chẳng nói ra, nhưng chính bản thân Tổng bí thư cùng Đại hội XIII do ông đạo diễn (và cũng diễn ra như ý) đã phơi bày một thực tế trần trụi, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ mất tính đảng, mất tính chiến đấu như ngày nay.   Bài học đọng lại là: Điều lệ đảng, vốn được coi là thiêng liêng, mà dàn lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam còn thản nhiên chà đạp như thế, thì đừng quá ngạc nhiên khi họ chà đạp gấp bội lên Hiến pháp và pháp luật của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.   6. Ta phải làm gì?   Khi "chiến công đặc biệt" đã diễn ra như trình bày trong phần 4, thì các bị cáo Đồng Tâm chẳng hề liên can đến cái chết của ba sĩ quan cảnh sát. Nếu bị cáo khai nhận hành vi giết người nào đó, thì là do bị ép cung. Dấu hiệu ép cung thô bạo đã quá rõ ràng, mà Tòa án vẫn bám vào kết quả ép cung để kết án, thì là đồng lõa ép cung để chà đạp công lý. Do đó, việc Tòa án tuyên bố sáu bị cáo Lê Đình Chức, Lê Đình Công, Lê Đình Doanh, Bùi Viết Hiểu, Nguyễn Quốc Tiến và Nguyễn Văn Tuyển phạm tội giết người là cố tình kết án oan sai. Tất nhiên, ai cũng hiểu, trong những phiên xét xử kiểu này, thẩm phán chỉ là diễn viên đóng thế mà thôi.   Bản án số 355/2020/HS-ST có đoạn (trang 43):   "Hành vi của bị cáo Lê Đình Chức là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm chết 03 người đang thi hành công vụ, thể hiện tính côn đồ, tàn ác, mất nhân tính và không còn khả năng cải tạo, nên cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhất của khung hình phạt, loại bỏ vĩnh viễn khỏi đời sống xã hội để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung."   Càng tin Lê Đình Chức không giết ba cảnh sát, thì càng rùng mình trước phán quyết "tàn ác, mất nhân tính và không còn khả năng cải tạo", nên phải "loại bỏ vĩnh viễn khỏi đời sống xã hội". Phải chăng, chính tác giả đích thực của Bản án mới phù hợp với phán quyết ấy? Chẳng lẽ, chỉ vì mục đích "răn đe" và "phòng ngừa", mà họ hành động "tàn ác, mất nhân tính" đến như vậy hay sao? Liệu bản thân họ có "còn khả năng cải tạo" nữa hay không?   Sau phán xử sơ thẩm oan sai, mọi người chỉ còn cách trông chờ vào phiên tòa phúc thẩm. Nhưng ngày 6/11/2020, tức là 53 ngày sau khi kết thúc xét xử sơ thẩm vụ án Đồng Tâm, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình đã long trọng tuyên bố trước Quốc hội: "Chưa phát hiện kết án oan người vô tội." Tức là, ông ta cho rằng phiên xét xử sơ thẩm vụ án Đồng Tâm cũng không hề "kết án oan người vô tội". Nếu thế thì tương tự như vụ án Hồ Duy Hải, hạ màn phúc thẩm hay giám đốc thẩm cũng y án sơ thẩm mà thôi.   Có điều, dù y án, nhưng có lẽ sẽ không dám thi hành án tử hình đối với Lê Đình Chức và Lê Đình Công. Bởi thế lực cầm quyền biết rõ, ai mới là kẻ giết chết ba sĩ quan cảnh sát Nguyễn Huy Thịnh, Dương Đức Hoàng Quân và Phạm Công Huy. Vì vậy, cũng biết rằng, nếu bất chấp sự thật mà thi hành án tử hình đối với Lê Đình Chức và Lê Đình Công vì tội giết ba cảnh sát, thì cũng khởi động cả bản án kết liễu chế độ, đồng thời kết liễu cả tương lai của bản thân và gia đình mình.   Vậy nên làm gì bây giờ? Thuyết phục đạo lý với thế lực bất chấp đạo lý ư? Hay chỉ ra lẽ phải với thế lực bất chấp lẽ phải? Hay vạch trần sự thật với thế lực bất chấp sự thật? Hay tranh luận pháp luật với thế lực bất chấp pháp luật? Hay tuyên bố phản đối thế lực bất chấp tất cả? Làm như vậy phỏng có ích gì không?   Chắc hẳn trong bộ máy cầm quyền vẫn tồn tại những người không bất chấp tất cả, có lương tri đủ tầm để không thể chấp nhận tội ác Đồng Tâm. Nhưng tại sao họ không lên tiếng phản đối tội ác? Vì không đủ bản lĩnh? Hay vì vị thế không đủ cao, nên có lên tiếng cũng vô ích, giống như lấy trứng chọi đá mà thôi? Hay đơn giản vì chưa biết sự thật?   Tôi đã viết hai bài "Tội ác Đồng Tâm" và "Viết thêm về tội ác Đồng Tâm" để minh oan cho cụ Lê Đình Kình và các bị cáo Đồng Tâm, đồng thời giúp thế lực cầm quyền nhận ra, kịch bản tệ hại đã bị lộ tẩy, để sớm dừng chân, tránh dấn bước phạm thêm sai lầm. Có người trách tôi: "Tại sao lại công bố hai bài ấy trước khi xử án, để chúng nó có cơ hội biến báo?" Tôi đã tính đến nguy cơ ấy, và đã lưỡng lự vì nó. Nhưng rồi vẫn quyết định công bố hai bài ấy rất sớm, hơn nửa năm trước phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ Đồng Tâm. Vì đã biết quá rõ căn bệnh cố hữu của bộ máy cầm quyền lâu nay trên đất nước Việt Nam thấm đẫm đau thương, là mỗi khi phạm phải sai lầm thì thường chẳng chịu dừng lại để thừa nhận sai lầm, mà càng dấn tới để tỏ ra mình vẫn đúng. Cho nên, nếu muốn giúp các nạn nhân Đồng Tâm, thì cần giúp phía cầm quyền nhận ra sai lầm càng sớm càng tốt, để họ chưa kịp phạm thêm sai lầm mới.   Tiếc rằng, thiện chí của tôi đã không lay chuyển nổi bản năng và ý chí dấn tới của họ trên con đường sai lầm và tội lỗi.   Mặc dù vậy, tôi vẫn viết thêm bài này. Không phải để tranh luận với thế lực bất chấp tất cả. Mà viết cho đồng bào tôi đọc, cho đồng bào tôi hiểu. Bởi cái mà đồng bào tôi đang rất cần và rất đói là sự thật.   Đặc biệt, những người có lương tri trong đảng cầm quyền càng cần hiểu đúng cái sự thật phũ phàng của tội ác Đồng Tâm, và giúp các đồng chí của họ cùng hiểu ra sự thật.   Chỉ khi đã hiểu đúng sự thật, thì mỗi người mới có thể tự mình trả lời câu hỏi: Ta phải làm gì? Hà Nội, ngày 7 tháng 3 năm 2021   Nguồn : http://hpsc.iwr.uni-heidelberg.de/hxphu/index.php...  
......

Thán phục phụ nữ Myanmar

Chu Mộng Long Tôi không khỏi thán phục phụ nữ Myanmar. Trên thế giới, phụ nữ từng xuống đường và đổ bao nhiêu xương máu với hình thức biểu tình đối mặt với bạo lực. Phụ nữ Myanmar cũng vậy, đã dũng cảm như bao nhiêu phụ nữ tiền phong trên thế giới, nhưng thêm sự thông minh ngoài tưởng tượng.   Sau sự hứng đạn vào đầu với tâm nguyện cống hiến cả thân xác và tinh thần của mình vì tự do, dân chủ và bình đẳng cho đồng bào Myanmar của nữ vũ công Ma Kya Sin, chị em phụ nữ Myanmar đã sáng tạo ra lá chắn thép để cuộc đấu tranh an toàn hơn nhưng cũng thách thức hơn. Những chiếc váy, những chiếc quần lót được thay cho lá cờ của chế độ quân phiệt độc tài giăng khắp ngả đường đất nước Myanmar.   Họ đã đánh vào điểm yếu của đàn ông theo chủ nghĩa duy dương vật, nôm na là chủ nghĩa thờ con kẹc, với tâm thức sâu nặng rằng những gì thuộc đàn bà đều là xấu xa bẩn thỉu. Váy, quần lót phụ nữ đối mặt với súng đạn của thần kẹc mà bọn quân phiệt tự hào. Hiệu quả, không thằng nào dám chui qua. Một bức hình cho thấy, một thằng lính leo lên nóc ô tô dùng tay bóc bỏ những cái váy và quần lót để chứng tỏ tao không chui. Thật xấu hổ, đã mó vào mà không sợ bẩn tay sao, quân tuyệt tự?   Tôi cứ hình dung, nếu quân tuyệt tự ấy cúi đầu chui qua hàng rào "tàn vàng tàn tía" kia thì cũng không thể còn dũng khí bắn vào người biểu tình. Bởi cái con kẹc và súng đạn ngạo nghễ của chúng coi như đã cúi đầu quy phục phụ nữ, nơi đã sinh ra chúng nó, giúp chúng nó không tuyệt tự.   Chợt nhớ Hồ Xuân Hương của Việt Nam đã từng: "Tàn vàng tàn tía che đầu nhau đỡ khi nắng cực". Nhưng phụ nữ Việt Nam thời nay thì sao? Có còn đủ dũng khí và sự thông minh như nữ sỹ xưa hay đa số đã bị ru ngủ hoàn toàn trong những lời vuốt ve gọi là "tôn vinh sự hy sinh thầm lặng"?   Phụ nữ Myanmar xuống đường vì cả hai mục tiêu: nhân quyền và nữ quyền. Tinh thần phụ nữ Myanmar bất tử!   Chu Mộng Long  
......

Ngày 8 tháng 3: Giải phóng hay tôn vinh sự hy sinh của phụ nữ?

Chu Mộng Long Đang bận đến mức không dám ngó đến FB. Ăn cơm xong, định xem mấy phút thời sự trên truyền hình rồi làm việc ngay. Bất ngờ bật kênh HTV9 thấy một chương trình tôn vinh "sự hy sinh thầm lặng" của phụ nữ nhân ngày 8.3. Bức xúc quá, lại phải gác công việc, viết mấy dòng trên FB.   Chương trình lấy tấm gương Hai Bà Trưng ra làm tiền đề để ngợi ca những phụ nữ thời nay. Nhiều nữ bác sỹ vừa gồng mình trên tuyến đầu chống dịch vừa phải đảm đương việc nhà, dọn dẹp, giặt giũ, cơm nước cho chồng con. Có một nữ bác sĩ trẻ phải hoãn lại ngày cưới nhiều lần vì phải tham gia chống dịch...   Tất nhiên, cá nhân tôi cũng rất tôn trọng những phụ nữ trên. Nhưng tôn vinh "sự hy sinh thầm lặng" nhân ngày 8.3 là phản đề của cái ngày mà quốc tế gọi là "giải phóng phụ nữ"! Cái phản đề ấy làm cho nhiều người hiểu lệch lạc, dẫn đến lạm dụng tối đa về sự hy sinh của phụ nữ.   Sự thật, nói về "sự hy sinh thầm lặng" thì phụ nữ toàn thế giới đã từng hy sinh suốt hàng ngàn năm lịch sử. Chủ nghĩa duy dương vật (phallicism) với thể chế phụ quyền, người phụ nữ bị tước đoạt quyền tự do và bình đẳng, bị đối xử tàn tệ bằng nô lệ tình dục, bằng lao động khổ sai, kể cả bị ném vào chiến tranh hoang dã. Suốt hàng ngàn năm ấy, phụ nữ chấp nhận và chịu đựng làm thân trâu ngựa cho đàn ông hưởng lạc, không có quyền đòi hỏi bất cứ điều gì thuộc về con người, đó đã không phải là sự hy sinh vĩ đại sao?   Theo tôi, ngay cả Bà Trưng, Bà Triệu chống giặc và hy sinh trong chiến tranh cũng không có ý nghĩa gì về giải phóng phụ nữ mà chỉ càng nói lên sự hưởng lạc và bạc nhược của đàn ông khi đất nước rơi vào tay giặc. Không phải vô cớ mà luật pháp của thế giới văn minh cấm lạm dụng đàn bà, con nít trong chiến tranh.   Ngày 8.3 là kỷ niệm ngày giải phóng phụ nữ toàn thế giới sau những cuộc biểu tình bằng máu trên phạm vi lớn ở Âu - Mỹ vào đầu thế kỷ 20 - biểu tình đòi quyền được lao động giới hạn ngày tám tiếng, đòi quyền bình đẳng với nam giới, trong đó có quyền ứng cử và bầu cử. Hiện nay phụ nữ còn được thêm nhiều cái quyền khác trong gia đình, như quyền được giải phóng cả gánh nặng sinh con, dọn dẹp, giặt giũ, nấu ăn... Không có lý do gì giải phóng phụ nữ mà buộc họ gánh nặng cả hai vai, vừa vai xã hội vừa vai gia đình, trong khi đàn ông chỉ có một vai xã hội.   Tôn vinh "sự hy sinh thầm lặng" của phụ nữ là xuyên tạc, làm méo mó ý nghĩa ngày 8.3. Làm như vậy là phục sinh chủ nghĩa duy dương vật, tiếp tục thể chế phụ quyền đã từng lạm dụng triệt để thân xác phụ nữ. Chúng ta hãy thực hiện tinh thần giải phóng phụ nữ bằng hành động thiết thực, từ công việc gia đình đến hoạt động xã hội để chia sẻ với gánh nặng của phụ nữ chứ không phải bằng trò ru ngủ bịp bợm rằng, phụ nữ đã hy sinh cao cả!   Ru ngủ, bịp bợm phụ nữ đã "hy sinh thầm lặng" thì hàng ngàn năm trước chủ nghĩa duy dương vật đã làm rồi và còn làm tốt hơn nhiều. Huyền thoại từng ngợi ca nhiều phụ nữ tự nguyện hiến tế mạng sống của mình cho thần linh. Các tôn giáo độc thần mặc khải phụ nữ sinh ra là "kẻ bất toàn" (imperfectmen), tội lỗi, cho nên phải phụ thuộc đàn ông, phải chấp nhận hy sinh vì đàn ông để cứu chuộc tội lỗi. Chế độ phong kiến còn vinh danh nhiều phụ nữ bị gả bán cho ngoại bang, giữ tiết hạnh để thờ chồng, thậm chí chấp nhận được chết hay bị chôn sống theo chồng. Vinh danh sự hy sinh như vậy chưa đủ sao?   Chu Mộng Long  
......

Đông Nam Á giữa Mỹ và Trung Quốc

Trong hình, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái) và Thủ Tướng Cambodia Hun Sen. (Hình minh họa: Tang Chhin Sothy/AFP via Getty Images) Lê Mạnh Hùng - nguoi-viet.com|  Trong trận chiến tranh lạnh kéo dài 45 năm giữa Mỹ và Liên Xô, hai bên đã đụng độ hoặc nóng (qua những đại diện hoặc trực tiếp) hoặc lạnh trên khắp thế giới. Nhưng chiến trường chính của cuộc chiến tranh lạnh là Châu Âu, nơi mà Liên Xô thường xuyên lo ngại các chư hầu có thể tách ra theo phương Tây, trong lúc Mỹ thì lo rằng các đồng minh của mình có thể tìm một thỏa thuận riêng với Liên Xô. Cuộc cạnh tranh lần này giữa Mỹ và Trung Quốc may mắn là còn ít căng thẳng hơn. Lực lượng quân sự hai bên hãy còn chưa ở trong tình trạng tích cực chuẩn bị chiến đấu qua một đường chiến tuyến vạch sẵn tuy rằng tại Đài Loan và Bắc Hàn hai bên vẫn còn ở trong tình trạng căng thẳng vốn có từ nhiều chục năm nay. Tuy nhiên giống như chiến tranh lạnh, hai bên cũng có một chiến trường chính mà cạnh tranh sẽ gay gắt nhất: Đông Nam Á. Và tuy rằng tại đây không có một chiến tuyến vạch sẵn như Châu Âu thời Chiến Tranh Lạnh, nhưng điều đó chỉ làm cho cuộc đấu tranh trở thành phức tạp hơn. Các nước Đông Nam Á lúc này đã nhìn Mỹ và Trung Quốc như hai cực của một nam châm kéo đất nước mình đi theo hai chiều đối nghịch. Tỷ dụ như những người chống lại cuộc đảo chính gần đây tại Miến Điện đã giăng các biểu ngữ tấn công Trung Quốc vì đã ủng hộ các ông tướng cũng như kêu gọi Mỹ can thiệp. Các chính phủ vì thế cảm thấy bị áp lực phải chọn bên. Năm 2016, ông Rodrigo Duterte, tổng thống Philippines, hung hăng tuyên bố nước ông “ly dị nước Mỹ” và cam kết phục tùng Trung Quốc. Trung Quốc đòi chủ quyền trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông và việc Mỹ bác bỏ việc đòi chủ quyền này đã tạo ra những tranh cãi gay gắt bên trong tổ chức chính tập hợp các quốc gia này, Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (ASEAN) mà Trung Quốc tìm cách thu phục. Tranh chấp về Đông Nam Á sẽ còn trở nên gay gắt nữa vì hai lý do. Thứ nhất Đông Nam Á càng ngày càng trở nên có tầm quan trọng chiến lược đối với Trung Quốc. Đông Nam Á nằm ngay phía dưới Trung Quốc, chặn ngang con đường hàng hải huyết mạch chuyên chở dầu hỏa và các nguyên liệu đến cho Trung Quốc và mang hàng hóa Trung Quốc xuất cảng sang các nước khác. Trong lúc Trung Quốc bị chặn ngang ở phía Đông bởi vì Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan, thì cả ba đều là những đồng minh trung thành của Mỹ, do vậy Đông Nam Á là trận địa đỡ khó khăn hơn cả về kinh tế và quân sự. Đông Nam Á cũng cung cấp cho Trung Quốc cửa ngõ để có thể đi ra được cả Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương. Chỉ trở thành thế lực chi phối tại Đông Nam Á, Trung Quốc mới có thể giải tỏa được mối lo bị bao vây. Nhưng Đông Nam Á không chỉ là một trạm trung chuyển trên đường đi đến các nơi khác. Đông Nam Á tự nó cũng có tầm quan trọng. Đông Nam Á là quê hương của 700 triệu người, đông hơn là Liên Hiệp Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh hay là vùng Trung Đông. Kinh tế vùng, nếu tính như là một quốc gia sẽ đứng thứ tư trên thế giới tính theo chỉ số sinh họat, chỉ sau Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ. Và các nước này còn đang tăng trưởng kinh tế rất mau. Indonesia và Malaysia tăng trưởng với tốc độ 5-6% trong 10 năm qua; Việt Nam và Philippines với tốc độ 6-7%. Các nước nghèo như Miến Điện và Cambodia còn tăng trưởng nhah hơn nữa. Đông Nam Á nay trở thành nơi các công ty quốc tế lựa chọn làm nơi sản xuất, trong lúc dân chúng nay đã giàu đủ để có thể tạo ra một thị trường hấp dẫn. Trên phương diện thương mại cũng như trên phương diện địa chính trị, Đông Nam Á là một phần thưởng đáng quý cho kẻ nào thắng.  Trong hai đối thủ, Mỹ và Trung Quốc, cho đến nay Trung Quốc đang dẫn trước. Trung Quốc trở thành nước bạn hàng lớn nhất, và đầu tư vào Đông Nam Á cao hơn Mỹ nhiều lần. Ít nhất một quốc gia Đông Nam Á, Cambodia nay trở thành hầu như là chư hầu của Trung Quốc. Và hầu như không nước nào dám công khai đứng về phía Mỹ trong các cuộc tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên Trung Quốc cũng có nhiều nhược điểm lớn. Đầu tư Trung Quốc tuy nhiều, nhưng có nhiều khuyết điểm. Các công ty Trung Quốc bị tố cáo là làm hủ hóa hay phá hủy môi sinh. Nhiều công ty mang công nhân Trung Quốc vào làm thay vì dùng dân bản xứ, tạo ra những tranh chấp với dân chúng bản xứ. Và ngoài ra còn thói của Trung Quốc dùng những biện pháp trừng phạt thương mại hoặc đầu tư để cảnh cáo các quốc gia nào đã làm Trung Quốc không hài lòng. Trung Quốc cũng làm cho các nước láng giềng bất mãn bằng những hành động đe dọa quân sự. Việc Trung Quốc chiếm đóng và xây dựng những đảo nhân tạo vũ trang trên các cồn cát và ghềnh đá trên Biển Đông, cũng như quấy rối các tàu đánh cá hoặc các tàu thăm dò của các nước khác, cũng là một nguồn căng thẳng với hầu hết các quốc gia trong vùng từ Việt Nam đến Indonesia. Trung Quốc cũng giữ liên hệ với các đám phiến quân chống lại các chính phủ trong quá khứ. Chính những hành động đó đã làm Trung Quốc mất sự ủng hộ nhiều của dân chúng Đông Nam Á. Các bạo động chống Trung Quốc thường xuyên xảy ra tại Việt Nam và Indonesia. Ngay cả nước Lào nhỏ bé, một nước độc tài Cộng Sản mà dân chúng cũng lên tiếng chống lại sự hiện diện gia tăng của Trung Quốc. Lãnh tụ các quốc gia Đông Nam Á có thể không dám công khai chỉ trích Trung Quốc vì sợ những ảnh hưởng kinh tế, nhưng họ cũng không dám thân cận quá với Trung Quốc vì sợ phản ứng của chính dân chúng mình. Thành ra việc Trung Quốc tìm cách bá quyền tại Đông Nam Á chưa chắc đã có thể thành công. Các quốc gia Đông Nam Á có thể không muốn từ bỏ buôn bán và đầu tư với nước láng giềng phía Bắc nhưng họ cũng muốn những cái gì mà Mỹ có thể mang lại: hòa bình, ổn định và một trật tự thế giới dựa trên luật pháp trong đó, Trung Quốc không phải cứ cậy sức của mình mà muốn làm gì thì làm. Giống như tất cả những nước nhỏ khác, các quốc gia Đông Nam Á đều muốn né tránh không theo một nước nào và tìm cách lợi dụng cuộc đấu tranh giữa hai bên để kiếm mối lợi cho nước mình. Đó là cơ hội cho Mỹ. Để tránh cho Đông Nam Á rơi vào quỹ đạo Trung Quốc, Mỹ nên khuyến khích các quốc gia tại đây hãy mở cửa và xây dựng các đối trọng chống lại ảnh hưởng của Trung Quốc. Một cơ cầu là xây dựng việc hội nhập vùng cũng như củng cố các quan hệ với các nước Đông Á như Nhật Bản và Nam Hàn. Trên hết Mỹ phải sẵn sàng đứng ra bảo vệ trật tự quốc tế mỗi khi có những vi phạm về phía Trung Quốc. [qd] Lê Mạnh Hùng    
......

Móc túi người bệnh vỗ béo công an

  Đỗ Ngà   Theo Nghị quyết 129/2020/QH14 của Quốc hội ban hành ngày 13/11/2020 về việc chi ngân sách trung ương năm 2021 như sau: Chi cho bộ Công An là 96.146 tỷ đồng (chính mươi sáu ngàn một trăm bốn mươi sáu tỷ đồng), trong khi đó ngân sách được phân bổ cho Bộ Y Tế là 9.171 tỷ đồng (chín ngàn một trăm bảy mơi mốt tỷ đồng). Tính ra ngân sách chi cho công an gấp 10,5 lần ngân sách cho y tế.   Được biết ngày 4/3, trên báo Lao Động cho biết là giá giường bệnh tại Bệnh viện Bạch Mai lên tới 3,3 triệu đồng/ngày, tức khoảng 100 triệu đồng cho mỗi tháng. Giá như vậy thì dân nào chịu nổi? Được biết, từ năm 1990, Chính Quyền CS đã luật hóa việc cho phép bệnh viện nhà nước thu phí dịch vụ từ người bệnh như là một hình thức kinh doanh dịch vụ của doanh nghiệp. Nói thẳng ra nhà nước thu thuế nhưng phủi trách nhiệm lo an sinh cho người dân. Nói nôm na là thế này, Bộ Y Tế ngụ ý nói với bệnh viện công rằng “Tụi bây tự tìm cách móc túi bệnh nhân mà sống, chính phủ không rót tiền an sinh để lo sức khỏe cho bọn dân đen được”. Kết quả là đến bây giờ, bệnh viện dựa vào tình thế ngặt nghèo của người bệnh để ra giá 100 triệu đồng viện phí/tháng. Được biết hiện nay Bộ Y Tế quản lý 47 bệnh viện cấp trung ương, 419 bệnh viện cấp tỉnh, 684 bệnh viện cấp huyện. Và tất cả các bệnh viện này đều làm như một doanh nghiệp, tức họ phải kinh doanh vụ với bệnh nhân của họ chứ họ không nhận tiền từ quỹ an sinh của nhà nước để cung cấp dịch vụ y tế giá rẻ cho dân nghèo được. Được biết, người khám bằng bảo hiểm y tế tại bệnh viện chỉ được bảo hiểm chi trả theo quy định, còn những dịch vụ phát sinh mà bệnh viện tự vẽ thì phần đó bệnh nhân phải móc hầu bao trả cho bệnh viện. Nói tóm lại dù cho bạn có bảo hiểm y tế thì bệnh viện vẫn thiết kế cho bạn dịch ăn theo để họ móc thêm tiền trong túi bạn. Đó là thực tế đang diễn ra với ngành y Việt Nam.   Không những ở Việt Nam mà cả trên thế giới thì nghề y là một nghề học khó và thu nhập các bác sĩ luôn là thu nhập rất cao so với  các ngành nghề khác trong xã hội. Tuy nhiên, hệ thống bệnh viện công của những quốc gia tử tế, thì dù phải trả lương bác sĩ rất cao thì họ vẫn đảm bảo miễn phí y tế cho dân, hoặc giảm giá điều trị lẫn dịch vụ để mọi thành phần dân chúng khi đau yếu đều an tâm đến bệnh viện. Như vậy, lương bác sĩ cao mà thu tiền của bệnh nhân cực thấp hoặc không thu đồng nào thì bệnh viện lấy đâu ra tiền để hoạt động? Xin thưa tiền đó được quỹ an sinh của chính phủ được trích từ ngân sách hằng năm. Số tiền đó là nhà nước thay mặt bệnh nhân trả cho bệnh viện. Mỗi năm, chính phủ sẽ trích một phần từ ngân sách, số tiền đó gọi là quỹ an sinh được chính phủ trình quốc hội duyệt và cứ thế dân cứ đến bệnh viện nằm còn nhà nước thì chi trả khoản đó cho dân. Riêng Việt Nam, khoản này bị ĐCS quỵt mất để dân tự bơi với bệnh tật.   Ở tại nhiều nước giàu có thì họ lo y tế miễn phí cho dân. Còn tại các nước gần với Việt Nam thì sao? Tại nước có mức sống trung bình như Thái Lan chẳng hạn, thì nhà nước không lo chăm sóc y tế miễn phí cho dân như các nước giàu thì họ cũng hỗ trợ hệ thống bệnh viện để giới bình dân có thể tiếp cận y tế với chi phí vừa phải chứ không thả nổi để bệnh viện tự kinh doanh tự siết cổ bệnh nhân như Bệnh Viện Bạch Mai kia.   Đó là hệ thống y tế công tại các nước khác, còn tại Việt Nam, bệnh viện phải thực hiện chức năng kinh doanh dịch vụ kiếm tiền trên bệnh nhân thì nguyên nhân là do ĐCS. Họ đặt sưu cao thuế nặng với dân chủ yếu là để phục vụ ai? Thứ nhất, đó là phục vụ bọn quan tham vì nhà nước này quan lại tham nhũng trăm tỷ ngàn tỷ là chuyện bình thường; Thứ nhì, đó là phục vụ công an vì nhà nước này là nhà nước công an trị. Hãy xem bảng phân bổ ngân sách trung ương năm 2021 thì biết, chi cho công an gấp 10,5 lần chi cho y tế. Chỉ cần đảo lại, lấy kinh phí chi cho công an chuyển qua cho bệnh viện để học giảm giá khám chữa bệnh cho dân từ đó giúp mọi thành phần nhân dân đều được tiếp cận dịch vụ y tế thì tốt biết mấy? Tuy nhiên, điều đó không thể xảy ra trong cái nhà nước công an trị này?!   Qua cách sử dụng ngân sách vô cùng bất công giữa y tế và công an nó phơi bày lên một thực tế rằng, nhà nước này đã gián tiếp móc túi bệnh nhân nghèo để vỗ béo công an. Mà công an làm chuyện gì? Chấp pháp ư? Không! Chấp pháp chỉ là công việc phụ, công việc chính của công an là đánh dân, bắt dân, hành hung dân để bảo vệ chế độ. Chế độ này nó thế đấy, làm gì được nó đâu?!    Đỗ Ngà  
......

Án mạng Đồng Tâm, cảnh sát giết dân và tòa án giết luật pháp

Nhận định về vụ án mạng Đồng Tâm của luật sư Hoàng Ngọc Giao cũng là nỗi nhức nhối của mọi lương tri con người ở Việt Nam cũng như trên thế giới Phạm Đình Trọng NGÀY 8.3.2021 TẠI HÀ NỘI, TƯ PHÁP VIỆT NAM SẼ TRÌNH DIỄN PHIÊN TOÀ PHÚC THẨM VỤ ÁN MẠNG ĐỒNG TÂM. GIỮA ĐÊM, CẢNH SÁT CƠ ĐỘNG BỘ CÔNG AN XÔNG VÀO NHÀ DÂN THÔN HOÀNH, XÃ ĐỒNG TÂM, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI, BẮN CHẾT VÀ PHANH XÁC CỤ GIÀ 84 TUỔI. VỤ TẬP KÍCH KINH HOÀNG CŨNG LÀM CHO BA CẢNH SÁT BỊ NẠN KHI RƠI XUỐNG KHE SÂU GIỮA HAI CĂN NHÀ RỒI ĐƯỢC CHO LÀ CHẾT CHÁY. CÁI CHẾT ĐẦY MƠ HỒ, BÍ ẨN VÀ VÔ LÍ CỦA BA CẢNH SÁT KHÔNG ĐƯỢC ĐIỀU TRA, KHÔNG THỰC NGHIỆM, KHÔNG CHỨNG MINH KHOA HỌC VÀ NGƯỜI DÂN CHỈ Ở THẾ THỤ ĐỘNG TỰ VỆ THÌ BỊ TOÀ ÁP ĐẶT TỘI GIẾT BA CẢNH SÁT. CẢNH SÁT CHỦ ĐỘNG GIẾT DÂN LẠI KHÔNG ĐƯỢC XÉT XỬ. BÀI VIẾT DƯỚI ĐÂY XIN CUNG CẤP ĐẦY ĐỦ TỪ CỘI NGUỒN TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI DẪN ĐẾN ÁN MẠNG ĐỒNG TÂM. ***** 59 HA ĐẤT PHÍA TÂY ĐỒNG SÊNH KHÔNG PHẢI ĐẤT QUỐC PHÒNG Đầu năm 1979, Việt Nam bị Tàu cộng dẫn dắt vào hai cuộc chiến đẫm máu kéo dài dai dẳng suốt mười năm nhưng chỉ là hai cuộc chiến cục bộ. Cuộc chiến với bóng ma Khmer Đỏ ở Campuchia và cuộc chiến với biển quân Tàu cộng đói rách ở biên giới phía Bắc. Không đủ sức và chưa phải lúc làm cuộc chiến tranh lớn xâm lược Việt Nam, Tàu cộng buộc Việt Nam phải theo đuổi hai cuộc chiến giới hạn cục bộ đến mười năm chỉ nhằm làm cho Việt Nam sau cuộc chiến Nam Bắc tiếp tục chảy máu lâu dài, suy kiệt không thể gượng dậy. Bị sa lầy suốt mười năm trong bãi mìn China ở biên giới Campuchia – Thái Lan, thôi cứ cho là vì nghĩa cả cứu dân tộc Campuchia khỏi cánh đồng chết diệt chủng. Nhưng không nhận ra rằng hơn mười năm cách mạng văn hóa, đất nước Trung Hoa tan hoang, lòng dân li tán, sức dân kiệt quệ, bộ máy quyền lực tan tác, quân đội đói rách, trang bị và kĩ thuật, chiến thuật lạc hậu ở thời thế chiến 2 như quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc khi đó, Tàu cộng không thể mở cuộc chiến tranh tổng lực xâm lược Việt Nam trước quân đội Việt Nam đang là đội quân thiện chiến lúc đó và dư dả vũ khí khá hiện đại của hai cường quốc vũ khí là Nga và Mỹ. Không có tầm nhìn, lãnh đạo Việt Nam đã hốt hoảng hoạch định một cuộc kháng chiến lớn, tổng lực toàn diện với Tàu cộng. Trong hoạch định cuống cuồng đó, năm 1980, dự án sân bay dã chiến Miếu Môn ra đời để phân tán lực lượng không quân, cất giấu máy bay chiến đấu trong những hầm khoét vào chân núi, đối phó với cuộc chiến tranh mở rộng của Tàu cộng. Trong 208 ha đất của dự án sân bay dã chiến Miếu Môn có 47,3 ha đất cánh Đồng Sênh của hợp tác xã nông nghiệp Đồng Tâm và ngay lập tức chính quyền xã Đồng Tâm đã cắt đủ 47,3 ha đất phía Đông cánh Đồng Sênh giao cho sân bay. 59 ha đất phía Tây Đồng Sênh còn lại vẫn là đất ngô, đất lúa của người dân Đồng Tâm. Ngày 31.12.2019, quân đội xây xong bức tường bao quanh sân bay Miếu Môn, tường xây cao hai mét rưỡi, phía trên còn có cọc sắt giăng dây thép gai. 59 ha Tây Đồng Sênh ngoài tường bao sân bay vẫn xanh bãi sắn, nương ngô của dân Đồng Tâm. Vậy là đất quân sự sân bay và đất dân sự của dân Đồng Tâm càng được phân định rạch ròi. Bức tường quân đội xây xác định giới hạn đất quốc phòng càng chứng minh thêm 59 ha đất Tây Đồng Sênh là đất của dân Đồng Tâm. Bất kì pháp nhân nào mang danh nhà nước cấp tỉnh, cấp bộ muốn chiếm, muốn biến 59 ha đất nửa Tây cánh Đồng Sênh ngoài ranh sân bay Miếu Môn thành đất quốc phòng đều phải có quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Quyết định đó cho đến tận đêm 9.1.2020, đêm xảy ra án mạng Đồng Tâm không hề có. Mãi mãi cũng không bao giờ có quyết định vô lí đó. Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc kết thúc tháng chín, năm 1989 thì tháng chín, năm 1990, lãnh đạo cộng sản Việt Nam liền len lén sang Thành Đô thì thầm xin làm chư hầu để được yên thân làm vương phương Nam. Sân bay dã chiến Miếu Môn chỉ mới qua giai đoạn gom đất cũng dẹp bỏ. Thu hồi mảnh đất làm ra hạt lúa, hạt ngô của dân để làm sân bay quân sự. Không làm sân bay nữa thì phải trả lại đất cho dân để kinh tế đất nước có thêm hạt lúa, hạt ngô. Nhà nước trung ương không có tầm nhìn quốc gia đã biến đất sống của dân thành đất chết của sân bay chỉ có trên giấy, gây lãng phí, mất mát lớn cho nền kinh tế đất nước, gây hao hụt thu nhập của người dân Đồng Tâm. Không làm sân bay nữa nhưng lấy danh nghĩa quốc phòng, quân đội cũng không trả lại 47,3 ha đất cho dân Đồng Tâm. Còn nhà nước địa phương Hà Nội thì xập xí xập ngầu, dùng quyền lực và mệnh lệnh nhà nước địa phương muốn biến 59 ha đất phía Tây Đồng Sênh ngoài dự án sân bay Miếu Môn thành đất quốc phòng để dấm dúi bán cho doanh nghiệp quân đội Viettel. LỪA DỐI VÀ BẠO LỰC NHÀ NƯỚC TỪ NGOÀI ĐỒNG ĐẾN GIƯỜNG NGỦ NHÀ DÂN Quyết giữ hợp pháp 59 ha đất Đồng Sênh, người dân Đồng Tâm có hai nguồn năng lượng tạo nên sức mạnh không thế lực nào hành xử hợp pháp khuất phục được. Một. Người dân Đồng Tâm có đầy đủ hồ sơ, văn bản nhà nước, bản đồ pháp lí chứng minh 59 ha đất Tây Đồng Sênh chưa bao giờ là đất quốc phòng. Từ trong lịch sử cho đến hôm nay mảnh đất đó vẫn là mảnh đất hợp pháp, chính đáng của hợp tác xã nông nghiệp Đồng Tâm. Đó là sự thật, là lẽ phải Đồng Tâm và người nắm giữ đầy đủ hồ sơ sự thật và lẽ phải Đồng Tâm chính là người con của xóm làng Đồng Tâm, linh hồn của đất đai Đồng Tâm, lão nông 84 tuổi Lê Đình Kình, là người đứng đầu cả tổ chức đảng, cả chính quyền và hợp tác xã nông nghiệp Đồng Tâm suốt hơn 40 năm, vị lão thành cách mạng của đảng cộng sản, đảng viên 58 tuổi đảng Lê Đình Kình. Hai. Người dân Đồng Tâm có hạt nhân lãnh đạo, có niềm tin sắt đá và có chất keo kết dính đoàn kết muôn người như một trong ý chí giữ mảnh đất hợp pháp chính đáng Đồng Sênh. Hạt nhân lãnh đạo, niềm tin sắt son và chất keo kết dính làm nên sức mạnh Đồng Tâm chính là con người lương thiện, bình dị và cao cả Lê Đình Kình cả đời nghèo khổ tận tụy với dân làng nghèo khổ, cả đời lo việc làng, việc nước. Không thể chiếm 59 ha đất Tây Đồng Sênh của dân Đồng Tâm bằng hợp pháp thì phải chiếm bằng phi pháp. Bằng lừa dối và bạo lực, phải tiêu diệt hạt nhân lãnh đạo Đồng Tâm. Phải tiêu diệt được niềm tin, ý chí giữ đất Đồng Tâm. Phải chiếm và phi tang sự thật Đồng Tâm. Nhà nước cấp huyện Mỹ Đức ra đòn lừa niềm tin Đồng Tâm ra Đồng Sênh vắng rồi viên trung tá Trần Thanh Tùng, phó công an huyện bất ngờ phóng cú đá ngàn cân của thế võ chuyên chính. Niềm tin Đồng Tâm trong thân xác cụ già Lê Đình Kình bay như chiếc lá đập đầu vào đá. Cụ Kình thoát chết nhờ chiếc mũ bảo hiểm nhưng hông lãnh trọn cú đá thì xương vỡ vụn. Niềm tin của dân Đồng Tâm bị ném lên ô tô chạy thẳng về trại giam của công an Hà Nội. Lập tức lòng dân Đồng Tâm bảo vệ niềm tin Đồng Tâm bằng cách các mẹ, các chị Đồng Tâm bằng tấm lòng của những người mẹ người chị dồn 38 cảnh sát cơ động về Đồng Tâm hỗ trợ cú lừa cấp huyện của Mỹ Đức vào nhà văn hóa thôn Hoành. 38 công cụ bạo lực nhà nước thành con tin trong tay dân Đồng Tâm, đối trọng với niềm tin Đồng Tâm trở thành con tin trong tay công an Hà Nội. Lừa dối và bạo lực cấp huyện Mỹ Đức không hạ gục được lẽ phải và ý chí Đồng Tâm thì lừa dối và bạo lực cấp thành phố vào cuộc. Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung lừa dân Đồng Tâm bằng cam kết 22.4.2017, hứa hẹn sẽ thanh tra công bằng. Không chứng minh được 59 ha đất Tây Đồng Sênh là đất quốc phòng bằng văn bản pháp luật, Thanh tra Hà Nội liền lấy quyền lực nhà nước áp đặt bằng kết luận thanh tra số 2346/KL-TTTP-P5 ngày 19/7/2017 và được Thanh tra nhà nước bảo kê bằng văn bản số 611/TB-TTCP ngày 25/4/2019 trợn trạo xác nhận kết luận phi pháp, áp đặt của Thanh tra Hà Nội là hợp pháp: “kết luận thanh tra của thành phố Hà Nội là chính xác, hợp pháp”! Không chỉ nhà nước cấp huyện Mỹ Đức. Không chỉ nhà nước cấp thành phố thủ đô Hà Nội. Nhà nước trung ương đã vào cuộc dùng quyền lực nhà nước cướp bằng được đất Tây Đồng Sênh của người dân ở chòm xóm nhỏ bé, hiền hoà Đồng Tâm. Nhà nước trung ương lừa dối không xong thì phải ra đòn bạo lực nhà nước cấp trung ương. Và ba ngàn lính thiện chiến trung đoàn cảnh sát cơ động bộ Công an đã gây ra vụ thảm sát ở thôn Hoành rạng sáng 9.1.2020. Ba ngàn cảnh sát cơ động bủa vây sự thật và lẽ phải Đồng Tâm, xông vào tận giường ngủ, xả súng giết hại người nắm giữ sự thật và lẽ phải Đồng Tâm, không những cướp đi văn bản pháp lí làm nên sự thật và lẽ phải Đồng Tâm mà còn vơ vét cả những đồng tiền đầu tắt mặt tối chắt chiu của dân nghèo Đồng Tâm. Trung đoàn cảnh sát cơ động đứng chân ở Hà Nội, trực chiến ở địa bàn chiến lược trọng yếu là thủ đô Hà Nội nên được gọi là trung đoàn cảnh sát cơ động Hà Nội nhưng là trung đoàn cơ động chiến lược của bộ Công an. Đơn vị tác chiến lớn nhất của bộ Công an là trung đoàn và đơn vị tác chiến lớn nhất của bộ Quốc phòng là binh đoàn. Đơn vị tác chiến lớn nhất phải đảm nhiệm vị trí quốc gia, hoạt động ở tầm quốc gia, trong đội hình chiến lược cơ động của bộ, không phải đơn vị chiến thuật của địa phương. Trung đoàn cảnh sát kị binh, trung đoàn cảnh sát xe bọc thép và các trung đoàn cảnh sát cơ động dù đứng chân ở đâu cũng đều là lực lượng cơ động của bộ Công an. Lãnh thổ quốc gia rộng lớn mới cần lực lượng cơ động. Tỉnh, thành nhỏ hẹp chỉ có những đội phản ứng nhanh do địa phương điều động. Mưa đạn vãi vào căn nhà nhỏ bé mang sự thật và lẽ phải Đồng Tâm, xả đạn vào ngực cụ Kình, người mang niềm tin và ý chí Đồng Tâm rạng sáng 9.1.2020 là sức mạnh bạo lực của lực lưởng cảnh sát cơ động bộ Công an chứ không phải mấy tay súng đội phản ứng nhanh công an Hà Nội. Những thông tin chính thống, những phát ngôn chính thức của cơ quan nhà nước đồng loạt đưa tin sự kiện máu Đồng Tâm 9.1.2020 đều chỉ nhắc đến công an Hà Nội, đều cột sự kiện máu Đồng Tâm vào công an Hà Nội. Cả bản kế hoạnh hành quân 419A đánh úp Đồng Tâm đêm 9.1.2020 cũng đổ cho công an Hà Nội hoạch định, bộ Công an chỉ phê duyệt nhằm làm nhẹ sự kiện, khoanh vùng, giới hạn, hạ thấp sự kiện chỉ ở cấp địa phương, giảm mức độ nghiêm trọng của sự kiện và quan trọng là lấp liếm dấu vết tội ác cấp nhà nước với chòm xóm bé nhỏ Đồng Tâm. Mọi diễn biến trận đánh Đồng Tâm đều do trung tướng, Thứ trưởng bộ Công an Lương Tam Quang thông tin, mọi phát ngôn về trận đánh Đồng Tâm đều do người phát ngôn bộ Công an, Chánh văn phòng bộ, thiếu tướng Tô Ân Xô phát ngôn. Điều đó xác định rằng: Bạo lực tấn công dân ở thôn Hoành nhỏ bé đêm 9.1.2020, dìm trong máu ý chí giữ đất chính đáng, ý chí bảo vệ sự thật và lẽ phải, ý chí chống tham nhũng, chống lợi ích nhóm của người dân Đồng Tâm là trung đoàn cảnh sát cơ động của bộ Công an chứ không phải công an Hà Nội. Sở chỉ huy trận đánh đặt ở bộ Công an chứ không phải ở sở công an Hà Nội. Tư lệnh trận đánh là Thứ trưởng bộ Công an, trung tướng Lương Tam Quang chứ không phải giám đốc công an Hà Nội. Kế hoạch tác chiến là kịch bản của trận đánh. Cấp nào tác chiến thì cấp đó phải làm kịch bản và Kế hoạch 419A đánh úp dân Đồng Tâm đêm 9.1.2020 do chính bộ Công an vạch ra nhưng được hạ cấp bằng tên gọi Kế hoạch 419A của công an Hà Nội bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn xã Đống Tâm. Vì 419A mang dấu son, chữ kí cấp Bộ, cấp quốc gia chứ không phải cấp địa phương Hà Nội nên khi luật sư bảo vệ người dân Đồng Tâm vô tội đòi hỏi chính đáng và cần thiết công khai bản Kế hoạch 419A để chứng minh rằng cuộc động binh đêm 9.1.2020 ở Đồng Tâm là thi hành công vụ liền bị từ chối. Tòa án không thể và không dám công khai bàn tay vấy máu dân Đồng Tâm của bộ Công an. Người dân và lương tri cả nước chăm chú theo dõi số phận sự thật và lẽ phải của dúm dân bé nhỏ Đồng Tâm đã phải thắt lòng nhận ra cả bộ máy nhà nước cộng sản Việt Nam từ huyện, thành phố đến trung ương không ứng xử với dân Đồng Tâm không bằng pháp luật mà bằng lừa dối và bạo lực.. Bạo lực là hạ sách, là lấy máu dân đàn áp sự thật và lẽ phải của dân, lấy máu dân răn đe dân, ăn thua đủ với dân. Máu dân lại đổ là nhà nước cộng sản lại chồng chất thêm nợ máu với dân. Dân gian nhân hậu có câu “Lấy máu gà dọa khỉ” Nhà nước độc tài làm gì có nhân hậu. Nhà nước nhân hậu thì không thể độc tài. Nhà nước độc tài lấy chính máu dân răn đe dân chứ không cần lấy máu gà! Như nhà nước độc tài đã vô tư lấy cả biển máu dân để áp đặt ách cai trị độc tài cộng sản lên cả nước thì xá gì máu dúm dân nhỏ bé Đồng Tâm!. LỪA DỐI VÀ BẠO LỰC TỪ TRẠI GIAM ĐẾN PHIÊN HÒA ÁP ĐẶT TỘI CHO NGƯỜI DÂN ĐỒNG TÂM VÔ TỘI Chỉ ba ngày sau sự kiện máu ba ngàn cảnh sát chiến đấu trang bị tận răng của trung đoàn cảnh sát cơ động chiến lược bộ Công an đánh úp vài chục người già, phụ nữ, trẻ con dân Đồng Tâm, một số người dân vô tội Đồng Tâm bị bắt sáng 9.1.2020 đã xuất hiện trên màn ảnh truyền hình trong chương trình Thời sự giờ vàng tối 12.1.2020 đài truyền hình quốc gia VTV với khuôn mặt bầm dập, thâm tím, với vẻ mặt thất thần, vô hồn, hoảng loạn nhưng lại nói năng gẫy gọn trơn tru như đọc thuộc lòng, như xả máy ghi âm lời nhận tội không đúng sự thật rằng người dân đã mang lựu đạn và vũ khí tự tạo chống lại công an. Bộ mặt bầm dập và tiếng nói vô hồn nhận tội của người dân vô tội Đồng Tâm chỉ sau ba ngày trong trại giam của công an là sự chứng minh rõ ràng, là lời tố cáo vững chắc mức độ nhục hình ghê rợn và sự bức cung trắng trợn của công an. Lời tố cáo nhục hình và bức cung phạm pháp của cảnh sát điều tra với người dân vô tội Đồng tâm đã vang lên nhức nhối ngay trong phiên tòa sơ thẩm xử dân vô tội Đồng Tâm khi ông Lê Đình Công con trai cả cụ Lê Đình Kình khai rành rọt: “Tôi bị điều tra viên Phạm Việt Anh đánh mười ngày như một”. Một tình tiết có giá trị pháp lí rất cao bác bỏ hoàn toàn bản kết luận điều tra của công an, bác bỏ cả cáo trạng buộc tội dân vô tội Đồng Tâm của viện Kiểm sát nhưng quan tòa với những mức án đã định trước có sẵn trong túi, tòa án đã làm ngơ bỏ qua lời tố cáo nhục hình, ép cung. Bị dẫn giải ra tòa trong phiên toà sơ thẩm, bà Bùi Thị Nối chỉ nói vội được câu ngắn: Vì sao có pháp luật mà các người không thi hành? Bị điểm đúng huyệt pháp chế độc tài, công an làm án bằng nhục hình, ép cung, tòa xử án theo chỉ thị, nghị quyết, theo lệnh chứ không xử theo luật, công an hốt hoảng và ngang nhiên xông vào phiên toà, xô đến, kẹp tay, xốc nách, lôi bà Nối ra khỏi tòa. Bạo lực ngang nhiên diễn ra trong phiên tòa để bịt miệng người đàn bà vô tội trở thành bị cáo Bùi Thị Nối. Không đếm xỉa đến lời khai sự thật của người đàn ông vô tội trở thành bị cáo Lê Đình Công. Xét xử không cần nghe sự thật, không biết đến luật pháp, tòa án lại tiếp tục ra đòn nhục hình tinh thần người dân vô tội Đồng Tâm và ép cung cả pháp luật. Giữa đêm người dân lương thiện đang ngủ trong nhà bỗng bị cảnh sát vũ trang phá cửa xông vào nhà. Đạn xả trong nhà dân như đạn vãi vào đồn giặc trong trận đánh công đồn. Kề súng vào đầu, vào ngực bắn chết lập tức người già 84 tuổi. Đạn xuyên qua tay, đạn rạch bụng dân. Thả cho nghiệp vụ cắn xé dân. Đấm, đá, dùi cui tới tấp vụt xuống đầu dân rồi lùa người dân máu tràn trên đầu, máu ướt đẫm bụng, lùa cà người già, phụ nữ, trẻ em, về trại giam. Mang cả xác người già bị bắn chết đi mổ bụng, phanh thậy. Những kẻ phạm pháp, giết dân man rợ hơn cả thời Trung cổ lại nhân danh pháp luật truy tố dân vô tội. Những kẻ giết người bàn tay ròng ròng máu dân lại viết lệnh truy tố gán tội giết người cho người dân vô tội. Tùy tiện truy tố người dân vô tội vào tội có khung hình phạt cao nhất tử hình là đòn bạo lực tinh thần cực kì nham hiểm, độc ác. Bị gán tội danh có khung hình phạt tử hình, người dân thật thà, chất phác phải mang tâm lí vô cùng hốt hoảng, hoang mang, mất tinh thần, dễ dàng chấp nhận mọi dụ dỗ, lừa phỉnh, mớm cung nhận tội của cảnh sát điều tra. Đó là đòn bạo lực tinh thần vô cùng thâm độc của cảnh sát điều tra và tòa án độc tài biến người dân vô tội thành người có tội. Không phải chỉ ra đòn bạo lực tinh thần đánh người dân Đồng Tâm vô tội trở thành bị cáo trước tòa, tòa án còn dùng quyền lực quan tòa bác bô mọi đòi hỏi của luật sư đòi tòa phải thực thi đúng pháp luật. Những đòi hỏi chính đáng, đúng pháp luật không thể thiếu của một phiên tòa là Một. Vật chứng. Cần có văn bản kế hoạch 419A của công an Hà Nội bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn xã Đống Tâm để chứng minh hành động của trung đoàn cảnh sát cơ động của bộ Công an ở Đồng Tâm đêm 9.1.2020 là thi hành công vụ đúng pháp luật. Hai. Nhân chứng. Những công an đã tham gia sự kiện Đồng Tâm đêm 9.1.2020, những công an đã nổ súng giết dân, người dân chứng kiến sự việc cần được thẩm vấn tại tòa để chứng minh cáo trạng buộc tội người dân giết người, chống người thi hành công vụ là thỏa đáng. Ba. Thực nghiệm. Ba sĩ quan cảnh sát cấp tá và cấp úy tuổi quân dầy dạn, nghiệp vụ tinh thông, thử thách từng trải, thế võ tự vệ thuần thục lại dễ dàng rơi xuống hố và càng dễ dàng khoanh tay cam chịu để người dân đổ xăng đốt cháy thui. Cần thực nghiệm để chứng minh trong tình thế đạn vãi như mưa, không ai có thể ló măt ra khỏi nhà, người dân vẫn có thể hò nhau xúm lại đổ hết chậu xăng này đến chậu xăng khác xuống hố và hố nhỏ sâu hút vẫn có đủ ô xy để xăng cháy lâu đến mức thiêu ba cảnh sát thành than. Vật chứng, nhân chứng và thực nghiệm là yêu cầu bắt buộc để chứng minh tội phạm với phiên tòa công minh, làm sáng tỏ công lí. Nhưng phiên tòa sơ thẩm xử người dân vô tội Đồng Tâm chỉ là phiên tòa hình thức, chỉ làm thủ tục xét xử để áp đặt bản án có sẵn cho người dân vô tội Đồng Tâm chứ không cần công lí. Vì vậy mọi đòi hỏi cần thiết, đúng pháp luật của luật sư, mọi đòi hỏi của công lí đều bị tòa độc tài bác bỏ “Không cần thiết”! Không xử theo pháp luật, bác bỏ mọi đòi hỏi của công lí, phiên tòa gán tội cho người dân vô tội Đồng Tâm đã giết chết cả hình hài luật pháp ốm yếu, còi cọc của nền tư pháp được gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa. Quyền dân là quyền thiêng liêng của con người. Để cướp quyền dân cả nước, đảng cộng sản chỉ cần ghi vào Hiến pháp điều 4: đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Để cướp 59 ha đất của người dân xã Đồng Tâm, nhà nước cộng sản đã xả súng giết dân và gõ búa giết cả luật pháp nhà nước xã hội chủ nghĩa. Sự kiện máu Đồng Tâm một lần nữa chứng minh quyền dân và mạng sống người dân trong nhà nước độc tài rẻ rúng như thế nào và nhà nước độc tài tham lam, tàn bạo như thế nào. Nợ máu Đồng Tâm. Nợ máu cải cách ruộng đất. Nợ máu nội chiến Bắc Nam... Những món nợ máu đảng cộng sản vay của dân sẽ còn mãi trong lịch sử đau thương của giống nòi Việt Nam. Vụ việc Đồng Tâm chỉ là chuyện tranh chấp đất đai giữa chính quyền địa phương quản lí đất và người dân sử dụng đất, chỉ là tranh chấp dân sự thường tình. Trong xã hội, chuyện tranh chấp quyền lợi, tranh chấp quyền sở hữu là điều quá bình thường, ở đâu và thời nào cũng luôn xảy ra. Nhưng không ở đâu và không thời nào việc tranh chấp mấy chục hecta đất nhỏ nhặt giữa chính quyền và người dân cùng nòi giống, cùng người Việt, cùng con Rồng cháu Lạc lại phải trả giá bằng máu, bằng mạng sống con người quí giá như là giữa quân xâm lược và người dân mất nước vậy. Chỉ đội quân xâm lược, đội quân chiếm đóng mới dùng sức mạnh bạo lực xả súng bắn dân chiếm đất dân. Chính quyền xả súng bắn dân để giành phần thắng trong tranh chấp dân sự đã tạo ra đối kháng xã hội ở qui mô quốc gia rộng lớn, gây rối loạn xã hội, gây thất vọng, li tán lòng dân cả nước. Với sức mạnh bạo lực nhà nước, đương nhiên chính quyền phải thắng dân. Nhưng thắng dân bằng bạo lực và thắng dân bằng toà án bất công là chính quyền đã mất dân. Không chính quyền nào có thể tồn tại khi đã mất dân.  
......

Mỹ mở mặt trận kỹ thuật ngăn Trung Cộng

Ông Biden và ông Tập gặp nhau năm 2012, khi cả hai còn là nhân vật lãnh đạo số 2 của quốc gia mình. Ngô Nhân Dụng| Trong tháng Hai 2021, ông Jake Sullivan, cố vấn an ninh quốc gia mới nhậm chức ở Mỹ gọi cho đồng nghiệp Geoffrey van Leeuwen trong chính phủ Hòa Lan. Một vấn đề “an ninh” họ nói với nhau là SMIC, công ty sản xuất chất bán dẫn (semiconductor) lớn nhất của Trung Quốc,. Chính quyền Trung Cộng đã đầu tư nhiều tỷ đô la để chế tạo chất bán dẫn, cần cho tất cả các máy móc điện tử, bì biết họ còn quá lệ thuộc vào hàng nhập cảng. Các doanh nghiệp nhà nước, như SMIC (Semiconductor Manufacturing International Corp), đã làm hết sức. Nhưng họ vẫn chưa tìm ra được cách làm những chất bán dẫn tối tân nhất. Mỹ, Nhật Bản và Hòa Lan nắm độc quyền các khí cụ sản xuất Theo nhật báo Wall Street Journal ra ngày 28 tháng 2, 2021, ông Sullivan nói chuyện với ông van Leeuwen về vấn đề này.  Bộ Thương mại Mỹ đã cấm các xí nghiệp không được bán cho Trung Cộng những tiến bộ kỹ thuật liên quan đến an ninh quốc gia. Lệnh cấm sẽ được áp dụng trong Tháng Tư năm nay. Nhưng một mình nước Mỹ cấm không đủ. Trung Cộng vẫn có thể dùng áp lực thương mại để mua từ các nước Âu châu, Nhật Bản hay Nam Hàn. Năm ngoái, khối Âu châu đã ký một hiệp ước mậu dịch với Bắc Kinh mà Mỹ không can dự. Chính quyền Joe Biden đang vận động các nước đồng minh đứng chung trong trận tuyến trong cuộc “chiến tranh kỹ thuật cao” giữa “phe dân chủ” và “phe độc tài,” như ông Biden đặt tên. Cuộc chiến tranh này mang tính chất ý thức hệ. Một thành tích Bắc Kinh đang đề cao là đã ngăn chặn được trận đại dịch Covid bắt đầu từ Vũ Hán. Tập Cận Bình muốn các nước khác noi theo mô hình chính trị của Trung Quốc, coi đó là con đường tốt nhất để phát triển và ổn định.   Chính phủ Mỹ chủ trương “phe dân chủ” cần liên kết, không cho “phe độc tài” lợi dụng việc giao thương để cải thiện khả năng kỹ thuật của họ, từ đó sẽ lũng đoạn thế giới. Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken nói, “Các nước dân chủ kỹ thuật cao (techno-democracies) phải liên kết, một cách có hiệu quả, để ấn định các quy luật (cho thế giới kỹ thuật cao)” – khi ông điều trần trước Thượng viện để được phong nhậm. Muốn vậy, “phe dân chủ” phải vượt xa Trung Cộng trong việc sản xuất chất bán dẫn, trí khôn nhân tạo (AI, artificial intelligence) và các lãnh vực tiến bộ nhất, tất cả sẽ quyết định tương lai kinh tế và khả năng quân sự. Hiện nay ngân sách về nghiên cứu (R&D) về kỹ thuật cao của chính quyền Trung Cộng cũng lớn bằng của các công ty và chính phủ Mỹ. Nhưng các nước Âu châu, Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan cũng đổ rất nhiều tiền vào R&D. Phe dân chủ sẽ kết hợp theo nhiều cách khác nhau, không nhất thiết phải tạo thành một tổ chức quốc tế mới. Một khái niệm mới thành hình đặt tên là Dân chủ 10 (Democracy 10) hay Kỹ thuật 10 (Tech 10) trong đó các nước G-7 đứng làm trụ. Các quốc gia trong phe dân chủ đang sẵn sàng cộng tác với Mỹ. Họ thấy phải cùng ấn định các quy luật và tiêu chuẩn về kỹ thuật cao, phải theo cùng một số quy tắc hạn chế việc sử dụng trí khôn nhân tạo để kiểm soát dân chúng, như Trung Cộng đang lợi dụng để đàn áp dân thiểu số ở Tân Cương, Tây Tạng. Đứng hàng đầu trong danh sách của chính phủ Mỹ là việc sản xuất chất bán dẫn. Vì đó là sức đẩy quan trọng nhất trong kinh tế hiện đại – không khác gì dầu lửa trong thế kỷ trước. Hiện nay Trung Cộng là nước sử dụng chất bán dẫn nhiều nhất trên thế giới. Nhưng 80 phần trăm phải nhập cảng từ nước ngoài, hoặc do các công ty ngoại quốc sản xuất trong lục địa. Trong trận tuyến chất bán dẫn, Mỹ cần những đồng minh Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan để kiềm tỏa Trung Cộng.  Trên mỗi mặt trận kỹ thuật, Mỹ sẽ mời các quốc gia vào những kết hợp khác nhau. Những liên minh trong phe dân chủ sẽ được chính phủ Mỹ giữ bí mật, để bảo vệ quyền lợi các nước, không cho biết họ đang chống Trung Cộng. Mỹ và các nước đồng minh sẽ cấm bán cho Trung Cộng một số hàng thuộc các lãnh vực trí khôn nhân tạo, vi tính lượng tử (quantum computing), kỹ thuật sinh học (biotechnology), và hệ thống viễn thông 5G.  Về trí khôn nhân tạo, mà hiện nay Tập Cận Bình đang đầu tư nhiều nhất, phe dân chủ cần có được Israel, là nước đang dẫn đầu thế giới trong việc nghiên cứu AI. Mỹ cũng cần liên kết với Nhật Bản, Nam Hàn, Ấn Độ để cùng cấm bán một số hàng kỹ thuật cao cho Trung Cộng. Trung Cộng có một thứ “vũ khí” để tự vệ và phản công, là các “khoáng chất hiếm” (rare earths) mà họ làm chủ nhiều quặng mỏ nhất, phần lớn ở Nội Mông Cổ. Đó là những chất cần thiết trong tất cả các khí cụ điện tử, từ máy vi tính đến điện thoại di động. Nếu Trung Cộng ngưng cung cấp “khoáng chất hiếm” thì công nghiệp điện tử của các nước đều trì trệ. Bắc Kinh đã nêu vấn đề này với nhiều nước khách hàng. Nhưng hành động đó khó xảy ra; vì các nước sẽ trả đũa mạnh mẽ. Hơn nữa, nếu tiếp tục bị đe dọa, các nước sẽ chịu tốn tiền khai thác quặng mỏ “khoáng chất hiếm” của họ. Chính phủ Biden đã bắt đầu một cuộc nghiên cứu về khả năng tự túc của nước Mỹ, và thảo luận với Australia cùng nhiều nước khác việc chế biến “khoáng chất hiếm nhân tạo.” Trở lại với lệnh cấm bán các món hàng kỹ thuật cao, hiện nay các xí nghiệp ở Mỹ cũng ý thức mối đe dọa của Trung Cộng. Tất cả đều lo Trung Cộng sẽ “ăn trộm” các sáng chế, phát minh của họ, lo đề phòng nạn gián điệp kinh tế. Mối lo lớn nhất là gián điệp Trung Cộng sẽ lấy trộm rồi lợi dụng các thông tin, dữ kiện cá nhân của tất cả dân Mỹ, từ hồ sơ sức khỏe cho đến vị trí, ngày giờ nào ai đang ở đâu, di chuyển tới đâu, giống như Bắc Kinh đang theo dõi người dân của họ. Nhưng giới kinh doanh Mỹ còn đang phản đối vì các lãnh vực bị cấm bán cho Trung Cộng quá rộng lớn, bao trùm nhiều lãnh vực từ viễn thông cho tới tài chánh, và nhiều chỗ mơ hồ. Nhiều tổ chức tập hợp giới kinh doanh ở Mỹ, với những công ty lớn như Amazon, Walmart, Citigroup yêu cầu chính phủ Mỹ duyệt lại văn bản của lệnh cấm này. Hơn nữa, lệnh cấm mua bán với Trung Cộng sẽ khiến các xí nghiệp Mỹ phải chịu rất nhiều tốn kém. Trong năm đầu tiên thi hành lệnh này các công ty Mỹ sẽ thiệt hại hoảng $52 tỷ mỹ kim, và sau đó mỗi năm $20 tỷ. Nhưng một điều có thể biết chắc là dân chúng Mỹ, từ những người bình thường, đến các nhà chính trị và giới kinh doanh, hiện nay đều ý thức rằng việc xuất cảng kỹ thuật cao bán cho Trung Cộng sẽ gây nên mối đe dọa cho cả an ninh quốc gia và nền kinh tế. Khi Thượng viện phỏng vấn các viên chức mới của chính phủ Joe Biden, các ứng viên đều tỏ thái độ cứng rắn với Bắc Kinh khi nghị sĩ đặt câu hỏi về vấn đề này. Ngô Nhân Dụng    
......

Người Việt tin vào tin giả để nuôi dưỡng ảo tưởng?

Những người tấn công vào Điện Capitol hôm 6/1 được cho là bị dẫn dắt bởi tin giả về gian lận bầu cử VOA Tiếng Việt| Nạn tin giả và thuyết âm mưu hoành hành trong cộng đồng người gốc Việt ở Mỹ vì họ muốn có chỗ dựa để nuôi dưỡng hy vọng và một phần do ‘dân trí thấp’ nên họ dễ bị các nguồn tin giả thao túng, một chuyên gia theo dõi và nghiên cứu vấn đề này nói với VOA. Kể từ cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hồi năm ngoái, trên các trang mạng xã hội Facebook, Youtube của người Việt và ngay cả trên một số phương tiện truyền thông, báo chí địa phương của người Việt đã tràn ngập những thông tin thất thiệt, những thuyết âm mưu về bầu cử mà tất cả sau đó đều bị chứng tỏ là sai. Những tin giả kiểu như có xe tải chở đến phòng phiếu hàng triệu lá phiếu ma, quân đội Mỹ đột kích thu giữ máy chủ của hãng kiểm phiếu Dominion Voting ở Đức, ông Donald Trump sẽ ban hành thiết quân luật để bắt giữ hết Đảng Dân chủ, Tối cao Pháp viện sẽ phán quyết cho ông Trump thắng, phó Tổng thống Mike Pence sẽ trao chiến thắng cho ông Trump, chiếc laptop bị đánh cắp của bà Nancy Pelosi bị quân đội thu giữ để tìm bằng chứng phản quốc, bà Pelosi bị bắt ở biên giới Canada…thu hút không ít người gốc Việt tin theo. Mới đây nhất, QAnon, tổ chức cực hữu ủng hộ cựu Tổng thống Donald Trump chuyên tung thuyết âm mưu, còn đưa tin Tổng thống Joe Biden hiện chỉ là ‘thế thân’ của ông Trump và ông Trump sẽ trở lại Nhà Trắng vào ngày 4/3. Âm mưu của Nga? Trao đổi với VOA, ông Trần Nhật Bảo, một chuyên gia về tội phạm học từng giảng dạy về hình sự và tội phạm tại các đại học Mỹ, cho biết sở dĩ tin giả hoành hành ở Mỹ ngày nay là ‘kết quả của một hành động chuyên nghiệp chứ không phải ngẫu nhiên’. “Đó là kế hoạch phát tán thông tin giả quy mô có tổ chức, có chủ đích, có sự điều khiển của những người rất có chuyên môn kể từ năm 2015 (tức trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2016),” ông Bảo nói với VOA từ thành phố Garden Grove, Quận Cam, bang California. “Họ dùng mạng xã hội định hướng dư luận cho mưu đồ của họ,” ông Bảo, vốn là cộng tác viên cho tạp chí hình sự của Liên Hiệp Quốc, nói thêm và cho rằng rất nhiều người gốc Việt ở Mỹ ‘đã trở thành nạn nhân’ và ‘vẫn tiếp tục bị dắt mũi từ năm 2015 cho đến nay’. Ông chỉ ra thủ phạm là cơ quan tình báo Nga KGB vốn đã bị FBI, Bộ Tư pháp Mỹ chỉ đích danh là ‘đã tìm cách can thiệp vào bầu cử và nội tình nước Mỹ’. Ông Bảo cho biết ông đã theo dõi hoạt động của KGB trên mạng xã hội nhiều năm và ‘thấy sự phá hoại nước Mỹ của họ rất rõ ràng’. “Cách dễ dàng nhất, rẻ tiền nhất để phá rối hay tháo dỡ những định chế về luật pháp và dân chủ của nước Mỹ là thông qua chiến dịch gây nhiễu thông tin,” ông Bảo phân tích. “Mà trên phương diện tuyên truyền thì không ai bằng họ, Mỹ còn thua xa.” “Họ đã tạo ra hơn 300.000 tài khoản giả trên Facebook, ảnh hưởng đến 87 triệu tài khoản, trong số đó có rất nhiều người Việt Nam,” ông nói và cho biết ông đã truy lùng nhiều tài khoản tung tin giả và thấy chúng xuất phát từ thủ đô Sofia của Bulgaria, nơi có rất đông kiều dân Nga. Sau khi cơ quan chức năng Mỹ vào cuộc thì hiện giờ ‘KGB đã rút lui vào hoạt động âm thầm và chỉ còn những cơ sở hạ tầng tung tin giả bên Mỹ vốn tồn tại ngay từ đầu vẫn tiếp tục hoạt động’, cũng theo lời nhà tội phạm học này. Nghe tin giả để nuôi hy vọng? Mặc dù tin giả ảnh hưởng đến một bộ phận người Mỹ nói chung, nhưng tác động của nó đối với cộng đồng người gốc Việt nặng nề hơn ‘một phần là vì nhận thức kém’, ông nói và cho biết chiến dịch ‘disinformation’, tức tung tin giả này, chỉ nhằm vào một số đối tượng đã được chọn trước, chẳng hạn như ‘dân trí thấp’. Giải thích về chứng nghiện và tin tin giả của một bộ phận người gốc Việt ở Mỹ, ông Bảo nói: “Đa số người Việt Nam mất quê hương và ra đi trong hoàn cảnh đau buồn nên họ cần một sự hy vọng để một ngày nào đó họ có thể trở về quê hương trong vinh quang.” Chính những nguồn tin giả đã cho họ hy vọng đó nên họ đã bám vào, cũng theo lời ông Bảo. Theo ông, họ tin rằng ông Donald Trump sẽ giúp họ đem lại tự do dân chủ cho Việt Nam và rằng ông Trump sẽ ‘tiêu diệt Đảng Cộng sản Trung Quốc’. Cũng theo lời ông thì không nhất thiết họ tin vào tin giả nhưng họ vẫn tiếp tục nghe và xem tin giả ‘để tìm niềm vui’ và ‘riết trở thành một thói quen không dứt ra được’. “Hy vọng đó gần như là nguồn sống duy nhất của họ. Họ tìm kiếm, mong mỏi, chờ đợi những loại tin giả đó để tạo cho họ niềm vui tâm lý,” ông nói. Một thủ đoạn mà những người tung tin giả hay dùng là ‘tạo ra một ngày tháng nào đó để nuôi hy vọng, để hướng mọi sự chú ý của người ta đến ngày đó (chẳng hạn như ông Trump sẽ trở lại làm Tổng thống vào ngày 4/3), để kiểm soát suy nghĩ của người nghe tin giả’. Chừng đến khi sự kiện đó không xảy ra thì họ ‘lại đưa ra một số lý do tại sao và lại tiếp tục đưa ra một ngày tháng khác để người ta tiếp tục hy vọng’. Về lý do tại sao những người bị gạt lại vẫn tiếp tục tin hết lần này đến lần khác, ông Bảo nói: “Khi họ đã tin vào ai đó thì họ sẽ tin vào tất cả những gì người đó nói.” ‘Những kẻ lợi dụng’ Ông Bảo cũng lên án một số người Việt trong cộng đồng đã lợi dụng sự lan tràn của tin giả và sự thiếu hiểu biết của một bộ phận đồng hương để tiếp tay tung tin giả mà mục đích chỉ là ‘kiếm tiền trên mạng xã hội’. “Một số YouTuber gốc Việt có mưu đồ tiền bạc. Họ sẵn sàng lợi dụng người Việt làm nạn nhân của họ để phát triển lượng khán giả của mình,” ông chỉ ra. Do đó, những người Việt say mê tin giả trở thành nạn nhân cho những YouTuber làm giàu, theo lời ông. “Tự do truyền thông bị lợi dụng, mạng xã hội rất mạnh còn chính quyền thì bất lực trước tin giả,” ông nói và khuyến nghị truyền thông chính thống phải ‘mở rộng, chia sẻ, lan tỏa nhiều hơn để giúp họ thoát ra khỏi sự kiềm kẹp của tin giả’. Theo lời ông thì đại đa số giới trẻ gốc Việt và những người Việt có học hành đàng hoàng, biết tiếng Anh ‘không tin vào tin giả’. Làm sao khắc phục? Về hậu quả của tin giả đối với người tiếp nhận, ông viện dẫn một số người vì quá tin vào tin giả (chẳng hạn như ‘bầu cử có gian lận’) nên khi đối diện với sự thật ‘họ sẽ trở nên quá khích, bạo động như vụ tấn công vào Điện Capitol ngày 6/1’. Để khắc phục tình trạng này, ông Bảo cho rằng ‘một khi họ đã mù quáng nghe tin giả rồi thì chỉ trích họ chỉ càng làm cho họ rời xa thông tin chính thống’. Tuy nhiên, ông dự đoán chỉ trong vòng một năm nữa các tin giả ở Mỹ ‘sẽ không còn đất sống’ vì khi mong mãi vào những điều hoang đường mà vẫn không thấy xảy ra thì đến lúc nào đó ‘họ sẽ phải chấp nhận thực tế’. “Lúc đó những YouTuber kiếm tiền từ tin giả sẽ không còn người xem nữa,” ông nói. Ông cho rằng ‘luật pháp Mỹ cũng rất đau đầu với vấn nạn tin giả’ vì ‘không thể nào có các biện pháp kiểm duyệt hay chế tài’ và nói đó là ‘điểm yếu của xã hội và luật pháp Mỹ’. Nếu không chế tài được thì chỉ có thể hy vọng những biện pháp dân sự như vụ kiện của hãng Dominion Votings nhằm vào Fox News về tin ‘gian lận bầu cử’ có thể giúp hạn chế tin giả, ông Bảo nói thêm. ‘Biết đâu được thời gian tới sẽ sáng tỏ?’ Trao đổi với VOA, ông Vũ Hoàng Hải, một cựu tù nhân chính trị ở Việt Nam hiện lưu vong ở Mỹ và ủng hộ ông Trump nhiệt thành, nói ông ‘có nghe rất nhiều về việc ông Trump sẽ trở lại nắm quyền vào ngày 4/3’ nhưng ông ‘không tin’. Theo lời ông thì nhiều bạn bè ông là nhà tranh đấu ở trong nước ‘gọi điện sang hỏi rất nhiều có phải ông Trump sắp trở lại Nhà Trắng không?’ “Có anh em ở trên kia (Washington D.C.) cho tôi biết là có dấu hiệu xe cảnh sát ở lại để bảo vệ thủ đô và ngày mai có thể có vấn đề trao quyền lực cho ông Trump,” ông Hải cho biết. Ông Hải cho biết trong kỳ bầu cử vừa qua, ông ‘thu thập tất cả các nguồn tin từ cực hữu, cực tả, trung dung’ và ‘sàng lọc bằng cách kiểm chứng với các nguồn tin nội bộ, tin hành lang…’ Trong khi các đài như Fox News và Newsmax đang đối mặt với các vụ kiện vu khống về gian lận bầu cử, ông Hải nói ông ‘vẫn tin vào sự thật gian lận bầu cử’ và không cho rằng các đài đó đã đưa tin sai. “Bây giờ chưa sáng tỏ được, nhưng biết đâu được thời gian tới sẽ sáng tỏ,” ông nói. Ngay cả thuyết âm mưu về việc máy chủ của Dominion Votings bị lính Mỹ đột kích và tịch thu ở Đức, ông Hải nói ông vẫn ‘theo dõi thông tin này’ chứ không cho rằng đó là tin thất thiệt. “Đến giờ vẫn chưa có đài báo nào nói chính xác việc này cả,” ông lý giải. Ông Hải từng tin vào thuyết âm mưu rằng phó Tổng thống Mike Pence khi đó sẽ quyết định cách đếm phiếu đại cử tri để trao chiến thắng cho ông Donald Trump trong phiên họp Quốc hội ngày 6/1, nhưng sau khi ông Pence bác bỏ thì ông Hải nghĩ việc đó sẽ không xảy ra. Ông Hải cho biết đã bỏ theo dõi tin tức từ truyền thông dòng chính của Mỹ và hiện giờ chỉ xem mỗi kênh Newsmax vì ‘tất cả hãng truyền thông của Mỹ đều có làm ăn và đầu tư ở thị trường Trung Quốc nên họ đều muốn ông Biden thắng để duy trì việc làm ăn này’. Về lý do ông vẫn tin Newsmaxx mặc dù những tin đài này đưa sau đó đều chứng tỏ là không đúng, ông Hải lập luận rằng ông nhìn vào thực tế là ‘ông Biden không có ai ủng hộ’. “Nếu ông Biden thực sự có 81 triệu phiếu bầu thì ông ra đường phải có đông đảo người dân đổ xô ra ủng hộ chứ,” ông lập luận. Về các YouTuber đưa tin gốc Việt, ông Hải nói ông ‘đều nghe hết’ rồi ‘tổng hợp lại’. “Hoa Kỳ là một nước tự do dân chủ. Mỗi người đều có nhận định riêng của mình về vấn đề gì đó. Tôi tôn trọng tất cả ý kiến,” ông nói.
......

Như đỉa phải vôi

Phạm Nhật Bình - Web Việt Tân| Từ nhiều năm qua, tình trạng vi phạm nhân quyền ngày càng tồi tệ ở Việt Nam luôn luôn là một đề tài bị đánh giá nghiêm khắc của các tổ chức nhân quyền thế giới. Hôm 13 tháng Giêng, 2021 vừa qua, Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền (HRW) đã công bố “Phúc trình Toàn Cầu 2021” đề cập tình hình nhân quyền của 100 nước trên thế giới. Trong đó Việt Nam bị lên án là 1 trong 83 nước “tiếp tục vi phạm một cách có hệ thống các quyền dân sự và chính trị căn bản của người dân trong năm 2020,” ngay trong mùa đại dịch hoành hành. “Lại thêm một năm đen tối nữa cho nhân quyền ở Việt Nam.” Đó là nhận định của ông John Sifton, Giám Đốc Vận Động Châu Á của HRW trong thông cáo báo chí ngày 13 tháng Giêng. Chỉ tính đến hết tháng Sáu, 2020 Tổ Chức Defend the Defenders (Người Bảo Vệ Nhân Quyền) cho biết CSVN đang giam giữ ít nhất 276 tù nhân lương tâm trong các nhà tù trên cả nước. Lập tức báo Quân Đội Nhân Dân, một trong hai loa tuyên truyền ồn ào nhất của đảng CSVN lồng lộn lên tiếng chống lại nhóm từ “Tù Nhân Lương Tâm.” Theo tờ báo này, ở Việt Nam không có tù nhân lương tâm mà những người gần đây bị tống giam như Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thụy, Phạm Chí Dũng, Lê Hữu Minh Tuấn đều là những người vi phạm pháp luật. Sự ngụy biện trắng trợn để hình sự hóa những hoạt động của các nhà đấu tranh dân chủ của công an điều tra, dẫn tới những bản án nặng nề cho những người sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình một cách chính đáng. Mặt khác bài báo cũng cho rằng sự lên tiếng của HWR là nhằm củng cố niềm tin để các TNLT tiếp tục đấu tranh. Thật ra đây không phải là lần đầu tiên báo QĐND kể cả Báo CAND lên tiếng không chấp nhận các NGOs gọi những nhà hoạt động cho dân chủ, nhân quyền là Tù Nhân Lương Tâm. Nhưng càng cố chống đối, họ càng vô tình xác nhận trước dư luận rằng CSVN rất sợ vấn đề tù nhân lương tâm được thế giới quan tâm theo dõi và trừng phạt. Những gì xảy ra trong thời gian 2 năm gần đây cho thấy sự đàn áp của Hà Nội chưa bao giờ dừng lại hay giảm bớt mà ngược lại càng gia tăng một cách đáng lo ngại. Những bản án tù càng ngày càng khắc nghiệt và phi dân chủ nhưng chế độ cũng ngày càng bị lên án mà không thể chối cãi. Điều thật mỉa mai, tại cuộc họp của Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc lần thứ 46 ngày 22 tháng Hai, 2021 tại Genève, Thụy Sĩ, đại diện CSVN đã tuyên bố sẽ  tranh cử một ghế ở hội đồng này trong nhiệm kỳ 2023-2025. Đây là chiếc ghế mà CSVN đã đắc cử lần đầu tiên vào nhiệm kỳ 2014-2016. Ngày nay kẻ thủ ác vẫn mong muốn công khai bước vào Hội Đồng Nhân Quyền một lần nữa để “bảo vệ nhân quyền” bằng cách bào chữa cho hành động chà đạp nhân quyền. Nhưng trong thâm tâm, Hà Nội vẫn lo sợ thế giới lên án và chính vì sợ điều này mà họ cố biện minh cho hành động đàn áp để bảo vệ bộ mặt giả nhân giả nghĩa của đảng. Trước những bằng chứng tội ác, khi báo QĐND càng biện minh càng làm cho họ không thể bào chữa gì hơn cho hành động côn đồ phi pháp của chế độ đối với người yêu nước. Ví dụ sự kiện công an bắt giữ nhà hoạt động Phạm Thị Đoan Trang chỉ vì cô dám nói lên sự thật vụ Đồng Tâm, cũng như vụ ô nhiễm môi trường Formosa Hà Tĩnh. Những điều đó cho thấy là họ cố tình bịt miệng những tiếng nói can đảm xuất phát từ lương tâm yêu chuộng nhân bản, nhân quyền. Những công dân Việt Nam này chịu đựng sự bắt bớ giam cầm không vì một quyền lợi riêng tư nào nên họ xứng đáng là những tù nhân lương tâm vì lợi ích chung của đất nước. Điều kế tiếp, báo QĐND dù không muốn cũng không thể không nói lên một sự thật: Những sự lên tiếng của cơ quan nhân quyền quốc tế như Tổ Chức Theo Dõi Nhân Quyền là để củng cố thêm niềm tin cho các nhà dân chủ trong thời gian bị giam cầm. Sự hy sinh cao cả của họ được thế giới biết đến và hậu thuẫn là động lực quý giá để thúc đẩy họ tiếp tục đấu tranh trên con đường chính nghĩa của dân tộc. Nói tóm lại, bài báo ngụy biện vòng vo về tù nhân lương tâm của báo Quân Đội Nhân Dân đúng là như đỉa phải vôi và chỉ cho thấy họ tự tố cáo hành vi đàn áp nhân quyền man rợ của chế độ CSVN mà thôi! Phạm Nhật Bình  
......

Văn Hóa và Thể Chế

Lý Thái Hùng| Trong bài tiểu luận “Để Việt Nam Hóa Rồng” viết đăng trên VNExpress, ông Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên là chuyên gia tư vấn cho hai đời Thủ Tướng Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng đặt câu hỏi là tại sao sau hơn 30 năm đổi mới, Việt Nam vẫn chưa phát triển được như Hàn Quốc hay Singapore? Tại sao Việt Nam tiếp nhận mô hình thể chế thị trường từ phương Tây nhưng vẫn chỉ là nước có thu nhập trung bình? Theo ông Nguyễn Sĩ Dũng thì tuy Việt Nam đã coi “cải cách thể chế là một trong những khâu đột phá quan trọng” nhưng việc áp dụng “mô hình chính phủ kiến tạo” để tạo động lực phát triển phải gắn kết giữa văn hóa và thể chế. Ông Nguyễn Sĩ Dũng đã dùng sự kiện Hoa Kỳ, Úc, Canada đều đã từng là thuộc địa cũ của nước Anh giống như Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, và một số nước Phi Châu; nhưng tại sao những nước như Hoa Kỳ, Canada, Úc phát triển nhanh trong khi những quốc gia như Ấn Độ, Pakistan thì không, hay là phát triển rất chậm. Theo ông Dũng thì vì nước Mỹ, Úc… có cùng nền văn hóa tương đồng với người Anh nên người Anh đã không chỉ “xuất khẩu” thể chế dân chủ mà còn “xuất khẩu” văn hóa đến những quốc gia này. Trong khi đó, nước Anh không thể “xuất khẩu” văn hóa của mình đến Ấn Độ, Pakistan và nhiều nước cựu thuộc địa khác. Trong mạch lý luận đó, ông Nguyễn Sĩ Dũng đã cho rằng Việt Nam tuy thuộc về khối Đông Nam Á (ASEAN) nhưng lại có những tương đồng về văn hóa như các nước ở vùng Đông Bắc Á gồm Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan. Cho nên mô hình “nhà nước kiến tạo phát triển” của Nhật Bản, Nam Hàn, Singpore phù hợp với sự phát triển của Việt Nam hơn. Tuy nhiên, vấn đề là vì sao Việt Nam chưa trở thành “hổ,” thành “rồng” như các nước Đông Bắc Á. Ông Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng đảng và nhà nước CSVN đã: 1) Không thúc đẩy công nghiệp hóa thông qua doanh nghiệp tư nhân như ở Nhật Bản, Nam Hàn; 2) Không có bộ máy hành chánh, công vụ chuyên nghiệp và tài giỏi để hiện thực hóa chương trình công nghiệp hóa. Vì thế, ông Dũng đã kết luận rằng tuy cùng văn hóa, nhưng khi Việt Nam đổi mới chủ yếu là theo đòi hỏi khách quan của tình hình hơn là trên một nền tảng lý thuyết vững chắc. Tôi cho rằng cách trình bày của ông Nguyễn Sĩ Dũng nói trên đã tránh né và không dám nhìn vào sự thật. Lý do là Việt Nam đã đưa ra chiến lược công nghiệp hóa ở đại hội đảng kỳ IX (2001) và coi cải cách bộ máy hành chánh là một trong ba khâu đột phá mang tính chiến lược để phát triển công nghiệp hóa từ đại hội đảng kỳ XI (2011). Nói cách khác, cả hai điều mà ông Nguyễn Sĩ Dũng chỉ trích đều đã được đảng CSVN thực hiện như các nước Nhật Bản vào thập niên 1950 hay Nam Hàn vào thập niên 1970; nhưng khác ở hai điểm căn bản là Việt Nam ôm cứng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư nhân luôn luôn bị chèn ép bởi các doanh nghiệp nhà nước. Chính vì bị trói trong vòng kim cô “định hướng xã hội chủ nghĩa” và quy luật “xin-cho” của thể chế độc tài đảng trị, dù người Việt Nam có văn hóa kinh doanh giống như người Nhật Bản hay người Nam Hàn cũng không thể nào được tự do phát huy nội lực để đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước. Thật vậy, Nhật Bản hay Nam Hàn đã phát triển và trở thành nước công nghiệp tiên tiến và người dân có được đời sống sung túc, thu nhập cao không phải do một phép lạ từ trên trời rớt xuống mà chính là thể chế chính trị đã cho người dân thấy họ làm chủ đất nước thật sự chứ không phải sống khép nép theo quy luật “xin-cho” từ mệnh lệnh của đảng cầm quyền. Nói tóm lại, văn hóa chỉ là kết quả của một chuỗi những tiến hóa mà con người trải qua nhiều thời đại, nhưng sự hưng thịnh của một quốc gia nằm ở sự chọn lựa thể chế. Lý Thái Hùng  
......

Tú Xương & Nỗi buồn Miến Điện

Tưởng Năng Tiến| Nước bốn nghìn năm hồn chửa tỉnh, Người hăm lăm triệu giấc còn say. Tản Đà “Gia Định báo, tờ báo đầu tiên của nước ta được xuất bản ở Sài Gòn 5 năm trước khi Tú Xương ra đời. Nhưng có lẽ trong hoàn cảnh sự giao thông liên lạc bấy giờ, thậm chí khó lòng nói chắc rằng nho sĩ Trần Tế Xương biết có một tờ báo như thế tồn tại ở trên đời để tính chuyện... cộng tác...” “Nếu có tính đến mấy ông nhà nho chuyển sang viết báo, thì người ta phải đợi đến thập kỷ thứ hai của thế kỷ XX, khi Phan Kế Bính viết cho Đông Dương tạp chí, Nguyễn Bá Học viết Nam Phong, Tản Đà làm Hữu Thanh hoặc Phan Khôi làm chủ bút Phụ nữ tân văn. Trước đó, nhà báo ở ta thuần tuý là lớp trí thức mới được Pháp đào tạo (Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh). Ấy là những sự kiện được lịch sử công nhận.” “Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nội dung các bài thơ mà Tú Xương để lại, người ta lại không khỏi có ý nghĩ rằng ông nhà nho này sinh ra để làm báo. Ở ông luôn luôn có tư duy của một ký giả, chẳng qua sinh bất phùng thời, không gặp cơ may để thi thố ngòi bút cho đúng lúc thôi ...” (Vương Trí Nhàn. “Tú Xương Nhà Báo”. Cánh Bướm Và Hoa Hướng Dương. nxb Phụ Nữ: Hà Nội, 2006. 31-33). Bác Vương Trí Nhàn – rõ ràng – là một người (rất) bi quan và (vô cùng) khó tính. Cái nhìn của bác ấy về cuộc đời, cũng như đời người (thường) đen thui như mực. Chớ Tú Xương, nói nào ngay, vẫn may mắn chán. Ông may mắn vì được sinh ra ở  Việt Nam, nơi mà tờ báo đầu tiên (Gia Định Báo) đã có mặt rất sớm – chính xác là vào ngày 15 tháng 4 năm 1865. Mãi gần 150 năm sau, hôm 1 tháng 4 năm 2013, trên đường phố Miến Điện mới có tiếng rao (”Báo mới đây!”) và biến cố bất ngờ này đã khiến cho dân chúng “mừng rơi nước mắt” – theo như tường thuật của ký giả Anh Duy, đọc được trên Tuổi Trẻ On Line vào ngày 10 tháng 4 năm 2013: Theo thống kê của tờ Global Post của Mỹ, trong ngày đầu tiên phát hành tờ Golden Fresh Land (1-4), 80.000 bản đã được bán sạch vào trưa cùng ngày. Trả lời phỏng vấn báo Irrawaddy, ông Maung Lay không giữ nổi cảm xúc:“Chúng tôi đã chờ đợi hơn nửa thế kỷ cho ngày hôm nay.” Tun Win, một tài xế taxi tại Yangon, hào hứng: “Giờ đây người dân có thể tiếp cận thông tin mỗi ngày, không phải mỗi tuần một lần.”   Các Tu sĩ Phật giáo Miến Điện biểu tình chống lại Tổ chức Hội nghị Hồi giáo tại Yangon vào ngày 15 tháng 10 năm 2012. AFP PHOTO / Soe hơn WIN. Thiệt tình: nghe mà thấy (thương) hết sức, muốn ứa nước mắt luôn! Cái Xứ Chùa Vàng (chết tiệt) này thiệt là chậm tiến và lạc hậu về mọi mặt. Ở Việt Nam, dù báo chí đã xuất hiện từ lâu nhưng vẫn luôn luôn được đón nhận tưng bừng và “hào hứng” hơn nhiều. Báo Nhân Dân – số ra ngày 12 tháng 3 năm 2000, trong mục “bạn đọc góp ý và phê bình” – có ghi lại một ý kiến (đóng góp) vô cùng nồng nhiệt: Ðối với kiều bào ở California là nơi có đông người Việt Nam, thì báo Nhân Dân điện tử là món ăn tinh thần lớn nhất, quí nhất. Riêng đối với tôi việc làm đầu tiên trong ngày là mở trang báo Nhân Dân điện tử… Nhiều người chỉ mong sáng ra để đọc báo Nhân Dân… Thiệt là quá đã (và quá đáng) nhưng vẫn chưa thấm tháp vào đâu, nếu so với như tường thuật của ông Nghiêm Tiến Quang (Giám đốc Công ty in báo Hà Nội) trên tờ An Ninh Thế Giới, số ra ngày 2 tháng 1 năm 2009: Tại chợ người Việt ở thủ đô Berlin (Đức), tôi gặp một ông mua một lúc 5 tờ ANTG. Tôi bắt tay ông hỏi: “Sao bác mua nhiều thế?”. Ông cười: “Tôi mua hộ mấy ông bạn cùng làm ở chỗ tôi. Tôi hỏi tiếp: “Ở Đức có nhiều người đọc ANTG không? Ông gật đầu: Nhiều đấy. Đọc xong lại cho mượn, rồi chẳng thấy ai trả lại. Bởi báo có nhiều bài cần đọc. Chắc còn lâu, lâu lắm, người Miến mới tiến tới “trình độ” chỉ mong sáng ra để được đọc báo điện tử (Nhân Dân) hay mua luôn một lượt đến 5 tờ (ANTG) vì ... dân trí họ còn thấp lắm – theo như tường thuật của ký giả Từ Khanh, từ Yangon: Sau khi được trả tự do, Daw Suu vận động thành lập 36 “trường” tư. Đúng hơn nên gọi là “trường thí” vì học sinh không phải đóng tiền, dành cho các gia đình nghèo không đủ sức cho con theo học trường nhà nước (đủ thứ phí)...  Chúng tôi bàn sẽ thuê xe đi thăm bốn trong 36 trường của Daw Suu nằm ở ngoại vi Yangon.... Khái niệm “trường” sẽ không đúng khi đến các ngôi trường này, vì mỗi trường chỉ gồm một lớp học. Cả bốn cái trường đều nằm trên những khu vực sinh lầy và hôi hám xa trung tâm Yangon vài chục cây số... Giáo dục ở Việt Nam thì hoàn toàn khác hẳn, có truyền thống và “nền nã” hơn thấy rõ: Giáo sư Nguyễn văn Tuấn ở Úc đã đưa ra những con số làm mát mặt người Việt chúng ta. Nội các chính phủ Việt Nam có nhiều tiến sĩ hơn chính phủ Mỹ và Úc! Nội các Việt Nam có 26 người thì có tới 13 bộ trưởng có bằng tiến sĩ (chiếm 50%), 10 người có bằng cử nhân và 3 người có bằng thạc sĩ... Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hùng, nguyên chuyên viên đối ngoại Học viện Hành Chính Quốc Gia, cho biết là tính từ hàm Thứ trưởng trở lên, số người có trình độ tiến sĩ ở Việt Nam cao gấp 5 lần Nhật Bản. Trong các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam ta có nhiều tiến sĩ nhất. Vậy là ta ăn trùm thiên hạ về học vấn. Đất nước Việt Nam bây giờ ra đường là gặp tiến sĩ. Tiến sĩ lềnh khênh. Đụng tay chỗ nào cũng chạm vào tiến sĩ! Nội các chính phủ đã…tiến sĩ như vậy, tướng tá công an quân đội cũng tiến sĩ, chức quyền địa phương cũng tiến sĩ. (Song Thao. “Dởm.” Thời Báo 05 Apr. 2013). Trần Tế Xương mà sinh sống vào thời buổi (“tiến sĩ lềnh khênh”) như hiện nay thì chắc chết, chết chắc. Cử nhân Nguyễn Đính (tức nhà thơ nổi tiếng Trần Vàng Sao) mà chức vụ, trước khi xin nghỉ hưu, mới chỉ là liên lạc xã thôi thì nói chi đến cái thứ tú tài – cỡ Tú Xương. Nếu vẫn muốn bon chen võng lọng thì nho sĩ họ Trần (e) chỉ còn cách chạy... vô chùa để biến thành tu sĩ: Công đức tu hành sư có lọng! Và cũng phải là chùa ở nước ta à nha, chớ chùa chiền và sư tăng ở Tây Tạng hay Miến Điện thì cũng đừng hòng. Họ hay kiếm chuyện lôi thôi với nhà nước lắm. Cứ biểu tình, chống đối, hay tự thiêu đều đều. Giới tu sĩ ở Việt Nam thì khác hẳn. Rất nhiều vị dễ chịu (và dễ dụ, hay dễ dậy) hơn nhiều nên vẫn được Đảng và Nhà Nước khen thưởng hoặc biểu dương. Có thể vì những nề nếp về báo chí, học đường và tôn giáo (vừa nêu) nên trong một bài viết mới đây (“Việt Nam và Myanmar, Ai Chậm Hơn Ai?”) Nguyễn Giang, trưởng ban Việt Ngữ BBC, đã cho rằng đây là một sự so sánh “khập khiễng” theo nguyên văn cách dùng chữ của ông: Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan trao huân chương Hồ Chí Minh cho GHPGVN. Photo courtesy of gdtd.vn So sánh với Việt Nam thì quả là khập khiễng. Việt Nam đã thống nhất đất nước và vấn đề sắc tộc trong nhiều năm qua vẫn nằm trong tầm kiểm soát của chính quyền trung ương, dù đôi khi có nảy sinh điềm nóng ở một số vùng xa. Về kinh tế, Việt Nam cũng đã cải tổ sớm hơn nhiều so với Miến Điện và đang chuẩn bị bước lên ngưỡng thu nhập trung bình trong khi Miến Điện còn thiếu vắng gần như toàn bộ cơ sở hạ tầng và vẫn là một trong số nước ‘nghèo khổ nhất châu Á’, theo đánh giá của BBC Monitoring. Nhưng cũng vì thế, không có lẽ gì mà Việt Nam lại phải chịu tiếng ‘tụt hậu’ so với Miến Điện, nếu đánh giá trên cơ sở các tiêu chí kinh tế, trình độ phát triển, năng lực hội nhập và tính thống nhất. Cũng vẫn theo lời của nhà báo Nguyễn Giang, qua bài báo thượng dẫn: “Giải pháp 'chính trị đi trước' ở Miến Điện cũng chưa chắc đã nhanh chóng tạo đà cho 'kinh tế theo sau'. Nhận định này – xem ra – có vẻ phù hợp với sự quan sát  của một biên tập viên BBC khác, bà Hồng Nga, người đã có mặt tại Xứ Chùa Vàng vào tháng 3 vừa qua:“Con đường cải cách ở Miến Điện mới chỉ bắt đầu, và còn nhiều chông gai phía trước.” Sự “tròng trành” của Miến Điện khi đối diện với những thử thách trước mặt có thể khiến cho thiên hạ liên tưởng đến mệnh lệnh của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, khi ông, cách đây chưa lâu, bỗng (buột) miệng hô to: Cả dân tộc hãy bước ra biển lớn! Dân Việt (đều) ngớ ra một lúc, rồi đồng loạt "ồ" lên tán thưởng: Ờ, ra thì ra chớ! Ở nhà với cái Đảng thì biết ngày nào khôn, và đến kiếp sau (chắc) cũng không khá nổi. Quyết định (tưởng như thật) này người đứng đầu chính phủ Việt Nam đã đáp ứng được sự khát khao bị đè nén từ lâu của cả một dân tộc. Ai cũng đều mong muốn được nhìn xem cuộc sống của nhân loại ra sao, bên ngoài bức màn sắt. Ít khi nào dân Việt có sự háo hức và đồng thuận (lớn) như thế. Tuổi Trẻ Online mở ngay diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, và được hưởng ứng nhiệt liệt của rất nhiều độc giả. Riêng Luật sư Lê Công Định đã hăng hái lên tiếng: “Đối với vận hội lớn lao như thế của đất nước, cần lắng nghe tiếng nói của cộng đồng dân tộc.” Tuy nhiên, chung cuộc thì Lê Công Định phải vào tù vì đã phát biểu linh tinh, và Miến Điện đã bước ra biển lớn chứ không phải Việt Nam. Người Miến đang đương đầu với sóng gió, chịu đựng mọi thử thách, cũng như những bất ổn, vì sự quyết tâm thay đổi của chính họ. Ta thì vẫn ở lại trên bờ, và vẫn tiếp tục ngủ với những giấc mộng rất an bình – như thường lệ: ở nước ngoài thì kiều bào mỗi đêm đều chờ sáng để đọc báo Nhân Dân điện tử, ở trong nước thì cứ bước ra khỏi cửa là gặp ngay tiến sĩ, và tu sĩ thì đều ngoan và “hiền như ma soeur” ráo trọi. Khỏi ai phải băn khoăn (hoặc “lăn tăn”) gì nữa ráo: “không có lẽ gì mà Việt Nam lại phải chịu tiếng ‘tụt hậu’ so với Miến Điện, nếu đánh giá trên cơ sở các tiêu chí kinh tế, trình độ phát triển, năng lực hội nhập và tính thống nhất.” Thỉnh thoảng, nếu muốn thay đổi không khí thì chỉ cần đổi tên nước cho nó đỡ nhàm là đã đủ rồi. Sau Tú Xương, Tản Đà đã có lúc chép miệng thở dài: Nước bốn nghìn năm hồn chửa tỉnh, Người hăm lăm triệu giấc còn say. Từ đó đến nay dân số chúng ta đã tăng gần gấp bốn. “Say” mà càng đông thì càng vui thôi, chớ có sao đâu!    
......

Chiến dịch giải cứu dứa

Bà Tổng Thống  Thái Anh Văn (Hình Newsweek) Nguyễn Thị Bích Hậu Nhà Báo     Chiến dịch giải cứu dứa ( trái thơm) 4 ngày của Đài Loan là một kỳ tích đáng kính phục. Khi Tàu tuyên bố sẽ cấm nhập khẩu tất cả các sản phẩm dứa từ Đài Loan với cáo buộc loại trái cây nhiệt đới này nhiễm bệnh rệp sáp ngày 26/2, trong khi các trái này đã được kiểm dịch. Lập tức chính quyền xứ Đài đứng lên cứu dân. Bà TT Thái Anh Văn đã đứng đầu và chụp hình quảng bá cho trái dứa. Và người xứ Đài nói là làm, cả Chình phủ, doanh nghiệp và dân cùng lăn vào cứu dứa cho nông dân. Chỉ trong 4 ngày, 41.687 tấn dứa đã được các công ty, sàn giao dịch điện tử và dân xứ Đài mua hết, còn cao hơn cả tổng số lượng dứa xuất khẩu của năm ngoái sang Tàu. 180 doanh nghiệp đặt mua 7.187 tấn dứa tươi, 19 công ty đặt mua 15.000 tấn dứa chế biến, 14 hãng nước giải khát đặt mua 4.500 tấn trái cây, và những người bán buôn và bán lẻ đặt mua khoảng trên 10.000 tấn, còn các nhà xuất khẩu và các tập đoàn nước ngoài đặt mua 5.000 tấn. Đài quyết tâm sẽ mở thị trường bán dứa qua các xứ khác chứ nhất định không chịu phụ thuộc, cũng không chịu bị o ép từ một nơi nữa.   Bà Thái Anh Văn vừa cam kết là chính quyền của bà sẽ bỏ ra 1 tỷ Đài tệ để cải thiện tác động của lệnh cấm nhập khẩu, có kế hoạch xuất 30.000 tấn dứa sang Mỹ, Nhật Bản, Singapore và các xứ khác. Vì tới tháng 6 thì nông dân Đài mới thu hoạch xong các cánh đồng dứa.   Đúng là trang anh thư của xứ Đài, xin mượn câu thơ cũ sửa lại như sau:   " Phấn son tô điểm sơn hà Làm cho rõ mặt đàn bà Đài Loan"   Theo CNA,Newsweek, NNVietnam  
......

Cần chấm dứt lãnh đạo đưa con vào vị trí lãnh đạo

  Nguyen Ngoc Chu   1. Ở nhiều nước, vì bầu cử tự do nên bất cứ ai cũng có thể trở thành thị trưởng, tổng thống- miễn là tài năng, được cử tri cả tỉnh, cả nước nước lựa chọn. Họ có muôn ngàn con đường để trở thành chính khách.   Nhưng ở Việt Nam, chỉ có vài con đường để đi đến đỉnh cao quyền lực. Trong số ít ỏi những con đường đó - là con đường tiến thân qua đoàn thanh niên.   Có lẽ trên thế giới hiện nay, con đường tiến thân qua đoàn thanh niên chỉ còn tồn tại ở 2 nước là Việt Nam và Trung Quốc. Thiết nghĩ ở Cuba và Bắc Triều Tiên, con đường tiến thân qua đoàn thanh niên đã đóng cửa.   Thực tiễn cho thấy, những người tiến thân qua đoàn thanh niên ở Việt Nam được phân thành 2 nhóm. Nhóm thứ nhất là con cái, cháu chắt họ hàng của lãnh đaọ. Nhóm thứ 2 là có người nâng đỡ. Không có ai chân đất mà tự mình leo được lên bậc thang quyền lực mà không có người nâng đỡ. Không muốn liệt kê các trường hợp người thực việc thực ra đây, vì chúng quá nhiều và quá nổi tiếng.   Đi qua con đường thanh niên lên lãnh đạo rất ít người có năng lực đạt yêu cầu. Không có người xuất sắc.   2. Mấy hôm nay, truyền thông rộn lên về trường hợp con gái 31 tuổi Trần Huyền Trang của đương kim nữ bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc Hoàng Thuý Lan được thăng tiến vượt bậc(https://thanhnien.vn/.../con-gai-bi-thu-tinh-uy-vinh-phuc...). Bà trần Huyền Trang bắt đầu sự nghiệp chính trị qua con đương thanh niên lúc 23 tuổi. Sau đó là thần tốc thăng tiến. Chỉ trong vòng 8 tháng bà Trần Huyền Trang đã được bổ nhiệm 2 chức. Mới 31 tuổi nhưng đã là phó giám đốc một sở rất quan trọng là Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc. Với đà này, thuận buồm xuôi gió thì chỉ 5-10 năm nữa là uỷ viên trung ương đảng. – đương nhiên giữ chức bộ trưởng hay bí thư tỉnh uỷ hay tương đương.   Bà Trrần Huyền Trang, nếu không phải là con gái của đương kim bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phúc thì không thể trở thành phó giám đốc Sở KH-ĐT Vĩnh Phúc ở tuổi 31.   Vài chục năm lại đây, xuất hiện ngày càng nhiều các trường hợp lãnh đạo bố trí đưa con vào vị trí lãnh đạo. Đây là một xu hướng có hại cho đất nước.   5. Cần chấm dứt việc dùng con đường đoàn thanh niên để quy hoạch cán bộ. Và hãy chấm dứt tình trạng lãnh đạo đưa con vào vị trí lãnh đạo.       *****   Vì mẹ em đã chọn...   Phạm Minh Vũ Sinh năm 1990, Trần Huyền Trang đã được ông Chú 55 tuổi phải cúi đầu dạ thưa khi phải trình báo cáo.   Mới có 31 tuổi là con gái của Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc Hoàng Thị Thuý Lan, Trang đã “bị” bế lên giữ chức vụ Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và đầu tư.   Trang trước đây sang Trung quốc du học chuyên ngành đảng-đoàn, về nước được Mẹ quy hoạch vào tỉnh đoàn làm việc. Sau đó đưa sang Sin du học để lấy cái mác sau này, giờ đây Trang ngồi vào một ghế phó sở, một sở cực kỳ quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh.   Không có chuyên môn, không bằng cấp, Trang như những “thái tử đảng” khác khi có mác đi du học về như là điều hiển nhiên được ngồi vào ghế lãnh đạo. Xuất thân là một bí thư đoàn, vậy mà bà Lan dám bế con mình lên ghế phó sở quan trọng như vậy quả thật là liều.   Ai cũng biết, công tác ở Đoàn là những bệ phóng để các quan đưa con mình vào đó trước khi qua làm công việc quan trọng hơn như là điểm cộng. Những đứa con bất tài vô dụng Võ Văn Thưởng còn không biết ngày 17-02 là ngày gì? Mặc dù không chuyên môn, không kiến thức về khả năng đưa ra kế hoạch và đầu tư có tầm nhìn kinh tế, nhưng vì Mẹ trang chọn nên Trang phải làm lãnh đạo thôi.   Trang có ông Chú làm ở huyện, giờ gặp Trang phải lúi cúi dạ thưa bà để báo cáo công tác.   Tội cho ông chú đó  
......

Lý do vào đảng

  Phạm Minh Vũ   Bạn có thể chặt một cây, bạn sẽ bóc lịch 9 tháng, vì bạn là dân. Nhưng nếu bạn là quan bạn hạ chặt một khu rừng 22.000 ha thì bạn được đàn em ca ngợi là quan thanh liêm, anh cả vĩ đại.   Bạn là dân, bạn xây chuồng gà không xin phép, bạn sẽ bị bắt tháo dỡ, thậm chí phạt tiền có khi bán cả nhà không chung đủ. Và nếu bạn là quan, bạn san đồi bạt núi, lấp sông lập biển bạn sẽ được ca ngợi người tiên phong, người đi đầu, bạn sẽ được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý của đảng trao.   Bạn là dân, bạn tát cảnh sát giao thông bạn sẽ ở tù 9 tháng, nhưng nếu là quan, cùng lắm bạn sẽ bị thuyên chuyển lên tuyến trên công tác.   Bạn là dân, bạn đi đúng luật, người khác lùi xe không may bạn đâm họ bạn sẽ ở tù. Nhưng nếu là quan, bạn đâm chết người và chỉ cần nói “biết bố mày là ai không” bạn sẽ được đàn em đảng viên khen là liêm khiết, đốt lò vĩ đại , lãnh đạo cứng rắn...   Bạn là dân, bạn trộm con vịt bạn sẽ bị 7 năm tù, nhưng nếu là quan, bạn tham ô ngàn tỷ bạn ở tù như vua chúa, có người cung phụng và vài năm lại ra.   Ở nước dân chủ, bạn là Tổng thống, bạn sẽ bị đem ra toà để luận tội nếu phe đối lập không ưa, có khi ở tù như thường, nhưng ở Việt Nam, chỉ cần có thẻ đảng, coi như bạn là cha thiên hạ. Bạn có thể chì chiết người bán hàng rong là ký sinh trùng, bạn có thể tuyên bố không cần giải cứu hàng nông sản khi nông dân đổ bỏ. Bạn vẫn được đàn em trọng vọng, được xem là đạo đức là văn minh. Nhưng, dân thì khinh ra mặt.   Vì thế, nếu ở Việt Nam, bạn phải có thẻ đảng mới sướng, chứ là dân... thì quên đi.
......

Giáo viên phải có “chứng chỉ chức danh nghề nghiệp”.

......

Áo Bà Ba. Vì Sao Không Là Áo Bà Tư?

Khanh Nguyen - nhacsituankhanh Người Việt ai cũng biết áo bà ba. Đặc biệt là dân Nam bộ thì ai cũng biết bởi đó gần như là trang phục hàng ngày của phụ nữ từ đầu làng đến cuối xóm. Cái tên bà ba, cũng là điều tranh cãi rất nhiều, vì không rõ nguồn từ đâu, và có từ khi nào. Duy từ hai giả thuyết đáng tin cậy nhất, có thể thấy cái tên bà ba xuất phát từ nhà văn Sơn Nam, và hoàn toàn không liên quan gì đến các bà Tư hay bà Năm gì cả… Giả thuyết thứ nhất, với nhiều tài liệu cũ trước năm 1975 ghi rằng áo bà ba xuất hiện đầu tiên ở Nam bộ, vào nửa đầu thế kỷ 19, được học giả Trương Vĩnh Ký cách tân từ áo của người dân đảo Pénang (người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt. Người ta tin rằng tên gọi chiếc áo bắt đầu từ hai chữ Baba-Nyonya.   Người Baba-Nyonya (峇 峇 娘惹), tiếng địa phương là Peranakan, có nghĩa là hậu duệ của những người nhập cư Trung Quốc đầu tiên đến định cư tại các thuộc địa của Anh trên Eo biển ở Malacca, Pénang và Singapore từ thế kỷ 16 đến 18. Baba (峇 峇) là một từ tiếng Trung Quốc có nghĩa là 'cha' và dùng để chỉ nam giới.   Nyonya xuất phát từ tiếng Bồ Đào Nha donha, 'quý bà', và dùng để chỉ phụ nữ. Có thể học giả Trương Vĩnh Ký đã thích thú trước cái áo rất dễ nhìn, dễ vận dụng trong đời sống làm việc lẫn sinh hoạt hàng ngày và mang về, chỉnh lại đôi chút cho người Việt. Viết trong Văn minh miệt vườn, nhà văn Sơn Nam ghi rằng “Ở miệt vườn, kiểu quần áo bà ba là tiện lợi nhất, đồng thời quần áo bà ba cũng tiêu biểu cho sự trang nghiêm trong giới trung lưu... Áo bà ba gọn gàng, cởi ra mặc vào dễ dàng, giúp con người đi đứng khoan thai, ít câu thúc”. Điều đáng chú ý, luận điểm của nhà văn Sơn Nam nhắc về việc người dân miền Nam nói trại đi chữ Baba nguyên gốc thành áo bà ba. Tương tự như giả thuyết về học giả Trương Vĩnh Ký, nhà văn Sơn Nam cũng ghi “Bà Ba là người Mã Lai lai Trung Hoa. Chiếc áo bà ba mà người miền Nam ưa thích, vạt ngắn không bâu chính là kiểu áo của người Bà Ba”.   Sau năm 1975, có một vài nhà nghiên cứu từ phía Bắc vào, và phủ nhận quan điểm này, và nói rằng người Mã Lai không có tộc nào tên Baba hay Babas cả. Thậm chí còn bịa ra câu chuyện là có một phụ nữ Nam Bộ nào đó chế ra kiểu áo này từ áo dài, và tệ hơn, có giả thuyết từ giới trí thức ấy, là áo bà ba được khởi đầu may tạo ra ba tà, nên có tên liên quan số 3.   Miền Nam là vùng đất của tất cả những con người lam lũ và khởi đầu cuộc sống mở mang, khai hoang ở thế kỷ 18 và 19. Do đó có thể khẳng định rằng tất cả những hình thái ban đầu của chiếc áo bà ba, từ xưa đó cho đến nay, đã trải qua rất nhiều cải cách, dựa theo tính vận động và nghi thức lễ lạc của người miền Nam Việt Nam. Về sau nhiều tôn giáo và trang phục lễ nghi tôn giáo ở miền Nam cũng chấp nhận dùng áo bà ba, có nơi dùng áo bà ba nhưng khác màu sắc ngày thường.   Vì sao áo bà ba trở nên phổ biến ở miền Nam? Có một giả thuyết khác từ sử liệu nói rằng khi chúa Nguyễn đời thứ 8, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1714-1765), nắm quyền từ năm 24 tuổi, đã đặt ra nhiều cải cách về hành chính cũng như thay đổi y phục từ quan đến dân. Người dân ở phía Nam đã chọn kiểu áo bà ba với màu tối, dùng chung cho cả đàn ông và đàn bà như một cách ứng xử tiện gọn cho mình. Bên cạnh đó, giai đoạn chúa Nguyễn Phúc Khoát cầm quyền cũng là lúc hiềm khích giữa Đại Việt và Chân Lạp (tức triều đại cổ của người Khmer) ngày càng dâng. Đặc biệt là vua Nặc Nguyên chủ trương tấn công vào biên giới Đại Việt để hà hiếp, cướp bóc những tộc du cư đến Đại Việt như người Chăm, Mã Lai, Che Mạ (gọi chung là Côn Man) nên dân Việt hay mặc áo bà ba để phân biệt người mình.   Về mặt thẩm mỹ mà nói, cho đến hôm nay, áo bà ba là một loại trang phục hết sức đặc biệt của miền Nam: Áo đàn ông thì trang nghiêm, đĩnh đạc. Áo cho đàn bà thì thanh thoát duyên dáng - thậm chí còn rất quyến rũ khi phối dựng với chất liệu vải và kiểu may cổ và xẻ tà.   Nguyên gốc áo bà ba vốn là áo không cổ - đó là sự khác biệt lớn giữa các trang phục có nét tương tự của các dân tộc khác. Thân áo phía sau may bằng một mảnh vải nguyên, thân trước gồm hai mảnh, ở giữa có hai dải khuy cài chạy dài từ trên xuống . Áo chít eo, xẻ tà vừa phải ở hai bên hông. Tương tự như áo dài, áo bà ba có độ dài trùm qua mông, gần như bó sát thân làm tôn lên những đường cong tuyệt mỹ của cơ thể người phụ nữ.   Trong bối cảnh Trung Quốc đang lấn và chiếm nhiều giá trị văn hóa của Việt Nam, để mô tả tính chất chịu ảnh hưởng của chư hầu, chiếc áo bà ba cũng đang bị dòm ngó, không khác gì kim chi Hàn Quốc đang bị tiếm danh bởi Trung Quốc. Có tài liệu bậc tiến sĩ ở Hà Nội, gần đây còn chứng minh áo bà ba là trang phục từ người Minh hương di cư đến miền Nam nên được lấy lại. Tài liệu gốc chứng minh thì được dẫn từ sách Trung Quốc.   Lịch sử Việt Nam từ sau 1975 đến nay đang bị nói lại, diễn giải lại hết sức duy ý chí, không thể không gọi làm đau lòng tiền nhân. Nhớ lại, dạy cho con cháu, những thứ đơn giản như tên gọi áo bà ba, cũng là một cách kính trọng tổ tiên Việt đã khai phá, và giữ lòng tự trọng của một người Việt Nam đứng ngoài nạn sính chữ điêu xằng.    
......

Nhà cầm quyền Hà Nội mất dạy!

Ảnh: Bé Bình   Phạm Minh Vũ|   Trong đợt dịch này, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện rất rõ là một chính phủ yếu kém và thất bại thảm hại. Trên nhiều khía cạnh, vấn đề có thể xử lý đơn giản là phân phối mặt hàng nông sản cho Bà con gặp trở ngại ngay tâm dịch, đem đi tiêu thụ mà cả hệ thống chính phủ không thể làm được.   Trong lúc đó, Nhân dân lại đùm bọc lẫn nhau, tự giúp nhau bằng các chuyến xe giải cứu hay bán giúp cho bà con vùng dịch.   Vừa qua, nông sản của bà con vùng dịch được Nhân dân kêu gọi và phân phối đi các tỉnh thành khác cũng vớt vát được một chút cho bà con nông dân.   Trong khi Nhân dân tự giúp nhau không thấy bóng dáng của chính quyền nào hỗ trợ. Mà ngược lại, Chính quyền phường Mai Dịch đưa công an đến tịch thu hàng nông sản, xé băng rôn tại điểm bán rau cải bẹ trong chương trình kêu gọi giải cứu nông sản giúp bà con xã Liên Mạc, Thanh Hà, Hải Dương, trên đường Trần Vỹ phường Mai Dịch- Hà Nội do nhóm lái xe chị Bé Bình đứng ra nhận bán rau giúp.   Các thành viên trong nhóm tự lập của chị Bé Bình ở Hà Nội đã chuyển nông sản dưới Hải Dương lên 4,5 tấn rau nhận bán giúp, thậm chí anh em chị tỉa từng cây, gọt từng tàu lá cho hết phần thối nhũn. Rồi xếp lại ngay ngắn để mời khách mua giúp.   2,5 tấn chuyển đi nơi khác, và 2 tấn rau chuyển tới đường Trần Vỹ được đóng vào các túi, mỗi túi 10kg. Chúng tôi đã bán hộ theo đúng giá bà con mong muốn là 30k/1 túi.   Trong khi bán hàng, anh chị em không quên việc đảm bảo đúng quy định phòng dịch của Chính phủ.   Vậy mà đoàn cán bộ phường Mai Dịch mắc dịch đã đến bắt cuộn bạt lại, công an giật xé băng rôn, tịch thu các túi rau chất lên xe tải. Cả đoàn kéo nhau đi, bỏ lại một đống rau tan nát, vương vãi trên vỉa hè. Ai chụp hình đều bị công an đập và tịch thu điện thoại.   Chưa bao giờ thấy một chính phủ nào tồi bại tới mức đã không giúp gì cho Dân nghèo lại còn cướp bóc, phá rối của người nghèo như chính phủ Việt Nam hiện nay.   Chính phủ Quản lý yếu kém, thất bại, gây cho dịch bệnh thêm nghiêm trọng, lãnh đạo toàn hứa xuông là 10 ngày hết dịch, dịch không hề thấy bớt mà lại thêm nghiêm trọng.   Nông dân đang mong chờ gỡ được chút nào hay chút đó, vậy mà chính quyền hành xử không khác bọn côn đồ đi cướp bóc, hành dân một cách đê tiện.   Bọn chính quyền Hà Nội là một bọn côn đồ mắc dịch.   Tôi lại nhớ câu nói của ông trọng: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được như thế này không?”    
......

Dấu ấn Nguyễn Phú Trọng

Phạm Minh Vũ   Theo thông tin từ Luật sư biện hộ cho các nạn nhân Đồng Tâm thông báo, ngày tám tháng ba tới đây, Toà phúc thẩm Hà Nội sẽ đem 6 người kháng cáo ra xét xử.   Hai án tử hình, một chung thân là những bản án được dư luận đánh giá là tru di cả 3 đời nhà Cụ Kình.   Việc lùa quân về Đồng Tâm nổ súng giết hại cụ Kình, một lão thành cách mạng 58 tuổi đảng, bắt sống hàng chục người dân Đồng Tâm trong một vụ tranh chấp đất đai, được cụ Kình nói thẳng là hơn 1 tỷ đô la cho miếng đất Đồng Sênh đều có dấu ấn rất đậm của Nguyễn Phú Trọng. Hành vi đó đã sai cả về Pháp luật cũng như nhân tâm.   Trọng được Tô Lâm báo cáo là dân Đồng Tâm là quân phản loạn, vì sự nghiệp bảo vệ đảng, ông Trọng chấp thuận cho sĩ quan nổ súng sát hại Cụ Kình hòng răn đe những thế lực khác trong đảng đang có ý đồ ly khai. Tô Lâm, Xuân Phúc sẽ phân lô Đồng Sênh ra mà chia chác. Ngày hôm đó, Nguyễn Phú Trọng đem vụ Đồng Tâm ra xét xử, cũng là lúc đem cả cặp đôi Trịnh Xuân Thanh - Đinh La Thăng ra xét xử trong một vụ án sai phạm khác. Cặp đôi Thanh-Thăng được dư luận đánh giá như những con chó bị thằng trộm chó (anh cả 10b) lôi đi xoành xoạch, hết vụ án này sang vụ án khác, âu cũng nặng tính thanh trừng nội bộ đảng.   Có thể ông Trọng sắp xếp cho Thanh-Thăng xử cùng ngày với vụ Đồng Tâm để tản đi sự chú ý của dư luận quan tâm tới Đồng Tâm.   Nhưng, việc ông ta ngồi thêm một nhiệm kỳ bất chấp vi phạm điều lệ cũng như tạo tiền lệ xấu, cùng với việc đưa Nguyễn Hoà Bình, một tay sắt máu với dân vào Bộ chính trị. Đã cho thấy, ông Trọng quyết tâm tắm máu dân Đồng Tâm cho bằng được.   Trong khi đó, Trung cộng đang lăm le xâm chiếm Biển đông quấy phá các lô khai thác dầu khí của VN ông Trọng lại chỉ đạo bộ ngoại giao im tiếng. Vì trước đó Tập đã điện đàm dạy Trọng cách chống lại Mỹ trên biển đông, Trọng đã vâng lời.   Tắm máu đồng bào để xây dựng ngôi vị cho mình, mà lại hèn với giặc thì ông Trọng sống chỉ mang tiếng là hậu duệ Lê Chiêu Thống.   Sống vậy, nhục chứ sống làm chi?   Nên trả tự do cho người dân Đồng Tâm vô tội đi ông Trọng!   Đời người ai cũng sai, biết sửa sai là điều nên làm. Sửa sai, đó là điều tối thiểu của một con người có tư duy phải biết./    
......

Phiên tòa khó

  Đỗ Ngà     Dự kiến từ ngày 8 đến ngày 10/3 phiên tòa phúc thẩm vụ án Đồng Tâm sẽ được đưa ra xét xử. Ở Phiên sơ thẩm thì nhóm bị cáo đến 29 người, còn phiên phúc thẩm thì chỉ có 6 người. Vì sao vậy? Vì đơn giản kết thúc phiên sơ thẩm nếu bị cáo không kháng án thì sẽ không có phiên phúc thẩm. Chỉ có 6 bị cáo có án nặng nhất là kháng án còn lại thì có lẽ họ hài lòng với bản án sơ thẩm.   29 người mà 6 người có bản án nặng khác thường, điều đó cho thấy dường như chính quyền CS đã phân 29 bị cáo ra thành 2 nhóm đối tượng: nhóm thứ nhất, đối tượng bị cho là cầm đầu; nhóm thứ nhì là đối tượng làm theo. Theo nguyên tắc “đánh rắn phải đánh cho dập đầu” thì chính quyền CS họ sẽ xử rất nặng những người mà họ cho là “cầm đầu”. Thường thì kẻ tấn công mới bị liệt vào loại cầm đầu nhưng ở vụ án Đồng Tâm này thì kẻ tấn công lại là giám đốc công an thành phố Hà Nội - Nguyễn Hải Trung, ông ta là lưỡi kiếm sắt bén của đảng nên không thể liệt ông ta vào tội cầm đầu được mà tội đó chính quyền đổ lên đầu những người dân bị họ tấn công. Kẻ cầm đầu Nguyễn Hải Trung đã được ông Nguyễn Phú Trọng phong từ thiếu tướng lên trung tướng sau vụ thảm sát Đồng Tâm này. Quy tắc “tao là luật” nó như vậy. Ai bảo làm thường dân chi? Ráng chịu!   Tại các nước pháp quyền, khi nhân viên điều tra bắt bị can họ có nhiệm vụ thông báo “quyền im lặng” cho bị can để đảm bảo quyền lợi cho bị can, đồng thời luật ở xứ đó là cho bị can có quyền có luật sư ngay từ đầu để luật sư đại diện cho thân chủ đối phó với cơ quan điều tra trên cơ sở tôn trọng luật pháp và tránh thiệt thòi cho thân chủ. Đấy là các nước dân chủ, tuy nhiên ở Việt Nam thì khác, luật pháp quy định “quyền im lặng” nhưng không bao giờ cảnh sát điều tra tôn trọng nó. Nếu ai “ngoan cố” mà im lặng thì công an sẽ đem vào phòng kín đánh cho mở miệng khai ra. Tuy nhiên đôi khi họ đánh quá ác nên nạn nhân không những không mở miệng mà còn nhắm mắt vĩnh viễn. Nạn bị can bị giết trong khi bị tạm giam diễn ra rất phổ biến ở cái xứ có cái tên dài lê thê CHXHCNVN này.   Ở tại các nước dân chủ, quyền có luật sư ngay từ đầu là quyền cơ bản để trao cho bị can công cụ đối phó với những trò ép cung nhục hình của cơ quan điều tra. Tuy nhiên ở CHXHCNVN này thì chính quyền CS tước mất quyền đó của bị can. Họ trao cho cảnh sát điều tra cái quyền “cấp giấy phép bào chữa”, và khi nào có giấy phép thì luật sư mới được phép bảo vệ thân chủ. Chính cái trò làm luật gian trá này nó đã tạo ra khoảng trống thiếu vắng luật sư trong quá trình tố tụng theo ý muốn của cơ quan điều tra, chính lúc thiếu luật sư ấy, cảnh sát điều tra ra tay bức cung nhục hình để tạo ra một bản án sai lệch nhưng lại có thành tích phá án nhanh để lập thành tích. Vì vậy ở Việt Nam một khi ai bị công an bắt thì xem như người đó “ốm đòn” với họ. Phải nói với thứ quy định quái đản như thế, rất khó để có án “đúng người đúng tội” được. Đó là lý do tại sao án oan rất phổ biến ở Việt Nam.   Quay trở lại vụ án Đồng Tâm. Đây vốn là vụ án điểm, chính quyền CS muốn xử thật nặng để đè bẹp ý chí dân oan trên toàn quốc như: Văn Giang, Dương Nội, Thủ Thiêm, Vườn Rau Lộc Hưng vv... thì họ khó mà chịu lùi bước trước các luật sư bào chữa. Ngay như kẻ chủ mưu gây tội ác giết người mang xác về phanh thây như Nguyễn Hải Trung mà được thăng quân hàm lên trung tướng thì điều đó cũng có nghĩa cơ hội cho 6 bị cáo kia là rất hẹp. Còn nước còn tát, mong rằng 12 luật sư làm được điều thần kỳ để cứu họ. Mong rằng họ cãi sao cho tòa tuyên hủy án sơ thẩm điều tra lại. Như thế đã là kỳ tích. Mong các luật sư làm nên kỳ tích.   -Đỗ Ngà-   Tham khảo: https://vnexpress.net/sap-xet-xu-phuc-tham-vu-an-giet... https://www.nguoi-viet.com/.../dong-nai-lai-co-nguoi-bi.../  
......

Nỗi sợ hãi là xích xiềng của tự do

  Ls Luân Lê   Có nhiều người, bằng cách này hay cách khác, nói với tôi về một nỗi sợ mà họ thường trực đến mức tự đe doạ mình. Nỗi sợ hãi đến từ phía ngoài do sự mường tượng về các trấn áp bằng đủ cách thức khiến họ luôn do dự trước các vấn đề. Tôi đã nói nhiều lần về điều này. Và để ngắn gọn để giải thoát khỏi nỗi sợ ấy là mỗi người phải tự mình trưởng thành. Nỗi sợ hãi khiến những người trưởng thành trở thành bé mọn và mất đi khả năng tự chủ.   Nỗi sợ hại đã khiến cho các nô lệ không chỉ không cải thiện được chế độ nô lệ, nó còn làm cho họ lún sâu hơn vào các bi kịch ngày càng trầm trọng hơn. Nếu nỗi sợ hãi có thể giải quyết được vấn đề thì những nô lệ đã đứng vững với thân phận nô lệ của mình cho đến ngày nay và thế giới chẳng có thay đổi gì về mặt tổ chức xã hội.   Nói thêm về việc xuất bản những cuốn sách. Có những người tiếp nhận và nói một cách vô thức: cuốn này “nặng” lắm khi ngay chỉ mới đọc đến tiêu đề một cuốn sách được gửi tới bản thảo. Ý muốn nói tới mức độ bàn luận của nó là quá lớn (về phạm vi và hàm lượng) so với sự cấm đoán của chính quyền. Những tri thức nâng cao trí tuệ và phẩm chất con người nếu bị nhấn mạnh bằng trạng từ “nặng”, nó sẽ là thứ đè nặng lên số phận một dân tộc và khiến cho dân tộc ấy bị dìm xuống sâu hơn.   Nỗi sợ hãi đến từ bên trong, mặc dù nó được gây tác động từ phía ngoài vào bởi thực thể/đối tượng khác. Nhưng vì thế chỉ khi bản thân họ muốn và dùng khả năng nội tại của mình thì mới có thể thoát ra khỏi nỗi sợ hãi. Không có ai có thể làm cho họ hết sợ hãi ngoài chính bản thân họ thấy cần phải giải phóng mình khỏi xiềng xích của cảm trạng ấy.   Tự do đầu tiên luôn là tự do về mặt tâm lý của chính bản thân mình về nỗi sợ hãi. Tri thức luôn tự nó tìm thấy sức mạnh để khiến họ có thể chiến đấu với bất cứ thứ áp bức hay bất công nào khác. Nội tâm của chính mỗi chúng ta mới là trung tâm của sức mạnh về tự do. Không có thứ tự do nao được ban hát từ phía ngoài, nên chỉ khi trong chính họ thấu thẩm được tự do, tự họ sẽ thấy tự do là một phẩm chất tự thân nó tồn tại.   Mỗi người sẽ luôn đi vào sự nhận thức rằng, mất mát về những thứ hữu hình mới là mất mát quan trọng và thực tế hơn cả. Nhưng mất tự do mới là mất mát lớn nhất của con người. Tự do chính là nền tảng giá trị để quyết định một con người là con người. Nó chính là thứ để phân biệt chúng ta với các loài sinh vật trong tự nhiên, tự do của tinh thần dựa vào chủ động ý thức mới là phẩm chất của loài người, nơi đó lương tri (đạo đức) được nhận diện để định dạng chúng ta trước toàn thể.   Tự do khỏi nỗi sợ hãi đến từ đức tin nội tâm ngay trong bản thân mỗi người, nó sẽ được khơi dậy từ tính tôn giáo về một Đáng bề trên của từng cá thể. Mặc dù một kẻ không có đức tin về tôn giáo thì thường không biết sợ hãi, mà kẻ không biết sợ hãi thì không thể có tương lai.   Nhưng thoát khỏi nỗi sợ hãi là để làm chủ trước các phẩm chất của chính mình một cách có phạm vi, hoàn toàn không đồng nghĩa với kẻ không biết tới sợ hãi. Kẻ không biết sợ hãi là kẻ coi mình là bậc đứng ở vị trí cao nhất và vì thế sẽ không có điểm dừng về mức độ tàn ác khi hành động. Thoát khỏi nỗi sợ hãi là thoát khỏi sự bức áp từ kẻ tạo ra bất công để giành lấy lẽ công bình cho tất cả mà không ai được xâm phạm vào.  
......

Thấy gì từ hai cuộc bầu cử tại Miến Điện và Hoa Kỳ

BS Đặng Vũ Chấn Cả hai cùng xảy ra vào tháng 11/2020. Tại Miến Điện, bên thua cuộc, đảng của giới quân đội đang nắm thực quyền đằng sau Đảng NLD của bà Aung San Suu Kyi, và muốn được chính danh cầm quyền qua cuộc bầu cử, không chấp nhận kết quả bầu cử, tố cáo đảng NLD gian lận trong bầu cử, và đã đâm đơn kiện khoảng 200 lần theo luật chơi trong Hiến Pháp nhưng không thành. Bên Mỹ, bên thua cuộc, vị tổng thống đương nhiệm, không chấp nhận kết quả bầu cử tại một số tiểu bang, đâm đơn kiện bên thắng gian lận, và tất cả các vụ kiện, trên 60 vụ, đều bị bác bỏ bởi Tòa Án tại các tiểu bang liên hệ cũng như Tối Cao Pháp Viện. Ngày 1 tháng Hai, 20121, rạng sáng trước khi Quốc Hội Miến Điện họp để chính thức xác nhận kết quả bầu cử, quân đội Miến Điện làm cuộc đảo chánh chính phủ dân sự, quản thúc lãnh đạo dân sự của Miến Điện là bà Aung San Suu Kyi và các thành viên trong Quốc Hội và ban hành thiết quân luật, tái lập chế độ quân phiệt. Tại Mỹ, ngày 6 tháng Giêng, nhiều ngàn người kéo về thủ đô Washington, D.C. theo lời kêu gọi của tổng thống đương nhiệm để biểu tình phản đối kết quả bầu cử và áp lực Quốc Hội không chuẩn nhận kết quả. Trong khi Quốc Hội đang tiến hành thủ tục xác nhận kết quả, một đám đông tấn công xâm nhập vào tòa nhà Quốc Hội Mỹ gây bạo loan. Sau khoảng 2 tiếng, Tổng Thống Trump kêu gọi người biểu tình không bạo động và ra về, và ngày hôm sau ông lên án hành vi bạo loạn trên và chấp thuận bảo đảm một cuộc chuyển quyền ôn hòa theo Hiến Pháp mặc dù vẫn quả quyết rằng mình thua vì đối phương gian lận. Bài học gì ta rút ra được từ hai nước trên để áp dụng trong việc canh tân nước Việt? ** Miến Điện chưa hoàn toàn là một chế độ dân chủ. Từ chế độ quân phiệt, dưới áp lực quốc tế và của Hoa Kỳ đánh thẳng vào quyền lợi kinh tế trực tiếp của giới cầm quyền quân đội (Đạo Luật Magnitsky sau này lấy ý từ lối đánh trên), phe quân phiệt đã phải nhượng bộ, chấp nhận một tiến trình dân chủ hóa nhưng vẫn chuẩn thuận một Hiến Pháp dành cho mình quyền tối hậu và tối thiểu 25% phe mình trong Quốc Hội. Bề mặt là một chính quyền dân sự do đảng NLD với bà Aung San Suu Kyi là lãnh đạo tối cao, mặc dù không chính danh làm tổng thống vì Hiến Pháp ngăn chặn người có người phối ngẫu là người ngoại quốc làm vai trò này. Trong kỳ bầu cử vừa qua, đảng NLD thắng lớn và có khả năng tu chính Hiến Pháp để làm giảm bớt quyền lực của phe quân đội. Độc tài thì luôn muốn nắm quyền lực bằng mọi giá, nên dẹp cuộc bầu cử bất lợi cho mình. Cho nên nếu một ngày nào đó, khi CSVN dưới nhiều áp lực phải nhượng bộ và muốn thỏa hiệp, chia cho phe quốc gia một số ghế quyền, phe quốc gia dân chủ phải luôn ghi nhớ kinh nghiệm thỏa hiệp với CS để đánh Pháp trong quá khứ để rồi bị đâm sau lưng, bán đứng, thanh toán tiêu trừ dần; và ghi nhớ bài học Miến Điện, rằng dân chủ không thể thực sự có được khi phe cầm quyền độc tài vẫn còn nắm thế thượng phong với đầy đủ công cụ trấn áp bạo lực là quân đội công an trong tay họ. Trong khi đó nước Mỹ có một nền dân chủ bền vững lâu đời, nên biến cố tấn công tòa nhà Quốc Hội mùng 6 tháng Giêng chỉ là cơn bão thoáng qua không làm suy suyển chế độ. Trước đó khi chỉ mới nghe phong phanh rằng bên Tòa Bạch Ốc trong tiến trình phản đối kết quả bầu cử, đang xem xét việc ban hành thiết quân luật hoặc có thể xử dụng quân đội với một tân quyền bộ trưởng quốc phòng rất thân cận với tổng thống, 10 cựu bộ trưởng quốc phòng đã lên tiếng chặn trước, khẳng định bầu cử đã xong, và là điều nguy hiểm nếu quân đội can thiệp vào chuyện bầu cử. Sau biến động 6 tháng Giêng, dư luận khắp nơi ở Mỹ và đại đa số dân cử hai đảng đều lên án việc tấn công vào tòa nhà biểu tượng của nền dân chủ Mỹ và ngay cả Tổng Thống Trump người đang phản đối kết quả bầu cử cũng phải lên án hành động bạo loạn trên. Các tướng lãnh trong bộ Tổng Tham Mưu Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) cũng khẳng định quân đội chỉ trung thành với Hiến Pháp chứ không với cá nhân hay đảng phái nào. Từ trên, ta thấy rằng một cơ chế dân chủ với tam quyền phân lập và tự do báo chí chưa đủ để duy trì một nền dân chủ bền vững. Mà người dân cần phải có một trình độ ý thức và thói quen hành xử dân chủ cao. Từ đó mới có một quân đội như quân đội Mỹ, tuy rất kỷ luật dưới quyền của tổng tư lệnh tối cao là tổng thống nhưng không thể trung thành với tổng thống đương nhiệm hay đảng phái nào để tuân theo những lệnh có thể vi hiến bắt mình quay súng vào dân. Vì thế ở Mỹ, các quân nhân khi còn tại ngũ có truyền thống không tham gia đảng phái chính trị. Ta đã thấy tại các nước từ dân chủ chuyển sang độc tài  như Nga với Putin, Venezuela với Chavez và Maduro, v.v… những lãnh đạo ban đầu được dân tín nhiệm cao cỡ trên 80-90%, do đó dân cũng bầu cho quốc hội tuyệt đối cùng phe lãnh đạo, thì quốc hội sẽ dễ dàng tu chính Hiến Pháp nhằm củng cố quyền lực người lãnh đạo theo chiều hướng độc tài. Trong lúc dân còn mê hay tôn sùng người lãnh đạo thì chuyện mất dần dân chủ chỉ là chuyện nhỏ dễ dàng chấp nhận, cho đến một thời gian sau, khi tỉnh ngộ thì quá muộn, lại phải tranh đấu đòi dân chủ lại từ đầu! Trong khi đó, tại các nước dân chủ bền vững, hiếm có lãnh đạo nào được quá 60% dân ủng hộ. Luôn có một bộ phận lớn người dân bất đồng, sẵn sàng đối lập làm cái thắng chặn mọi xu hướng manh nha độc tài. Vậy làm thế nào để nâng cao trình độ dân chủ của người dân? 1/ Khi ta nghe một ý kiến trái nghịch với ta và ta giận ghét luôn người có ý kiến đó, ta tấn công chửi bới cá nhân người nghịch ý, thì điều này thể hiện một cái thâm tâm, có thể vô thức hay có ý thức, là ta muốn tiêu trừ người đối lập. Mầm mống độc tài nằm trong ta đó, ấy là ta vẫn chưa có quyền lực gì để mà say men. Cho nên để giảm thiểu cái mầm mống độc tài này, và cho chính ta khỏi tổn thọ mang trong mình cảm xúc tiêu cực giận ghét, ta cần nhắc nhau rằng những ý kiến đối chọi nhau là chuyện tự nhiên bình thường trong cuộc sống, thậm chí còn cần thiết, nhiều khi bổ túc cho nhau cho cuộc sống đa diện cân bằng hơn. Cảm nhận được như thế, ta sẽ có được một tầm nhìn đa nguyên và thấm thía hơn câu “quân tử bất đồng nhưng không bất hòa,” hay “đại nhân bàn cãi trên ý tưởng, tiểu nhân tranh cãi về cá nhân nhau khi có tranh luận.” Từ đó ta cùng nhau xây dựng một văn hóa Hoà Đồng tốt hơn. 2/ Các chế độ độc tài thường tuyên truyền sao cho người dân tôn thờ sùng bái lãnh tụ.  Hồ Chí Minh và ông, cha, con nhà họ Kim tại Triều Tiên là những ví dụ. Khi người dân tôn sùng lãnh tụ, người ta dễ nhắm mắt đặt trọn niềm tin của mình vào lãnh đạo và giao cho họ quyền lực tuyệt đối, hơn cả cha mẹ mình. Với một niềm tin gần như tôn giáo ấy, người ta dễ dàng chối bỏ, không muốn nghe hay thấy những điểm tiêu cực của “giáo chủ” mặc cho những bằng chứng hiển nhiên. Như thế độc tài được thêm củng cố. Cho nên ta cùng nhắc nhau không nên vì quá thích một nhân vật lãnh đạo nào mà thần tượng hóa họ quá mức để chỉ nhìn thấy toàn điểm hay, đẹp nơi họ, quên rằng họ chỉ là những con người, dù xuất chúng, nhưng vẫn luôn luôn có những điểm vừa hay và vừa dở tiêu cực về họ và nếu ta ủng hộ và theo họ, là vì những điểm hay của họ hợp với ta nhiều hơn mà thôi. Tại các xứ dân chủ, thần tượng hóa lãnh tụ sẽ khuyến khích họ độc tài, say quyền lực hơn. Và để giảm nguy cơ thần thánh hóa một người, ta nên giữ ngay từ đầu một tư duy phê phán, theo dõi những thông tin trái chiều nhau thay vì chỉ theo một luồng thông tin một chiều từ người lãnh đạo. 3/ Khuynh hướng tôn sùng lãnh tụ dễ xảy ra khi người ta không tự tin rằng mình có thể làm chủ lấy vận mạng của mình, cần phải nhờ một minh quân, đấng phi thường nào đó lo cho mình. Các chế độ độc tài luôn luôn tìm cách làm cho người dân cảm thấy mình bé nhỏ, cần được bao cấp bởi chính quyền như là cha mẹ dân. Một thời gian sau khi các chế độ CS Đông Âu sụp đổ, người dân vốn quen được nhà nước quyết định hết cho mình, đã hụt hẫng lúng túng thất vọng khi phải đứng trước nhiều chọn lựa do chính mình quyết định cho mình. Nên tại nhiều nước Đông Âu, trong cơ chế dân chủ mới, có một thời các đảng cộng sản hay hậu thân của nó đã được dân chọn trở lại một thời gian. Cho nên xây dựng một niềm tin vào chính nội lực của mình, vào khả năng mình có thể tạo thay đổi, làm chủ vận mạng mình phải là một trong những điểm then chốt trong tiến trình dân chủ hóa đất nước. 4/ Quyền lực dễ làm người ta say ghiền.  Theo các nghiên cứu khoa học về tâm trí thần kinh, Tình, sex, Tiền, Danh Vọng, Quyền lực, các thuốc gây nghiện v.v… cùng tác động lên một trung khu hạt nhân thần kinh trong não bộ làm gia tăng tiết ra những hợp chất dẫn truyền thần kinh làm cho ta cảm thấy hoan lạc dễ ghiền. Cho nên ai mà ở vị trí quyền lực lâu nếu không có gì kềm chế, dễ say ghiền quyền lực không muốn buông bỏ. và sẽ tìm đủ mọi cách để giữ ghế giữ quyền. Các nhà lập quốc Mỹ đã vô cùng sáng suốt khi soạn Hiến Pháp giới hạn nhiệm kỳ tổng thống. Nhiều nhà độc tài vốn trước đó là những người đầy lý tưởng nhân bản, từng là anh hùng dân tộc, nhưng sau khi thành công nắm chính quyền rồi thì từ từ trở thành độc tài ác nhân là vì đã say quyền lực. Ví dụ nhà độc tài Robert Mugabe. Ông từng được coi là anh hùng dân tộc, lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng đất nước giờ có tên là Zimbabwe, Phi Châu, khỏi tay thực dân Anh và sự thống trị của người da trắng; sau khi được bầu lên nắm chính quyền năm 1980, ông đã tìm cách ngồi lì luôn ở đó trong bốn thập niên, bằng nhiều thủ đoạn từ bạo lực đến gian lận bầu cử trước khi bị đảo chính năm 2017. Cho nên những người đi đấu tranh cho dân chủ phải luôn nhắc nhở nhau về nguy cơ biến chất thành độc tài khi thành công nắm chính quyền, hành xử ngược lại với lý tưởng mình từng đeo đuổi. 5/ Khuynh hướng lạm dụng và bám chặt quyền lực nơi những người chiến thắng trong những cuộc đấu tranh cách mạng thường phát xuất từ tâm lý rằng mình đã hy sinh công sức chịu khổ sở nhiều nên bây giờ mình phải được hưởng những đền bù, đối xử đặc biệt hơn ngươi thường. Từ đó dễ có khuynh hướng ngồi trên luật pháp.Đây cũn g là tâm lý của người có quyền lực dễ tin rằng mình hơn người thường nên có những đặc ân đặc quyền mà luật pháp không thể áp dụng cho mình. Cho nên để giảm thiểu sự lạm dụng trên, cần phải có một nền tự do báo chí vững chắc để có thể nhạy bén la làng kịp thời những hiện tượng ngồi trên pháp luật và hành vi sai trái mà không sợ bị trù dập. Và rất cần một nền tư pháp thật sự độc lập với chính quyền, phân xử công minh việc có tội hay không, sau đó mới xét đến công và tội trong việc áp dụng hình phạt. Trên đây là những điểm lý thuyết căn bản để dọn đường cho có một nền dân chủ bền vững. Vậy thực hành ra sao?  Ở đây người viết chỉ muốn chia sẻ những gì mà anh chị em trong Đảng Việt Tân cùng người viết đang cố gắng thực tập để áp dụng những điều trên: – Chúng tôi luôn nhắc nhở nhau về một văn hóa Hoà Đồng của Việt Tân, thực tập tranh luận trong tương kính, tôn trọng những dị biệt của nhau để đồng tâm phục vụ lý tưởng chung. – Chúng tôi không tôn thờ sùng bái thần thánh hóa lãnh tụ. Chúng tôi kính trọng và cảm phục quý chiến hữu lãnh đạo tiên phong, noi theo gương can đảm, dấn thân và hòa mình đồng cam cộng khổ cùng anh em cấp dưới, đi theo truyền thống tốt đẹp mà họ đã đặt nền tảng cho tổ chức, nhưng chúng tôi không ngại khách quan phân tích những điều đã làm họ thất bại. – Chúng tôi đặc biệt chủ trương dựa vào nội lực của dân tộc là chính, không chủ trương chiến đấu đơn độc nhưng không ngại phải chiến đấu đơn độc và luôn nhắc nhở nhau lấy sức mình là chính, xây dựng niềm tin vào chính mình để tạo thay đổi thay vì chờ đợi trông cậy vào người ngoài. – Chúng tôi luôn nhắc nhở nhau rằng mục đích của cuộc đấu tranh không phải là nắm chính quyền bằng mọi giá, mà Việt Tân luôn luôn phục vụ đất nước và dân tộc dù ở trong hay ngoài chính quyền. – Chúng tôi nhắc nhở nhau ta đi vào đấu tranh không phải để hy sinh. Nghĩ mình đang hy sinh tức chịu thiệt, thì khó mà đi đường dài, vì sẽ dễ mỏi mệt và trở nên cay đắng bỏ cuộc hoặc khi thành công thì tự cho mình quyền được đền bù. Đi vào đấu tranh là để tìm hạnh phúc cho người và cho chính mình. Cái hạnh phúc mình có được là tình chiến hữu, là được bao bọc chung quanh với những người cùng lý tưởng, là thấy cuộc sống mình có ý nghĩa hơn, là thấy rằng mình đã càng ngày càng thăng tiến khi làm được những điều mà mình không ngờ mình có thể làm được khi đứng ngoài tổ chức, là một người bình thường như mình khi chung tay cùng nhiều người bình thường khác, những chiến hữu của mình, lại có thể làm điều phi thường, v.v… – Chúng tôi đã quen dần với những chỉ trích, đánh phá từ một số dư luận từ trước đến nay, nên không cảm thấy thôi thúc phải loại trừ những dư luận trái chiều với mình, mà coi đó là cơ hội để mình rà soát lại chính mình xem các dư luận đó có xây dựng gì cho mình hay không. Tóm lại từ những bài học rút tỉa từ hai cuộc bầu cử tại Miến Điện và Hoa Kỳ, ta thấy rằng dân chủ không phải là tự nhiên mà có. Đây là một tiến trình sinh động đòi hỏi nhiều công sức và chuẩn bị, vì ngoài việc gỡ bỏ độc tài, ta cần xây dựng và duy trì một nền dân chủ bền vững. Dân chủ không phải là một chế độ toàn hảo bất biến, nó bền vững vì cho người dân có thể linh động điều chỉnh theo thời thế để vượt qua mọi thăng trầm ngả nghiêng chính sự. Đó là điều kiện cho một tiến trình canh tân miên viễn. BS Đặng Vũ Chấn https://viettan.org/thay-gi-tu-hai-cuoc-bau-cu-tai-mien-dien-va-hoa-ky/  
......

Đụng nhầm thế hệ rồi

  Luân Lê|   Đất nước Myanmar đang diễn ra những ngày cách mạng thực sự, giữa hai thực thể - nhân dân và chính quyền quân đội.   Người dân, có nhiều thành phần và lên tới hàng trăm nghìn, đã xuống đường biểu tình ngày 22/2/2021, đặc biệt là sau cái chết của một cô gái mới chỉ 20 tuổi bị bắn vào đầu.   Làn sóng phẫn nộ tiếp tục dâng cao và nó cho thấy sức mạnh của họ không phải để đàn áp, mà là để trả lại quyền lực cho họ. Càng sử dụng bạo lực, nó càng thách thức sự căm phẫn của người dân.   Một bạn trẻ trong số những thanh niên xuống đường đã viết tấm bảng với dòng chữ: đụng nhầm thế hệ rồi. Trong dòng người khổng lồ cuồn cuộn ấy là đông đảo các thành phần của dân chúng: sinh viên, công nhân, trí thức và những quần chúng khác. Đây là thời điểm đã khó có thể đạt được mục đích chiếm lĩnh chính quyền bằng bạo lực như vào những năm 1980 của thế kỷ trước.   Bà Aung San Suu Kyi vẫn là một lãnh tụ tinh thần quan trọng đối với hầu hết người dân nơi đây. Họ yêu cầu phải thả bà ra ngay lập tức. Một số quốc gia và thiết chế quốc tế khác cũng đã lên án hành động đảo chính của quân đội Myanmar và cũng yêu cầu phải thả bà Aung ra như một đòi hỏi bắt buộc.   Điều quan trọng khác không kém đó là người dân Myanmar tập trung biểu tình trước Lãnh sự quán Trung Quốc để phản đối “sự can thiệp và hậu thuẫn” của chế độ này với quân đội đang nắm quyền sau cuộc đảo chính.   Đụng nhầm thế hệ rồi. Dòng chữ được trưng lên giữa lòng đất nước Myanmar. Nó cho thấy họ quá xứng đáng với vị thế làm chủ của mình và nền dân chủ sẽ sớm quay trở lại với nhân dân xứ này. Và đúng là họ thực sự xứng đáng với những giá trị ấy, vì họ hành động với bổn phận và sự quả cảm quyết liệt của mình trước bạo quyền đang hoành hành.   Nach Militärputsch EU beschließt Sanktionen gegen Myanmar https://www.tagesschau.de/ausland/asien/myanmar-proteste-137.html?fbclid=IwAR3GjLbzTjOgoNg3P1Vz15UnDstrvqhaJW3oZYn0yZ1QBQBRiJZF3RM0ji8
......

Khoảnh khắc "hốt hoảng" duy nhất của bà Merkel

Vu Kim Hanh   Hãng tin Reuters ngày 20-2 đưa lên Twitter một đoạn video ghi lại khoảnh khắc Thủ tướng Đức Angela Merkel "hốt hoảng" khi bà nhận ra đã bỏ quên khẩu trang trên bục phát biểu của Quốc hội.   Sau bài phát biểu dài 22 phút tại đây, bà quay lại ghế ngồi, được một lát thì nhớ ra rằng đã bỏ quên khẩu trang trên bục. Bà Merkel liền giơ hai tay lên cho thấy sự "hốt hoảng" để “xin” quay lại bục phát biểu lấy chiếc khẩu trang.   Bài phát biểu của bà nhằm bảo vệ việc kéo dài lệnh phong tỏa khắt khe tại Đức tới ngày 7-3. Thủ tướng Merkel thừa nhận những khó khăn do lệnh phong tỏa mang lại, nhưng cương quyết kiểm soát dịch: "Chúng ta không được để làn sóng dịch mới thắng thế. Chúng ta phải làm mọi thứ có thể để kiểm soát. Chúng ta phải kiên nhẫn và bền bỉ".   Vì sao bà hoảng hốt? Đơn giản là bà biết sợ dân, biết sợ làm ngược những gì chính phủ buộc dân phải làm.   Bà Merkel không phải là không cứng rắn trong những lúc cần "đối đầu" với những lãnh tụ các nước mạnh. Nhớ lại, bà từng có bài phát biểu cứng rắn tại Quốc hội Đức vào ngày 29/6/2017. Trong bài phát biểu này, bà đã phê phán đối với cách làm “nước Mỹ trước hết” (America First) của ông Donald Trump, cho rằng: “Nếu có ai cho rằng các vấn đề của thế giới này có thể thông qua chủ nghĩa bảo hộ và chủ nghĩa cô lập để giải quyết thì người đó rõ ràng có một sự hiểu lầm to lớn”.   Dư luận khen ngợi bà về thái độ có trách nhiệm và “thương tôn pháp luật” khi tỏ ra hốt hoảng vì bỏ quên khẩu trang (sẽ không có để sử dụng những phút kế tiếp). Một nghị sĩ Nghị viện châu Âu Sean Kelly viết trên Twitter: "Có thể đây là lần duy nhất bà ấy hốt hoảng trong thời gian làm thủ tướng Đức!".   Phản xạ tự nhiên, biết hoảng sợ khi mình (có thể) vi phạm qui định chung dành cho toàn dân, ví dụ phải đeo khẩu trang, cho thấy nhận thức và hành động có trách nhiệm của lãnh tụ.   Đáng tiếc là vẫn còn có những lãnh đạo coi thường các qui định, luật pháp, hiến pháp, ngay những việc thông thường nhất. Luật pháp không có những "biệt lệ" dành cho người đặc biệt, nhất là các qui định chống dịch Covid. Xem thường các qui định không chỉ làm xấu hình ảnh của riêng mình, mà còn tổn hại uy tín lãnh đạo và đất nước.   #AngelaMerkel #nguyễnphútrọng https://www.facebook.com/ijavn.org/videos/1320450284985052  
......

Đôi lời về Ô Tô Vinfast

  Nhím Xinh   Tôi không rõ anh Vượng định làm gì khi một lúc anh tham gia vào 2 thị trường kinh doanh khủng khiếp nhất thế giới là Điện thoại di động và Ô tô.   Tôi nói luôn, quan điểm của tôi đó là anh Vượng rất giỏi trong việc thâu tóm đất đai, xây lô, bán nền xây chung cư nhờ tài đi đêm của mình. Trong lĩnh vực BĐS VN anh là số 1 bởi đơn giản anh độc quyền. Còn điện thoại hay ô tô là một câu chuyện hoàn toàn khác. Bởi tôi có một niềm tin mạnh mẽ rằng: “Thế giới họ ko làm được, thì VN một đất nước zero về công nghệ và khoa học càng không bao giờ làm được”.   Thị trường ô tô hay điện thoại di động giờ đây đã trở nên quá bão hoà và là sự độc chiếm của những ông lớn trên thế giới chia miếng bánh với nhau. Trong lĩnh vực ô tô từ phân khúc thấp cấp, trung cấp, cao cấp đều đã có sự xuất hiện của Toyota, Huyndai, hay BMW và Mer; điện thoại di động thì Xiaomi, Huawei rồi SamSung, Apple.   Giầu có, vĩ đại như Microsoft ti toe nhảy vào làm điện thoại chết sặc máu. Một anh đại cỡ lớn như Sony cũng vừa tuyên bố không làm điện thoại nữa (vì ko cạnh tranh lại nổi với TQ, HQ). Vậy anh Vượng nghĩ mình nhiều tiền hơn Microsoft và VN có trình độ công nghệ cao hơn Mỹ??   Ngành ô tô còn khủng khiếp hơn, GM là công ty ô tô trong lịch sử đã từng đứng hạng top thế giới của Mỹ; nhưng giờ đây do không chịu cải tiến đã ko thể cạnh tranh nổi với ô tô của Nhật hay Hàn Quốc. Hậu quả chính phủ Mỹ tung hàng chục tỷ USD ra để cứu nhưng đến giờ vẫn không ăn thua, GM vẫn sống ngắc ngoải trông chờ bầu sữa của chính phủ.   Malaysia cách đây mấy chục năm tự hào tuyên bố về thương hiệu ô tô Proton với tỉ lệ nội địa hoá gần 70% (tức Made in Malaysia tới 70%) mà giờ đây chính phủ đang mỗi năm bỏ tới 3,4 tỉ USD để nuôi báo cô. Nên nhớ nền công nghiệp Malaysia phát triển gấp vài chục lần VN thì họ mới có khả năng tự nội địa hoá sản phẩm của mình tới tỉ lệ 70%. Không phải như cái xe của anh Vượng đặt hàng nguyên con của nước ngoài rồi gắn cái mác của mình vào rồi hô hào tự hào Việt Nam.   Nếu sản xuất ô tô chỉ là đi đặt hàng, rồi mua công nghệ thì quá đơn giản chắc ô tô TQ bá chủ thế giới từ lâu rồi (vì ai nhiều tiền bằng TQ???). Nhưng vấn đề đơn giản không chỉ là mua công nghệ, bởi nếu chỉ đặt hàng mua công nghệ thì họ chỉ bán cho anh cái sản phẩm đã hoàn thiện, chứ đâu có bán cho anh cách sản xuất cái công nghệ đó? Giống như bạn bỏ tiền mua phần mềm Windows, chứ có mua được mã nguồn của Windows để viết ra một cái Windows mới đâu?   Nhà sản xuất tư bản nước ngoài nó không ngu để bán công nghệ cho người khác (nếu có bán, chỉ là bán những công nghệ lỗi thời lạc hậu mà thôi). Dĩ nhiên, khi đã không tự sản xuất được mà phải nhập ngoại thì giá thành sản phẩm sẽ bị đẩy cao lên, dẫn đến đắt hơn giá trị thật và không có tính cạnh tranh. Bởi thế, muốn phát triển ô tô các nước như Nhật, Hàn, TQ đều phải phát triển từ cái gốc đi lên ấy là từ công nghệ luyện kim, cơ khí để tạo ra được khung, gầm, ô tô đạt tiêu chuẩn chất lượng. Sau đó dần dần mới tiến đến những thứ xa hơn như thiết kế và chế tạo động cơ.   Chả có quốc gia nào không làm nổi cái xe đạp lại có khả năng chế tạo ra cái ô tô cả? Mọi người liệu có biết rằng trước khi trở thành cường quốc ô tô của thế giới thì Hàn với Nhật Bản là cường quốc luyện kim, chế tạo máy của thế giới không? Có biết rằng trước khi thành công với ô tô họ đã trải qua một thời gian dài làm những vật dụng gia đình như ti vi, máy lạnh, tủ giặt (để có kinh nghiệm và trình độ về công nghiệp chế tạo máy).   Không những chỉ là chế tạo và nội địa hoá mà muốn thành công thì anh phải tối ưu dây chuyền sản xuất của mình làm sao để tạo ra sản phẩm mà giá thành lại phải rẻ hơn hẳn các hãng khác. Đây chính là lí do vì sao mà nhiều nước có nền công nghiệp nặng trình độ cao như Nga mà ngành công nghiệp ô tô của họ chết ngỏm củ tỏi. Người Nga thừa sức tạo ra những miếng thép, cái ốc vít, động cơ để lắp vào phi thuyền, phóng lên trên vũ trụ khiến cả thế giới ngưỡng mộ. Nhưng do không có kinh nghiệm tối ưu hoá cho nên sản phẩm họ làm ra không có tính kinh tế để cạnh tranh với xe Nhật, Hàn.   Anh Vượng nếu tuyên bố mở nhà máy chế tạo luyện kim, gang thép chất lượng cao để cung cấp phụ kiện ô tô đạt chuẩn quốc tế cho Toyota hay BMW thì tôi tin. Chứ anh chém gió bảo sản xuất ô tô để cạnh tranh ngang hàng với Toyota hay BMW thì không bao giờ. Bởi nên nhớ để duy trì được một dây chuyền sản xuất ô tô hoạt động có lãi thì mỗi năm dây chuyền đó phải sản xuất ra khoảng 300.000 chiếc ô tô. Nếu sản xuất thấp hơn con số này thì càng hoạt động càng duy trì sẽ càng lỗ. Anh Vượng liệu có đủ khả năng đá đít Toyota ra khỏi thị trường VN để đạt được con số này không? Anh Vượng nhiều tiền thì cũng chỉ 4,5 tỉ USD nhất Việt Nam này thôi, chứ so với thế giới là cái deck gì?, liệu anh đủ tiền duy trì bù lỗ như chính phủ Mỹ bơm cho GM không?   Tất nhiên, cái mà tôi lo lắng không phải việc anh Vượng có thành công với cái ô tô của mình hay không? Mà vấn đề ở đây đó là có nhiều kẻ bơm thổi cái ô tô đồ chơi của anh Vượng trở thành thương hiệu quốc gia, rồi khi nó làm ăn thua lỗ (như các quốc gia khác) lúc đó chính phủ sẽ phải bỏ tiền thuế của dân ra để duy trì và nuôi báo cô (có thể không phải dưới dạng tiền mặt, mà bằng các hình thức khác như: ưu đãi thuế, rót vốn, thu hồi thêm đất vàng để bán...). À mà quên, kể cả trường hợp dự án ô tô này bết bát, thì anh Vượng vẫn còn trong tay hơn 300 ha đất tại Cát Hải - Hải Phòng, chuyển đổi mục đích sử dụng sẽ là cả một đống của. Nên nhớ, Vinashin diễn ra gần chục năm mới mất 4 tỉ USD, còn mỗi năm để duy trì một cái “thương hiệu quốc gia” như của anh Vượng cũng tốn hàng tỉ USD. Các bạn hô tự hào Việt Nam lúc đó liệu xem có sẵn sàng bỏ tiền túi của mình ra để nuôi cái của nợ ấy không?    
......

Tự bạch của cựu đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang.

Đinh Văn Hải   Đôi điều bộc bạch khi nhận “Quyết định xoá tên”   Đăng bởi: đại tá an ninh Nguyễn Đăng Quang, ngày 3 tháng 2, 2020 trên trang cá nhân.   Thằng con trai 46 tuổi của tôi hồ hởi báo tin: “Nhà mình hôm nay có tin vui. Bố phải thông báo cho tất cả anh chị em nội ngoại và bạn bè thân thiết biết để mọi người mừng cho bố. Có lẽ bố phải mở tiệc chiêu đãi cả nhà để đánh dấu sự kiện này”. Nói đoạn, nó mở bì thư, trịnh trọng đọc quyết định của Quận ủy Cầu Giấy v/v xóa tên tôi khỏi danh sách đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) “do đã vi phạm quy định chuyển sinh hoạt Đảng”.   Tôi quyết định “thoái Đảng” (tức lẳng lặng bỏ Đảng, không chuyển sinh hoạt Đảng) từ giữa năm 2003 ngay sau khi nhận quyết định nghỉ hưu. Ngày 3/2/2020 này, tôi đã “thoái Đảng” được suýt soát 17 năm. Còn trong thực tế, xin tiết lộ điều “bí mật” sau đây:   Ngay khi còn đang phục vụ trong lực lượng vũ trang, tôi đã âm thầm “khai trừ Đảng khỏi lòng tôi” rồi. Tôi đã thực hiện điều này trong lặng lẽ, tức chỉ có tôi biết. Chính xác việc trên là từ khi nào, tôi không nhớ rõ, chỉ biết nó bắt đầu ngay sau khi nhận ra mình đặt lòng tin nhầm chỗ. Mãi sau này, khi chính thức “thoái Đảng”, tôi mới biết là đã có rất nhiều đảng viên ĐCSVN cũng hành động giống tôi, nghĩa là âm thầm “khai trừ Đảng trong lòng” khi còn tại chức, không đợi sau khi nghỉ hưu mới “thoái Đảng”. Công bằng mà nói, lý tưởng cộng sản đã từng một thời là khao khát và ước vọng của biết bao thế hệ trẻ. Trong thập kỷ 1960’s và 1970’s, lý tưởng cộng sản đã thôi thúc hàng triệu thanh niên trai tráng, trong đó có tôi, tự nguyện viết đơn xin đứng trong hàng ngũ ĐCSVN. Hồi tưởng lại, niềm tin vào lý tưởng cộng sản thật là trong sáng, nó đã không chỉ lay động trái tim tôi, mà còn sưởi ấm tâm hồn tôi. Chẳng thế mà Milovan Djilas (1911-1995) cố Chủ tịch Quốc Hội Liên bang Nam Tư, cố Uỷ viên BCT Đảng Cộng sản Liên bang Nam Tư, đã để lại một câu bất hủ cho hậu thế: “20 tuổi mà không theo cộng sản là không có trái tim. 40 tuổi mà không từ bỏ cộng sản là không có cái đầu”.   Vì thế, lòng tin vào lý tưởng cộng sản trong tôi phai nhạt dần, cho đến đầu thập niên 1990’s thì nguội lạnh và lịm tắt hẳn. Tôi thực sự đã mất hết lòng tin vào ĐCSVN, vào chủ thuyết Marx-Lenine, vào CNXH và CNCS, và cả vào cái gọi là “Đỉnh cao trí tuệ” nữa.   Tôi “thoái Đảng” vào thời điểm hiện tượng trên còn hãn hữu, nhưng đến nay nó đã trở nên phổ biến. Các đảng viên ĐCSVN, khi nhận quyết định nghỉ hưu, thường họ không chuyển giấy sinh hoạt cho các đảng bộ địa phương, mà lặng lẽ cất kỹ dưới đáy tủ như kỷ niệm của “một thời đáng quên”. Họ lặng lẽ, âm thầm thực hiện hành động đó, không ồn ào và công khai với bất cứ ai, trừ khi là bạn rất thân của nhau. Đến nay, đã bao nhiêu đảng viên cộng sản chọn cách này để “tạm biệt” Đảng, không một ai có thể biết chính xác, bởi Đảng giấu rất kỹ. Nhưng theo nhiều người dự đoán, con số này ước khoảng 45%! Số còn lại, mang tiếng là “vẫn yêu Đảng”, nhưng thực tế đa số họ đã “chán Đảng”, họ miễn cưỡng phải tiếp tục ở lại sinh hoạt vì nhiều lý do khác nhau, trong đó phải kể đến lý do hàng đầu là sợ liên lụy đến con cháu, tiếp đến là sợ ảnh hưởng đến “sổ hưu”, tức kế sinh nhai hàng ngày của họ.   Vậy phong trào “thoái Đảng” do đâu mà có? Từ kinh nghiệm của bản thân, tôi có thể khẳng định nó bắt đầu từ lòng tin (vào ĐCSVN) bị giảm sút, đến chỗ hồ nghi sự lãnh đạo của Đảng, và cuối cùng là mất sạch lòng tin vào Đảng. Thế là bệnh “chán Đảng”, như một hệ lụy tất yếu, nó xuất hiện trong sâu thẳm tâm can rất nhiều đảng viên. Bệnh “chán Đảng” nhanh chóng trở thành phong trào “thoái Đảng”. Căn bệnh này lây lan rất nhanh, song nó không gây nguy hiểm cho đất nước và xã hội, nhưng lại rất nguy hiểm cho đảng cầm quyền. Xét về khía cạnh luật pháp hay đạo đức, nó không vi phạm điều khoản nào trong mọi văn bản quy phạm pháp luật, vì vậy nó không thể bị quy kết là “có tội”. Lượng tích tụ lâu dần, từ ngày này qua tháng khác, sẽ biến thành chất. Đây là một quy luật tất yếu, không một ai có thể ngăn cản nổi.   ***   Đến đây có thể có người đặt câu hỏi: Do đâu mà tôi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” một cách logic và biện chứng như vậy? Vâng, đơn giản từ chỗ giảm sút niềm tin, tới chỗ mất hết lòng tin vào ĐCSVN, rồi sớm vướng phải căn bệnh “chán Đảng” để cuối cùng đi đến quyết định “thoái Đảng”, trong vòng có vài năm! Trước khi trả lời câu hỏi trên, xin khẳng định ngay tôi chưa một lần bị kỷ luật về Đảng hoặc về chính quyền. Hà Nội, ngày 3/2/2020. N.Đ.Q      
......

Ông Trương Vĩnh Trọng và những kẻ… khóc mướn

Ông Trương Vĩnh Trọng phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn xúc tiến đầu tư Tây nguyên. Ảnh: Ca Hảo/ báo Hà Tĩnh Thu Hà | Như thành thông lệ, ở đất nước Việt Nam XHCN này, mỗi khi có một cựu lãnh đạo hay quan chức cấp cao chết, những tay bồi bút sẽ tha hồ đăng đàn thương vay khóc mướn. Báo Đảng, với những cây bút “quốc doanh” sẽ cố tìm ra những tiểu tiết mang biểu hiện một chút tốt của người chết để ngợi ca. Nào là ông nọ là một quan thanh liêm, ông kia là một ông quan hiền lành, sống khép kín, không phô trương, không tham nhũng (hoặc tham nhũng kín đáo), ít để lại điều tiếng thị phi. Rồi nào là “tận trung với đảng, tận hiếu với dân”, “một đời vì dân, vì nước”… Mọi chuyện có thật như thế không? Xin nói ngay là không bao giờ. Trong nhà nước cộng sản, tìm ra một vị quan “yêu nước, thương dân” khác gì hái sao trên trời. Bởi vì thể chế độc tài đảng trị, với guồng máy “tập trung dân chủ”, kiên định với chủ nghĩa Mác Lê, nên không ai dám làm ngược lại, mà làm đúng ý đảng thì làm gì “vì dân, vì nước” cho được? Có thể có quan chức này kia, dám nghĩ dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhưng cũng chỉ dừng lại ở “đổi mới tư duy” trong điều hành kinh tế mà thôi. Còn dám đề xuất thay đổi những trật tự cũ, làm điều gì to tát cho tương lai dân tộc, dám chống lại những thế lực cường quyền, hiếp đáp dân lành (đang hiện hữu hay trong bóng tối) bất kể sự nguy hiểm tính mạng của mình, thì không hề có. Trong chốn quan trường Việt Nam hiện nay, chỉ tồn tại những phe nhóm “dây mơ rễ má”, nhóm lợi ích câu kết với nhau, rút ruột ngân sách, o ép và cưỡng chế dân để vơ vét làm giàu, sống phè phởn như ông hoàng, bà chúa. Họ im lặng trước bất công xã hội hoặc đồng lõa với tội ác, hèn nhát co cụm, hoặc núp trong bóng tối chờ về hưu, chứ chẳng có gì xứng đáng để ngợi ca. Nguyễn Bá Thanh (1953-2015), được xem là “lưu manh chính trị”, kẻ gây ra vụ đàn áp Cồn Dầu đẫm máu, câu kết với Vũ “nhôm” lấp sông, lấp biển, phân lô cả bán đảo Sơn Trà, thu tóm đất đai của dân, bán sạch công sản để làm giàu, đẩy mấy chục “đồ đệ” cán bộ chủ chốt Đà Nẵng vào vòng lao lý… Tội lỗi ngút trời như thế, vậy mà ngày 16/2/2015, Tô Huy Rứa đọc điếu văn truy điệu Nguyễn Bá Thanh, có đoạn: “Đồng chí Nguyễn Bá Thanh tham gia cách mạng từ nhỏ, là một người tài năng, trí tuệ, dám nghĩ dám làm. Đồng chí đã dành trọn cả cuộc đời mình cống hiến cho cách mạng và sự phát triển đất nước…(sic) trên bất kỳ cương vị nào, kể cả trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, đồng chí cũng luôn thể hiện ý chí kiên trung của người Đảng viên, không ngại khó, không ngại khổ, hết lòng vì dân, vì nước”. Tô Huy Rứa tại tang lễ Nguyễn Bá Thanh (trên) và Nguyễn Phú Trọng tại tang lễ Trần Đại Quang (dưới). Ảnh: Zing/ internet Trần Đại Quang, trùm “bảo kê thượng tầng” khi chết vẫn hưởng quy chế quốc tang. Sáng 27/9/2018, ông Nguyễn Phú Trọng đọc điếu văn tại lễ truy điệu Trần Đại Quang có đoạn: “Đồng chí luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, gương mẫu và giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất của Đảng, thương yêu đồng chí, đồng bào; thực sự cầu thị, khiêm tốn học hỏi, trân trọng lắng nghe, tiếp thu các ý kiến đóng góp; luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên hết, được đồng chí, đồng bào quý mến, bạn bè quốc tế trân trọng“. Ông Trương Vĩnh Trọng, người mà nắp quan tài vừa đóng lại trưa nay 22/2/2021 cũng không ngoại lệ. Ông Vĩnh Trọng từng kinh qua các chức vụ: Trưởng ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, Trưởng ban Nội chính Trung ương, vào Bộ Chính trị khoá X, được bổ nhiệm Phó Thủ tướng Chính phủ và về hưu năm 2011. Suốt nhiều ngày qua, báo chí “lề đảng” đã hát bài tụng ca, ca ngợi công đức và nhân cách ông lên tận mây xanh. Ông là người trực tiếp theo dõi, chỉ đạo giải quyết những đại án “nổi đình nổi đám” một thời như Eco – Minh Phụng, PMU 18… Dư luận cho rằng, có thể ông còn chút tư cách, thanh liêm và bình dị. Nhưng nếu cho rằng ông là quan chức có “bàn tay sạch”, một ông quan anh minh, sao ông không can thiệp để xem xét đơn kêu cứu của Minh Phụng và anh ta đã phải bị tử hình oan ức vì cơ chế kinh tế mập mờ sinh ra tội danh hư ảo. Trong khi đó, cùng phạm tội như nhau, nhưng “hạt giống đỏ” Lê Văn Kiểm thì được “khoanh nợ” và được giải cứu. Trong vụ án PMU 18, khi báo chí phanh phui, dám đụng đến con rể Nông Đức Mạnh và nhiều quan chức cao cấp, cùng thế lực bảo kê cường quyền, đã phải trả một cái giá rất đắt. Nhiều nhà báo bị khởi tố bắt giam, lãnh án, bị thu hồi thẻ nhà báo, thậm chí những Tổng Biên tập “vua biết mặt, chúa biết tên” như Nguyễn Công Khế, Lê Hoàng… đều bị mất chức. Lúc ấy ông Trương Vĩnh Trọng có đủ dũng khí ra mặt để bảo vệ công bằng và lẽ phải không? Còn một câu chuyện nữa. Năm 2009, dư luận cả nước rầm rộ phản đối dự án bô xít Tây Nguyên. Cựu Uỷ viên BCT, tướng Đồng Sỹ Nguyên cũng phản đối, tướng Võ Nguyên Giáp cũng viết 3 bức thư can gián, gửi Ban Chấp hành Trung ương đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ Chỉ riêng trang mạng Bauxite Việt Nam, đã thu thập được hàng ngàn chữ ký phản đối của trí thức trong và ngoài nước. Sự phản đối đồng loạt, rầm rộ, cuốn hút, quyết liệt, căng thẳng đến mức buộc Quốc hội và Bộ Chính trị “lắng nghe, tiếp thu”… Vậy mà trong chuyến viếng thăm Ban Mê Thuột, Đắk Lắk vào ngày 5/9/2009, ở một diễn đàn, ông Trương Vĩnh Trọng đã khẳng định rằng việc “Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là đúng đắn và đang gặp thuận lợi”. Thói đời là vậy. Nếu như Đinh La Thăng hay Nguyễn Bắc Son, Bùi Văn Thành, Nguyễn Văn Hiến, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Văn Bình… “may mắn” từ trần trước khi bị khởi tố, bị kỷ luật, chắc chắn cũng sẽ được hệ thống tuyên truyền khổng lồ của đảng CSVN dành cho những lời ngợi ca có cánh, về tinh thần “tận trung với đảng, yêu nước, thương dân, một đời thanh bạch…” Nhiều trí thức viết trên trang cá nhân của mình, bóng gió cho rằng, báo chí và truyền thông của Đảng đã đánh lừa dân chúng. Những cây bút “nâng bi” đã mài đi, mài lại chi tiết con trai ông Trương Vĩnh Trọng không làm quan, còn cô con gái chỉ có tiệm… bánh xèo! Xin “bật mí” một sự thật: Con trai cả của Trương Vĩnh Trọng là Trương Vĩnh Tùng, sinh năm 1975, từng là công an, hải quan, trước khi nhảy sang Tổng cty Du lịch và Thương mại Saigon với chức danh Hội đồng thành viên. Rồi anh ta giữ chức Tổng giám đốc Tổng công ty bia Saigon, TGĐ cty bia Saigon Sông Tiền và năm 2020 là Phó bí thư đảng uỷ, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn TNHH MTV (Satra). Satra được xem là công ty nhà nước, “con cưng” của thành uỷ thành Hồ, nắm giữ số vốn lên đến hàng chục ngàn tỷ đồng. Cô con gái út Trương Thị Thanh Trúc, sinh năm 1979, là bà chủ của các công ty Đăng Trường, công ty Pood-House với các chuỗi nhà hàng mặt tiền, các đại lộ đắt đỏ trải hầu hết các quận ở thành Hồ. Trương Vĩnh Tùng có khác gì Lê Kiên Thành con trai Lê Duẩn, hay Phan Hoàn Ty con trai Phan Văn Khải, Phạm Hoàng Hà con trai Phạm Hùng, Phan Thanh Nam con trai Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thanh Phượng con gái Nguyễn Tấn Dũng…? Các thái tử đảng, công chúa đảng không thèm làm quan, chỉ vì họ “rửa tiền” hoặc kiếm ngàn tỷ bên ngoài dễ dàng hơn. Người chết thì cũng đã nằm sâu trong lòng đất, nhưng cách mà Đảng “lên đồng” và hàng trăm “con nhang đệ tử” nhảy múa, khóc than, tựa dàn đồng ca, xem ra thật lố bịch. Thủ bút của Phan Thanh Bình và Nguyễn Thị Kim Ngân trong sổ tang Trương Vĩnh Trọng. Nhìn những đoạn văn viết vào sổ tang, kiểu “đất nước Bến Tre” và “cõi Bác Hồ” của ông PGS-TS Phan Thanh Bình, Chủ nhiệm UBVH-GD của Quốc hội, hay lối viết chữ “hầm chông” của bà Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân mà thấy buồn cho văn hoá của lãnh đạo cấp cao và nền văn hoá XHCN. Thu Hà https://baotiengdan.com/2021/02/22/ong-truong-vinh-trong-va-nhung-ke-khoc-muon/
......

Khi nào sự độc tài phải chùn bước?

Tuan Ngo   Sau khi chính quyền quân sự của Myanmar đảo chính, giành quyền kiểm soát đất nước, bắt giam nhiều lãnh đạo hợp hiến thông qua bầu cử tự do, rất nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra với quy mô ngày càng lớn hơn. Bất chấp việc cảnh báo sẽ có thương vong khi đối đầu với lực lượng an ninh (mà thực tế đã có một số người đã bị thiệt mạng), số lượng người tham gia biểu tình ngày một đông đảo hơn. Điều này sẽ là một áp lực thực sự với chính quyền quân sự hiện tại vì vốn dĩ, lâu nay họ lấy sức mạnh của súng ống để áp đảo mọi thứ chứ không đi thu phục nhân tâm. Chính quyền non trẻ do bà Aung San Suu Ky cấu trúc nên dù còn nhiều khiếm khuyết nhưng đã cho người dân Myanmar được sống trong môi trường dân chủ mà lâu nay họ chưa có được - Đó là niềm hạnh phúc, niềm mơ ước cháy bỏng của họ mà không dễ dàng để họ để vuột mất.   Hôm nay, hàng trăm nghìn người gồm lao động ở các ngành nghề khác nhau như nhân viên ngân hàng, nhân viên siêu thị ở nhiều thành phố, thị trấn trên khắp Myanmar đã hưởng ứng lời kêu gọi đình công nhằm phản đối chính quyền quân sự. Hàng loạt doanh nghiệp, nhà hàng thông báo đóng cửa vào ngày hôm nay.   Tại nhiều thành phố như Yangon, Hpa-an, thủ phủ bang Kayin, các cửa hàng tiện lợi, chợ, và các cơ sở kinh doanh thiết yếu khác đều đóng cửa. Người lao động mang theo các biểu ngữ phản đối đảo chính và yêu cầu quân đội trả tự do cho các quan chức của chính quyền dân sự.   Một số địa phương khác người dân địa phương đình công đi biểu tình, các doanh nghiệp cũng đóng cửa hưởng ứng đình công; nhiều ngân hàng cũng đóng cửa...   Như vậy, nếu các cuộc đình công xảy ra nhiều nơi hơn, quy mô lớn hơn nữa thì khả năng chính quyền quân sự sẽ rơi vào tê liệt vì như đã nêu trên, kinh nghiệm của những người lãnh đạo quân đội chỉ giỏi chỉ đạo theo cách áp đặt bằng mệnh lệnh quyền uy chứ không thể gỡ rối bằng cách thương lượng. Hoặc là họ sẽ dùng bạo lực mạnh hơn để áp chế, đe nẹt hoặc là tiến tới họ sẽ phải nhượng bộ mà khả năng thứ 2 dễ xảy ra hơn vì mạnh tay với những người dân đang căm phẫn lúc này không khác nào đổ dầu vào lửa; thậm chí là có thể gây mâu thuẫn trong chính nội bộ quân đội khi lực lượng cấp tiến sẵn sàng quay về phía người dân.   Như vậy, khi đông đảo người dân Myanmar tỉnh thức và cùng tạo thành ngọn lửa đấu tranh thì lực lượng quân đội độc tài đến lúc phải lùi bước, phân hoá. Bà Aung San Suu Ky đã thắp lên cho người dân nước này nhuệ khí đấu tranh và đang được người dân duy trì. Lúc này thậm chí bà chưa được phóng thích cũng một phương pháp tốt để duy trì áp lực lên chính quyền quân đội hiện tại chứ khi áp lực chưa đủ cho lãnh đạo quân đội lung lay ý chí thì bà Aung San Suu Ky được trả tự do với một thỏa thuận nữa vời có thể lại là một bước thụt lùi với phong trào mà mà người dân đang thực hiện khi không có mặt bà.   Hy vọng sẽ có một kết cục tốt đẹp sẽ tới với người dân và đất nước Myanmar. Nếu người dân và đất nước Myanmar thành công thì đó cũng là một tấm gương để một số nước trong khu vực noi theo, trong đó có chúng ta. Dẫu biết rằng để thay đổi một hệ tư tưởng đã bám rễ, ăn sâu vào bao thế hệ là điều không dễ dàng gì; để từ bỏ danh vị, quyền lợi càng không dễ dàng gì nhưng vì sự tồn vong của quốc gia và tương lai của con cháu mai sau, chắc chắn rằng những người lãnh đạo đất nước không thể không suy ngẫm, và chính chúng ta cũng vậy. Cứ tiếp thu, học hỏi, lâu dần rồi tự chúng ta phải thay đổi bản thân, nếu không muốn mình bị bỏ lại sau lưng...  
......

Pages